1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm tại quận nam từ liêm, thành phố hà nội

208 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua cuộc sống trong gia đình --- 18 1.1.1... Trước sự biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội của NCT, đề tài tập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Trung Hải

CHÂN DUNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÓ VIỆC LÀM TẠI QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN ÁN TIẾN SỸ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Trung Hải

CHÂN DUNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÓ VIỆC LÀM

TẠI QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU - 7

1 Lý do chọn đề tài - 7

2 Mục đích nghiên cứu - 8

3.Đối tượng, khách thể nghiên cứu - 9

4 Phạm vi nghiên cứu - 9

5 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích - 11

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của nghiên cứu - 15

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÂN DUNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI - 18

1.1 Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua cuộc sống trong gia đình - 18

1.1.1 Cuộc sống trong gia đình: nguy cơ đối diện sự cô đơn ngày càng hiện hữu - 18

1.1.2 Cuộc sống trong gia đình: sự suy giảm vị trí, vai trò - 22

1.1.3.Cuộc sống trong gia đình: sự quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng tích cực của con, cháu - 26

1.2 Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua cuộc sống ở cộng đồng - 28

1.2.1 Sự tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội - 28

1.2.2 Sự tôn trọng của xã hội - 32

1.3.Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua việc làm - 34

1.3.1 Động cơ làm việc - 34

1.3.2 Sự tham gia thực hiện công việc - 39

Tiểu kết chương 1 - 43

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - 44

2.1 Các khái niệm công cụ - 44

Trang 5

2.1.1 Người cao tuổi - 44

2.1.2 Việc làm - 46

2.1.3.Người cao tuổi có việc làm - 48

2.1.4 Chân dung xã hội - 48

2.1.5 Chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm - 49

2.2 Các lý thuyết tiếp cận - 51

2.2.1 Lý thuyết vị trí xã hội, vai trò xã hội và cách thức vận dụng - 51

2.2.2 Lý thuyết nhận diện xã hội và cách thức vận dụng - 57

2.2.3.Lý thuyết động cơ làm việc và cách thức vận dụng - 62

2.3.Phương pháp nghiên cứu - 64

2.3.1 Phương pháp phân tích tài liệu - 64

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu - 65

2.3.3.Phương pháp quan sát - 65

2.3.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi - 66

2.4 Khái quát về địa bàn và đặc điểm của người cao tuôi có việc làm - 68

2.4.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu - 68

2.4.2 Đặc điểm của người cao tuổi có việc làm tham gia khảo sát - 71

Tiểu kết chương 2 - 73

Chương 3 CHÂN DUNG XÃ HỘI PHÁC HỌA TỪ CUỘC SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÓ VIỆC LÀM Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM, HÀ NỘI - 74

3.1 Quan hệ trong gia đình - 74

3.1.1 Tình trạng hôn nhân và số lượng các mối quan hệ - 74

3.1.2 Hành vi ứng xử - 80

3.2 Sự ảnh hưởng đến gia đình - 86

3.2.1 Sự định hướng, tư vấn cho con, cháu - 86

3.2.2 Sự tham gia hòa giải mâu thuẫn và quyết định việc lớn trong nhà - 92

3.3 Sự tôn trọng của gia đình - 99

3.3.1 Mức độ tôn trọng sự định hướng, tư vấn từ phía gia đình - 100

Trang 6

3.3.2 Mức độ tôn trọng sự hòa giải mâu thuẫn và quyết định việc lớn từ phía

gia đình - 104

3.3.3.Mức độ hài lòng về sự tôn trọng của gia đình - 107

Tiểu kết chương 3 - 109

Chương 4 CHÂN DUNG XÃ HỘI PHÁC HỌA TỪ CUỘC SỐNG Ở CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÓ VIỆC LÀM Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM, HÀ NỘI - 111

4.1 Quan hệ xã hội - 111

4.1.1 Sự thăm hỏi bạn thân, hàng xóm - 111

4.1.2 Sự chia sẻ chuyện riêng với bạn thân, hàng xóm - 117

4.1.3.Sự mâu thuẫn với bạn thân, hàng xóm - 123

4.2 Sự ảnh hưởng đến xã hội - 126

4.2.1 Sự tham gia trợ giúp bạn thân, hàng xóm vượt qua mâu thuẫn gia đình126 4.2.2 Sự tham gia trợ giúp bạn thân, hàng xóm vượt khó khăn - 130

4.3.Sự tôn trọng xã hội - 134

4.3.1 Mức độ tôn trọng từ phía bạn thân, hàng xóm - 134

4.3.2 Mức độ hài lòng về sự tôn trọng của bạn thân và hàng xóm - 137

Tiểu kết chương 4 - 141

Chương 5 CHÂN DUNG XÃ HỘI PHÁC HỌA THÔNG QUA VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI CAO TUỔI CÓ VIỆC LÀM Ở QUẬN NAM TỪ LIÊM, HÀ NỘI - 142

5.1 Sự lựa chọn công việc - 142

5.1.1 Lĩnh vực và vị trí công việc cho thu nhập cao nhất - 142

5.1.2 Sự ký kết hợp đồng lao động và thời gian làm việc - 147

5.2 Yếu tố thúc đẩy thực hiện công việc - 154

5.2.1 Động cơ làm việc - 154

5.2.2 Nhu cầu nghỉ ngơi - 163

5.3 Sự hài lòng về công việc - 170

5.3.1 Thu nhập trung bình từ công việc - 170

Trang 7

5.3.2 Sự hài lòng về công việc cho thu nhập cao nhất, về thời gian làm việc và

thu nhập từ công việc - 172

Tiểu kết chương 5 - 176

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ - 177

Kết luận - 177

Khuyến nghị - 181

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN - 186

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 187

PHỤ LỤC - 196

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Số lượng thành viên trung bình trong hộ gia đình - 79

Bảng 3.2 Mức độ chia sẻ chuyện vui, buồn, khó khăn với người nhà - 81

Bảng 3.3 Mức độ nói nặng lời với người nhà - 84

Bảng 3.4 Mức độ tham gia định hướng công việc cho con, cháu (đơn vị = %) 87

Bảng 3.5 Mức độ tham gia tư vấn trợ giúp con/cháu vượt qua khó khăn (Đơn vị = %) - 90

Bảng 3.6 Mức độ tham gia hòa giải mâu thuẫn gia đình (Đơn vị = %) - 94

Bảng 3.7 Mức độ tham gia quyết định việc lớn trong gia đình (Đơn vị = %) - 97

Bảng 3.8 Mức độ lắng nghe ý kiến định hướng công việc cho con/cháu từ phía gia đình - 100

Bảng 3.9 Mức độ lắng nghe ý kiến tư vấn vượt qua khó khăn từ phía gia đình - 103

Bảng 3.10 Mức độ lắng nghe ý kiến hòa giải mâu thuẫn của NCT có việc làm từ phía gia đình - 104

Bảng 3.11 Mức độ lắng nghe ý kiến quyết định việc lớn từ phía gia đình - 107

Bảng 3.12 Mức độ hài lòng từ phía NCT có việc làm với sự tôn trọng của gia đình108 Bảng 4.1 Mức độ thường xuyên đến chơi nhà bạn thân - 112

Bảng 4.2 Mức độ thường xuyên đến chơi nhà hàng xóm - 116

Bảng 4.3 Mức độ chia sẻ chuyện riêng với bạn thân - 118

Bảng 4.4 Mức độ chia sẻ chuyện riêng với hàng xóm - 121

Bảng 4.5 Mức độ mâu thuẫn với bạn thân - 124

Bảng 4.6 Mức độ mâu thuẫn với hàng xóm - 125

Bảng 4.7 Mức độ sẵn sàng hỗ trợ bạn thân hòa giải mâu thuẫn gia đình - 127

Bảng 4.8 Mức độ sẵn sàng hỗ trợ hàng xóm hòa giải mâu thuẫn gia đình - 129

Bảng 4.9 Mức độ sẵn sàng hỗ trợ bạn thân vượt qua khó khăn - 131

Bảng 4.10 Mức độ sẵn sàng hỗ trợ hàng xóm vượt qua khó khăn - 133

Bảng 4.11 Mức độ lắng nghe ý kiến của NCT có việc làm từ phía bạn thân - 134

Bảng 4.12 Mức độ lắng nghe ý kiến của NCT có việc làm từ phía hàng xóm 136

Bảng 4.13 Mức độ hài lòng từ phía NCT về sự tôn trọng của bạn thân - 138

Bảng 4.14 Mức độ hài lòng từ phía NCT về sự tôn trọng của hàng xóm - 139

Bảng 5 1 Thống kê số ngày làm việc theo tuần - 150

Bảng 5.2 Thống kê số giờ làm việc theo ngày - 152

Bảng 5.3 Động cơ làm việc theo độ tuổi (Đơn vị = %) - 158

Bảng 5.4 Động cơ làm việc theo giới tính (Đơn vị = %) - 159

Bảng 5.5 Động cơ làm việc theo tình trạng sức khỏe (Đơn vị = %) - 160

Bảng 5.6 Động cơ làm việc theo tình trạng thụ hưởng CSXH (Đơn vị = %) - 162

Bảng 5.7 Nhu cầu nghỉ ngơi theo độ tuổi (Đơn vị = %) - 165

Bảng 5.8 Nhu cầu nghỉ ngơi theo giới tính (Đơn vị = %) - 166

Bảng 5.9 Nhu cầu nghỉ ngơi theo tình trạng sức khỏe (Đơn vị = %) - 167

Bảng 5.10 Nhu cầu nghỉ ngơi theo tình trạng thụ hưởng CSXH (Đơn vị = %) - 168

Bảng 5.11 Thu nhập trung bình từ công việc trên tháng (1.000 đồng) - 170

Bảng 5.12 Mức độ hài lòng về công việc - 172

Trang 9

Bảng 5.13 Mức độ hài lòng về công việc theo biến số ảnh hưởng - 173

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thế kỷ 21, thế giới chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của làn sóng già hóa dân số Trong vòng 50 năm trở lại đây, tuổi thọ bình quân trên thế giới tăng thêm 20 năm, đạt 67,2 tuổi vào năm 2010, dự kiến đạt 75,4 tuổi vào năm 2050 Do vậy, dân số người cao tuổi (NCT) tại nhiều quốc gia tăng nhanh [Ngân hàng Thế giới, 2016, tr 8]

Trong xu thế này, Việt Nam được coi là nước có tốc độ già hóa nhanh nhất, dự kiến chỉ mất khoảng 18 năm để chuyển đổi từ dân số trẻ sang dân số già Trong khi

đó, có những quốc gia cần trải qua hàng chục năm (như Thụy Điển với 85 năm, Úc với 73 năm, Mỹ với 68 năm), thậm chí hơn 100 năm (như Pháp với 115 năm) mới kết thúc thời kỳ quá độ [Bộ Y tế, 2017, tr 72 – 73] Tốc độ già hóa dân số nhanh tại Việt Nam là nhờ tuổi thọ trung bình tăng cao, đạt 76 tuổi vào năm 2016, cao hơn 3 tuổi so với năm 2014 [Tran Thi Bich Ngoc et al, 2016, tr 488], hơn 7,8 tuổi so với năm 1999 và hơn 11,2 tuổi so với năm 1989 [WHO, 2017] Trung bình, mỗi năm có thêm 600.000 người bước vào độ tuổi 60 [Đặng Nguyên Anh, 2014]

Thực trạng già hóa dân số nêu trên tạo ra những biến đổi sâu sắc về đời sống kinh tế của NCT, buộc nhiều người tiếp tục tham gia thị trường lao động (TTLĐ) để

tự đảm bảo sinh kế, bởi lẽ có những hoàn cảnh “Tuổi nghỉ hưu không phải là tuổi nghỉ ngơi khi mà chưa thể kiếm đủ tiền lo cho cuộc sống” [Philippe Antoine và

Valérie Golaz, 2010, tr 45] Tại Việt Nam, số NCT tiếp tục làm việc chiếm tới 43,6% dân số NCT của cả nước Đa số những người này thuộc nhóm nam giới, có sức khỏe tốt, chưa từng thụ hưởng chính sách xã hội (CSXH) (như lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hay các khoản trợ cấp xã hội khác) [Richard Jackson và Tobias Peter, 2015, tr 3 – 5] Lý do tham gia TTLĐ của họ khá đa dạng, bao gồm: duy trì sức khỏe, duy trì các mối quan hệ xã hội (QHXH), để giải trí hay cảm nhận giá trị hữu ích của bản thân, nhưng về cơ bản là bắt nguồn từ lý do kinh tế, nghĩa là

để giảm bớt sự phụ thuộc vào người thân [Ngân hàng Thế giới, 2016, tr 36] Điều này có nghĩa yếu tố thúc đẩy làm việc của NCT có sự khác biệt, công việc mà NCT

Trang 11

duy trì có sự đa dạng, kéo theo đó là kết quả thực hiện công việc thường không đồng nhất

Tương tự, già hóa dân số cũng tạo ra những biến đổi sâu sắc về đời sống xã hội Mặc dù tuổi thọ gia tăng là tín hiệu tích cực, nhưng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, cuộc sống trong gia đình của nhiều NCT trở nên ngày càng đơn điệu, bởi hiện tượng “tách hộ”, chuyển từ mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ cùng chung sống sang mô hình gia đình hạt nhân Thực tế đó khiến cho mối quan hệ giữa NCT với con, cháu trở nên “lỏng lẻo”, kéo theo đó là sự tôn trọng của các thành viên trong gia đình dành cho NCT cũng giảm theo [Thangavel Palanivel et al, 2016,

tr 17 – 18]

Do vậy, để thích ứng với cuộc sống ngày càng buồn tẻ trong gia đình, nhiều NCT tích cực tham gia hoạt động xã hội với mục đích tìm kiếm nguồn vui, giảm thiểu cảm giác cô đơn, tăng cường đoàn kết xã hội Sự tham gia tích cực đó giúp cho NCT xây dựng các mối quan hệ xã hội (QHXH) thân thiện, bền chặt, có trách nhiệm với cộng đồng, qua đó cảm nhận sự tôn trọng của xã hội [Ủy ban Quốc gia

về NCT Việt Nam, 2016] Điều này có nghĩa các mối QHXH của NCT với cộng đồng tăng lên, kéo theo đó là vai trò của NCT với cộng đồng tăng theo và sự tôn trọng mà NCT nhận được từ cộng đồng cũng tăng lên

Trước sự biến đổi về đời sống kinh tế - xã hội của NCT, đề tài tập trung

nghiên cứu “Chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm tại Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội” nhằm phân tích một phần thực trạng cuộc sống của

nhóm dân số này trong bối cảnh xã hội hiện nay ở Việt Nam, qua đó cho thấy những thuận lợi và khó khăn, cũng như khả năng hòa nhập xã hội của họ

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục đích chung

Đề tài góp phần bổ sung kiến thức lý luận và thực tiễn phác họa chân dung

xã hội của NCT có việc làm thông qua cuộc sống trong gia đình, ở cộng đồng, và thông qua việc làm; đồng thời đề xuất giải pháp cải thiện cuộc sống của nhóm dân

số này

Trang 12

 Phân tích chân dung xã hội của NCT có việc làm theo các nhóm xã hội khác

biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe, và tình trạng thụ hưởng CSXH

 Đề xuất các giải pháp chính sách nhằm cải thiện cuộc sống vật chất, tinh thần cho NCT có việc làm

3.Đối tượng, khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chân dung xã hội của NCT có việc làm

3.2 Khách thể nghiên cứu

Người cao tuổi có việc làm; Thành viên hộ gia đình của NCT có việc làm; Thành viên cộng đồng nơi cư trú của NCT có việc làm; Cán bộ chính quyền địa phương

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Về không gian

Đề tài được thực hiện ở Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội bằng phương

pháp lựa chọn địa bàn có chủ đích Theo lập luận trong cuốn sách “Phương pháp nghiên cứu khoa học”, khi không có đủ nguồn lực thực hiện khảo sát trên diện rộng

thì người nghiên cứu có thể thu hẹp địa bàn bằng phương pháp lựa chọn có chủ đích

[Odette và cộng sự, 2008], song cần khảo sát sơ bộ nhằm đảm bảo “địa bàn đó chứa đựng thông tin phù hợp với mục đích nghiên cứu” [Statistic Canada, 2010, 97 –

102] Quá trình xâm nhập cộng đồng, quan sát, phỏng vấn ban đầu cho thấy Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội chứa đựng đủ dữ liệu cho phép phân tích chân dung xã hội của NCT có việc làm Do đó, địa bàn này được lựa chọn có chủ đích làm địa bàn nghiên cứu

Trang 13

Nội dung 1: Tổng quan nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT:

 Tổng quan nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể hiện thông qua cuộc sống trong gia đình

 Tổng quan nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể hiện thông qua cuộc sống ở cộng đồng

 Tổng quan nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể hiện thông qua việc làm

Nội dung 2: Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, cũng như cơ sở thực tiễn

của đề tài nghiên cứu Nội dung này tập trung vào:

 Thao tác hóa các khái niệm ứng dụng, bao gồm: NCT, việc làm, NCT

có việc làm, chân dung xã hội và chân dung xã hội của NCT có việc làm

 Nghiên cứu và luận giải cách thức vận dụng lý thuyết vị trí xã hội, vai trò xã hội, lý thuyết nhận diện xã hội và lý thuyết động cơ làm việc vào phân tích chân dung xã hội của NCT có việc làm

 Trình bày và luận giải các phương pháp nghiên cứu được áp dụng, bao gồm: phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp quan sát và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn nhằm khái quát về địa bàn Quận Nam Từ Liêm, về nhóm NCT có việc làm tham gia nghiên cứu

Nội dung 3: Phân tích chân dung xã hội phác họa từ cuộc sống trong gia đình

của NCT có việc làm ở Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, theo đó:

Trang 14

 Phân tích các mối quan hệ trong gia đình của NCT có việc làm

 Phân tích sự ảnh hưởng đến gia đình của NCT có việc làm

 Phân tích sự tôn trọng của gia đình dành cho NCT có việc làm

Nội dung 4: Phân tích chân dung xã hội phác họa từ cuộc sống ở cộng đồng

của NCT có việc làm ở Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, theo đó:

 Phân tích các mối QHXH của NCT có việc làm

 Phân tích sự ảnh hưởng đến xã hội của NCT có việc làm

 Phân tích sự tôn trọng mà xã hội dành cho NCT có việc làm

Nội dung 5: Phân tích chân dung xã hội phác họa thông qua việc làm của

NCT có việc làm ở Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội Cụ thể:

 Về sự lựa chọn công việc

 Về các yếu tố thúc đẩy thực hiện công việc

 Về sự hài lòng với công việc

Nội dung 6: Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của

NCT có việc làm

5 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Chân dung xã hội của NCT có việc làm được phác họa ra sao trong gia đình, ở cộng đồng và thông qua việc làm?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Trong gia đình, đa số NCT có việc làm thiết lập được mối quan hệ thân thiết, bền chặt, tạo được nhiều ảnh hưởng tích cực đến người thân thông qua hoạt động định hướng, tư vấn cho con/cháu, điều hòa mâu thuẫn gia đình và quyết định việc lớn trong nhà Nhờ vậy, họ nhận được sự tôn trọng của các thành viên trong gia đình Song, nguy cơ đối diện cuộc sống cô đơn ngay trong nhà của nhóm dân số này cũng đang hiện hữu Nhiều người cảm nhận vị trí, vai trò của bản thân có sự suy giảm

Ở cộng đồng, NCT có việc làm tạo dựng được nhiều mối QHXH gắn kết với bạn thân và hàng xóm, sẵn sàng hỗ trợ nhóm dân số này vượt qua mâu thuẫn gia

Trang 15

đình và khó khăn gặp phải Điều đó giúp họ nhận được sự tôn trọng của cộng đồng Tuy nhiên, khả năng duy trì QHXH với bạn thân và hàng xóm của NCT có việc làm suy giảm dần Thực tế đó khiến cho cuộc sống ngoài cộng đồng của họ có nguy cơ trở nên đơn điệu

Trong môi trường công việc, đa số NCT lựa chọn việc làm trong lĩnh vực KD

- DV, ở vị trí của người lao động tự do, không được ký hợp đồng lao động (HĐLĐ),

có thời gian làm việc kéo dài Yếu tố chủ đạo thúc đẩy họ tiếp tục thực hiện công việc thuộc về yếu tố xã hội, nghĩa là làm việc để con, cháu tôn trọng, qua đó cảm nhận sự hữu ích của bản thân Tuy nhiên, công việc mà NCT đang làm thường cho thu nhập thấp, mặc dù vậy, đa số nhóm dân số này hài lòng về nó

So sánh theo các nhóm xã hội khác biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe và tình trạng thụ hưởng CSXH thì chân dung xã hội của NCT có việc làm có sự không đồng nhất

Trang 16

5.3.Khung phân tích về chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm

Thu nhập trung bình

từ công việc

Mức độ hài lòng về công việc,

về thời gian làm việc, về thu nhập từ công việc

Sự hài lòng về công việc

Chân dung xã hội phác họa ở cộng đồng

Mức độ trợ giúp cộng đồng vượt khó khăn

Quan hệ

trong gia

đình

Mức độ tôn trọng từ phía cộng đồng

Mức độ hài lòng về sự tôn trọng từ phía cộng đồng

Mức độ định hướng, tư vấn cho con/cháu

Mức độ hòa giải mâu thuẫn, quyết định việc lớn trong nhà

Mức độ tôn trọng sự định hướng, tư vấn Mức độ tôn trọng sự hòa giải mâu thuẫn

và quyết định việc lớn

Mức độ hài lòng của người cao tuổi

Sự ảnh hưởng đến gia đình

Sự tôn trọng của gia đình

Mức độ thăm hỏi cộng đồng

Mức độ chia

sẻ chuyện riêng với cộng đồng Mức độ mâu thuẫn với cộng đồng

Quan hệ xã hội Sự ảnh hưởng

đến xã hội

Sự tôn trọng của xã hội

Chân dung xã hội phác họa trong gia đình Chân dung xã hội phác họa thông qua việc

làm

Lĩnh vực làm việc

Vị trí công việc

Việc ký hợp đồng lao động

Thời gian làm việc

Động cơ làm việc

Nhu cầu nghỉ ngơi

Yếu tố thúc đẩy thực hiện công việc

Sự lựa chọn công việc

Khung phân tích của đề tài nghiên cứu

Trang 17

Trong nghiên cứu này, chân dung xã hội của NCT có việc làm được nhận diện, phân tích và diễn giải theo 3 chiều cạnh, đó là: Chân dung xã hội phác họa trong gia đình, ở cộng đồng, và thông qua việc làm

Nội dung nghiên cứu chân dung xã hội trong gia đình hướng tới:

 Phân tích mối quan hệ trong gia đình theo tình trạng hôn nhân, số thế hệ cùng chung sống, quy mô hộ gia đình và hành vi ứng xử

 Phân tích sự ảnh hưởng đến gia đình của NCT có việc làm theo mức độ tham gia định hướng, tư vấn, hòa giải mâu thuẫn và quyết định việc lớn trong nhà

 Phân tích sự tôn trọng của gia đình dành cho NCT có việc làm theo mức độ lắng nghe ý kiến từ phía các thành viên, cũng như mức độ hài lòng của bản thân NCT có việc làm về sự tôn trọng đó

 Phân tích chân dung xã hội trong gia đình của NCT có việc làm theo các

nhóm xã hội khác biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe, và tình trạng thụ hưởng CSXH

Nội dung nghiên cứu chân dung xã hội ở cộng đồng hướng tới:

 Phân tích mối QHXH với bạn thân, hàng xóm theo mức độ đến chơi nhà, mức độ chia sẻ chuyện riêng, cũng như mâu thuẫn với nhau

 Phân tích sự ảnh hưởng đến bạn thân, hàng xóm theo mức độ sẵn sàng hỗ trợ hòa giải mâu thuẫn hay vượt qua khó khăn

 Phân tích sự tôn trọng dành cho NCT có việc làm theo mức độ lắng nghe ý kiến từ phía bạn thân, hàng xóm, đồng thời theo mức độ hài lòng của bản thân NCT có việc làm về sự tôn trọng này

 Phân tích chân dung xã hội ở cộng đồng của NCT có việc làm theo các nhóm

xã hội khác biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe, và tình trạng thụ hưởng CSXH

Nội dung nghiên cứu chân dung xã hội phác họa thông qua việc làm hướng tới:

 Sự lựa chọn công việc của NCT: về lĩnh vực làm việc (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, KD - DV); về vị trí công việc (lao động tự do, lao động gia đình, làm công ăn lương, chủ doanh nghiệp và khác); về tình trạng ký kết hợp đồng lao động (có/không có hợp đồng lao động); và về thời gian

Trang 18

làm việc (số ngày làm việc trung bình/tuần và số giờ làm việc trung bình/ngày)

 Yếu tố thúc đẩy thực hiện công việc, bao gồm: động cơ làm việc và nhu cầu nghỉ ngơi Động cơ làm việc được chia theo yếu tố kinh tế (làm việc để tự

lo cuộc sống), yếu tố cá nhân (làm việc để cuộc sống đỡ buồn) và yếu tố xã hội (làm việc để con/cháu tôn trọng, nghĩa là để cảm nhận giá trị hữu ích của bản thân) Nhu cầu nghỉ ngơi được chia theo yếu tố kinh tế (dự định làm việc đến khi có đủ tiền dưỡng già), yếu tố cá nhân (dự định làm việc đến khi không đủ sức khỏe) và yếu tố xã hội (dự định làm việc đến khi không còn người thuê)

 Sự hài lòng về công việc theo mức độ hài lòng về công việc cho thu nhập cao nhất, về thời gian làm việc và về thu nhập từ công việc

 Phân tích chân dung xã hội phác họa thông qua việc làm theo các nhóm xã

hội khác biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe và tình trạng thụ hưởng CSXH

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và điểm mới của nghiên cứu

6.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài:

Góp phần làm rõ hệ thống lý luận về các khái niệm liên quan đến đối tượng và vấn đề nghiên cứu như: NCT, việc làm, NCT có việc làm, chân dung xã hội, chân dung xã hội của NCT có việc làm

Góp phần kiểm chứng, phát triển lý thuyết vị trí xã hội, vai trò xã hội,

lý thuyết nhận diện xã hội, và lý thuyết động cơ làm việc

Góp phần nâng cao nhận thức xã hội về ý nghĩa và sự cần thiết của việc nghiên cứu cuộc sống của NCT có việc làm

Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc triển khai chủ trương, chính sách cải thiện chất lượng cuộc sống của NCT có việc làm

Trang 19

việc làm theo các chiều cạnh khác biệt về độ tuổi, giới tính, sức khỏe và tình trạng thụ hưởng CSXH

Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng, cũng như của chính NCT có việc làm về cuộc sống của họ

6.3 Điểm mới của nghiên cứu

Luận án đã luận giải làm phong phú thêm nội dung lý thuyết vị trí xã hội, vai trò xã hội, lý thuyết nhận diện xã hội và lý thuyết động cơ làm việc trong nghiên cứu chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm; luận giải làm sâu sắc thêm khái niệm về người cao tuổi, việc làm, người cao tuổi có việc làm, chân dung xã hội và chân dung xã hội của người cao tuổi có việc làm;

Luận án đã tổng quan bao quát chân dung xã hội trong gia đình, ở cộng đồng và thông qua việc làm của người cao tuổi

Thông qua nghiên cứu thực tiễn, luận án đã phác họa về chân dung xã hội trong gia đình, từ đó cho thấy nguy cơ đối diện cuộc sống cô đơn của người cao tuổi có việc làm trở lên ngày càng rõ nét, nhưng sự quan tâm, chia sẻ giữa nhóm dân số này với các thành viên khác luôn diễn ra trong bầu không khí tích cực, gần gũi, thân thiện Đây là tiền đề trợ giúp người cao tuổi có việc làm định hướng công việc, tư vấn con/cháu cách thức vượt qua khó khăn, hòa giải mâu thuẫn gia đình và quyết định việc lớn trong nhà Song một bộ phận nhóm dân số này không tham gia vào các hoạt động trên và đây có thể là lý do khiến họ cảm nhận vị trí, vai trò của bản thân có sự suy giảm Đánh giá chung, người cao tuổi có việc làm luôn nhận được sự tôn trọng của gia đình, song mức độ tôn trọng này dường như có sự suy giảm theo thời gian

Tương tự, thông qua nghiên cứu thực tiễn, luận án đã phác họa về chân dung xã hội ở cộng đồng, qua đó cho thấy người cao tuổi có việc làm thiết lập được các mối quan hệ xã hội thân thiện, bền chặt với bạn thân

và hàng xóm, dù rằng khả năng duy trì các mối quan hệ này giảm xuống khi tuổi của họ tăng lên Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy nhóm dân số này tạo được nhiều ảnh hưởng tích cực đến bạn thân và hàng xóm

Trang 20

thông qua các hoạt động chia sẻ, trợ giúp, tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng này giảm dần theo thời gian Nhìn chung, người cao tuổi có việc làm nhận được sự tôn trọng của cộng đồng

Cuối cùng, luận án đã phác họa chân dung xã hội thông qua việc làm Các phát hiện chỉ ra đa số người cao tuổi lựa chọn công việc trong lĩnh vực kinh doanh – dịch vụ, ở vị trí của người lao động tự do, không được

ký hợp đồng lao động, có thời gian làm việc kéo dài Yếu tố chủ đạo thúc đẩy họ tiếp tục thực hiện công việc thuộc về yếu tố xã hội, nghĩa là làm việc để con, cháu tôn trọng, qua đó cảm nhận sự hữu ích của bản thân Tuy nhiên, công việc mà NCT đang làm thường cho thu nhập thấp Mặc dù vậy đa số nhóm dân số này hài lòng về nó

Cuối cùng, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp với thực tiễn hiện nay tại Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội Trong đó đề cập đến những giải pháp của Nhà nước, của địa phương của hộ gia đình và của chính người cao tuổi trong việc phát huy năng lực thúc đẩy phát triển các hoạt động văn hóa, xã hội, kinh tế

Trang 21

NỘI DUNG

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÂN DUNG XÃ HỘI CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

Thực trạng già hóa dân số trong bối cảnh của xã hội Việt Nam giai đoạn trước

đã tạo ra những biến đổi sâu sắc về cuộc sống của NCT Phần tổng quan dưới đây nêu cụ thể các vấn đề đó theo 3 nhóm, trong đó:

 Nhóm 1 đề cập đến các nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể

hiện thông qua cuộc sống trong gia đình

 Nhóm 2 đề cập đến các nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể

hiện thông qua cuộc sống ở cộng đồng

 Nhóm 3 đề cập đến các nghiên cứu về chân dung xã hội của NCT thể

hiện thông qua việc làm

1.1 Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện

thông qua cuộc sống trong gia đình

1.1.1 Cuộc sống trong gia đình: nguy cơ đối diện sự cô đơn ngày càng hiện

Cũng theo chiều hướng này, nghiên cứu của Liên hợp quốc năm 2007 chỉ ra

Trang 22

quy mô hộ gia đình của NCT hiện nay thu hẹp hơn so với 10 năm trước (so với năm 1997), trung bình 7 NCT thì có 1 người sống trong cảnh cô đơn Trong các quốc gia đang phát triển, số NCT sống trong hộ gia đình mở rộng, gia đình nhiều thế hệ sụt giảm nhanh chóng Thực trạng này gióng lên tiếng chuông cảnh báo về nguy cơ NCT thiếu người chăm sóc khi mà hệ thống chăm sóc công hay dịch vụ chưa phát triển [Unions Unis, 2007, tr 4 - 6]

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về xã hội truyền thống cho thấy NCT thường sống quây quần bên con, cháu, có vai trò kết nối các thành viên, là người duy trì các giá trị đạo đức và điều hòa mâu thuẫn gia đình Thực tế này được đề cập

trong nghiên cứu về “Giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa” của Nguyễn Thị Thọ (2014), về “Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo” của Trần Đình Hượu (1989), về “Sự biến đổi của các truyền thông gia đình nông thôn trong quá trình hiện đại hóa” của Phí Văn

Ba (1990), hay về “Từ làng đến nước: một cách tiếp cận lịch sử” của Phan Đại

Doãn (2010)

Theo phân tích của Nguyễn Thị Thọ (2014, tr.97 - 99), trong xã hội truyền thống, NCT thường sống trong hộ gia đình mở rộng gồm tam, tứ, hay ngũ đại đồng đường Do vậy, họ có vai trò quan trọng trong việc duy trì mối liên hệ giữa các thành viên, đó là mối quan hệ gắn bó giữa ông, bà, cha, mẹ và con, cháu Trong mối quan hệ này thì “từ, hiếu” là tiêu chuẩn đạo đức hàng đầu NCT thể hiện sự nhân từ,

độ lượng, sự quan tâm và trách nhiệm với các thành viên khác Khuôn phép, lễ giáo

do NCT duy trì được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành văn hóa giao tiếp, ứng xử gia đình

Tương tự, nghiên cứu của Trần Đình Hượu (1989, tr 33), của Phí Văn Ba (1990, tr 3) chỉ ra rằng, NCT trong xã hội truyền thống thường sống trong những

hộ gia đình đông người, nhiều thế hệ, bởi mô hình tổ chức gia đình này là tập tục, là

hệ tư tưởng chịu ảnh hưởng lớn từ Nho giáo Hệ tư tưởng này trở thành động lực, niềm khao khát, trách nhiệm thúc đẩy các gia đình trong xã hội truyền thống sớm dựng vợ, gả chồng cho các con, qua đó làm tròn bổn phận cha mẹ, đồng thời có điểm nương tựa khi về già Thực tế này tạo ra nhiều hộ gia đình có 3, 4 thế hệ cùng chung sống Những người con trai không sống cùng cha mẹ thì được chia đất làm

Trang 23

nhà, có thể nhận sự giúp đỡ từ cha mẹ, cũng như san sẻ trách nhiệm chăm sóc cha

mẹ khi về già

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của một số nhà khoa học tại Việt Nam, đa số NCT trong xã hội hiện đại ngày nay tiếp tục duy mô hình tổ chức gia đình nhiều thế hệ Thực tế này được đề cập trong nghiên cứu của Bộ y tế (2017), của Nguyễn Thế Huệ (2017), của Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011), cũng như của Lê Thị Quý (2019) Phân tích của các tác giả cho thấy:

Thứ nhất: Đối với NCT thì bầu không khí gia đình đông vui, đầm ấm luôn được coi là ưu tiên hàng đầu và họ luôn nỗ lực duy trì sự ổn định đó Những khi có chuyện buồn vui thì NCT hướng tới tâm sự với người thân trong nhà, như vợ, chồng, con, cháu, sau đó đến bạn bè, hàng xóm

Thứ hai: NCT hay quan tâm, lo lắng, do vậy, họ sẽ yên tâm hơn khi sống cùng

để có thể chia sẻ kinh nghiệm trợ giúp con, cháu vượt qua khó khăn, chẳng hạn như: công việc của con không thuận lợi, kết quả học tập của cháu không tốt

Thứ ba: Theo nhiều NCT, sống chung là dịp con, cháu báo hiếu ông, bà, bố

mẹ, dù rằng mâu thuẫn gia đình có thể nảy sinh

Thứ tư: Mặc dù xuất hiện xu hướng NCT sống cô đơn, độc lập, nhưng tỷ lệ NCT sống chung cùng con, cháu vẫn luôn chiếm đa số Hơn thế nữa, đa số NCT sống riêng đều thừa nhận đến khi không còn khả năng tự chăm sóc bản thân sẽ chuyển về sống cùng các con để phòng ngừa những tình huống bất trắc Ở độ tuổi càng cao, tỷ lệ NCT bày tỏ mong muốn này càng lớn

Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu về “Sự biến đổi gia đình Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học” của tác giả Phạm Việt Tùng (2011), về “Chăm sóc người cao tuổi

ở Việt Nam” của tác giả Trần Thị Bích Ngọc và cộng sự (2016), về “Bữa cơm gia đình trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam” của tác giả Trương Thị Lam Hà (2008), hay về “Các mối quan hệ trong gia đình ở Việt Nam: một số vấn đề cần quan tâm”

của tác giả Nguyễn Hữu Minh (2012) cho thấy trong cuộc sống của xã hội hiện nay, quy mô hộ gia đình có xu hướng thu hẹp và nhiều NCT dần cảm thấy cô đơn ngay trong ngôi nhà của mình, bởi cảm giác trống vắng khi không thấy con/cháu vây quanh

Trang 24

Phân tích của các tác giả này cho thấy quy mô hộ gia đình ngày nay đang thu nhỏ, giảm từ ba, bốn thế hệ cùng chung sống xuống còn hai thế hệ, cá biệt xuất hiện nhiều loại hình gia đình đơn thân Cơ cấu tổ chức thu hẹp giúp các hộ gia đình thích nghi tốt hơn với cuộc sống hiện đại, nhưng cũng bởi vậy mà nhiều NCT mất đi niềm vui chung sống cùng con, cháu [Phạm Việt Tùng, 2011, tr 164 – 166; Trần Thị Bích Ngọc và cộng sự, 2016, tr 489 - 490]

Hơn thế nữa, sự thu hẹp quy mô hộ gia đình khiến nhiều NCT có cảm giác hụt hẫng ngay trong từng bữa ăn Theo phân tích của tác giả Trương Thị Lam Hà (2008,

tr 3 - 4), bữa ăn gia đình có ý nghĩa quan trọng đối với NCT, bởi đó là những lúc

họ được sống cùng con, cháu, được giáo dục con, cháu văn hóa ứng xử gia đình Trong xã hội truyền thống, đôi khi chỉ vì thiếu một thành viên mà những NCT bảo thủ có thể buộc cả nhà cùng chờ cơm, và đây là uy quyền của họ Với NCT, bữa ăn gia đình có đông đủ là việc hết sức bình thường, là yếu tố duy trì hạnh phúc, gia phong Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, cuộc sống bận rộn, con, cháu nhiều khi không thể dành thời gian cho bữa cơm chung Do vậy mà nhiều NCT trở thành cái bóng lặng lẽ bên mâm cơm

Để lý giải sự biến đổi mô hình tổ chức gia đình dẫn đến hiện tượng sống cô đơn của NCT, nghiên cứu của một số tác giả như Ngân hàng Thế giới (2016, tr 34 – 35), hay Nguyễn Nam Phương (2016, tr 21 – 22) chỉ ra 04 nguyên nhân cơ bản,

dù rằng các tác giả này chưa thể đưa ra giải thích đầy đủ, đó là: Quá trình di cư tìm kiếm việc làm của lao động chính trong gia đình; Xu hướng tách hộ để có cuộc sống độc lập của lớp trẻ; Áp lực công việc khiến con, cháu không thể dành thời gian thăm hỏi ông/bà; và Mong muốn được sống riêng của một bộ phận NCT

Tương tự, để lý giải sự biến đổi mô hình tổ chức gia đình, cũng như hiện tượng sống cô đơn của NCT trong xã hội hiện đại, một số tác giả như Lê Ngọc Lân

(2011, tr 9 – 10) trong bài viết về “Một số cơ sở thực tiễn cần quan tâm trong xây dựng, điều chỉnh chính sách chăm sóc người cao tuôi ở Việt Nam”, hay Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011, tr 56 - 58) trong bài viết về “Quan hệ giữa người cao tuôi và con cháu trong gia đình” đều phân tích cho thấy sự vận động chuyển mình từ xã hội

truyền thống sang xã hội hiện đại đã tạo ra sự biến đổi lối sống Theo xu hướng này, nhiều NCT lựa chọn cuộc sống riêng với con, cháu là để được tự do và độc lập về

Trang 25

kinh tế Hiện tượng “tách hộ” này góp phần nâng cao tỷ lệ hộ gia đình chỉ có NCT Phân tích của tác giả cho thấy, lý do lựa chọn cuộc sống riêng của một bộ phận NCT “để được tự do” bắt nguồn từ sự khác biệt về cách thức sinh hoạt, ăn uống hàng ngày Chẳng hạn: NCT thích ăn cơm nhão do răng yếu, trong khi đó, con cháu thích ăn cơm khô; NCT thường ăn sớm để nghỉ ngơi, con, cháu thường ăn muộn bởi kết thúc công việc muộn Do vậy, sống cuộc sống riêng là sự lựa chọn tốt hơn cho NCT Tương tự, sự lựa chọn cuộc sống riêng để độc lập về kinh tế ở một bộ phận NCT bắt nguồn từ mong muốn tự chăm lo cuộc sống của bản thân bằng khả năng kinh tế của mình, đồng thời giúp con, cháu nhanh chóng tự chủ, không dựa dẫm vào ông, bà, bố, mẹ Tuy nhiên, theo phân tích của Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011), sự lựa chọn cuộc sống riêng để được “tự do” chủ yếu xuất hiện ở NCT sống ở thành thị, trong khi đó, lựa chọn cuộc sống riêng để “độc lập về kinh tế” chủ yếu xuất hiện

ở NCT sống ở nông thôn

1.1.2 Cuộc sống trong gia đình: sự suy giảm vị trí, vai trò

Trong xã hội truyền thống, NCT có vị trí, vai trò nổi trội so với các thành viên khác Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại thì vị trí, vai trò của họ đang suy giảm

Nghiên cứu của một số tác giả lập luận, giải thích rằng chính sự biến đổi mô hình tổ chức gia đình tại các quốc gia trên thế giới đã tạo ra sự biến đổi về vị trí, vai trò của NCT Trong xã hội truyền thống, khi NCT và con cháu cùng chung sống thì

sự tương tác giữa các thế hệ diễn ra thường xuyên và con/cháu cũng thể hiện sự lắng nghe, tôn trọng NCT Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện nay, khi không còn chung sống cùng nhau thì sự tương tác giữa các thế hệ cũng giảm, từ đó hình thành

xu hướng thế hệ trẻ giảm dần sự tôn trọng dành cho họ Nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, nếu như trước đây, thế hệ trẻ nghe và làm theo những gì NCT yêu cầu, thì ngay nay chúng thường tự quyết theo cách nghĩ của bản thân Theo phân tích của các tác giả thì sự biến đổi vị trí, vai trò của NCT trong gia đình là bởi trong xã hội truyền thống NCT sống cùng và thường xuyên bày tỏ tình yêu thương, điều này tạo

ra sự yêu thương, tôn trọng từ lớp trẻ Do vậy, dù không đồng tình với yêu cầu của NCT thì thế hệ trẻ cũng ít khi làm điều trái ý họ Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, cuộc sống riêng đã đẩy cái “Tôi” của thế hệ trẻ lên cao Hơn thế nữa, các cháu nhỏ thường chỉ sống cùng với bố mẹ mà ít có cơ hội sống cùng ông bà, do vậy

Trang 26

chúng cũng ít cảm nhận tình yêu thương của NCT Tổng hợp các nhân tố đó khiến lớp trẻ cho mình quyền tự quyết cao hơn và đó cũng là nguyên nhân nhiều NCT hiện nay cảm thấy vị trí, vai trò của bản thân trong gia đình giảm xuống [Denis Mannaerts, 2016, tr 19 - 16]

Tại Việt Nam, sự biến đổi từ mô hình gia đình truyền thống sang hiện đại tạo

ra sự biến chuyển về chất trong các mối quan hệ giữa NCT và con cháu Theo đó, mối quan hệ chuyển dần từ phục tùng sang bình đẳng và đồng thuận, thậm chí chuyển sang trạng thái giảm sự tôn trọng dành cho NCT

Chẳng hạn, nghiên cứu của Phí Văn Ba (1990, tr 3) và Trần Đình Hượu (1989, tr 33) chỉ ra trong xã hội truyền thống, NCT luôn nhận sự tôn trọng của con, cháu sống cùng, cũng như của con cháu sống chung quanh và họ có vai trò quan

trọng trong việc duy trì sự ổn định, trật tự của gia đình “nếu mình không giúp được

gì cho dân, cho nước thì ít nhất cũng giữ được gia đình mình có nề nếp, không tề gia được để cho gia đình lộn xộn, lục đục là một sự nhục nhã”

Cũng theo nghiên cứu của Phí Văn Ba (1990), của Trần Đình Hượu (1989, tr.34 - 35), mối quan hệ giữa NCT và con, cháu trong xã hội truyền thống được thiết lập một cách bền chặt và theo đẳng cấp Trong xã hội này, chế độ gia trưởng hiện hiển trong mô hình tổ chức của phần lớn các hộ gia đình Ông, bà là người đứng đầu, kế đến là cha, mẹ rồi mới đến các con và cháu Ở vị trí là người đứng đầu gia đình, NCT có quyền, có tiếng nói quyết định đối với những công việc quan trọng, như: hiếu, hỉ, lễ lạt, thờ phụng, thậm chí cả về kinh tế Mối quan hệ trật tự trên là biểu hiện của hệ tư tưởng Nho giáo (trên quân – dưới thần, trên là cha mẹ - dưới là con, cháu), là lễ nghi được thể chế hóa NCT là chủ gia đình, là người quyết định mọi việc và phân xử đúng sai, dàn hòa mâu thuẫn giữa các thành viên Khi NCT đứng đầu gia đình mất đi thì quyền lực này được truyền lại cho con trưởng, nhưng nếu người mẹ còn sống thì con trưởng cũng cần tôn trọng, hỏi ý kiến mẹ trước khi quyết định

Thực tế, mối quan hệ theo đẳng cấp trên – dưới giữa NCT và con, cháu trong

xã hội truyền thống tồn tại và được kế thừa từ đời này sang đời khác NCT luôn được coi là người đứng đầu gia đình (về tinh thần), là người duy trì trật tự, gia phong, gia phạm, gia lễ, gia quy Ở vị trí này, NCT giáo dục con, cháu theo những

Trang 27

cách thức khác nhau Với con, cháu gái, NCT giáo dục họ cần biết cách “giữ đạo cương thường và nhẫn nhục”; đồng thời biết cách giữ gìn sự đoan trang, biết thờ cha, kính mẹ, tùng chồng, nuôi con “Gái ngoan chớ có nguyệt huê; Lẳng lơ đi lại người ta chê cười; Đoan trinh là góc của người; Phụng dưỡng cha mẹ, cùng thời nuôi con” Trong khi đó, với con, cháu trai thì NCT động viên theo sự nghiệp học

hành, vinh danh gia đình, dòng họ Thậm chí, nhiều NCT đưa vào thành “gia huấn” giáo dục con, cháu trai bằng những khổ thơ, những bài văn vần dễ nhớ, dễ hiểu, dễ

thuộc “Họ ta gia thế vốn Nho; Con giai nên nặng công phu học hành; Ắt lại thấy công danh sự nghiệp; Hiển vinh này nền nếp còn dai” [Phan Đại Doãn, 2010, tr.58 -

Tương tự, phân tích của Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011, tr 52 – 58) cũng cho thấy mối quan hệ giữa NCT với con, cháu hiện nay khá đồng thuận, dù không tuyệt đối Sự đồng thuận này thể hiện ở 6 khía cạnh, đó là: Đồng thuận về cách quản lý và chi tiêu tiền; Đồng thuận về cách thức làm ăn và phát triển kinh tế gia đình; Đồng thuận về phương pháp giáo dục con, cháu; Đồng thuận về quan niệm người làm chủ gia đình luôn là NCT; Đồng thuận về cách thức phân chia tài sản thừa kế; và Đồng thuận về vai trò của NCT trong gia đình

Chính sự đồng thuận giữa các thành viên giúp cho gia đình tránh được mâu thuẫn, bất hòa, là yếu tố duy trì hạnh phúc gia đình, nhưng nó biểu hiện khác biệt theo trình độ học vấn và địa bàn cư trú NCT có học vấn cao thường tôn trọng ý kiến của con, cháu hơn NCT có học vấn thấp Tương tự, NCT sống ở thành thị biết lắng nghe con, cháu nhiều hơn so với NCT sống ở nông thôn [Nguyễn Thị Ngọc

Hà, 2016, tr 88 – 90; Lê Ngọc Lân và cộng sự, 2011, tr 59]

Tuy nhiên, theo phát hiện trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2012), của

Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011), cũng như của Trần Thị Ngọc Bích và cộng sự

Trang 28

(2016), sự biến đổi của xã hội từ truyền thống sang hiện đại, từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ và tri thức cũng phần nào tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa NCT và con cháu Phân tích của tác giả này cho thấy, dường như xu hướng NCT mất dần vị thế, tiếng nói trong gia đình đang hình thành

Do vậy, nguyện vọng lớn nhất của nhiều NCT là được sống ổn định, gắn bó, hòa nhập với con, cháu Nhưng mong muốn này dường như xa vời đối với một bộ phận NCT Chẳng hạn, họ muốn chia sẻ kinh nghiệm sống mà những chia sẻ đó

không được con, cháu tiếp nhận “Ui chao, chừ mà giở mấy cái nớ (lời khuyên răn)

ra hắn có nghe mô Chừ mà nói chuyện hiện tại đây thôi còn chưa rãnh mà nghe chơ mô mà chuyện tiểu sử hồi xưa như rứa như tê, không có cái nớ mô” Hơn thế

nữa, một bộ phận NCT bị con, cháu đối xử tệ bạc mà sa vào trầm cảm, khủng hoảng tuổi già [Lê Duy Mai Phương, 2014, tr 164 – 166]

Trong xã hội hiện nay, quyền lực của NCT đang suy giảm, điều đó khiến cho một bộ phận NCT cảm giác như bị đoạt quyền và buộc chuyển mình để thích ứng với sự thay đổi của thời cuộc Điều này được thể hiện trong các nghiên cứu dưới đây

Cụ thể, theo phát hiện của Nguyễn Thị Ngọc Hà (2016), của Lê Ngọc Lân và cộng sự (2011, tr 62 - 63), sự tham gia của NCT vào các quyết sách quan trọng của gia đình là nhân tố cơ bản giúp họ cảm nhận giá trị của bản thân Trong xã hội truyền thống, quyền quyết định này chủ yếu do NCT đưa ra Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại quyền quyết định này đang dịch chuyển dần sang thế hệ trẻ, thực tế này

khiến một bộ phận NCT cảm thấy “dường như đang bị đoạt quyền”

Thực tế, sự bất đồng quan điểm giữa các thế hệ có thể được coi là nguyên nhân cơ bản của tình trạng này Phân tích của Nguyễn Hữu Minh (2012, tr 97 - 98), của Trần Thị Ngọc Bích và cộng sự (2016, tr 490) đều chỉ ra sự bất đồng quan điểm về thói quen sinh hoạt, ý thức về tự do cá nhân ngày càng tăng cao đã tạo ra những căng thẳng nhất định đến mối quan hệ giữa NCT và các thành viên khác Phản ứng của lớp trẻ ngày nay với NCT không còn giống như trong xã hội trước kia Quyền quyết định, cũng như ảnh hưởng của NCT đến con, cháu giảm dần Trong mối quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu thì con dâu cũng không còn e ngại

Trang 29

mẹ chồng như trước

Để thích nghi với cuộc sống hiện đại, để giảm thiểu sự mẫu thuẫn, bất hòa, nhiều NCT cũng chuyển mình theo thời cuộc Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Nguyễn Thế Huệ (2017, tr 279 – 280), của Lê Văn Khảm (2014a), cũng như của Nguyễn Đình Cử (2016, tr 53) Những lập luận, phân tích của các tác giả này cho thấy sự mâu thuẫn, bất hòa giữa các thế hệ là điều tất yếu, bởi NCT có những chứng kiến, trải nghiệm, cảnh ngộ khác, do vậy, họ có cách suy nghĩ và hành

xử khác Những trường hợp áp đặt tư duy, ý chí lên lớp trẻ đều có thể dẫn đến mâu thuẫn gia đình Để hạn chế những mâu thuẫn này, để có thể duy trì sức ảnh hưởng tinh thần lên thế hệ trẻ thì bản thân NCT cũng cần thích ứng với sự thay đổi của thời cuộc, chuyển từ vị thế áp đặt sang vị thế cùng tham gia trao đổi, dù rằng việc điều chỉnh là không dễ dàng

1.1.3.Cuộc sống trong gia đình: sự quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng tích

cực của con, cháu

Dù trong xã hội truyền thống hay hiện đại thì NCT vẫn luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc, phụng dưỡng tích cực của con, cháu

Trong xã hội truyền thống, NCT trên thế giới nói chung thường nhận được sự quan tâm, chăm sóc của con, cháu, bởi đây là chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội, là trách nhiệm của thế hệ sau đối với thế hệ trước Thông thường, con gái hoặc con dâu dành nhiều thời gian quan tâm, thăm hỏi, động viên, săn sóc và con/cháu trai chịu trách nhiệm nuôi dưỡng ông/bà, cha/mẹ [Denis Mannaerts, 2016, tr 10] Thực tế trên cũng diễn ra tại Việt Nam Nghiên cứu của Phan Đại Doãn (2010,

tr 83 – 85) cho thấy khi được coi là đại biểu của gia phong, gia lễ, gia quy thì NCT trong xã hội truyền thống luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc bằng tinh thần

“hiễu”, “lễ” Thực tế này được tác giả minh chứng qua viện dẫn một số tục ngữ

“Trẻ cậy cha, già cậy con”, “Kính già, già để tuổi cho”, hay thông qua những quy định Pháp lý có từ thời Lê, Nguyễn “con, cháu phải có trách nhiệm nuôi nấng đối với cha, mẹ, ông, bà già”, “Con, cháu thay thế ông, bà, cha, mẹ già chịu tội roi hoặc tội trượng thì được giảm tội”, nếu “Con, cháu không theo lời dạy bảo, không phụng dưỡng mà bị ông, bà đi thưa thì phải tội đồ làm khao đình” Nội dung phân

tích của tác giả nêu rõ, sự quan tâm, chăm sóc NCT thể hiện đầy đủ đạo hiếu của

Trang 30

gia đình, là văn hóa tôn trọng NCT và là tiêu chuẩn đạo đức của con người Đây là một quy tắc ứng xử cao trong xã hội truyền thống, giúp phân biệt con người và con

vật “không thực hiện đạo hiếu thì làm sao phân biệt được” Đạo hiếu đẩy mạnh trở thành ngu hiếu, biểu thị nhân luân và Thiên đạo (đạo trời), theo đó, “đạo hiếu là kinh nghĩa của trời đất, là việc làm của dân” Ở độ tuổi càng cao, NCT càng nhận

được sự chăm sóc tôn trọng từ con, cháu, theo đó, những lễ, lạt tổ chức cho họ càng

trọng thể “Lễ thọ lục tuần quý hơn lễ ngũ tuần, lễ thất tuần lại quý hơn lục tuần, và người nào làm lễ bát tuần thì được khen là Trời riêng hậu đãi”

Do vậy, dù vị thế, vai trò của NCT hiện nay có sự suy giảm so với trước đây, nhưng NCT vẫn luôn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của con, cháu Thực tế này được trình bày, phân tích trong các nghiên cứu của Nguyễn Thế Huệ (2017), của Lê Ngọc Lân (2012), hay của Nguyễn Trọng Nhân và cộng sự (2017)

Thực tế, một số nghiên cứu về NCT đã cho thấy trong tiềm thức của người dân Việt Nam nói chung, NCT nói riêng thì mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình luôn chiếm một vị trí đặc biệt Nó bao hàm ý nghĩa huyết thống, tình thân, truyền thống văn hóa và xã hội Do vậy, gia đình là điểm tựa bình an cho NCT vui sống khi về già Sự quan tâm, chăm sóc đời sống tinh thần cho con, cháu luôn có ý nghĩa to lớn với NCT Những người con, cháu hiếu thảo là những người biết quan tâm, thăm hỏi, động viên khi NCT ốm, đau [Lê Văn Khảm, 2014a]

Tương tự, nghiên cứu về một số yếu tố tác động đến việc chăm sóc vật chất và tinh thần của NCT trong gia đình Việt Nam hiện nay cũng cho thấy đa số NCT sống cùng con, cháu đều được con, cháu hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc kết hợp tiền mặt với hiện vật Sự quan tâm, chăm sóc của con, cháu gần như không có sự phân biệt giữa bên nội hay bên ngoại Ngoài nhận được sự chăm sóc, phụng dưỡng hàng ngày từ con, cháu sống cùng, bản thân NCT còn nhận được sự trợ giúp về kinh tế từ những người con không sống cùng Kết luận của tác giả cho thấy, sự quan tâm, chăm sóc của con, cháu dành cho NCT là chân tâm, xuất phát từ tình cảm gia đình [Lê Ngọc Lân, 2012, tr 67 – 69; Nguyễn Thế Huệ, 2017, tr 279 – 284]

Nhờ vậy, đa số NCT được con, cháu chăm sóc đều thừa nhận bản thân được con, cháu kính trọng, được phụng dưỡng tốt, thường xuyên được con, cháu hỏi thăm, thậm chí, một bộ phận thường xuyên được con, cháu tổ chức đi du lịch Với

Trang 31

đa số các hộ gia đình “con cháu tự tay chăm sóc NCT là quan trọng nhất” bởi đây

là chuẩn mực của gia đình Việt Nam, là sự hiếu thảo, lòng biết ơn, trách nhiệm và nghĩa vụ của con, cháu Nhiều NCT thường xuyên được con, cháu động viên đi khám sức khỏe định kỳ, được động viên, thăm hỏi hàng ngày Sự quan tâm, chăm sóc tận tụy, chu đáo về mặt tinh thần của con, cháu sống cùng dành cho NCT có ý nghĩa quan trọng hơn so với sự chu cấp về vật chất Đa số NCT cảm thấy thoải mái với cuộc sống chung và hài lòng với sự chăm sóc, phụng dưỡng đó [Nguyễn Trọng Nhân và cộng sự, 2017, tr 85 – 88, Nguyễn Thế Huệ, 2017, tr 279 – 282]

Do vậy, theo phát hiện trong nhiều nghiên cứu khác nhau, như nghiên cứu về “Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam: hướng tới cuộc sống khỏe mạnh và năng động cho NCT” của Ngân hàng Thế giới (2016, tr 47), về “Chăm sóc NCT ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thế Huệ (2017, tr 292 – 294), hay về

“Biến thách thức thành cơ hội: tương lai của vấn đề hưu trí tại Việt Nam” của Richard Jackson và Tobias Peter (2015, tr 6 - 7), cũng như về “Hướng tới mục tiêu già hóa khỏe mạnh ở Việt Nam” của Bộ Y tế (2017, tr 200 – 201) thì con, cháu vẫn

là điểm tựa tin cậy phụng dưỡng, chăm sóc NCT trong hiện tại và tương lai lâu dài

1.2 Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua cuộc sống ở cộng đồng

1.2.1 Sự tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội

Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết của việc tham gia các hoạt động xã hội đối với NCT bởi điều đó giúp họ có cuộc sống khỏe mạnh và gắn kết xã hội

Trên thế giới, nghiên cứu về “Sự cô đơn, tách biệt xã hội và người cao tuổi” của Denis Mannaerts (2016, tr 11 - 12), cũng như về “Thư viện tương tác: Tăng cường tương tác xã hội cho người cao tuổi bằng cách chia sẻ những câu chuyện”

của Culin và cộng sự (2017) cho thấy những NCT thiếu vắng các mối quan hệ xã hội (QHXH) thường có một cuộc sống buồn bã, tẻ nhạt, trầm cảm, do vậy, họ sợ hãi cuộc sống hiện tại, muốn chối bỏ nó bằng cách tìm kiếm, gia nhập vào các tổ chức

xã hội để được tương tác với mọi người Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra, dù NCT có thành công gia nhập vào các nhóm, các hoạt động chung của cộng đồng, nhưng tại các sự kiện chung đó mà họ không có gì để chia sẻ thì điều đó có nghĩa họ

là những người cô đơn trong xã hội Do vậy, sự tham gia các hoạt động xã hội chỉ

Trang 32

thực sự có ý nghĩa với NCT khi bản thân họ hòa nhập vào với nhóm, có mối quan

hệ mật thiết với các thành viên trong nhóm, có chia sẻ và nhận được sự quan tâm từ các thành viên khác

Mạch tư duy này được tiếp nối trong nghiên cứu của Odília Maria Rocha Gouveia và cộng sự (2016, tr 1033 - 1036), theo đó, sự tham gia vào các hoạt động

xã hội của NCT chỉ thực sự có ý nghĩa khi họ duy trì tần suất góp mặt vào các sự kiện chung Sự tham gia của NCT vào nhiều nhóm xã hội khác nhau tạo thành mạng lưới các mối QHXH của họ Mạng lưới này có thể có sự gần gũi, nhưng cũng có thể cách biệt lớn về mặt địa lý Nếu trong xã hội trước đây, khi mạng lưới internet chưa phát triển thì sự gần gũi về mặt địa lý là điều kiện tiên quyết giúp NCT tham gia vào các nhóm xã hội và thiết lập mạng lưới xã hội của bản thân Nhưng trong thời kỳ bùng nổ của Internet, của các mạng xã hội thì dù không ra khỏi nhà NCT cũng dễ dàng hòa nhập vào các hoạt động xã hội Điều này giúp họ có thêm nhiều cơ hội, nhiều lựa chọn, thiết lập, duy trì các mối QHXH, và nhờ vậy giảm thiểu nguy cơ bị tách biệt khỏi xã hội

Khi tham gia các hoạt động xã hội, NCT cảm nhận sự thoải mái về mặt tinh thần và có sức khỏe tốt hơn Với các lợi ích như vậy, nên nhiều NCT cố gắng duy trì các hoạt động xã hội, dù bản thân sinh sống ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới, nhất là khi sức khỏe còn cho phép Những cặp vợ chồng cao tuổi cùng tham gia vào các hoạt động xã hội thường duy trì tần suất ổn định hơn so với những trường hợp khác [Linda Waite và Aniruddha Das, 2010, tr 102 -104]

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của một số tác giả như Thangavel Palanivel và cộng sự (2016), Bộ Y tế (2017), Phan Đại Doãn (2010), Phạm Vũ Hoàng (2014), Lê Văn Khảm (2014a), của Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), trong xã hội truyền thống cũng như hiện nay, nhiều NCT tích cực, chủ động tham gia các hoạt động xã hội Đây là nhu cầu chính đáng của mỗi người, là biện pháp giúp NCT có được đời sống tinh thần lành mạnh, sức khỏe ổn định, và duy trì các mối QHXH tốt đẹp bên ngoài gia đình Sự duy trì và tham gia tích cực vào các mối QHXH đó còn giúp nhiều NCT liên kết với nhau nhằm mục đích khôi phục truyền thống của dòng họ, làng xóm, cũng như phát huy giá trị của bản thân trong các hoạt động chung tại cộng đồng

Thực tế, nghiên cứu “Vấn đề về người cao tuổi Việt Nam hiện nay”của tác giả

Trang 33

Lê Văn Khảm (2014b, tr 79), hay về “Định hình tương lai: nhân khẩu học thay đổi

có thể là động lực cho phát triển con người như thế nào?” của tác giả Thangavel

Palanivel và cộng sự (2016, tr 17 – 18) chỉ ra rằng sự tham gia vào các hoạt động

xã hội bên ngoài gia đình và duy trì mối quan hệ với cộng đồng là nhu cầu chính đáng của NCT, nhất là trong cuộc sống hiện nay Do vậy, khi mà xu hướng tách hộ gia tăng, quy mô hộ gia đình thu hẹp, kéo theo đó là xu hướng sống cô đơn ở NCT tăng lên thì nhiều NCT nhận thấy để có được cuộc sống khỏe mạnh về tinh thần và sức lực thì cần duy trì và mở rộng môi trường tương tác xã hội Theo xu hướng này, nhiều NCT tích cực, chủ động mở rộng hoạt động xã hội vượt ra khỏi khuôn khổ của hộ gia đình

Xét về mặt xã hội, trong tâm thức của nhiều người dân Việt Nam nói chung và của NCT nói riêng, thì cộng đồng được coi là gia đình mở rộng, bởi giữa những con người tạo thành cộng đồng có thể có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, dòng họ với nhau Với nhận thức này, nhiều NCT ngày nay có xu hướng tích cực khôi phục truyền thống của dòng tộc, làng xóm như: liên kết các hộ gia đình trong họ để cùng nhau phục hồi gia phả; lập lên các hội đồng hương để liên kết những con người xa xứ; lập hội lão niên để cùng nhau tham gia các đợt sinh hoạt chung [Phan Đại Doãn,

2010, tr 88 – 114]

Tương tự, nghiên cứu về “Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê trong quá trình đô thị hóa tại Hà Nội” của Trần Thị Hồng Yến (2015, tr 59) phát hiện

thêm nhiều NCT di cư lập nghiệp nhận mình có hai quê hương, một là cựu quán nơi

họ sinh ra và hai là nơi họ chuyển đến Vào những dịp thuận tiện như lễ, tết, họ thường cố gắng dành thời gian trở về cựu quán thăm hỏi gia đình, họ hàng, bạn bè Nhiều người có điều kiện kinh tế còn trở về mua đất làm nhà để được sống lại những ngày tháng trước đây Với họ, trở về sinh sống tại quê hương giống như được trở về với nguồn gốc, được trở về với ông, bà, bố mẹ, trở về với tình thân gia đình, tình làng nghĩa xóm

Tiếp theo mạch nghiên cứu trên, nghiên cứu của Lê Văn Khảm (2014a), của

Lê Anh Vũ và cộng sự, (2015, tr 24 – 27) cho thấy với những NCT sống cô đơn, hoặc cảm nhận sự cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình thì những lần đến thăm hỏi bạn bè được coi là biện pháp giúp họ có thêm niềm vui và động lực sống

Trang 34

Sự đi lại, thăm hỏi, động viên lẫn nhau trở thành điểm tựa tinh thần và nhiều NCT luôn nỗ lực giữ gìn điểm tựa đó

Ngoài tham gia vào các hoạt động cộng đồng nêu trên, NCT còn tích cực tham gia các phong trào, đoàn thể Sự tham gia tích cực nhất thể hiện ở khối văn hóa – xã hội Đa số vị trí tổ trưởng, tổ phó, trưởng thôn, phó thôn là do NCT nắm giữ; nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách đến quần chúng nhân dân là do NCT đảm nhiệm; nhiều tấm gương sáng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp về tình làng, nghĩa xóm là do NCT nắm giữ [Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam, 2016]

Cũng theo hướng tiếp cận này, nghiên cứu “Hướng tới mục tiêu già hóa khỏe mạnh ở Việt Nam” của Bộ Y tế (2017, tr 201 – 202) chỉ ra nhiều NCT sống tại địa

phương có đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, như tham gia phong trào

“thi đua yêu nước”, tham gia các sáng kiến “xây dựng hệ thống chính trị, văn hóa

cơ sở”, tham gia các chương trình “bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo”, đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, tham gia các hoạt động “tình nguyện viên chăm sóc tại nhà”, đồng thời còn là thành viên tích cực của nhiều câu lạc bộ

Sự tham gia này khẳng định vị thế, vai trò, giá trị của NCT, là động lực giúp họ có cuộc sống tích cực

Các nghiên cứu về “Đánh giá sự tham gia của người cao tuổi vào phát triển cộng đồng” của Lê Vũ Anh và cộng sự (2015, tr 23 – 27), hay “Chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thế Huệ (2017, tr 284

– 287) cũng chỉ ra việc tham gia vào các câu lạc bộ dành cho NCT, như hội cờ, hội thơ, câu lạc bộ dưỡng sinh được nhiều NCT hưởng ứng Theo họ, khi tham gia vào các câu lạc bộ này, họ cảm nhận được sự thoải mái, sự thư giãn tinh thần, là biện pháp giúp họ chủ động thích ứng với tuổi già

Sự tham gia vào hoạt động xã hội của nhiều NCT được các cấp lãnh đạo địa phương nhìn nhận một cách tích cực Nội dung đánh giá cho thấy NCT có tiềm năng lớn trong việc phát huy phong trào “Sống vui, sống khỏe, sống có ích” cho xã hội; có tầm quan trọng trong giáo dục ý thức học tập cho thế hệ trẻ, nêu cao tinh thần hăng say lao động; là nhân tố tích cực đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội Từ thực tế này, chính quyền địa phương luôn tìm cách thu hút sự tham gia của NCT vào các phong trào xã hội [Lê Vũ Anh và cộng sự, 2015, tr 23 – 27]

Trang 35

1.2.2 Sự tôn trọng của xã hội

Sự tôn trọng của xã hội dành cho NCT luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học với mục đích tạo ra môi trường xã hội thân thiện cho tuổi già

Trên thế giới, nghiên cứu của Drennan.J và cộng sự (2009), của Kyu-Taik Sung (2010), cũng như của nhiều tác giả khác đều cho thấy NCT ở giai đoạn hiện nay vẫn luôn nhận được sự tôn trọng của xã hội ở mức độ cao hơn so với các nhóm dân cư khác Sự tôn trọng này được thể hiện qua cung cách ứng xử, qua những cuộc trò chuyện, trao đổi, qua hoạt động chăm sóc thường ngày, qua việc ban hành các chế độ, chính sách, cũng như qua những lời thăm hỏi, qua việc lắng nghe và tuân thủ ý kiến của NCT

Tuy nhiên, các nghiên cứu của tổ chức ECCV (Ethnic Communities’ Council

of Victoria, 2009) về “Đòi lại sự tôn trọng và nhân phẩm: Phòng chống lạm dụng người cao tuổi trong cộng đồng dân tộc” hay của Kyu-Taik Sung (2010, tr 127 – 128) về “Trách nhiệm đối xử với người cao tuổi: nhận thức và hành vi của giới trẻ nước Mỹ” đã đưa ra cảnh báo về xu hướng ngược đãi NCT già yếu, bệnh tật, không

tôn trọng và thường bỏ qua vấn đề của họ Thực trạng này không chỉ diễn ra trong phạm vi nhỏ lẻ của một khu phố, hay của một con đường, mà nó “bùng phát” trên quy mô toàn cầu

Nguyên nhân của tình trạng thiếu tôn trọng NCT ngày càng lan tỏa trong các cộng đồng phần nào đã được phác họa trong nghiên cứu của Emmanuelle Castaldi (2003, tr 52 – 65) Nghiên cứu này chỉ ra hai loại hình trở ngại khiến NCT bị đối

xử thiếu tôn trọng, đó là trở ngại từ phía bản thân NCT và trở ngại từ phía môi trường xã hội Trở ngại từ phía bản thân NCT có nghĩa khi về già, sức khỏe suy giảm, trí tuệ không còn minh mẫn, nhiều NCT hành xử không theo cách thức thông thường Những hành vi như vậy dễ đem lại phiền toái cho người khác Sự bực mình tích lũy ngày qua ngày khiến nhiều người có những hành vi đối xử không thân thiện dành cho họ Trở ngại từ phía môi trường sống có thể là bởi quan niệm coi NCT là gánh nặng cho cộng đồng, xã hội Bằng quan niệm này mà nhiều NCT không được chăm sóc đảm bảo, bị đối xử ghẻ lạnh, thậm chí bị lăng nhục, đánh đập Do vậy, nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới đều hướng tới giải pháp nâng

Trang 36

cao vị thế của NCT, giảm thiểu nguy cơ khiến họ bị đối xử thiếu tôn trọng

Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của một số tác giả như Phan Đại Doãn (2010),

Võ Đình Liên (2016), Bộ Y tế (2017), Nguyễn Thế Huệ (2017), Lê Văn Khảm (2014b) , sự tôn trọng của xã hội dành cho NCT là một nét đẹp truyền thống được

kế thừa từ nhiều đời, là sự ghi nhận những đóng góp, cống hiến của nhóm dân số này với xã hội Nét đẹp văn hóa trên được hiến định trong Hiến pháp, thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật về sự tôn vinh, phụng dưỡng NCT; được cụ thể hóa trong những chương trình xã hội do các cá nhân, tổ chức xã hội cùng chung sức thực hiện

Trong nghiên cứu của Phan Đại Doãn (2010, tr 69 - 70), NCT trong xã hội truyền thống có vai trò, vị trí xã hội đặc biệt được coi trọng Họ có quyền tham gia vào các cuộc họp với Quan viên, tham gia xây dựng hương ước làng, xã Người trẻ thấy người già tay xách nặng thì đều chủ động đến gần mang xách hộ, nếu cứ lững thững bỏ đi sẽ bị làng bắt phạt Khi người làng có sự việc uất ức trình báo thì trước hết NCT sẽ đứng ra xét xử, chỉ khi nào xét xử không thành thì mới đưa sự việc lên Quan trên Khi làng có công việc chung thì NCT thường ra đình làng bàn cách tổ chức triển khai, khi làng xóm có mâu thuẫn, bất hòa mà muốn dàn xếp với nhau thì

có thể mời NCT giúp đỡ Những điều này cho thấy NCT có vị thế được làng, xã tôn trọng và thừa nhận

Tương tự, nghiên cứu của Bộ Y tế (2017, tr 194 – 195), của Lê Văn Khảm (2014b, tr 80) cũng cho thấy NCT luôn nhận được sự kính trọng của xã hội thể hiện qua quan niệm “Kính lão đắc thọ”, “Thương già già để tuổi cho” Đây là truyền thống có từ xa xưa, được các thế hệ kế tiếp duy trì Cũng theo Bộ Y tế (2017, tr 196 – 202), sự kính trọng nêu trên được Nhà nước đưa vào trong Hiến pháp năm 2013

với nội dung “người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”, được thể chế

hóa thành những chính sách, chế độ đãi ngộ cụ thể, như: chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên nhằm cải thiện mức sống cho NCT nghèo, chế độ đưa NCT cô đơn vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại các trung tâm Bảo trợ xã hội, chính sách hỗ trợ nhà ở cho NCT là người có công với cách mạng hoặc thuộc diện hộ nghèo; chế độ miễn, giảm giá vé tham quan, du lịch, sử dụng các phương tiện giao thông công cộng

Trang 37

Thực tế, sự tôn trọng của xã hội dành cho NCT còn được thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc NCT nghèo, giúp họ có mái nhà để ở, có quần áo ấm để mặc, tổ chức các hoạt động xã hội tôn vinh, giúp họ hòa nhập với xã hội nhằm tránh cảm giác lạc lõng, bơ vơ bên lề xã hội Phân tích của một số nghiên cứu cho thấy, các tổ chức đoàn thể, quần chúng thể hiện sự tri ân, chăm sóc dành cho NCT bằng tinh thần văn

hóa truyền thống “lá lành đùm lá rách”, bằng những hoạt động thăm hỏi, động viên,

bằng việc tổ chức những hoạt động vui chơi lành mạnh, phù hợp với sức khỏe dành cho NCT Tại những dịp lễ hội, NCT thường được Mặt trận Tổ quốc, Hội NCT, chính quyền địa phương vinh danh, chúc thọ, mừng thọ [Nguyễn Thế Huệ, 2017, tr

286 – 29]

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Tổng cục Dân số - KHHGĐ và UNFRA (2013) còn chỉ ra NCT luôn nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương, được chính quyền tham khảo ý kiến về việc xây dựng chính sách mới, về xây dựng đời sống văn hóa mới, về biện pháp tổ chức, triển khai chính sách đến với cộng đồng Trong nhiều trường hợp, NCT nhận được ủy quyền của chính quyền địa phương cho việc triển khai chính sách đến cuộc sống

Tuy nhiên, nghiên cứu của một số tác giả như Phan Đại Doãn (2010), Võ Đình Liên (2016), Bộ Y tế (2017), Nguyễn Thế Huệ (2017), hay của Tổng cục Dân số - KHHGĐ và UNFRA (2013) cũng chỉ ra hiện tượng thiếu tôn trọng NCT ở một bộ phận thiểu số, nhưng hiện tượng này có xu hướng ngày càng lan rộng Hệ quả của việc thiếu tôn trọng này khiến nhiều NCT cảm giác ngột ngạt, khó chịu trong quá trình tham gia vào nhịp sống xã hội

1.3.Nhóm các nghiên cứu về chân dung xã hội của người cao tuổi thể hiện thông qua việc làm

1.3.1 Động cơ làm việc

Mặc dù đến tuổi nghỉ hưu, nhưng nhiều NCT tiếp tục tham gia TTLĐ Động

cơ làm việc của họ có thể bắt nguồn từ nhu cầu giao tiếp xã hội, rèn luyện sức khỏe, cống hiến cho xã hội, nhưng cũng có thể bắt nguồn từ nhu cầu tự đảm bảo sinh kế Trên thế giới, theo nghiên cứu của Weber D và cộng sự (2016, tr.24 – 34) về

“Sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi”, động cơ thúc đẩy NCT làm

việc khá đa dạng Một bộ phận là bởi muốn duy trì sức khỏe tốt, giảm thời gian

Trang 38

sống trên giường bệnh Một số khác là bởi không chịu được cảnh sống ngày càng đơn điệu khi các mối QHXH bị suy giảm, đồng thời không muốn từ bỏ thói quen

sinh hoạt ổn định “sáng đi làm, chiều về nhà” Một bộ phận khác nữa là bởi nhận

thấy bản thân có thể tiếp tục cống hiến cho xã hội Nghiên cứu của nhóm tác giả cũng cho thấy, ngoài các động cơ thúc đẩy nêu trên, một bộ phận NCT khác có mong muốn làm việc là bởi duy trì hoạt động kinh doanh của gia đình, mong muốn tạo thu nhập tự đảm bảo cuộc sống tuổi già

Tương tự, nghiên cứu về “Sự cô đơn, biệt lập và người cao tuổi” của Denis Mannaerts (2016, tr 27 - 29), hay nghiên cứu về “Nghệ thuật lão hóa trong niềm vui” của Ezzedine El Mestiri (2016, tr 14) còn cho thấy nhiều NCT tham gia TTLĐ

là nhằm mục đích cân bằng cuộc sống Theo lập luận của các tác giả thì nhiều NCT không muốn sống cuộc sống cô đơn, trầm cảm tuổi già mà có nhu cầu tham gia TTLĐ Với nhiều NCT thì việc tiếp tục làm việc có nghĩa tiếp tục được giao tiếp với xã hội, tiếp tục cảm nhận cuộc sống có ý nghĩa và nhất là cảm giác bản thân còn đầy năng lực, còn khỏe mạnh Do vậy, sự tham gia TTLĐ là một hình thức giúp nhiều NCT thỏa mãn nhu cầu tận dụng cuộc sống theo cách hợp lý

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu nhấn mạnh, động cơ làm việc của NCT chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của yếu tố kinh tế Chẳng hạn, nghiên cứu của Philippe Antoine và

Valérie Golaz (2010, tr 45 – 50) về “Tình cảnh của người cao tuổi Châu Phi” cho

thấy động cơ tham gia TTLĐ của đa số NCT ở đây là bởi khó khăn kinh tế Với nền kinh tế chậm phát triển, nhiều người lao động khó có thể tích lũy một khoản tiền cho phép họ đủ sống khi về già Độ bao phủ của hệ thống hưu trí ở Châu lục này cũng thấp, mức chi trả lương hưu và các khoản trợ cấp khác đều không đảm bảo

Do vậy, với nhiều NCT, chỉ cần có cơ hội là họ tìm cách có được việc làm Chính bởi cuộc sống bấp bênh mà nhiều NCT có quan niệm tuổi nghỉ hưu không phải là tuổi nghỉ ngơi khi mà chưa thể kiếm đủ tiền lo cho cuộc sống Tuổi nghỉ hưu là tuổi tìm kiếm nguồn thu nhập bổ sung lo cho tuổi già Thực tế, nghiên cứu của Liên hợp quốc năm 2007 [Unions Unis, 2007, tr 9 - 12] cũng cho thấy khi mà chất lượng cuộc sống suy giảm, chi phí chăm sóc sức khỏe tăng cao, nguy cơ rơi vào cảnh nghèo tăng lên thì nhiều NCT có nhu cầu tiếp tục làm việc Điều đó giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống

Trang 39

Tại Việt Nam, theo nhận định chung từ một số nghiên cứu như của Ngân hàng Thế giới (2016), của Richard Jackson và Tobias Peter (2015) hay của Martin Evans

và Susan Harkness (2008), nhiều NCT tiếp tục làm việc thay cho việc vui chơi, an nhàn bên gia đình dù đã đến tuổi nghỉ hưu theo luật định Động cơ làm việc của NCT cũng khác nhau, một bộ phận làm việc để có đời sống tinh thần phong phú, được bảo đảm sức khỏe, nhưng cũng có người làm việc vì lý do sinh kế

Cụ thể, nội dung nghiên cứu về “Biến thách thức thành cơ hội: tương lai của vấn đề hưu trí tại Việt Nam” của Richard Jackson và Tobias Peter (2015, tr 8 - 9), hay về “Người cao tuổi ở Việt Nam: bảo trợ xã hội, hỗ trợ phi chính thức và nghèo đói” của Martin Evans và Susan Harkness (2008) đã chỉ ra rằng các văn bản pháp

luật của Việt Nam quy định người lao động được quyền nghỉ hưu ở tuổi 60 với nam

và 55 với nữ Tuy nhiên, lập luận của các tác giả cho thấy khái niệm “hưu trí” không đồng nhất với khái niệm “người cao tuổi” Đến tuổi nghỉ hưu, nhiều người vẫn tiếp tục làm việc Do vậy, theo phân tích của các tác giả trên, chỉ một bộ phận nhỏ nhóm dân số NCT làm việc với mục đích rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, đại bộ phận còn lại làm việc vì lý do sinh kế Thực tế này khiến cho các tác

giả trên đưa ra nhận định rằng “rất khó có thể diễn giải đúng thái độ đối với việc làm và hưu trí của NCT ở Việt Nam” Nhiều NCT mong muốn nghỉ hưu để hưởng

thụ cuộc sống an nhàn bên gia đình, nhưng ngay sau đó thì nhiều người lại muốn quay trở lại TTLĐ để tránh cuộc sống đơn điệu, buồn tẻ

Nghiên cứu của Mạc Văn Tiến (2015), hay của Lê Ngọc Lân và cộng sự (2010, tr 10) chỉ ra rằng lao động hay nghỉ hưu là quyền của mỗi con người Nhiều NCT lựa chọn quyền tiếp tục duy trì các hoạt động lao động tạo thu nhập là nhằm mục đích tự đảm bảo cuộc sống và tránh phụ thuộc vào kinh tế của con/cháu

Cũng theo phát hiện của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (2016), đa phần NCT Việt Nam không có tài sản tích lũy, mà nguyên nhân là do lịch sử chiến tranh, những giai đoạn trì trệ kinh tế của cơ chế cũ, năng suất lao động thấp bởi trình độ học vấn, tay nghề thấp và thói quen, tư duy, quan niệm đầu tư hết cho con, cháu với niềm hy vọng chúng có thể bứt phá vươn lên Thực tế này thúc đẩy nhiều NCT muốn được làm việc để cải thiện chất lượng cuộc sống

Cũng theo chiều hướng nghiên cứu trên, kết quả nghiên cứu “Hướng tới cuộc

Trang 40

sống khỏe mạnh và năng động cho người cao tuổi ở Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (2016, tr 35), về “Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới” của Doãn Mậu Diệp và cộng sự (2015, tr 224 – 225) nhấn

mạnh tỷ lệ phụ thuộc kinh tế của NCT Việt Nam lên tới 40% tổng dân số nhóm này Đến tuổi 80 trở lên thì trung bình 3 NCT lại có tới 2 người sống phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế của con, cháu Điều này tạo ra nhiều áp lực kinh tế lên vai các thế

hệ trẻ và thúc đẩy nhiều NCT tiếp tục tham gia TTLĐ

Thực tế này cũng được Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2015, tr 41 – 42) chỉ

ra trong nghiên cứu về “Báo cáo tổng quan các nghiên cứu về giảm nghèo ở Việt Nam” Theo đó, sự phụ thuộc của NCT vào con/cháu làm gia tăng tỷ lệ nghèo của

các hộ gia đình Rủi ro rơi vào cảnh nghèo của các hộ gia đình tăng lên khoảng 4% khi trong nhà có một người là NCT và mức độ rủi ro này tăng thêm khi có thêm người thứ hai và người thứ ba Thực tế, khi thu nhập của NCT giảm xuống tất yếu kéo thu nhập của hộ gia đình giảm theo, do vậy, mỗi khi có các cú sốc kinh tế xảy

ra thì hộ gia đình có NCT thường là những trường hợp đầu tiên cảm nhận sự tác động tiêu cực của chúng Chính bởi nguyên nhân này mà nhiều NCT mong muốn tiếp tục làm việc

Tương tự, phát hiện của Wan He và cộng sự (2016, tr 91 – 94) cũng cho thấy những NCT có thể tự đảm bảo cuộc sống từ các nguồn tích lũy trong quá khứ hoặc cho thuê tài sản thường ít có động lực tham gia TTLĐ Với họ, quãng thời gian còn lại nên được dành cho các hoạt động tiêu khiển, hưởng thụ Tuy nhiên, tỷ lệ nhóm dân số này không cao trong tổng dân số NCT, do vậy, phần lớn NCT còn sức khỏe đều có nhu cầu tiếp tục làm việc để có thể tự đảm bảo cuộc sống

Cũng theo chiều hướng nghiên cứu này, Ngân hàng Thế giới (2016), Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2015), Nguyễn Nam Phương và Ngô Quỳnh An (2013), Nguyễn Thế Huệ (2016), Phạm Vũ Hoàng (2014), T Van Nguyen và cộng sự (2017), hay Richard Jackson và Tobias Peter (2015) đều lập luận nêu rõ NCT có nhiều lo lắng, bất an về mặt kinh tế, đó là: (1) thu nhập trung bình của họ thấp hơn mặt bằng chung của xã hội và giảm dần; (2) tỷ lệ gặp khó khăn kinh tế ngày càng tăng cao ở những năm tháng cuối đời; và (3) nguy cơ tiêu hết tiền trước khi chết khiến nhiều người sống trong cảnh lo lắng cho tuổi già Để đối phó với thảm cảnh

Ngày đăng: 16/06/2021, 09:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w