Mục tiêu hướng đến của dự án là nhằm “ nâng cao sinh kế của người dân sống dựa vào hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế bằng cách phát triển quản lý bền vững có sự tham gia đối với các tài n
Trang 2Điều tra cơ bản kinh tế-xã hội
vùng đầm phá Huế
Phần 1 Báo cáo điều tra
Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thuỷ sản Châu Á – Thái Bình Dương (NACA)
Hà Nội, tháng 6, 2006
Trang 31 Giới thiệu về chương trình điều tra cơ bản
Cơ sở của hoạt động nghiên cứu
Dự án Quản lý Tổng hợp các Hoạt động Đầm phá (IMOLA) là một dự án của FAO đóng tại tỉnh
Thừa Thiên Huế Mục tiêu hướng đến của dự án là nhằm “ nâng cao sinh kế của người dân sống
dựa vào hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế bằng cách phát triển quản lý bền vững có sự tham gia đối với các tài nguyên thuỷ-sinh học vùng đầm phá, phù hợp với các yêu cầu về kinh tế xã hội và sản xuất của người dân, và với sự nhấn mạnh đặc biệt vào những vai trò của giới, thành quả của an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo.” Dự án IMOLA mong muốn đạt được mục
tiêu của mình thông qua việc “ phát triển và thực hiện một kế hoạch quản lý tổng hợp vùng đầm phá được xây dựng dựa trên sự đồng thuận của những bên liên quan, mà qua đó cân bằng việc sử dụng bền vững các tài nguyên vùng đầm phá với các sinh kế và nhu cầu của những người sử dụng tài nguyên.” Dự án có 6 kết quả đầu ra như sau:
Kết quả đầu ra 1: Các vấn đề về sinh học và vật lý tác động đến vùng đầm phá Thừa Thiên Huế được mô tả và nắm bắt;
Kết quả đầu ra 2: Các phương diện chính sách và quy định về vấn đề sử dụng tài nguyên thuỷ sản được xác định và nêu lên nhằm hỗ trợ việc quản lý tổng hợp;
Kết quả đầu ra 3: Nâng cao năng lực cho các cơ quan cấp tỉnh (DOFI, DOSTE, DONRE, DPI, DOLISA, DARD) nhằm thu thập và quản lý thông tin liên quan đến việc ra quyết định về quản
lý tổng hợp đầm phá Thừa Thiên Huế;
Kết quả đầu ra 4: Sự hiểu biết được nâng cao và hành động đáp ứng các vấn đề kinh tế xã hội
và sinh kế của những người sử dụng tài nguyên đầm phá được thực hiện thí điểm;
Kết quả đầu ra 5: Một kế hoạch quản lý tổng hợp vùng đầm phá được phát triển thông qua một quá trình thảo luận và tham gia với những người sử dụng đầm phá và những bên liên quan; và Kết quả đầu ra 6: Điều phối và liên hệ với các tổ chức khác để nâng cao nhận thức về kế hoạch quản lý tổng hợp và các hoạt động dự án IMOLA
Trong khuôn khổ kết quả đầu ra 3, 4, và 5 và theo yêu cầu của dự án FAO-IMOLA, Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương (NACA) đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để tiến hành một chương trình tập huấn và điều tra cơ bản kinh tế-xã hội sử dụng công
cụ Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), Phân tích sinh kế bền vững (SLA), và Nghiên cứu khảo sát sử dụng bảng câu hỏi (QS) tại các xã được chọn quanh vùng đầm phá Huế NACA đã tiến hành các hoạt động sau:
1 Điều phối và thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua việc tiến hành công tác;
2 Tập huấn và tiến hành các công cụ PRA & SLA;
3 Tập huấn và tiến hành công cụ Khảo sát sử dụng bảng câu hỏi; và
4 Tập huấn quản lý và phân tích dữ liệu và hoàn tất báo cáo
Lập báo cáo
Hai báo cáo chuyển tiếp đến nay đã được lập xong để điểm lại việc tập huấn PRA và SLA, và các kết quả bước đầu từ 6 hoạt động PRA được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 3, 2006 Một báo cáo chuyển tiếp thứ 3 được hoàn thành trong tháng 5 mô tả lại các kết quả ban đầu việc phân tích điều tra sử dụng bảng câu hỏi
Các đầu ra cuối cùng
Theo Thư thoả thuận giữa FAO và NACA, các đầu ra cuối cùng dưới đây đã được hoàn thành:
1 Điều tra cơ bản kinh tế xã hội vùng đầm phá Huế
2 Cẩm nang hướng dẫn tiến hành PRA-SLA;
3 Cẩm nang hướng dẫn tiến hành điều tra sử dụng bảng câu hỏi;
Trang 44 Tài liệu và sổ tay tập huấn,
5 Sáu hoạt động PRA-SLA;
6 Đánh giá tập huấn và người tham gia tập huấn, và các bài học kinh nghiệm
Điều tra cơ bản kinh tế xã hội vùng đầm phá Huế
Mặc dù các kết quả từ việc điều tra sử dụng bảng câu hỏi rất dài, báo cáo cơ bản kinh tế xã hội
đã được chia thành 2 phần nhằm mục đích làm cho nó rõ ràng và đơn giản hơn cho người đọc Hai phần này bổ sung lẫn nhau và như sau:
Phần I: Báo cáo điều tra;
Phần II: Phương pháp và các kết quả điều tra chi tiết
Phần I Tổng hợp các kết quả chính thu được từ việc xem xét dữ liệu thứ cấp phù hợp, sáu hoạt
động PRA-SLA, phỏng vấn bán cấu trúc với những người cung cấp thông tin chính, Đánh giá nhu cầu tập huấn và Điều tra sử dụng bảng câu hỏi
Phần II Cung cấp một cái nhìn tổng thể về cấu trúc điều tra cơ bản và phương pháp tiến hành
kèm theo trong suốt quá trình điều tra, và các kết quả điều tra chi tiết từ việc áp dụng điều tra
sử dụng Bảng câu hỏi đã được triển khai tại 11 xã quanh vùng đầm phá Huế (cấu trúc được giải thích rõ trong Phần II)
Cấu trúc của Phần I: Báo cáo điều tra
Báo cáo này được tổ chức thành 5 chương chính Mỗi chương tập trung vào một phạm vi cụ thể mặc dù mỗi lĩnh vực đều có liên quan đến những lĩnh vực kia Mục tiêu nhằm tổng hợp tình trạng vùng đầm phá trong lúc nhấn mạnh các vấn đề chủ yếu và những tác động đến sinh kế của các cộng đồng dân cư đầm phá, và đề xuất các giải pháp phù hợp
Chương 1 giới thiệu về điều tra cơ bản (giới thiệu hiện thời)
Chương này tóm tắt toàn bộ quá trình và các hoạt động mà NACA đã đảm trách theo thoả thuận với Dự án FAO-IMOLA, và chú trọng đến các kết quả đầu ra chính
Chương 2 nêu bối cảnh chung vùng đầm phá Huế
Phần này nêu lên một cái nhìn tổng thể về các đặc điểm chủ yếu của đầm phá Huế, bao gồm các phương diện địa lý, thiết chế, và kinh tế xã hội Chương này được tổ chức theo Khung biện pháp tiếp cận với sinh kế bền vững (DFID, 1999), qua đó các điều kiện về sinh
kế của các nhóm cộng đồng được môt tả và phân tích trong phạm vi bối cảnh của khả năng
dễ bị tổn thương, các tài sản sinh kế và các chiến lược, và chính sánh & khung thể chế
Chương 3 về ngành thuỷ sản
Chương này được chia thành 2 lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt, dù mỗi lĩnh vực đều có tầm quan trọng đối với sinh kế cộng đồng và môi trường đầm phá
Chương 4 về ngành nông-lâm nghiệp
Chương 4 tập trung vào 3 hợp phần trong ngành nông lâm nghiêp: nông nghiệp, lâm nghiệp, và chăn nuôi
Chương 5 nêu các đề xuất
Cuối cùng, các đề xuất được đưa ra để xem xét các vấn đề xuyên suốt và các nhu cầu cụ thể của mỗi ngành, và dựa trên việc phân tích tình hình quanh vùng đầm phá Huế Ngoài
ra, nó còn bao gồm các đề xuất do nhóm công tác của NACA đưa ra và những đề xuất được nêu lên từ các cuộc phỏng vấn và PRA
Trang 5Mục lục
1 Giới thiệu về điều tra cơ bản 1
Mục lục 3
Các từ viết tắt 4
2 Bối cảnh chung của đầm phá Huế 100
3 Ngành thuỷ sản 24
3.1 Nuôi trồng thuỷ sản 25
3.2 Khai thác thuỷ sản 38
4 Ngành nông-lâm nghiệp 50
4.1 Nông nghiệp 50
4.2 Lâm nghiệp 53
4.3 Chăn nuôi 53
5 Các đề xuất 577
6 Tham khảo 677
7 Phụ lục 70
Trang 6Viết tắt
AA Hội nghề cá
AFFS Hội nghị đầu bờ trong nuôi trồng thuỷ sản
BMP Thực hiện quản lý tốt hơn
BOD Nhu cầu ôxy sinh học
CoC Quy tắc ứng xử
CPC Uỷ ban Nhân dân xã
CPUE Năng lực đánh bắt trên mỗi đơn vị
CSSH Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Khoa học Huế
DANIDA Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch
DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
DFID Cơ quan phát triển quốc tế
DOFI Sở Thuỷ sản
DOLISA Sở Lao động Thương binh Xã hội
DONRE Sở Tài nguyên Môi trường
DOSTE Sở Khoa học và Công nghệ
DOT Sở Du lịch
DPC Uỷ ban Nhân dân huyện
DPI Sở Kế hoạch và Đầu tư
EIA Đánh giá tác động môi trường
FA Hội nghề cá
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc
FEC Trung tâm Khuyến ngư
FSPS Chương trình hỗ trợ ngành thuỷ sản
GAP Thực hiện tốt hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
GOV Chính phủ Việt Nam
HH(s) Hộ gia đình
HUAF Đại học Nông Lâm Huế
ICZM Quản lý tổng hợp vùng ven bờ
IDRC Trung tâm Nghiên cứu Phát triển quốc tế (Canada)
IMOLA Quản lý tổng hợp các hoạt động đầm phá
IPM Quản lý sâu bệnh tổng hợp
LoA Thư thoả thuận
MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
MFI Thiết chế tài chính quy mô nhỏ
MOFI Bộ Thuỷ sản
MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư
MRC Uỷ ban sông Mêkông
NACA Mạng lưới các trung tâm nuôi trồng thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương
NAV Tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam
PC Hội đồng Nhân dân
PCR Phản ứng dây chuyền Polymerase
PFA Hội nghề cá cấp tỉnh
PPC Uỷ ban Nhân dân tỉnh
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
QS Điều tra sử dụng bảng câu hỏi
RIA(-1-2-3) Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản (No.1) (No.2) (No.3)
SEAFDEC Trung tâm Phát triển Thuỷ sản Đông Nam Á
SEDP Kế hoạch Phát triển Kinh tế Xã hội
SLA Phân tích sinh kế bền vững
SUMA Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nuôi trồng biển
TA Hỗ trợ kỹ thuật
Trang 7TNA Đánh giá nhu cầu tập huấn
TOR Các đề cương tham chiếu
TTHRDP Chương trình Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế
UN Liên Hiệp Quốc
VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
VBSP Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam
VEW Khuyến ngư viên tình nguyện
VIFEP Viện kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản Việt Nam
VINAFIS Hội nghề cá Việt Nam
VND Đồng Việt Nam
WSD Bệnh đốm trắng
WSSV Hội chứng virus đốm trắng
WU Hội Phụ Nữ
Trang 81.1 Tóm tắt thực hiện
Mục tiêu của điều tra nghiên cứu
Mục tiêu dự án IMOLA hướng đến là vấn đề quản lý bền vững các tài nguyên đầm phá Thừa Thiên Huế, là bộ phận tác động tích cực lên sinh kế của những người sử dụng tài nguyên thuỷ sản Qua điều tra đã xác định được các vấn đề chủ yếu đang tác động đến môi trường đầm phá trong mối quan hệ với sinh kế của các cộng đồng, cùng với các biện pháp khắc phục, một số trong đó được hỗ trợ bằng các đầu ra và hoạt động của dự án IMOLA Do đó, IMOLA có thể là công cụ khởi xướng và thúc đẩy những quá trình hướng đến vấn đề quản lý đầm phá tốt hơn
Nền tảng chung
Nền kinh tế của tỉnh duyên hải miền trung Thừa Thiên Huế đã phát triển đáng kể trong 5 năm qua, đạt được một tỉ lệ giảm nghèo từ 25% xuống 8% Khoảng chừng 1/3 dân số của tỉnh sống dựa vào vùng đầm phá với diện tích 22.000 ha, lớn nhất Đông Nam Á Lũ lụt, sạt lở vùng ven
bờ, và sự bồi tụ trầm tích đang là những vấn đề đáng lo ngại Những cộng đồng dân cư sống quanh vùng đầm phá dựa vào 3 hoạt động tạo thu nhập chính: đánh bắt thuỷ hải sản, nuôi trồng thuỷ sản, và nông nghiệp, bao gồm lâm nghiệp và chăn nuôi Các nghề phụ khác bao gồm những công việc theo mùa vụ, xây dựng và dịch vụ Sự thiếu sinh kế chuyển đổi nói chung cũng như sự gia tăng dân số được phản ảnh ở việc gia tăng di cư và áp lực lên các tài nguyên đầm phá, thể hiện những tín hiệu của việc khai thác không bền vững
Ngành thuỷ sản đóng một vai trò kinh tế xã hội quan trọng ở tỉnh Thừa Thiên Huế nhờ có bờ biển trải dài và vùng đầm phá rộng Trong lúc nghề đánh bắt dường như đã đạt đến ngưỡng sản xuất, ngành nuôi trồng thuỷ sản đã phát triển đáng kể trên một diện tích sản xuất rộng 5.350 ha và cho sản lượng 7.000 tấn trong năm 2005 Nghành thuỷ sản vùng đầm phá và môi trường xung quanh đã trải qua những thay đổi lớn trong những năm vừa qua về mặt sử dụng tài nguyên, kể cả tài nguyên thuỷ sản, đất và nước, và điều này ảnh hưởng sâu sắc đến các
cộng đồng mà sinh kế của họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp dựa vào vùng đầm phá
Các vấn đề xuyên suốt
Toàn vùng thường bị ảnh hưởng bởi những cơn lũ hằng năm, khiến sinh kế và đời sống cộng đồng đứng trước nguy cơ Một số cộng đồng dân cư sống trên thuyền vẫn chưa định cư, và hầu như hoàn toàn dựa vào hoạt động đánh bắt nhỏ lẻ Các tài nguyên thuỷ sản đang đứng trước nguy cơ do việc khai thác quá mức, ô nhiễm nước và diện tích mặt nước đầm phá bị thu nhỏ lại
do sự lấn chiếm của các ngư cụ Điều này còn gây mất mát cho toàn bộ hệ sinh thái bao gồm
cả những bãi lầy bằng phẳng Trình độ dân trí vẫn còn thiếu đồng đều ở 32 xã sống quanh đầm phá do thiếu trường cấp III Mặc dù hạ tầng giao thông nhìn chung là tốt hoặc đang được nâng cấp, một số xã vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận hệ thống đường giao thông, và phương tiện vận tải chính vẫn dựa vào các thuyền nhỏ băng qua đầm phá Điều này làm hạn chế việc tiếp cận đến các thị trường Các cộng đồng nghèo vẫn gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận với các chương trình tín dụng chính thức nếu không có tài sản để thế chấp Các chương trình tín dụng nhỏ đang sẵn có tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam, Hội Phụ nữ và các sáng kiến do dự
án khởi xướng mặc dù trong thực tế nhu cầu lớn hơn khả năng cung ứng
Nông nghiệp
Nông nghiệp được xem như một hoạt động kinh tế chính và một phương tiện để thoát khỏi nghèo đói Việc phát triển thiếu quy hoạch phù hợp trong những năm qua đã dẫn đến nhiều vấn đề làm trì hoãn khả năng phát triển của ngành này Hơn 73% số người nuôi trồng thuỷ sản đang liên quan đến hoạt động nuôi tôm, chủ yếu sử dụng phương pháp quảng canh cải tiến và bán thâm canh Cá nước ngọt, nước lợ, và cá biển cũng được nuôi lồng và chắn sáo, trong lúc hoạt động nuôi nhuyễn thể vẫn trong giai đoạn thử nghiệm ban đầu Tôm giống sẵn có trong
và ngoài tỉnh, tuy nhiên số lượng và chất lượng là vấn đề còn phải bàn Giống cá biển chủ yếu được bắt từ thiên nhiên Cá giống nước ngọt chỉ có sẵn ở vùng cách xa đầm phá và chất lượng thấp Nông dân có kiến thức kỹ thuật hạn chế và bệnh tôm luôn xảy ra hằng năm, ảnh hưởng đến trên 90% nông dân Việc mất mùa liên tục gây nên những khoản nợ lớn Tập huấn khuyến
Trang 9ngư do cả chính quyền và tư nhân cung cấp cần phải phối hợp tốt hơn để thoả mãn nhu cầu của người nông dân
Vùng ven phá đang bị lấn chiếm bởi những ao nuôi được xây dựng trong vùng hạ triều, và điều này có thể dẫn đến thất bại và làm mặn hoá đất nuôi trồng thuỷ sản Rõ ràng hiện nay đầm phá đã đạt đến mức tối đa khả năng chịu tải đối với chất thải, đặc biệt là trong mùa khô Tình thế hiện nay đòi hỏi phải có sự giảm thiểu các chất thải và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng Việc mở rộng khu vực nuôi trồng thuỷ sản trong tương lai phải được xem xét kỹ nhằm không gây thêm áp lực lên hệ thống đầm phá Những người sản xuất nhỏ và nghèo ở Huế gặp phải vấn đề trong việc tìm kiếm thị trường thay vì bán cho tư thương, do các nước xuất khẩu đòi hỏi ngày càng cao về nguồn gốc hàng hoá và các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó cần có kế hoạch xác nhận hiệu quả chi phí sản xuất
Đánh bắt thuỷ hải sản
Các cộng đồng đầm phá Huế có truyền thống lâu đời trong hoạt động đánh bắt thuỷ hải sản, là một trong những sinh kế quan trọng nhất Có hơn 30 loại ngư lưới cụ khác nhau hiện đang được sử dụng bao gồm cả những ngư cụ được đặt cố định, chiếm một diện tích lớn trên đầm phá và gây nên những trách chấp về ngư trường khai thác Sự suy giảm tài nguyên thuỷ sản liên tục và rõ ràng đã được ghi nhận trong vòng những năm gần đây do sự khai thác quá mức
và sự xuống cấp của môi trường
Ngư dân sống quanh vùng đầm phá Huế có truyền thống lâu đời về các quy định theo thông lệ
và việc liên kết lại cùng nhau theo nhóm Theo một quy định mới ở cấp tỉnh về quản lý thuỷ sản vùng đầm phá, Sở Thuỷ sản và chính quyền các địa phương trong tỉnh đang thúc đẩy việc hợp pháp hoá các quyền đánh các theo thông lệ thông qua việc thành lập các Hội nghề cá Đây
có thể xem như một động thái khởi đầu quan trọng hướng đến việc sử dụng bền vững các tài nguyên đầm phá dưới một cơ chế đồng quản lý Cho đến nay, Sở Thuỷ sản đã thành lập được
14 Hội nghề cá cơ sở và 1 Hội nghề cá cấp tỉnh, hiện nay vẫn đang còn trong giai đoạn sơ khai
Nông-lâm nghiệp
Nông-lâm nghiệp, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi được xem như là sinh kế bền vững nhất cho các cộng đồng sống quanh đầm phá Huế và cho nền kinh tế của tỉnh Do vậy cần thiết phải tìm các biện pháp để tối ưu hoá hiệu quả mà ngành này đang đem lại cho nhân dân địa phương Trong lúc ngành nông nghiệp chủ yếu là một hoạt động tự cung tự cấp, ngành nuôi trồng thuỷ sản được xem như một ngành nghề kinh tế và do vậy nhiều diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi sang mục đích nuôi trồng thuỷ sản Lúa vẫn là cây lương thực chính mặc dù chi phí sản xuất tăng và giá thị trường thấp Chất dinh dưỡng, BOD, thuốc trừ sâu thải
ra từ hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi cũng là một nguồn gây ô nhiễm nước đầm phá Do
đó cần có các quy định cụ thể và cần phải quản lý tốt các hoạt động nông nghiệp để giảm thiểu các ảnh hưởng xấu đó Các hệ thống thuỷ lợi cần phải được nâng cấp và việc phòng chống xâm nhập mặn cần phải được tăng cường Hoạt động lâm nghiệp còn hạn chế ở một số vùng cụ thể đặc biệt là ở vùng thấp trũng của đầm phá ở huyện Phú Lộc
Các đề xuất chủ yếu nhằm nâng cao sinh kế cho các cộng đồng và quản lý đầm phá Các đề xuất mang tính chất xuyên suốt
Xác định các nhu cầu tín dụng và xây dựng các chương trình tích luỹ tiết kiệm và tín dụng quy mô nhỏ, và các nguồn vốn xoay vòng thông qua Hội Phụ nữ nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư của người nông dân; tổ chức các khoá tập huấn cho nông dân, đặc biệt là phụ nữ, về vấn đề lập kế hoạch kinh tế và kinh doanh; tập huấn cho Hội Phụ nữ nhằm nâng cao khả năng quản lý tài chính về tích luỹ và tín dụng;
Xác định và đẩy mạnh các sinh kế chuyển đổi trong phạm vi ngành thuỷ sản: chế biến sản phẩm sau thu hoạch; dịch vụ (sửa chữa thuyền, đan lưới), sản xuất vôi và nước đá;
Trang 10Hỗ trợ các nghề khác ngoài ngành thuỷ sản: thợ mộc, xây dựng, sửa chữa máy móc cơ khí, điêu khắc đá; đẩy mạnh nghề thủ công mỹ nghệ; du lịch sinh thái;
Xác định các cơ chế phù hợp nhằm nâng cao vai trò tham gia của phụ nữ trong các hoạt động dự án và tập huấn (đặc biệt liên quan đến tài chính và kinh tế), tuỳ theo công việc thường ngày trong gia đình của họ;
Nâng cao năng lực và các kỹ năng của chính quyền địa phương thông qua tập huấn hướng đến các sinh kế của cộng đồng;
Hỗ trợ các cơ quan nhà nước để tiếp cận phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân;
Hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc phát triển các kế hoạch sử dụng đất và đầm phá tổng hợp đa ngành, và nuôi trồng thuỷ sản trong một khuôn khổ quản lý tổng hợp vùng ven bờ;
Tiến hành các nghiên cứu nhằm tìm hiểu loại hình và tần suất các cơn lũ cũng như bản chất của nó, và xác định các biện pháp phòng chống thiên tai phù hợp; làm thí điểm tại một số nơi;
Phát triển và tăng cường cơ sở hạ tầng chủ yếu tại các vùng nông thôn: đường sá, hệ thống thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, và hệ thống đê phòng lũ và ngăn mặn
Nâng cao việc lập quy hoạch cho các vùng nuôi trồng thuỷ sản dựa trên năng lực chịu tải, EIA và các vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn;
Giảm bớt việc thải các dưỡng chất, thuốc bảo vệ thực vật, và rác thải công nghiệp từ lưu vực;
Chất thải từ các ao nuôi trồng thuỷ sản phải được xử lý trước khi nó được thải ra đầm phá; Xem xét việc giới thiệu nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền - các khoản thuế áp dụng cho người gây ra ô nhiễm;
Tăng cường lưu lượng nước đầm phá nhằm nâng cao chất lượng nước bằng cách tạo những hành lang thông thoáng giữa các khu vực nuôi chắn sáo, nò sáo;
Chấm dứt việc lấn chiếm đầm phá để xây dựng ao nuôi trong vùng triều và vùng đầm phá,
và phục hồi lại các môi trường sinh sống của động thực vât;
Tăng cường khả năng tiếp cận đến thông tin về thị trường nội địa và quốc tế, và xác định các thị trường có thể lựa chọn Giúp đỡ các cộng đồng xây dựng những mối liên hệ thương mại với những thị trường này, hướng dẫn họ từng bước trong quá trình này; quảng bá các sản phẩm chất lượng cao (v.d sản phẩm thuỷ sản đã chế biến; nếp và gạo được trồng trong vùng nước lợ);
Xây dựng các quy định và hướng dẫn thông qua quá trình có sự tham gia hướng đến các vùng Nuôi trồng Thuỷ sản An toàn, kết nối với Quy định thực hiện Nuôi trồng có Trách nhiệm (COP/CoC), các Biện pháp Thực hiện tốt Nuôi trồng Thuỷ sản (GAP), và các Biện pháp Quản lý Tốt nhất (BMP); Phát triển các kế hoạch cấp chứng nhận an toàn thực phẩm
mà người nghèo có thể tiếp cận;
Phát triển các dịch vụ khuyến ngư của nhà nước và tư nhân và đẩy mạnh việc điều phối giữa các cơ quan liên quan đến hoạt động khuyến ngư (chính quyền, tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học, các dự án); khuyến khích hình thức tập huấn khuyến ngư giữa nông dân và nông dân;
Xác định các nhu cầu tập huấn và tập huấn kỹ thuật cho nông dân trong nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản và nông-lâm kết hợp Tập huấn phải bao gồm phương diện kỹ thuật
và kinh tế và phải phù hợp với từng bối cảnh và đặc điểm kinh tế cụ thể;
Hỗ trợ Sở Thuỷ sản thực hiện chiến lược củng cố các Chi hội nghề cá hiện nay và hỗ trợ việc thiết lập các chi hội mới thông qua việc đánh giá xác định nhu cầu;
Xác định và hỗ trợ các cơ chế đảm bảo tính bền vững về tài chính và dòng thông tin đến các nông dân và các hội đoàn, v.d OASIS;
Nuôi trồng thuỷ sản
Trang 11Xác định và xúc tiến các mô hình nuôi trồng thuỷ sản và các loài nuôi thích hợp đòi hỏi ít chi phí đầu tư nhằm giảm bớt rủi ro;
Chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản đối với các loài thích hợp từ các Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Trung ương và các trường Đại học cho Huế, đặc biệt là các loài lớp dưới trong chuỗi thức ăn v.d bào ngư và hải sâm (RIA-3); ốc babylonia (RIA-3) và tôm
nước ngọt cỡ lớn (Macrobrachium rosembergii) (Đại học Cần Thơ) đem vào nuôi trong các
ruộng lúa nước;
Nâng cao năng lực của chính quyền và các trại giống tư nhân để sản xuất tôm giống với số lượng lớn hơn và chất lượng tốt hơn trong mối liên hệ với các chương trình của Trung tâm Giống Quốc gia; phát triển các trại giống địa phương cung cấp các loài nuôi nước ngọt; Nâng cao năng lực và hiệu quả thực hiện kiểm tra PCR đối với tôm giống;
Nâng cao nhận thức về BMP và GAP của NACA, và phát triển các tài liệu BMP Huế để phục
vụ tốt nhất nhu cầu của nông dân;
Đánh bắt thuỷ sản
Xác định khả năng chịu tải của đánh bắt đầm phá thông qua nghiên cứu thích hợp;
Hỗ trợ Sở Thuỷ sản trong việc quản lý các nò sáo và quy định mới về kích thước mắc lưới
Hỗ trợ Sở Thuỷ sản, các Hội nghề cá được thí điểm và các nhóm ngư dân để phát triển một quá trình có sự tham gia của người dân đối với việc tái phân bổ các quyền đánh cá lên các ngư trường hiện nay và thực hiện nó, đưa vào xem xét khả năng chịu tải của đánh bắt đầm phá;
Tham gia kết hợp các Hội nghề cá và Sở Thuỷ sản với các thử nghiệm ban đầu đối với việc
sử dụng nò sáo và lưới đáy với kích thước mắt lưới khác nhau để kiểm tra hệ thống thuỷ sản;
Xúc tiến các hoạt động nâng cao nhận thức về các chi hội nghề cá thông qua việc phân vùng các thuỷ đạo, nò sáo và các vùng nuôi trồng thuỷ cùng với các cộng đồng ngư dân;
Nuôi trồng thuỷ sản
Ở những nơi có chất đất phù hợp, xúc tiến IPM và mô hình lúa-cá kết hợp;
Đưa vào áp dụng trồng các giống lúa địa phương phù hợp cho những vùng bị nhiễm mặn; Cung cấp con giống chăn nuôi có chất lượng cao, sạch bệnh, và năng suất cao (đặc biệt là lợn);
Trang 122 Bối cảnh chung của đầm phá Huế
Các đặc điểm địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế (TT Huế) nằm ở miền Trung Việt Nam, trải dài trên 128 km và 60 km chiều rộng (Hình 2.1) Nó giáp với tỉnh Quảng Trị ở phía Bắc, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam ở phía Nam, nước CHDCND Lào ở phía Tây, và biển Đông ở phía Đông Vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế chiếm 34% tổng diện tích toàn tỉnh và khoảng chừng 81% dân số Vùng ven
bờ có 5 cửa biển: Thuận An, Tư Hiền, Cảnh Dương và Lăng Cô Thành phố Huế là thủ phủ của tỉnh, và trước đây từng là cố đô của chế độ phong kiến Việt Nam dưới thời Pháp thuộc từ 1883 đến 1945 Tổng diện tích của tỉnh là 5,055 km2 , 1,5 % trong số đó là đất của nhà nước Toàn tỉnh bao gồm 8 huyện và 1 thành phố (Huế) với 150 phường xã Theo số liệu năm 2004, toàn tỉnh có 1.119.800 người với mật độ dân số 222 người/km2 (GSO, 2006)
Địa hình tỉnh Thừa Thiên Huế rất đa dạng, bao gồm rừng, núi, đồi, đồng bằng ven biển, đầm phá, và bờ biển Cao độ của địa hình giảm dần từ Tây sang Đông: Đồi núi ở phía Tây chiếm 70% diện tích tự nhiên và trải dài đến các lưu vực sông Hương, Bồ, Truồi, A-sap, và Ô Lâu, tạo nên các đồng bằng hẹp ven biển và hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai.Các lưu vực của 5 con sông chính bao gồm một hệ thống quanh co các dòng suối và núi, tạo nên một nguồn nước ngọt dồi dào và một hệ sinh thái ven biển đặc trưng Hệ thống đầm phá Tam Giang-Cầu Hai ở
Việt Nam lớn nhất Đông Nam Á và chiếm một diện tích 22.000 ha
Vùng đầm phá là một sự kết hợp kéo dài của của các lưu vực đầm phá được kết nối theo một tuyến chạy song song đến bờ biển Từ hướng Tây Bắc sang Đông Nam, các lưu vực đó là Tam Giang, Thanh Lam (Sam, An Truyền), Hà Trung, Thuỷ Tú, và Cầu Hai Đầm phá có thể chia thành 4 hình thái chính: khu vực nước, các cửa trong vùng thuỷ triều, một hệ thống nhỏ hơn gồm các dãi cát và đụn cát, và bờ đầm phá nằm trong đất liền Một đặc điểm nổi bật của đầm phá TT Huế đó là sự pha trộn rõ rệt giữa nước ngọt và nước biển Điều này tạo nên một vùng Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế (Nguồn: Nguyen và De Vries, 2004)
Trang 13nước lợ mang tính năng động và năng suất cao Đọ mặn của đầm phá bị quyết định bởi các điều kiện thời tiết khô hặc ẩm, với các đặc điểm khác biệt rõ rệt như sau:
Mùa khô: vùng đầm phá phía Bắc tiếp cận với nước ngọt; ở gần cửa Thuận An độ mặn biến thiên trong khoảng 10 đến 30 ppt; ở đầm Thuỷ Tú giữa Thuận An và Cầu Hai và ở ngay trong đầm Cầu Hai, độ mặn vào mùa khô biến thiên trong khoảng 10 đến 25 ppt Thêm vào đó, trong suốt mùa khô cột nước bị phân tầng với những khác biệt lên đến 13 ppt giữa nước trên mặt và dưới đáy
Mùa mưa: Độ mặn dưới 6 ppt ở gần Thuận An; ở gần Tư Hiền và đặc biệt là Ô Lâu, Tam Giang và Cầu Hai độ mặn rất thấp và tiếp cận đến mức bằng 0
Năng suất được tạo nên bởi các chất dinh dưỡng được tiếp nhận vào trong hệ thống thông qua các sông và hằng năm đầm phá tích luỹ các chất lắng đọng và vùng đáy đầm phá nâng cao lên
ở mức từ 2 đến 3 mm (VEPA-VNICZM, 2004; Nguyen và De Vries, 2004) Độ sâu của đầm phá thay đổi tuỳ vị trí và nằm trong khoảng từ 1 đến 10m
Khung pháp lý và thể chế
Ở cấp quốc gia có hệ thống pháp chế phù hợp, ảnh hưởng đến hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế trên nhiều phương diện Điều này đã được nghiên cứu đầy đủ (IMOLA, 2006f) và bao gồm: (1) Luật về Tài nguyên nước (Số 08/1998/QH10); (2) Luật Thuỷ sản (Số 17/2003/QH 11); (3) Luật Đất đai (Số 13/2003/QH11); (4) Nghị định Chính phủ số 109/2003/ND-CP, cùng với một
số Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn khác Việc định nghĩa rõ ràng về đầm phá và các vùng phụ cận và các ranh giới của chúng là rất cần thiết cho công tác quản lý và cho việc phân định các quyền và nghĩa vụ của các cộng đồng đang sinh sống và sử dụng tài nguyên ở các vùng này Do vậy cần thiết phải hỗ trợ các cơ quan chính quyền thực thi các trách nhiệm quản lý của mình Tuy nhiên, hiện nay chưa có định nghĩa nào rõ ràng về các vùng đầm phá Bảng 3.1 tóm tắt các định nghĩa thông thường nhất thích hợp để xác định các vùng đầm phá
Bảng 2.1: Định nghĩa về vùng đầm phá theo thể chế Việt Nam
Vùng
Mặt nước
Đất ngập nước nội địa = khu vực ngập trong nước ngọt hoặc nước lợ, bao gồm sông,
suối, kênh rạch, mương, diện tích mặt nước đặc dụng, hồ và ao
Nguồn nước = Nơi tích luỹ nước tự nhiên hoặc nhân tạo, có thể được sử dụng hay khai
thác, bao gồm sông, hồ, ao
Mặt nước (bên trong) = Nước đang tồn tại trên mặt đất trong lục địa; đất có diện tích
mặt nước bên trong
Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm sông, kênh rạch, mương, suối
Đất nuôi trồng thuỷ sản = đất nuôi trồng thuỷ sản bao gồm đất phi nông nghiệp với
Nhóm đất nông nghiệp: nó bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm ngiệp (sản
xuất, phòng hộ, và đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất sản xuất muối và các loại đất nông nghiệp khác;
Nhóm đất phi nông nghiệp: được phân chia thành các nhóm nhỏ hơn (i) đất thổ cư;
(ii) đất chuyên dụng (đất dành cho việc xây dựng công sở và các mục đích công cộng khác), (iii) đất có sông, arroyos, kênh rạch, suối, và các loại diện tích mặt nước đặc dụng khác; và (iv) các loại đất phi nông nghiệp khác;
Nhóm đất chưa sử dụng: bao gồm đất đồng bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử
dụng, và núi đá không có rừng
Nguồn: IMOLA, 2006f
Trang 14Thêm vào đó, nhiều sự chồng chéo theo chiều ngang và dọc đã được xác định về phạm vi chức năng của mỗi cơ quan quản lý nhà nước, quyền hạn và trách nhiệm trong việc thực hiện quản
lý nhà nước về đầm phá và vùng ven bờ nói chung Điều này có thể gây nên những bất đồng giữa các cơ quan nhà nước trên cùng một vùng quản lý, và có thể không đảm bảo được rằng việc quản lý các chương trình, chính sách và kế hoạch ở mỗi cấp được nhất quán với các vấn đề
đó cở những cấp khác trong sự nhất quán về chính sách theo chiều dọc Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phi tập trung hoá hiện nay về quyền hạn và nhiệm vụ trong hệ thống thiết chế Việt Nam và gây trở ngại cho tiến trình giảm thiểu các bất cập về hành chính (IMOLA, 2006f)
Quyền sở hữu và các quyền của người sử dụng trong vùng ven bờ
Quyền sở hữu có thể được định nghĩa là những quyền quan hệ đến tài sản như đã nêu trong Điều 173 của Bộ luật Dân sự: “ quyền sở hữu bao gồm các quyền của người chủ sở hữu được sở hữu, sử dụng, và định đoạt tài sản theo các quy định của pháp luật”; theo đó những người sở hữu là những cá nhân hay những chủ thể khác có tất cả 3 quyền nói trên”
Do vậy dường như có thể thấy được rằng toàn bộ vùng đầm phá (diện tích mặt nước, diện tích mặt nước đặc dụng, và diện tích đất) được pháp luật công nhận thuộc sở hữu toàn dân và do
đó Nhà nước thực hiện toàn bộ các quyền sở hữu (IMOLA, 2006f) Các đặc điểm chính về quyền lợi xét đến tài sản thuộc sở hữu toàn dân đối với 3 khu vực đầm phá được xác định đó là:
Các quyền đối với diện tích mặt nước Vùng diện tích mặt nước đầm phá được xem như
nằm trong một cơ chế tiếp cận mở Điều này có nghĩa là mọi người (tạo nên Toàn Dân) đều
có quyền tiếp cận, quyền sử dụng, và quyền khai thác diện tích mặt nước nhưng không ai
có quyền sở hữu hay định đoạt nó;
Các quyền đối với diện tích mặt nước đặc dụng Được quy định như đất phi nông
nghiệp;
Các quyền trên diện tích đất Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho những người sử
dụng dưới hình thức giao đất, cho thuê đất, và công nhận các quyền sử dụng đất cho những người sử dụng đất lâu dài; đồng thời Nhà nước còn quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Điều này được làm rõ như sau
Các hoạt động thuỷ sản được quy định trên đầm phá
Bộ Thuỷ sản là cơ quan Nhà nước thực thi quyền quản lý nhà nước về thuỷ sản, bao gồm nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản, chế biến, bảo vệ và phát triển các tài nguyên thuỷ sản trong đất liền và trên biển trên toàn quốc và quản lý các dịch vụ công Luật Thuỷ sản mới ngày 1/7/2004 cung cấp khung thể chế quốc gia về các hoạt động thuỷ sản được thực hiện bởi các tổ chức, hộ gia đình, và các nhân Nó còn có các điều khoản quy định cụ thể, qua đó trao quyền cho Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh được quyền (a) ban hành các quy định về ngư trường trên sông,
hồ, đầm phá và các vùng nước tự nhiên trong phạm vi quản lý của mình theo sự hướng dẫn của
Bộ thuỷ sản; (b) Lập các kế hoạch cấp tỉnh về phát triển nuôi trồng thuỷ sản, và các khu vực nuôi trồng thủy sản dựa trên quy hoạch tổng thể quốc gia được Chính phủ phê chuẩn
Ở tỉnh TT Huế, quy định về vấn đề quản lý tài nguyên của hệ thống đầm phá bao gồm 3 Quyết định của UBND tỉnh TT Huế vào năm 2004 và 2005:
Quyết định số 3677/2004/QĐ-UB: Phê duyệt Quy hoạch tổng thể về vấn đề quản lý và khai thác tài nguyên thuỷ sản trên hệ thống đầm phá tỉnh TT Huế đến năm 2010;
Quyết định số 4260/2005/QĐ-UBND: Ban hành các quy định về quản lý hoạt động thuỷ sản vùng đầm phá TT Huế;
Quyết định số 3014/2005/QĐ-UBND: Quy định về quản lý môi trường của các vùng nuôi tôm an toàn tỉnh TT Huế
Trang 15Thảo luận sau đây sẽ đề cập đến các quy định đó và điều này cần thiết phải đề cập ở đây rằng
3 văn bản quy phạm pháp luật nói trên có thể được xem xét trước tiên trong quản lý thuỷ sản ở Việt Nam tương ứng với chính sách của Bộ Thuỷ sản Ở đây người ta giới thiệu và nắm bắt các khái niệm và nguyên tắc chính như đồng quản lý, quản lý dựa vào cộng đồng, vùng nuôi trồng thuỷ sản an toàn, giấy phép nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, và xúc tiến thành lập các chi hội nghề cá như là một chiến lược quản lý trọng tâm
Các vùng đầm phá: Một số định nghĩa
Định nghĩa về các phần khác nhau của đầm phá là một yếu tố chủ yếu để phục vụ cho việc thảo luận về pháp lý liên quan đến các quyền của người sử dụng và vấn đề phân bố tài nguyên Quyết định số 3014/QD-UBND đưa ra các định nghĩa sau:
Vùng nuôi tôm hạ triều Vùng ngập trong nước, thường xuyên hoặc tạm thời, nằm dọc theo
bờ đầm phá mà ở đó ao nuôi không thể phơi khô để tiến hành các thủ tục kỹ thuật của hoạt động nuôi tôm thâm canh hay quảng canh Thông thường, vùng nuôi tôm hạ triều là vùng diện tích mặt nước đầm phá nằm ngoài vùng đập ngăn mặn hoặc ngoài các cánh đồng trên bờ đầm phá Theo IMOLA (2006f), vùng này bao gồm cả (a) diện tích mặt nước và (b) diện tích mặt nước đặc dụng và được gọi là vùng nằm trong chế độ thuỷ triều trong báo cáo này
Vùng nuôi tôm cao triều Khu vực không bị ngập nằm trên vùng bờ đầm phá, ở đó ao nuôi có
thể phơi khô để tiến hành các thủ tục kỹ thuật cho hoạt động nuôi tôm thâm canh hay quảng canh Thông thường, vùng nuôi tôm cao triều là vùng nằm trên bờ đầm phá bên trong đập ngăn mặn, hoặc vùng nằm trên các đụn cát đầm phá, hoặc vùng bờ đất cát
Các tổ chức, chính sách, và các chiến lược tương ứng với cộng đồng
Có nhiều tổ chức đóng vai trò quản lý đầm phá Huế và trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng lên các cộng đồng đầm phá Các tổ chức đó bao gồm: các cơ quan nhà nước các cấp, các tổ chức quần chúng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi chính phủ, các dự án phát triển quốc tế, các trường đại học, thành phần kinh tế tư nhân, và các tổ chức xã hội chuyên nghiệp Một mô tả khái quát về một số trong các tổ chức này được nêu tiếp theo đây, và các chi tiết khác có thể thấy trong báo cáo này
Chính quyền Hai bộ phận chính tham gia vào chính quyền cấp tỉnh là Hội đồng Nhân dân (PCs)
và Uỷ ban Nhân dân (PPCs) Hội đồng Nhân dân là các cơ quan dân cử ở cấp tỉnh, huyện, và
xã, trong lúc đó UBND là cơ quan hành pháp của chính quyền ở cấp tỉnh, huyện, và xã
Uỷ ban Nhân dân tỉnh UBND tỉnh là cơ quan hành pháp, thực thi các luật lệ, quy định được
ban hành bởi các cơ quan nhà nước cấp cao hơn và nghị quyết của HĐND Các trách nhiệm của
nó được giao phó bởi HĐND, và chịu sự lãnh đạo của Chính phủ Uỷ ban Nhân dân tỉnh là cơ quan hành pháp đứng đầu ở mỗi tỉnh, với 2 vai trò chính Thứ nhất, nó thực hiện các nghị quyết và báo cáo kết quả thực hiện cho HĐND và chính quyền Thứ hai, là một cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh, UBND chịu sự lãnh đạo của Chính phủ-là cơ quan hành pháp cao nhất Mỗi UBND cấp tỉnh được hỗ trợ bởi các sở ban ngành giúp việc, nhưng các cơ quan này cũng đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các bộ chủ quản của nó (ADB-MPI, 2005)
Hội đồng Nhân dân HĐND ở cấp tỉnh, huyện, xã được cử tri bầu theo nhiệm kỳ 5 năm Số
lượng đại biểu tuỳ thuộc vào số dân, và cơ cấu của nó đại diện cho các ngành nghề và thành phần trong cộng đồng, nghĩa là phụ nữ, nông dân, ngư dân, thanh niên Chức năng chính của
nó là ra các quyết định nhằm huy động các nguồn lực và tài nguyên của vùng Nó có trách nhiệm phê chuẩn các quyết định của UBND tỉnh và giám sát việc thực hiện (ADB-MPI, 2005)
Sở Kế hoạch và Đầu tư Sở KHĐT (DPI) ở mỗi tỉnh giúp việc cho UBND tỉnh trong quản lý nhà
nước về đầu tư Nói có trách nhiệm lập các kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh, đề xuất các chính sách và phương thức thu hút đầu tư, quản lý đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn
Trang 16tỉnh, và hoạt động như một tâm điểm thực hiện các chức năng được giao Sở KHĐT chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh và sự chỉ đạo theo ngành dọc của Bộ KHĐT (ADB-MPI, 2005)
Sở Tài nguyên và Môi trường Các chức năng của Sở TNMT (DONRE) đang được xác định,
nhưng sẽ mở rộng các chức năng của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường (DOST) trước đây
để bao hàm các lĩnh vực như quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, quản lý và bảo vệ môi trường vùng ven bờ (ADB-MPI, 2005)
Sở Lao động, Thương binh, và Xã hội Sở LĐTBXH (DOLISA) chịu trách nhiệm quản lý về lao
động, thương binh, và các vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh Sở LĐTBXH hoạt động dưới sự chỉ đạo và quản lý của UBND tỉnh và dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ chủ quản của nó, Bộ LĐTBXH Sở LĐTBXH đóng một vai trò quan trọng trong các hoạt động bản trợ xã hội, đặc biệt là cho các cộng đồng nghèo vùng ven bờ (ADB-MPI, 2005)
Sở Du lịch Sở Du lịch (DOT), được quản lý bởi UBND tỉnh, giúp việc cho UBND tỉnh về phát
triển du lịch ở cấp tỉnh (ADB-MPI, 2005)
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sở NNPTNT (DARD) chịu trách nhiệm quản lý nhà
nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, các nông trường, và các cơ quan phát triển nông thôn Nó nằm dưới sự quản lý của UBND tỉnh và sự chỉ đạo về chuyên môn của Bộ NNPTNT Ở hầu hết các tỉnh đều có các phòng, chi cục, và trung tâm, ví dụ như chi cục bảo vệ thực vật, chi cục thú y, chi cục khuyến nông khuyến lâm, trung tâm giống cây trồng, chi cục thuỷ lợi và quản lý đê điều, ban quản lý các dự án phát triển nông thôn Ngoài ra nó còn quản lý một số nông lâm trường quốc doanh (ADB-MPI, 2005)
Sở Thuỷ sản Sở Thuỷ sản (DOFI) là một cơ quan quản lý ngành thuỷ sản ở các tỉnh ven biển
Sở TS chịu sự quản lý hành chính của UBND tỉnh và sự chỉ đạo kỹ thuật của Bộ TS Mỗi văn phòng Sở Thuỷ sản thường có từ 15-25 nhân viên trong biên chế, tuỳ thuộc vào vai trò và giá trị thủy sản của tỉnh Sở TS còn quản lý Trung tâm Khuyến ngư và Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Sở Thuỷ sản có trách nhiệm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khuyến ngư, mà hiện nay đang là một hoạt động được đa dạng hoá Các trách nhiệm của Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản gồm (i) đăng ký tàu thuyền đánh cá, kích thước lớn và nhỏ; (ii) quản lý phòng ngừa dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt trong mối quan hệ với việc sản xuất và cung ứng các giống; và (iii) cấp giấy phép đánh cá tại các khu vực cụ thể (ADB-MPI, 2005) Sở TS và Chi cục Khuyến ngư đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng thuỷ sản bằng việc chuyển giao công nghệ, tiến hành tập huấn, thiết kế và xây dựng các mô hình thí điểm về nuôi trồng thuỷ sản, và tư vấn về phòng chống bệnh tôm cá và các vấn đề về quản lý
Các chính quyền cấp huyện Mỗi huyện được chia thành một số xã, thường từ 15 đến 20, với
dân số trung bình khoảng 5.000 Do vậy mỗi huyện chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ và hạ tầng cho một dân số từ 80.000 đến 100.000 dân Huyện là cấp chính quyền cơ bản quản lý về phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản (ADB-MPI, 2005)
Uỷ ban Nhân dân xã Các trách nhiệm của UBND cấp xã cũng tương tự như của UBND tỉnh và
huyện Các chức năng kinh tế chính bao gồm: (i) Phát triển các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hằng năm, (ii) Quản lý ngân sách địa phương, (iii) Kế hoạch phát triển lâu dài bao gồm sử dụng đất và quy hoạch phân vùng, (iv) Khuyến khích người dân trong các hoạt động kinh tế sản xuất, (v) Thúc đẩy việc thành lập và phát triển của các hợp tác xã và các nhóm/tổ chức tập thể, (vi) Quản lý và bảo vệ các tài nguyên nước, thuỷ lợi và các cơ sở hạ tầng khác, (vii) Theo dõi và bảo vệ hệ thống đê điều, rừng, (viii) Khắc phục hậu quả thiên tai; và (ix) Thúc đẩy tích luỹ, chống tham nhũng, và các chính sách hoạt động kinh doanh lành mạnh (ADB-MPI, 2005)
Có thể nói UBND xã là tổ chức rất quan trọng trực tiếp tác động đến các sinh kế của cộng đồng Ngoài ra, UBND xã đóng vai trò thiết yếu tạo điều kiện để nông dân được vay vốn ngân hàng,
và giải quyết các tranh chấp giữa các cộng đồng
Trang 17Quản lý hành chính ở thôn/xóm Mỗi xã bao gồm một số thôn, thường từ 5 đến 10 Không
có cơ cấu hành chính chính thức ở cấp thôn, dù mỗi thôn đều có một trưởng thôn do dân bầu
và một người giúp việc Họ không nhận lương từ ngân sách nhà nước mà chỉ nhận được khoản trợ cấp nhỏ từ thôn Trưởng thôn đóng vai trò như một đại biểu của thôn tham dự họp với lãnh đạo xã khi đề đạt nguyện vọng liên quan đến các vấn đề phát triển thôn xóm Trưởng thôn còn đóng vai trò là người trung gian giữa lãnh đạo xã và người dân Họ thu thập ý kiến của người dân trong thôn và ra quyết định về những vấn đề của thôn Trong các cộng đồng dân tộc thiểu
số, trưởng thôn/bảng thường là một người cao tuổi được cả cộng đồng kính trọng Trưởng thôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chương trình phát triển của địa phương mình (ADB-MPI, 2005)
Các cơ quan chính quyền khác Ban Quản lý các Dự án Sông Hương nằm dưới sự quản lý của
UBND tỉnh và đóng vai trò cố vấn cho UBND tỉnh về các dự án nằm trên lưu vực sông và vùng đầm phá Thêm vào đó, cơ quan này tổ chức các hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế liên
quan đến bảo tồn, phục hồi, và phát triển của cả lưu vực sông và vùng đầm phá
Các tổ chức phi chính phủ Ở Huế có nhiều tổ chức PCP đang hoạt động và thực hiện các dự
án phát triển, chủ yếu ở cấp cơ sở Các hoạt động thường bao gồm xây dựng các chương trình tích luỹ và tín dụng nhỏ với Hội Phụ nữ và giới thiệu các hoạt động tạo thu nhập, ví dụ như tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam (NAV) và chương trình Phát triển Nông thôn Thừa Thiên Huế (TTHRDP)
Các tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng chính thức, nửa chính thức và không chính thức
đóng vai trò quan trọng trong các cộng đồng luôn có nhu cầu về vốn Phụ lục 7.2A nêu các tổ chức tín dụng chính
Khu vực kinh tế tư nhân Khu vực kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong các
cộng đồng và bao gồm các cơ sở giống, đại lý (nhà cung cấp đầu vào), và các hợp tác xã được xác định là các tổ chức kinh tế (IMOLA, 2006f) Ngoài ra, tư thương ở các thôn xóm cũng đóng một vai trò quan trọng đối với các cộng đồng bởi họ cung cấp các trang thiết bị đầu vào phục
vụ sản xuất, cho vay vốn với thủ tục đơn giản, và thu mua sản phẩm mà ngư dân sản xuất được
Các tổ chức quần chúng Các tổ chức này gồm Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Mặt trận Tổ quốc
và Đoàn thanh niên Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động xã hội và tuyên truyền thông tin về pháp luật, chính sách của nhà nước, các tổ chức này còn giúp nông dân tiếp cận với tín dụng trực tiếp thông qua các chương trình tín dụng được tài trợ (xem phụ lục 7.2), hay thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (VBSP)
Các tổ chức xã hội-chuyên nghiệp Đây là các tổ chức chính thức liên kết nông dân cùng
làm một nghề, thường là ở cấp thôn xã Các tổ chức bao gồm chi hội nghề cá và các tổ tự quản Họ đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các cộng đồng cơ sở với các cơ quan chính quyền
Chính sách tái định cư cho dân thuỷ diện
Sau năm 1985 và một trận lũ tàn phá nghiêm trọng, đã có nhiều chương trình tái định cư của chính quyền hướng đến việc cấp đất để xây dựng nhà ở (200 m 2 / hộ gia đình) và nông nghiệp hoặc diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản Ngoài ra mỗi hộ còn được hỗ trợ về mặt tài chính với 2,7 triệu đồng để làm nhà, khắc phục hậu quả của lũ lụt trong 6 tháng và mua sắm các tiện nghi tối thiểu trong gia đình (bếp lò, màn tránh muỗi ) Tuỳ theo các tình hình cụ thể của địa phương, tác dụng của mỗi chương trình cũng khác nhau từ xã này đến xã khác Đã có một số sáng kiến thành công với sự tham gia của toàn cộng đồng ngư dân thuỷ diện này
Trang 18Tuy nhiên, ở một số vùng có chương trình tái định cư, các cộng đồng dân thuỷ diện đã định cư
được cấp ruộng ở những nơi bị mặn hoá và đất trồng kém phẩm chất Ở một số vùng khác, họ
đang có nhu cầu đất để làm nhà Trong một số trường hợp, một số gia đình được cấp đất làm
nhà cách xa nơi diễn ra hoạt động sinh kế của họ, tức là nghề thuỷ sản đầm phá, và không
phải tất cả đều được tập huấn đầy đủ về các sinh kế chuyển đổi, chăn nuôi Do đó họ đã bỏ
nhà và quay trở lại sống trên thuyền để sống nhờ vào các tài nguyên đang trở nên hiếm hoi của
đầm phá Ở Lộc Bình, 60% số hộ tái định cư đã quay trở lại sống trên thuyền khi đã dùng hết
lương thực và phương tiện được cung cấp từ các chương trình tái định cư
Mặc dù chính quyền đã có nhiều nỗ lực đối với các chương trình tái định cư, các cộng đồng dân
thuỷ diện vẫn gặp khó khăn để tiếp cận với đất cư trú Có nhiều cặp vợ chồng trẻ cùng con cái
vẫn chưa định cư được trên đất liền Ở xã Vinh Hưng hiện nay có 60 hộ dân sống trên thuyền
với trung bình 7 khẩu trên mỗi hộ, và con số có thể lớn hơn ở các vùng khác
Kinh tế xã hội
Thừa Thiên Huế là một trong 4 tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, và là
một trung tâm văn hoá, du lịch, giáo dục đào tạo, và y tế Trong năm 2004, giá trị GDP của
tỉnh là 5.842,7 tỉ VND, ngành dịch vụ đóng góp 44%, công nghiệp và xây dựng đóng góp 34%,
và nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 23% vào tổng GDP GDP bình quân đầu
người hằng năm là 580 USD và tỉ lệ tăng GDP cả năm đạt 9,5% Trong năm 2005, kim ngạch
xuất khẩu đạt 40 triệu USD, trong đó giá trị của ngành thuỷ sản đóng góp là 6 triệu USD
(chiếm 15%)
Các hoạt động sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Tỉnh được xếp thứ 39 trong tổng số 64
tỉnh thành trong cả nước về sản xuất lúa gạo, và một phần lớn diện tích đất của tỉnh được dành
cho việc trồng lúa, sản xuất được 246.100 tấn gạo mỗi năm (ADB-MPI, 2005) Ngành thủy sản
phát triển tốt đặc biệt ở vùng đầm phá Huế, bao gồm đánh bắt (biển và nội địa), và nuôi trồng
thuỷ sản Việc phát triển du lịch đã tạo thêm hàng nghìn việc làm và một cách gián tiếp thúc
đẩy sự phát triển của vận tải, thương mại, công nghiệp và các dịch vụ khác (PPC TT Hue,
2005a)
Tỉ lệ thất nghiệp khá cao, đặc biệt ở nhóm thanh niên Năng suất lao động thấp, ở mức khoảng
67,5% so với mức trung bình toàn quốc Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn
2006-2010 ghi nhận vấn đề thất nghiệp và đặt ra chỉ tiêu tạo công ăn việc làm thông qua việc tăng tỉ
lệ lao động được đào tạo lên 40% mỗi năm Thêm vào đó, cơ cấu sản xuất cũng được thay đổi,
và công nghiệp, du lịch, dịch vụ sẽ là động lực chính để phát triển kinh tế xã hội (Bảng 2.2)
Chính quyền tỉnh cũng có kế hoạch phân bố lại lao động để thích ứng với sản xuất đặc biệt là
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cho thanh niên
Đáng lưu ý rằng tỉnh cũng chú trọng đến vấn đề xuất khẩu lao động như là một giải pháp cho
nạn thất nghiệp với việc khuyến khích 1.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài (PPC Hue,
2005a), điều này phù hợp với các đề xuất của Liên Hiệp Quốc (UN Agencies in Viet Nam,
2003)
Bảng 2.2: Các mục tiêu được chọn từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2000-2010 ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Xây dựng và công nghiệp 16,3% (30.9-36.0% của GDP) 15,5-16,0% (42% của GDP)
Dịch vụ 8,2% (43.0-44.0% của GDP) 9,0% (43,0-43,5% của GDP)
Nông lâm thuỷ sản 8,4% (24.1-20.4% của GDP) 5,6% (14,5-15,0% của GDP)
Doanh thu hằng năm từ du lịch + 19,0%/ năm - tổng số 800 tỉ VND +20%/ năm
Số lượng khách du lịch hằng năm + 13,4%/ năm 2,0-2,5 triệu
Mục tiêu về xã hội
Trang 19Chỉ tiêu Giai đoạn
Tỉ lệ đô thị hoá không có thông tin 40%
Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuối bị suy dinh
Hộ nghèo xuống còn 8% (-14,5% tổng số) xuống mức 3%
Nguồn: TT Hue SEDP 2006-2010 (TT Hue PPC, 2005)
Trong 5 năm trở lại đây, chính quyền đã có những nổ lực lớn nhằm thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng Vùng thấp, vùng ven biển, và vùng đầm phá đã có những bước phát triển nông nghiệp,
lâm nghiệp, thuỷ sản về phương diện mở rộng cơ sở hạ tầng cơ bản, ví dụ việc xây mới các cầu
Trường Hà, Hoà Xuân, Quảng Phú, và Tư Hiền và các tuyến đường ven biển ở Cảnh Dương và
Lăng Cô (PPC TT Hue, 2005a) Những bước tiến này đã tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát
triển thương mại và du lịch trong vùng Đần tư từ bên trong, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, vẫn
còn hạn chế
Khu vực kinh tế tư nhân ở Huế đang hoạt động tốt, được khuyến khích bởi các chính sách ưu
đãi Hiện nay toàn tỉnh có 1.280 doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, trong đó có 850 doanh
nghiệp tư nhân, 334 công ty trách nhiệm hữu hạn, và 95 công ty được tư nhân hoá (PPC TT
Hue, 2005a)
Nghèo đói Khoảng cách nghèo đói giữa các huyện không lớn, A Lưới là huyện nghèo nhất
(có 12% số hộ ) so với con số tương đối khá hơn của thành phố Huế (7.5% số hộ) như trong
bảng 2.3 Có những xã thuộc diện đặc biệt khó khăn và tập trung chủ yếu ở các vùng nông
thôn nơi đất kém màu mỡ và thiếu điều kiện thuỷ lợi, ở các vùng đầm phá và đồi núi, và những
nơi này được hưởng lợi từ các chương trình xoá đói giảm nghèo của nhà nước, ví dụ chương
trình 1351 Các chương trình xoá đói giảm nghèo là phổ biến và có hiệu quả, cho dù tính bền
vững là một vấn đề còn phải bàn, do chúng được thúc đẩy nhờ dự án Trong năm 2005 tỉ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng vẫn còn 23% (PPC TT Hue, 2005)
Bảng 2.3: Dữ liệu điều tra dân số và nghèo đói ở Thừa Thiên Huế
Các huyện / thành phố Số xã Dân số Số xã nghèo
Số hộ Số hộ nghèo
Tỉ lệ % số hộ nghèo
Thành phố Huế 5 316.798 60.920 4.553 7,5 Huyện Phong Điền 15 105.685 3** 17.435 1.656 9,5
Huyện Quảng Điền 10 92.228 3** 15.131 1.437 10,5
** Các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 106/QD-TTg ngày 11/6/2004
Nguồn: Văn kiện dự án FSPS, 2005 (đã sửa đổi)
Nghèo đói là một vấn đề đa diện, có thể được tóm gọn lại như là “một sự kết hợp các hoàn
cảnh làm hạn chế các cơ hội sinh kế” Bộ Lao động, Thương Binh, Xã hội (MOLISA) định nghĩa
1 Chương trình 135 nhằm mục tiêu (i) giảm tỉ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn và (ii) cung cấp
nước sạch, đưa hơn 70% ở độ tuổi đi học đến trường, tập huấn về sản xuất cho người nghèo, phòng
chống bệnh nguy hiểm và các bệnh xã hội, và nâng cấp các tuyến đường liên xã và chợ
Trang 20nghèo đói trong giai đoạn 2000-2005 là có thu nhập dưới 80.000 VND/tháng ở các vùng nông thôn Kể từ tháng 7/2005, chuẩn nghèo đói mới là thu nhập dưới 200.000 VND/tháng ở các vùng nông thôn (2,4 triệu VND/người/năm) Bằng những tiêu chí này, tỉnh đã đạt được tỉ lệ giảm nghèo đáng kể trong vòng 10 năm qua, từ 25% năm 1995 xuống còn 8-9% năm 2005 (Kế hoạch PT KTXH 2006-2010)
Nguồn vốn tự nhiên
Các sinh kế và khả năng dễ bị tổn thương Khoảng chừng 300.000 dân thuộc 32 xã ở 5
huyện vùng đầm phá tại 236 thôn (bảng 2.4 và phụ lục 7.1) sinh sống bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp khai thác các tài nguyên thiên nhiên quanh vùng đầm phá (Nguyen và De Vries, 2004) Các sinh kế của hầu hết dân nghèo ở các nước đang phát triển rất đa dạng và phức tạp và thường hay dựa vào nhóm danh mục các hoạt động (Chambers, 1997) Ở Huế, các cộng đồng đầm phá nhìn chung dựa vào 3 hoạt động tạo thu nhập chính: đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản và nông nghiệp, bao gồm cả lâm nghiệp và chăn nuôi Các nghề bổ trợ khác bao gồm thương mại, công việc theo mùa vụ, xây dựng và dịch vụ Từ kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người dân nuôi trồng thuỷ sản như là một hoạt động chính cũng làm nông nghiệp, chăn nuôi,
và đánh bắt thuỷ sản, trong lúc nông dân làm ruộng như là hoạt động chính cũng tiến hành chăn nuôi, nhưng nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản rất hạn chế Ngư dân cũng tham gia nuôi tôm và chăn nuôi nhưng không làm nông nghiệp
Bảng 2.4: Một số đặc điểm về hành chính và dân số của đầm phá Thừa Thiên Huế
Dân số đầm phá/ tổng dân số (%) 2004
Phong Điền 2 / 16 (13%) 2.660 / 95.400 ha (3%) 10.038 / 105.685 (9%) Quảng Điền 8 / 11 (73%) 12.184 / 16.307 ha (75%) 63.046 / 92.228 (68%) Hương Trà 2 / 16 (13%) 2.596 / 52.089 ha (5%) 19.029 / 116.066 (16%) Phú Vang 13 / 20 (65%) 20.636 / 28.031 ha (74%) 127.970 / 181.149 (71%) Phú Lộc 7 / 18 (39%) 29.062 / 72.809 ha (40%) 61.468 / 149.875 (41%)
Tổng cộng 32 / 81 (40%) 67.138 / 264.636 ha (25%) 281.551 / 645.003(44%)
Nguồn: số liệu thống kê của huyện
Các đặc điểm về địa lý và sinh thái của vùng này đã và đang ảnh hưởng lên sinh kế của cư dân địa phương trong suốt một thời gian dài Khí hậu quanh vùng đầm phá nóng về mùa khô và ẩm trong mùa đông Khoảng cách giữa mùa khô và mùa mưa thường rất ngắn và nó ảnh hưởng đến các hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Hạn hán thường xảy ra vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8 và lụt bão thường xảy ra từ tháng 8 đến tháng 10 Đối với các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản vụ thứ 2 có thời gian rất hạn chế do lũ lụt sau những tháng khô hạn Điều này không cho phép việc chuẩn bị ao nuôi phù hợp, với những rủi ro kèm theo Trong mùa lũ, mưa và lũ làm hạn chế giao thông vận tải, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế địa phương
Toàn bộ vùng quanh đầm phá luôn chịu ảnh hưởng của các trận lũ hằng năm và các vùng thấp trũng thường rất dễ bị tổn thương Vào tháng 11/1999, một trận lũ lịch sử đã phá vỡ vùng bao quanh đầm phá ra đến biển, gây nên thiệt hại về tài sản và sinh mạng của hơn 300 người (VEPA-VNICZM, 2004) Người dân đã nỗ lực để khắc phục hậu quả do họ mất hết mọi thứ - thóc lúa, áo quần, đồ đạc, gia súc Thêm vào đó, nhiều cầu cống bị gãy sập và nhiều đường giao thông bị phá huỷ Hiện nay số nhà kiên cố và bán kiên cố đang tăng lên Sau lũ năm
1999, các khu dân cư đầm phá và ven biển đã xây dựng cho người dân định cư dần hồi phục
Trang 21Nguồn vốn tự nhiên bao gồm diện tích và chất lượng đất và nước Nó còn bao gồm động vật,
thực vật, và các loài sống trong vùng Xung đột về nhu cầu sử dụng không gian và các tài
nguyên thiên nhiên đang tăng lên giữa nhiều người sử dụng khác nhau Quanh vùng đầm phá
Huế, nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính và các vùng trồng lúa, đặc biệt là trồng thâm
canh, đang thải ra ngày càng nhiều hoá chất và thuốc trừ sâu vào vùng đầm phá Trong suốt
thập niên vừa qua, các nỗ lực khai thác đánh bắt cá tăng lên, và tài nguyên đang bị lạm dụng
Sự gia tăng dân số trong những năm qua đang gây nên vấn đề khai thác quá mức các tài
nguyên thuỷ sản và sự xuống cấp của môi trường do rác thải không được xử lý và việc sử dụng
nhiều các hoá chất và thuốc trừ sâu
Các môi trường sống của động thực vật vùng đầm phá ví dụ như các loài thực vật ngập trong
nước, rừng ngập mặn và các vùng bùn lầy và cát đã giảm đi nhiều do sự lấn chiếm của các ao
nuôi và chắn sáo (VEPA-VNICZM, 2004) Diện tích đất canh tác đang giảm dần do nhu cầu
ngày càng tăng về đất ở của người dân và phát triển hệ thống giao thông nội bộ trong xã Sự
suy thoái của tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là sự biến mất dần dần của các môi trường
thuỷ sinh đang gây nên mối lo ngại cho các cộng đồng đầm phá Bảng 2.5 tổng hợp ý kiến của
những người được phỏng vấn về một vài vấn đề môi trường liên quan đến đầm phá
Bảng 2.5: Ý kiến phản hồi từ các vấn đề dưới:
Vấn đề được nêu lượng Số Đồng ý Không chắc đồng ý Không Không biết
Nước trong đầm phá bị ô nhiễm 1.027 81,8 5,7 1,9 10,5 Rong biển và các thực vật thuỷ sinh bám rễ
dưới nước không thực sự quan trọng đối với
môi trường đầm phá
1.021 26,5 26,1 23,9 23,5 Nghề nuôi trồng thuỷ sản đang gây ô nhiễm
Các vùng nước nông, bùn lầy và cát quanh
đầm phá là quan trọng đối với việc sinh sản
Cơ sở hạ tầng đã phát triển nhiều trong thời gian qua Ở Hương Phong, ước tính có 97% hộ sử
dụng điện và nước sạch Nhiều đường giao thông trong xã được lát hoặc đúc bê tông, dù nhiều
tuyến đường đến các xã vùng xa vẫn chưa được lát nền, ví dụ như ở Quảng Công Cầu Trường
Hà mới xây dựng nối Huế và các xã vùng xa thông qua Quốc lộ 49 Số người nghèo không có
nhà ở hoặc nhà tạm đã giảm từ 18.675 (2001) xuống còn 3.750 nhà (2005) Khả năng cung
cấp nước sinh hoạt đã tăng lên trong 5 năm qua, và trong năm 2005 nước uống đã tiếp cận
đến 75% dân số, so với 43% vào năm 2000 (PPC TT Hue, 2005a)
Trường học và giáo dục Từ năm 2000 đến 2005, có 28 trường học được xây mới ở Thừa
Thiên Huế (PPC TT Hue, 2005a) Tuy nhiên có rất ít xã có trường cấp 2 Nếu người dân có
phương tiện để thay đổi nơi cư trú thì họ sẽ làm điều đó vì tương lai học hành của con cái và
cho công việc làm ăn của mình Mặc dù giáo dục là ưu tiên hàng đầu đối với 30,6% số hộ làm
nghề nuôi trồng thuỷ sản, 23,1% số hộ đánh bắt thuỷ sản, và 43,3% số hộ làm nông nghiệp
khi chi tiêu, trình độ văn hoá của dân địa phương vẫn còn thấp và điều này liên quan mật thiết
với sự thiếu thành công của nền kinh tế địa phương Chất lượng giáo dục cũng là một vấn đề
Học sinh cấp một chỉ có khả năng đến lớp một lần mỗi ngày (thay vì cả sáng và chiều) do thiếu
phòng học Trong tất cả số học sinh cấp 3, chỉ có 50% thi đỗ trong kỳ thi cuối cùng và tốt
nghiệp Ở Huế, tỉ lệ này là 99% Không có trường trung học nào ở Quảng Công, Quảng Ngạn,
Trang 22và Hải Dương Trẻ em từ Quảng Công đi học mất nhiều thời gian đi bộ, và phải làm thêm các công việc trong nhà, nên chúng không có đủ thời gian để học Sự thiếu trường học dẫn đến tình trạng ít lớp học/hay quãng đường đến trường dài hơn, và do đó ảnh hưởng đến số lượng học sinh thi đậu tốt nghiệp
Nguồn vốn về xã hội
Đa số người dân là người dân tộc Kinh và có cùng cùng chung phong tục tập quán, và điều này khiến họ giao tiếp, tiếp xúc với nhau dễ dàng hơn về mặt văn hoá Toàn bộ công dân đều nằm trong mạng lưới Có nhiều tổ chức đoàn thể khác nhau - Hội Phụ nữ (WU), Đoàn Thanh niên (YU), Hội cựu chiến binh (VU) và Hội nông dân (FU) Hầu hết phụ nữ ở các thôn xóm đều là thành viên của Hội phụ nữ và được hưởng lợi từ các hoạt động của Hội, ví dụ các chương trình
kế hoạch hoá gia đình Hội phụ nữ đóng vai trò trung gian giúp phụ nữ tiếp cận đến các chính sách tín dụng từ Ngân hàng Chính sách Xã hội Nó còn giúp các thành viên của mình được tham gia vào các dự án quốc gia và quốc tế
Tương tự như vậy, đàn ông ở địa phương cũng tham gia vào Hội nông dân và cũng tiếp cận được với tín dụng và công nghệ từ nhiều chương trình khác nhau Thanh niên được tham gia các khoá đào tạo nghề từ Đoàn thanh niên Đoàn thanh niên cũng giúp các thành viên được vay vốn để tăng thu nhập thông qua sản xuất hoặc xuất khẩu lao động Người dân địa phương được
hỗ trợ để phát triển các nghề thủ công truyền thống, như nghề mộc, làm gạch, chằm nón lá
Họ cũng được đào tạo trong các hoạt động mới, ví dụ kinh doanh vật liệu xây dựng quy mô nhỏ, thức ăn gia súc, và các sản phẩm thuỷ sản
Nhiều thôn đã được công nhận “làng văn hoá” ở cấp tỉnh và địa phương Một trong những tiêu chí đó là phải có quan hệ tốt giữa những người dân trong thôn Nhiều gia đình có quan hệ hoà thuận giữa các thành viên trong gia đình và được công nhận “gia đình văn hoá” Người dân địa phương được khuyến khích tham gia vào các hoạt động văn hoá xã hội nhằm phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Cộng đồng hỗ trợ các thành viên khắc phục những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày và thiên tai Tuy nhiên trong những năm trở lại đây đã có những căng thẳng giữa các thành viên trong cộng đồng liên quan đến chuyện cho vay tiền về vấn đề xuất nhập cư, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng bởi làn sóng di dân Điều này làm suy yếu vai trò của các gia đình truyền thống, đặc biệt là của người lớn tuổi
Giới Có một sự khác biệt lớn trong những mối quan hệ về giới giữa nam và nữ trong vùng
đầm phá Ví dụ ở Quảng Phước, phụ nữ làm việc đến 14 giờ mỗi ngày, trong khi nam giới chỉ làm việc 9 giờ Trong cộng đồng làm nghề nông, đàn ông cũng làm việc 9 giờ mỗi ngày trong khi phụ nữ phải làm việc đến 13 giờ Thêm vào đó, đàn ông thường tham gia nhiều hơn vào các hoạt động cộng đồng (75%) bao gồm tham gia các buổi họp của thôn, các hội thảo, hoặc đám cưới Vai trò này giúp ích cho nam giới về mặt quan hệ xã hội, kiến thức, và thông tin Việc phụ
nữ dành quá nhiều thời gian cho công việc gia đình khiến họ khó có thể tham gia vào các hoạt động phát triển cho bản thân và cho cộng đồng
Mặc dù sự phân biệt đối xử thường không cụ thể, nhưng do những định kiến về giới, phụ nữ bị hạn chế trong việc tiếp cận và quản lý đối với các nguồn lực như giáo dục, y tế, thông tin, công nghệ, tín dụng và đất đai Việc thiếu các biện pháp kế hoạch hoá gia đình và do những định kiến về văn hoá nên trong gia đình sau khi đã sinh 2 con mà vẫn chưa có con trai, thì vẫn tiếp tục sinh Nếu điều này xảy ra trong một gia đình nghèo thì nó có thể trở thành một vấn đề lớn Khi vấn đề xảy ra thì phụ nữ là người gánh lấy hậu quả trước tiên Nếu điều kiện về tài chính gia đình cho phép thì con trai và con gái đều được đi học Tuy nhiên nếu gặp phải khó khăn về kinh tế thì một đứa con được đi học, còn đứa kia phải ở nhà hoặc đi làm việc Thông thường trong trường hợp như vậy thì đứa trẻ có kết quả học lực yếu hơn phải nghỉ học Tuy nhiên nếu kết quả học tập ngang nhau thì trẻ em gái phải nghỉ học trước và đi kiếm công việc làm Hội đồng Nhân dân xã Quảng Công khẳng định rằng một lý do nữa là phụ nữ thường tiêu ít tiền
Trang 23hơn lúc có thời gian rảnh rỗi, và như vậy sẽ mang nhiều tiền hơn về nhà Liên quan đến vấn đề này, Hội phụ nữ tổ chức các buổi nói chuyện về bình đẳng giới
Hội phụ nữ huyện Phong Điền cho rằng vai trò của phụ nữ trong các hộ gia đình nông thôn là rất quan trọng vì họ làm những việc như chăm sóc gia đình và quản lý chi tiêu Trong các hoạt động tạo thu nhập, cả nam và nữ đều đóng góp như nhau Phụ nữ thường quản lý nguồn thu nhập gia đình và quyết định mua sắm những thứ có giá trị nhỏ Đàn ông đưa ra những quyết định lớn Trong quá khứ có những thành kiến về xã hội đối với phụ nữ, và phụ nữ không được nhìn nhận một cách bình đẳng Hiện nay tình trạng này đã thay đổi dần dần và phụ nữ chỉ bị đối xử không tốt trong một số trường hợp rất hiếm
Nguồn vốn về con người
Lao động và xuất nhập cư Nguồn nhân lực ở Huế rất dồi dào với dân số địa phương có tay nghề trong các lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, và đánh bắt thuỷ sản Tuy nhiên trình độ dân trí ở các xã vùng đầm phá vẫn tương đối hạn chế Ở Vinh Hưng, 58,2% số dân đang hoạt động kinh tế chưa qua đào tạo và khoảng chừng 2,6% số người trong độ tuổi lao động không biết chữ Chưa đến một nửa (46,6%) có trình độ văn hoá trên cấp tiểu học Mặc dù tỉnh đã tạo thêm 14.000 việc làm trong 5 năm qua, 48,3% số hộ được phỏng vấn cho biết mỗi
hộ có ít nhất 1 thành viên xa gia đình một thời gian dài (90,6% số đó đi từ 10-12 tháng) để tìm việc làm (trong 92,2% trường hợp) Vấn đề di cư tăng lên trong 5 năm qua theo ý kiến của một nửa số người được phỏng vấn do khó có thể tìm được một công việc ổn định không chỉ ở xã (76,6%) mà còn ở huyện (90,6%) và thành phố Huế (84,6%)
Ở vùng đầm phá, di cư lao động xảy ra dưới 2 hình thức, quốc tế và nội địa Trong lịch sử trước đây có các dòng di cư có tổ chức từ các vùng dưới thấp lên các khu kinh tế mới ở các tỉnh cao nguyên như Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc trong những năm sau 1975 Loại hình di cư này được tổ chức và khuyến khích bởi nhà nước Mục tiêu chính nhằm khai thác các tài nguyên thiên nhiên
ở cao nguyên trung bộ và để phân bố lại dân số giữa miền xuôi và miền núi Hầu hết người dân
di cư trong giai đoạn đó được khuyến khích ở lại lâu dài ở nơi mà họ đến và canh tác các vụ mùa trồng càfê và tiêu
Từ đầu thập niên 90, nhiều thanh niên Thừa Thiên Huế và vùng đầm phá bắt đầu di cư Những người này chủ yếu là tự nguyện đi tìm việc làm ở những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh Ở Vinh Hưng có chừng 1.000 người di cư, chủ yếu đến thành phố Hồ Chí Minh Ở Phú Diên có 5.656 người trong số 11.908 người rời xa gia đình Độ tuổi di dân chủ yếu từ 15 đến
25, và phụ nữ chiếm 30% số người di cư (CSSH, 2006) Họ chủ yếu là các công việc như thợ may, thợ uốn tóc làm công ăn lương, hoặc bán vé số, thợ nề, thợ đóng giày Họ làm việc ở các thành phố đó trong vòng một năm và đến cuối năm họ trở về và mang tiền dành dụm được về cho gia đình Lao động nữ thường để dành được nhiều tiền hơn lao động nam Đồng thời cũng
có những lao động theo mùa vụ, chỉ làm công việc trong khoảng thời gian rảnh rổi giữa 2 vụ trồng lúa hoặc nuôi trồng thuỷ sản Những người này chủ yếu làm các công việc theo mùa vụ mang tính chất tạm thời như thợ nề hay giúp việc trong nhà
Ngoài ra, nhiều lao động trong vùng đi làm việc theo diện “xuất khẩu lao động” Ở Quảng Phước có 25 người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và Malayxia Ở Phú Diên có 12 người đi lao động ở Malayxia và 15 người nữa cũng sắp đi lao động ở đó (CSSH, 2006), chủ yếu làm việc trong các công xưởng Không giống như những người di cư theo mùa vụ, lao động xuất khẩu đi nước ngoài được chính quyền địa phương hỗ trợ trong việc làm hồ sơ và chứng nhận tình trạng
cư trú và pháp lý Thêm vào đó, sự gia tăng số cơ quan tuyển lao động nước ngoài ở Huế cũng khiến số người di cư đi xuất khẩu lao động tăng lên
Hiện nay có tất cả 11 công ty kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động, và 9 trong số đó đã được đăng ký chính thức với các ban ngành chức năng cấp tỉnh Các công ty AISA, ENLEXCO,
Trang 24SOVILACO, SONG DA, AIC chuyên đưa lao động đi Malayxia Những công ty này đóng vai trò trung gian cung cấp các dịch vụ như thủ tục xuất nhập cảnh, vé máy bay, đào tạo, và liên hệ với những đơn vị sử dụng lao động ở nước ngoài Trong một cuộc phỏng vấn với một nhân viên công ty AIC được biết rằng thông thường lao động muốn ra nước ngoài phải đóng một số tiền là 19,2 triệu đồng (1.200 USD), 600 USD (50%) trong số đó là chi phí công ty làm trung gian Các công ty này cũng có thể giúp cho ứng viên đi lao động nước ngoài được vay tiền ở Ngân hàng Chính sách Xã hội
Vấn đề xuất nhập cảnh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề Việc có nhiều thanh niên xa nhà kiếm công việc đang làm thay đổi cấu trúc của gia đình và xã hội Trong các gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thay đổi, mặc dù người ta có thể nhận được các khoản tiền lớn từ con cái của mình Thanh niên rời gia đình, nơi họ đại diện cho nguồn lao động chính Gia đình
họ do đó thiếu đàn ông cho các hoạt động phát triển và xoá đói giảm nghèo Hơn nữa, hầu hết người lao động thường đến các thành phố lớn Thanh niên trẻ tuổi thường thiếu hiểu biết về HIV/AIDS và không thể nhờ ai tư vấn Nhiều người dân di cư đã chết vì HIV/AIDS và số người đang nhiễm HIV được cho là nhiều hơn thế nữa Phụ nữ địa phương cũng gặp phải nguy cơ nhiễm HIV từ chồng mình
Công nhân thường làm thêm giờ để kiếm được nhiều tiền hơn cho gia đình Qua phỏng vấn được biết mỗi công nhân may áo khoác thường làm việc 16 giờ mỗi ngày Công nhân có kinh nghiệm được trả từ 400.000 đến 500.000 VND mỗi tháng (25 đến 30 USD) và những công nhân chưa có kinh nghiệm chỉ được trả 250.000 đến 300.000 VND Người dân di cư đi lao động
ít được bảo vệ nhất ở thị trường lao động mà họ đang làm việc (UN Agencies in Vietnam, 2003; CSSH, 2004), và hầu hết người lao động không được trả lương một cách công bằng Họ không
có hợp đồng lao động và bảo hiểm, cộng với mức lương thấp, và họ không được hưởng bất cứ quyền lợi nào theo luật lao động Họ có thể bị sa thải bất cứ lúc nào và bị xem nhẹ do không thể đấu tranh và bảo vệ chính bản thân mình
Bất chấp rủi ro và khó khăn, thanh niên nông thôn như các xã đầm phá vẫn tiếp tục xa nhà vì
họ thấy đó là lựa chọn duy nhất khi thiếu cơ hội Họ cũng xem đây là con đường duy nhất để
hỗ trợ gia đình, bao gồm cả việc hỗ trợ em của mình đi học, chi phí y tế cho người đau ốm và thức ăn cho người già
Nguồn vốn tài chính
Các nguồn lực tài chính bao gồm thu nhập, vốn vay, tiết kiệm, và tiền được chuyển về từ bên ngoài Nguồn thu chính của người dân đầm phá là từ nông nghiệp, đánh bắt thuỷ sản, và nuôi trồng thuỷ sản Các hoạt động khác bao gồm chế biến, chăn nuôi, lâm nghiệp, và xây dựng Tuy nhiên, nguồn thu nhập không ổn định và bền vững Không có ai trong tất cả các nhóm xem hoạt động nuôi tôm là ổn định trong 5 năm qua Họ cho rằng thu nhập từ nuôi tôm đã giảm đi Ngư dân và người nuôi trồng thuỷ sản cũng cho rằng thu nhập từ đánh bắt cũng đã giảm đi trong 5 năm trở lại đây Thu nhập từ nông nghiệp cũng được duy trì ổn định nhưng không tăng Các khoản tiền gửi về gia đình cũng là một trong những nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với nhiều xã vùng đầm phá Ở Lộc Bình, 30% số thanh niên đi làm ăn xa gửi về gia đình số tiền
3 triệu VND trong một năm Ở Quảng Phước, mỗi gia đình nhận được 4-5 triệu đồng mỗi năm
do con cái đi làm ăn xa gửi về đối với lao động trong nước, và số tiền 25 đến 30 triệu VND và
50 đến 60 triệu VND từ người thân đi lao động ở Malayxia và Đài Loan
Tích luỹ của người dân Người dân để dành tiền bằng cách “góp hụi” - một hình thức tích luỹ
không chính thức Đối với việc “góp hụi”, 10 người cùng tham gia vào một nhóm Hình thức này phổ biến ở vùng nông thôn vì nó đơn giản, nhưng mạo hiểm Đầu tiên, trong các giai đoạn khó khăn từ tháng 10 đến tháng 1 Âm lịch, mỗi người dân đang cần tiền và muốn “bốc hụi” và do vậy bị mất một khoản tiền lãi Thứ hai, do đây là một việc làm không chính thức nên người giữ tiền có thể chạy trốn cùng với tiền của người khác
Trang 25Hầu hết người dân không có nhiều tài sản ngoài lúa gạo, đủ để họ ăn trong 3 tháng hoặc không
quá một năm Rất ít người có tiền trong ngân hàng
Tiếp cận đến tín dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy 77,1% số người được phỏng vấn có vay
tiền, chủ yếu là nhóm nuôi trồng thuỷ sản với tỉ lệ 88,4%, tiếp đó là nhóm đánh bắt thuỷ sản ở
mức 80,4%, và nông nghiệp 63,6% Với những người không vay tiền, hơn một nửa (56,6%)
cho rằng họ không muốn vay Tuy nhiên, có những khác biệt giữa các xã như ở Lộc Trì, Vinh
Xuân, Quảng Lợi, Quảng Công và Điền Hải giữa tỉ lệ 44,4% đến 94,1% số người được hỏi cho
rằng họ không thể tiếp cận đến tín dụng Tất cả 3 nhóm hoạt động này vay tiền chủ yếu cho
sinh kế chính của mình mặc dù có thể thấy rằng khoản tiền được vay có thể dùng cho các hoạt
động khác Trong nhóm nuôi trồng thuỷ sản, 73,2% số người được hỏi vay tiền đầu tư nuôi
tôm và 20,8% vay tiền để đầu tư nuôi cá
Số tiền vay thường biến đổi giữa 3 nhóm với các mức 20 triệu, 7 triệu và 6,5 triệu VND cho các
hoạt động tương ứng là nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản, và nông nghiệp Hầu hết người
dân đi vay ở Ngân hàng NNPTNT Việt Nam (VBARD) (43,2%), sau đó là từ Hội phụ nữ (22,8%)
Theo Hội phụ nữ huyện Phong Điền, mức tiền vay từ Ngân hàng Chính sách Xã hội đã tăng theo
thời gian từ 3 triệu lên 5 triệu và 7 triệu VND và gần đây số người đi vay cũng tăng
Bảng 2.6 thể hiện thái độ của người nông dân đối với các nhiệm vụ cơ bản trong các hoạt động
tạo thu nhập Số người nông dân quen với việc lập kế hoạch kinh doanh, kế toán, và ghi chép
Do tầm quan trọng của việc tiếp cận đến tín dụng với các cộng đồng, mỗi chương đều có đề cập
đến vấn đề này Xem phụ lục 7.2 để biết tất cả những cơ quan tổ chức tín dụng nhỏ hiện đang
ở Huế
Trang 263 Ngành thuỷ sản
Ngành thuỷ sản ở Thừa Thiên Huế
Ngành thuỷ sản đóng vai trò kinh tế-xã hội quan trọng đối với tỉnh Thừa Thiên Huế Sở Thuỷ Sản cho biết có khoảng 300.000 người, tức một phần ba dân số toàn tỉnh, và khoảng 861 hộ dân thuỷ diện (số liệu 2003) có một phần hoặc toàn phần sinh kế trực tiếp dựa vào các hoạt động ở vùng phá Tam Giang-Cầu Hai, bao gồm nuôi trồng và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đầm phá Về kim ngạch xuất khẩu, thì tổng doanh thu xuất khẩu năm 2005 lên đến 6 triệu USD, tức là 0.23% của tổng kim ngạch toàn quốc (2.65 tỉ USD)
Theo số liệu của sở Thuỷ sản, năng suất khai thác thuỷ sản đầm phá tối đa ước tính vào khoảng 4.500 tấn một năm Tuy nhiên, do nhiều vấn đề sẽ đề cập sau, trong đó có đánh bắt quá mức, khai thác và nuôi trồng thiếu kiểm soát, nên tổng sản lượng đánh bắt đã giảm xuống còn 2.500- 3.000 tấn một năm, xu hướng suy giảm này đã có từ thập niên 70 Sản lượng từ đánh bắt biển cũng theo xu hướng tương tự Mặt khác, nuôi trồng thuỷ sản ở Thừa Thiên Huế lại trở thành nguồn cung cấp thuỷ sản quan trọng của tỉnh, sản lượng tôm hiện nay đã lớn hơn sản lượng cá Bảng 3.1 tóm tắt ngành thuỷ sản Thừa Thiên Huế từ 2001 đến nay
Bảng 3.1: Mục tiêu đã đạt được và lên kế hoạch thực hiện của ngành thuỷ sản TT.Huế
Hạng mục Đơn vị 2001 2002 2003 2004 Ước tính 2005
Mục tiêu
2010
Tốc độ sinh trưởng hàng năm
2001-04
Tổng sản lượng tấn 21.536 22.874 26.224 28.651 29.300 39.000 8,65 Doanh thu xuất khẩu 1.000 USD 25.200 26.000 5.500 3.100 6.000 30.000
Khai thác thuỷ sản
Đánh bắt biển tấn 16.307 17.018 18.034 19.264 19.500 23.700 5,10 Đánh bắt nội địa tấn 2.697 2.747 2.760 2.979 2.800 3.000 0,75
Nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản tấn 2.532 3.109 5.430 6.408 7.000 12.300 36,80 Diện tích NTTS ha 3.661 3.853 4.660 5.165 5.350 6.500 16,30 NTTS biển và nước lợ ha 2.930 3.122 3.694 4.021 4.050 4.500 16,95 NTTS nước ngọt ha 731 731 966 1.144 1.300 2.000 14,75 NTTS lồng lồng 600 1.287 1.780 2.314 2.430 3.030 33,65
Sau thu hoạch
Nguồn: Sở Thuỷ sản, 2005 và SEDP, 2005 (có sửa đổi).
Ngành thuỷ sản TT.Huế trong mấy năm gần đây đã có nhiều thay đổi lớn, xét trên bình diện rộng về sử dụng tài nguyên đầm phá, dù đó là tài nguyên thuỷ sinh, tài nguyên đất hoặc nước
Vì vậy, trước thực tế về tầm quan trọng rất lớn của ngành thuỷ sản nói chung đối với sinh kế cư dân đầm phá nói riêng trước tác động ngày của dân số ngày càng tăng lên tài nguyên, và để làm rõ hơn, sau đây ngành thuỷ sản sẽ được phân tích thành hai bộ phận rõ rệt: (1) nuôi trồng
và (2) khai thác
Trang 273.1 Nuôi trồng thuỷ sản
Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản khởi đầu ở vùng đầm phá Huế khoảng 20 năm trước (chẳng hạn, ở Hương Phong là 1986, có 11 hộ nuôi trồng; Vinh Hưng là 1991, Lộc Bình và Quảng Phước là 1994, và Quảng Ngạn là 2000) và trong mấy năm gần đây đã phát triển đáng kể Hàng ngàn hecta đất nông nghiệp chuyển đổi sang làm hồ nuôi thuỷ sản, và khắp trên đầm phá đều rộ lên làm lồng nuôi Theo sở Thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản đã có nhiều thành tựu, đóng góp vào việc tăng thu nhập cho người dân
Theo qui hoạch của tỉnh, hoạt động nuôi nước ngọt có thể sẽ mở rộng, làm giảm thêm diện tích trồng lúa và lấn sang vùng đất cát Tuy nhiên, nuôi tôm có thể coi là hoạt động nuôi trồng thuỷ sản quan trọng nhất về diện tích, số người tham gia cũng như lượng tiền đầu tư vào Chẳng hạn, ở Vinh Hiền có đến 850 hộ nuôi tôm, chiếm 47% tổng số hộ Tỉnh đặc biệt chú trọng vào nền công nghiệp này, coi đó là phương tiện xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế-
xã hội trong vùng Kế hoạch mở rộng và thâm canh cho phát triển NTTS 5 năm tiếp là khá tham vọng, tổng diện tích sản xuất tăng từ 5.350 ha năm 2005 lên 6.500 ha năm 2010 (+21.5%) và tổng sản lượng tăng từ 7.000 tấn năm 2005 lên 12.300 tấn năm 2010 (+75.7%) Sản lượng trên đơn vị diện tích được tính là tăng gấp đôi, từ 1 tấn/ha năm 2003 lên 1,9 tấn/ha năm 2010, có khả năng là nhờ thâm canh hoặc/và năng suất cải thiện (hình 3.1)
Hình 3.1: Sản lượng NTTS và xu hướng thâm canh ở TT.Huế
Aquaculture trend in TT Hue
0 2,000 4,000 6,000 8,000 10,000 12,000 14,000
Nguồn: GSO và Sở TS, 2005
Mặc dù những vụ đầu thành công, mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt cho người dân nông thôn, kết quả điều tra cho thấy rằng nuôi trồng thuỷ sản vẫn là một nghề nhiều rủi ro, ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân cũng như môi trường đầm phá Đặc trưng của môi trường sống, ô nhiễm nguồn nước, dịch bệnh và xung đột giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài tất cả đều gây khó khăn cho sự phát triển bền vững của ngành này Ở nhiều xã và một số huyện xung quanh đầm phá, nuôi tôm thực sự chỉ gợi lại những ký ức nợ nần chồng chất và là một nổ lực thất bại chống lại nghèo đói để cải thiện tình hình kinh tế-xã hội
Cơ sở nuôi trồng thuỷ sản và các mặt hàng chính
Nuôi tôm
Tổng quát Tôm sú (P monodon) là loài nuôi chính, loài phụ là tôm rảo (Metapenaeus ensis)
như ở Hương Phong và Vinh Hưng cũng có thành công Tôm được nuôi chủ yếu bằng hồ trung bình rộng 5.000m2 Mức độ thâm canh tăng qua các năm và năm 2005 có 53% người nuôi nuôi bán thâm canh, 31,6% quảng canh cải tiến, số còn lại một nửa làm thâm canh và một nửa làm
Trang 28quảng canh Những người nuôi mà nuôi tôm không phải là nghề chính thì có xu hướng làm quảng canh cải tiến Mật độ thả đối với tôm sú bây giờ đã qui định nghiêm ngặt (điều 6.2 Quyết Định 3014/2005/QĐ-UBND) có liên quan đến vị trí của hồ: (i) nuôi thấp triều là dưới 10 con PL15/m2, (ii) nuôi cao triều là 10-20 con PL15/m2 đối với nuôi bán thâm canh, và 25-40 con PL15/m2 đối với nuôi thâm canh
Năng suất dao động giữa 0.5 đến 1.3 tấn/ha/vụ Tại một số xã, người nuôi làm hai vụ một năm, từ tháng Một-tháng Hai đến tháng Chín, chẳng hạn ở Lộc Bình và Vinh Hưng Tuy nhiên, một số UBND xã như Quảng Công đã cấm nuôi hai vụ vì mức độ rủi ro cao Người dân được phép nuôi xen tôm cá và/hoặc cua, rong biển Ở Vinh Hưng, tôm được nuôi chung với cá dìa và các loại cá khác để tận dụng nguồn thức ăn (công nghiệp hoặc thức ăn tươi như cá con/tép) để cải thiện độ sinh trưởng của tôm Hồ tôm chiếm phần lớn diện tích vùng trung triều xung quanh đầm phá, khoảng 48% hồ nằm ở vùng thấp triều và chỉ có 23,6% hồ nằm ở vùng trung triều
và cao triều 21,6% hồ nằm ở các ruộng lúa chuyển đổi và 6,6% ở đất cát Vị trí của hồ quyết định thành bại của nghề nuôi như sẽ giải thích sau
Tôm giống Khoảng 50% người nuôi tôm mua tôm giống trong tỉnh (thị trấn Thuận An và Lăng
Cô) và ở thành phố Đà Nẵng, chủ yếu (hơn 90%) là mua của các trại giống tư nhân có khả năng sản xuất năm 2005 khoảng trên 215 triệu con giống Trong số này thì có 50 triệu con là
do xã Vinh Hưng mua (PRA ở Vinh Hưng và số liệu Sở TS) Ở Quảng Công năm nay có hai trại giống tư nhân được hoạt động và có thêm một trại nữa đang được xây dựng Hiện nay có nhiều vấn đề về số lượng (cầu cao hơn cung) lẫn chất lượng (cá thể bố mẹ dùng nhiều lần) Người nuôi cần phải kiểm tra tôm giống trước khi mua và thả 86.3% có kiểm tra chất lượng con giống và 61.7% có kiểm tra bệnh WSSV bằng PCR; trở ngại lớn nhất là khả năng thực hiện nhiều lần kiểm tra trong một đợt, và số tiền phải trả để kiểm tra (170.000 đồng một lần) Để giải quyết vấn đề thứ hai, tỉnh đã phân bổ 100 triệu đồng để trang trải chi phí kiểm tra PCR nên người nuôi bây giờ có thể kiểm tra PCR miễn phí (Sở TS, tài liệu nội bộ)
Hơn nữa PCR bây giờ là bắt buộc đối với người nuôi tôm (Điều 6.2 Quyết định UBND) Mặc dù người dân thừa nhận là có kiểm tra, nhưng bệnh đốm trắng (WSD) vẫn xảy ra nhiều nơi, điều này đặt ra dấu chấm hỏi về chất lượng và độ tin cậy của những đợt thử nghiệm gần đây Có báo cáo cho rằng (IMOLA, 2006) trại giống ở Đà Nẵng phát giấy đi đường và chứng nhận bảo vệ để tránh kiểm soát của Chi cục Bảo Vệ Nguồn Lợi Thuỷ Sản và Cảnh Sát Giao Thông Hơn nữa, một số người nuôi cũng bàn cãi về khả năng kiểm tra PCR ở Huế khi đưa hai bao con giống lên kiểm tra, một không nhiễm bệnh và một nhiễm bệnh, kết quả công bố sau khi kiểm tra PCR là cả hai đều không nhiễm bệnh Lại có trường hợp khác là tôm bị cho là nhiễm bệnh đốm trắng đưa vào kiểm tra thì kết quả là âm tính
3014/2005/QĐ-Bệnh dịch tôm Dịch bệnh tôm năm nào cũng xảy ra và trên 90% người nuôi đều trúng bệnh,
trong đó 72% là bệnh đốm trắng Người dân phản ứng lại bệnh dịch bằng hoá chất và khoảng 70% dùng kháng sinh, nhưng không có tác dụng đối với Đốm Trắng Quyết định 3014/2005/QĐ-UBND của Tỉnh đã qui định cụ thể về sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi tôm như sau:
Kinh doanh thuốc và hoá chất buôn bán phải tuân theo qui chế của Bộ Thuỷ Sản về quản lý loài thuỷ sản và không được nằm trong danh mục bị cấm được cập nhật hàng năm
Nên hạn chế sử dụng kháng sinh Khi cần có thể sử dụng kháng sinh dưới sự giám sát của một chuyên gia nuôi trồng thuỷ sản, nhưng không được sử dụng trong thời gian 4 tuần trước khi thu hoạch
Khuyến khích sử dụng sản phẩm sinh học hoặc chất xử lý
Vụ nuôi 2006 hứa hẹn nhiều thành công, cho đến ngày 07.06.2006 chỉ có 130 ha/4000 ha (3,3% trên tổng số) nuôi tôm là bị nhiễm bệnh, trong đó 65 ha là bệnh Đốm Trắng và nửa kia
là các loại bệnh khác (TT Khuyến Ngư, Sở TS Huế, 2006, Tài liệu nội bộ) Theo TT Khuyến Ngư, việc này có quan hệ với (a) hướng dẫn mới của CP về nuôi tôm, trong đó có các quyết định của
Trang 29tỉnh và các qui định của UBND các xã; (b) tập huấn của Sở TS cho người nuôi; (c) tài liệu khuyến ngư về Phương Pháp Quản Lý Hiệu Quả (BMP) và Thực Hành Nuôi Trồng Thuỷ Sản An Toàn do NACA cung cấp dùng trong tập huấn và tuyên truyền trước các mùa nuôi, (d) kiểm tra PCR nhiều hơn; và (e) thời tiết thuận lợi
Chế độ NTTS hiện nay và mới Ở Huế, số vụ nuôi mỗi năm khác nhau ở mỗi xã, dao động từ
1 đến 2 Rất ít khi người nuôi làm vụ thứ ba Thường thì vụ thứ hai là nuôi các loài khác như cua xanh (mud crab) Điều tra cho thấy số vụ nuôi tôm trung bình từ năm 2000 đến nay là sáu, trong đó có hai vụ thành công và tỉ lệ thành công trên tổng số vụ là 40% Tỉ lệ thất bại vụ nuôi rất cao và liên quan đến số vụ nuôi một năm 56,1% người nuôi tôm chỉ làm 1 vụ/năm có tỉ lệ thành công cao nhất từ năm 2000 đến nay, trong khi đó độ hiệu quả giảm đi rất nhiều đối với người nuôi trên 1 vụ/năm (Bảng 3.2) Tuy vậy, điều này cũng có thể giải thích như sau: nếu vụ đầu thu hoạch thành công, có thể người nuôi không làm thêm vụ thứ hai, nhất là khi có rủi ro mùa lũ Ngược lại, nếu vụ đầu thua lỗ thì sau một tháng người nuôi sẽ lập tức bắt tay vào vụ thứ hai, mà thực tế thì đây là vụ thứ nhất
Bảng 3.2 Hiệu quả nuôi tôm từ năm 2000
Khung 3.1 tóm tắt toàn cảnh 2 vụ nuôi tôm một năm ở hai thôn xã Vinh Hưng năm 2005
Ở một số xã (như Quảng Công) UBND xã đã cấm người nuôi làm hai vụ trong khi các xã khác (như Lộc Bình) thì chưa có lệnh cấm Từ 2006 TT Khuyến Ngư đã bắt đầu hỗ trợ một chế độ mới có thể định nghĩa là "nuôi một vụ xen ghép mở rộng hàng năm" Người nuôi được tập huấn thả cua xanh (mud crab) và một số loại cá như rô phi và/hoặc cá dìa vào tháng Hai Tháng Ba thì thu hoạch tôm, tháng tư thì thả tôm Đến tháng Bảy thì thu hoạch toàn bộ cá và tôm Làm theo cách này thì người nuôi tránh được mùa bão lụt vào bắt đầu vào tháng Chín Mặc dù xen ghép tôm sú và cua là nguyên nhân truyền bệnh từ cua sang tôm, TTKN cho rằng nuôi theo mô hình này sẽ không có hoặc có ít sự tiếp xúc giữa tôm và cua, rủi ro thấp Mô hình này đã được
áp dụng ở các hồ cao triều lẫn thấp triều (khoảng 483 ha) và TTKN dự định từ nay đến 2010 sẽ chuyển dần 1.113 ha sang chế độ nuôi này (Bà Hồng, TTKN, 2006, Tài liệu lưu hành nội bộ)
Thị trường tôm Đa số người nuôi đều bán sản phẩm của mình cho người mua trung gian địa
phương hoặc từ các tỉnh khác (Đà Nẵng) tới, giá cả là do những người mua này dàn xếp Lý do
là cơ sở hạ tầng giao thông chưa tốt (như Quảng Công và Hải Dương), làm người nuôi không tiếp xúc được nhiều thị trường và cũng vì thiếu thông tin và/hoặc kĩ năng thị trường (như chế biến, dịch vụ đầu ra v.v.) Hơn nữa, bốn cơ sở chế biến ở Huế là Công ty cổ phần Sông Hương, Công ty Hải sản Thừa Thiên Huế (SOSEAFOOOD), Công ty Phát triển Thuỷ sản (FIDECO) và
Khung 3.1: Nuôi tôm năm 2005 ở các HTX Đại Thắng và Bách Thắng, xã Vinh Hưng
Ở Đại Thắng có 550 hộ nuôi trồng thuỷ sản, chủ yếu ở hai thôn Phụng Chánh và Trung Hưng Diện tích nuôi tổng
cộng 270 ha, số lượng thả là 50 triệu con 100% kiểm tra PCR (180 mẫu) cho 2 vụ/năm Có 47ha (17,4%) bị nhiếm
Đốm Trắng và 60ha (22,2%) bị nhiễm các bệnh khác Tổng thu hoạch năm 2005 là 287 tấn, sản lượng TB là 0,53
tấn/ha/vụ và có 60% hộ thu lãi, 20% hoà vốn và 20% chịu lỗ
Ở HTX Bách Thắng có 300 hộ nuôi tôm chủ yếu ở thôn Diêm Trường Có tổng cộng 80ha diện tích nước được thả 15
triệu tôm giống cho 2 vụ Tất cả đều có kiểm tra PCR (60 mẫu) Có 10 ha (12,5%) bị bệnh đốm trắng và 10ha bị
nhiễm bệnh khác Tổng thu hoạch là 103 tấn với sản lượng TB là 0,65 tấn/ha/vụ Đa số hộ thu lãi vụ đầu Nhiều hộ
thua lỗ vì ô nhiễm môi trường, tôm chết sau khi thả 60-70 ngày (theo điều tra PRA ở Vinh Hưng.)
Trang 30Công ty TNHH JASSFOOD lại không thể chế biến toàn bộ sản lượng tôm trong vụ rộ tôm đầu (vụ lớn nhất năm), do vậy mà tôm xuống giá Tình trạng ép giá cũng xảy ra ở vụ hai vì thời gian thu hoạch gần kề mùa lũ, khiến người nuôi phải bán sớm Hơn nữa, những nhà sản xuất nhỏ lẻ cần phải tìm giải pháp để tuân theo yêu cầu thị trường ngày càng khắc khe của quốc tế (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) vốn chú trọng đến an toàn thực phẩm và khả năng truy nguyên nguồn gốc
Nuôi cá
Tổng quát Nhiều loài cá nước ngọt, nước lợ và biển hiện được nuôi trên vùng đầm phá Có
nhiều hình thức nuôi: ao đất (rộng trung bình 700m2), ao vây ở phá (rộng trung bình 8.500m2), lồng chìm hoặc nổi, và nuôi cá-lúa (rộng trung bình 4.000m2) Ở các xã Quảng Thái, Quảng Lợi và Điền Hải, hình thức nuôi này chủ yếu là nuôi xen canh hơn là tổng hợp; và hiện nay người nuôi đang được tập huấn để chuyển đổi hình thức nuôi
Những loài cá nước mặn nuôi gồm có cá hồng (Lutjanus sp.), cá mú (Epinephelus sp.), cá dìa (Siganus guttatus) và cá dò đen cũng gọi là cá bớp (Rachycentron canadum) Các loài cá nước ngọt gồm cá trắm bạc (Hypophthalmichthys molitrix), cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella),
cá chép (Cyprinus carpio carpio), cá rô phi (Oreochromis niloticus và O mossambicus), trê phi
và lươn (Anguilla anguilla) Khoảng 65% người nuôi có một cơ sở nuôi và một phần tư (25,6%)
có hai hồ Số lượng lồng trung bình của một người nuôi là hai lồng 63,9% hồ cá nước ngọt là nuôi cá chép và 32,5% là nuôi cá trắm cỏ, trắm bạc và cá khác Chỉ có 3,6% nuôi cá nước mặn như cá dìa và cá hồng bằng ao Nuôi lồng thì 55,3% là cá hồng và cá mú Cá trắm cỏ cũng thường nuôi lồng (42,1%) Nuôi bằng ao vây chủ yếu là ở vùng thấp triều (77,8%) và phần còn
lại là ở vùng trung triều (22,2%) 95% lồng nuôi là đặt ở đầm phá
Cá giống Cá giống và cá con các loài nước mặn thường được bắt ở hạ lưu đầm phá, chiếm hơn
70% người nuôi ở Vinh Hiền bằng các ngư cụ lùa cá, đặt ra vấn đề về tính bền vững Ngược lại, cá giò thường sản xuất ở trại cá giống ở tỉnh Nghệ An thuộc Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 1 Lộc Bình có một cơ sở ương đối với cá mú bắt từ thiên nhiên Hơn 85% người nuôi mua cá giống cá nước ngọt từ ngoại tỉnh, chủ yếu là của các công ty tư nhân (58.7%), nhưng cũng có người mua từ người trung gian hoặc các trại giống nhà nước Người nuôi than phiền giống chất lượng thấp và đến trại giống phải đi xa Có khoảng 50% người nuôi đích thân kiểm tra cá bột và cá giống và có khoảng 31% không kiểm tra gì Người nuôi trong Hội Nghề cá Quảng Công mua giống rô phi ở Huế và thả vào nước lợ không qua quá trình mặn hoá thích nghi (như thường thấy ở những vùng khác ở Việt Nam, chẳng hạn tỉnh Nghệ An) nhưng tỉ lệ chết cũng thấp
Thức ăn cá Ngoài những loài ăn cỏ (cá trắm cỏ) ra thì thức ăn cá thường là dạng viên công
nghiệp và phụ phẩm trong chăn nuôi, còn những loài nước mặn ăn thịt (mú, giò, hồng) thì cho
ăn thức ăn viên và cá vụn (45,2% người nuôi ở Vinh Hiền) Việc sử dụng cá vụn làm thức ăn
đặt ra các vấn đề về tính bền vững (FAO, 2005)
Bệnh cá Bệnh cá rất phổ biến và gần như một nửa người nuôi (48,2%) từng phải chịu dịch
bệnh của cá, tuy vậy vẫn ít hơn người nuôi tôm (hơn 90%) 33,7% người nuôi cá dùng kháng sinh để kiểm soát bệnh Từ năm 2000 dịch bệnh xảy ra ít hơn hơn phản ánh tỉ lệ vụ thành công cao hơn (Bảng 3.3)
Bảng 3.3 Hiệu quả nuôi cá từ năm 2000
Thị trường cá Cá nước ngọt đóng vai trò thứ yếu đối với sinh kế hộ gia đình về mặt thu nhập
tiền mặt, cá nuôi là nguồn protein quan trọng cho dinh dưỡng gia đình
Trang 31Nuôi nhuyễn thể
Tổng quát Ở Lộc Bình đã có nuôi trai, vụ đầu tiên thành công nhưng vụ thứ hai thì thất thu
Lộc Bình cũng có hoạt động nuôi ốc hương (Babylonia areolata) Điều tra cũng thấy có một
người nuôi ở Quảng Phước Nuôi ốc hương trong ao vây bắt đầu ở Lộc Bình vào năm 2003 Năm
2004 đã có 50 hộ nuôi ốc và năm 2005 có 70 hộ, chia thành 13 nhóm Mùa nuôi là từ tháng Ba đến tháng Tám, lấy cua và cá vụn làm thức ăn Tỉ lệ chuyển thức ăn từ cá vụn sang ốc là 4:1
Vệ sinh lồng nuôi là vào buổi sáng, và cứ mỗi 20 ngày thì thay cát đáy lồng một lần Sau 3-5 tháng, trung bình ốc đạt đến kích cỡ 140 con/kg, tỉ lệ sống 65% Năm 2004 có 26 hộ thu lãi 10-12 triệu đồng/hộ Tuy vậy, do năm 2005 có dịch bệnh nên 70 người nuôi thì chỉ có 15 người
có lãi 2-10 triệu đồng
Giống nhuyễn thể Giống ốc hương được sản xuất ở Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 3
(Nha Trang), ở đây dự án SUMA đã hỗ trợ công việc nghiên cứu và phát triển các giống hỗ trợ
người nghèo, trong đó có ốc hương, dưa biển (Holothuria scabra) và bào ngư (Haliotis asinina)
Bệnh nhuyễn thể Cơn dịch bệnh ốc hương năm 2005 ở Lộc Bình xảy ra đồng thời với dịch
bệnh ở Nha Trang Cả hai nơi đều có triệu chứng giống nhau: nhuyễn thể bỏ vỏ rồi chết, có khả năng là do nhiễm vi khuẩn Chẩn đoán do đối tác của NACA với Australia cho rằng đó là kết hợp giữa nhiễm khuẩn và điều kiện môi trường xấu có lẽ do dùng cá vụn làm thức ăn cho ốc
Thị trường nhuyễn thể Thị trường nội địa cho loài nhuyễn thể ăn thịt có nhiều tiềm năng, nói
về mặt đẩy mạnh nhu cầu và giá cả Năm 2005 giá xuất cửa (gate price) ở Nha Trang là 170,000 đồng/kg Bảng 3.4 trình bày tình hình các chế độ nuôi xen canh thử nghiệm, trong đó
ta thấy nhiều loài động vật ở vị trí thấp trên chuỗi thức ăn được sản xuất rất gần với các loài ốc
biển ăn thịt và tảo biển Các loài được sản xuất gồm có: bào ngư, dưa biển, vẹm xanh (Perna
viridis), rong biển (Kappaphycus alvarezii), và ốc hương
Bảng 3.4: Số liệu sản lượng của ốc hương trong thời gian sáu tháng Thu nhập không tính các loài khác
Lồng Sản lượng (kg) Kích cỡ thu hoạch
(số con/kg) Tỉ lệ sống (%)
Giá bán (VND/ kg) Tổng thu nhập (VND) Chi phí đầu tư (VND) Lợi tức thực (VND)
Tổng quát Gần đây cua xanh (Scylla serrata) có nuôi ở Huế làm vụ hai, thường là nuôi xen
canh với loài khác, trong đó có tôm Cua xanh là cá thể mang mầm bệnh tôm như virus Đốm Trắng, cho nên có thể là nguồn gây bệnh cho tôm Cua cũng có nuôi trong ao vây (ở Phú Xuân) Ở Huế có một trại giống tôm thử nghiệm nhưng phần lớn cua giống là bắt từ thiên nhiên
Nuôi trồng thuỷ sản sau thu hoạch
Có 87% người nuôi giữ lại 0-25% để tiêu thụ trong hộ gia đình và có 90% người nuôi không chế biến sản phẩm NTTS 86,4% bán sản phẩm cho người trung gian, 19,4% bán ở chợ địa
Trang 32phương, còn một số người nuôi ở Hương Phong và Vinh Hiền bán trực tiếp cho các cơ sở chế biến Sản phẩm NTTS thường ít chế biến, chỉ có ở Quảng Công, Vinh Xuân (20% sản phẩm khô), Vinh Hưng (27,3% sản phẩm luộc) và Vinh Phú (3,4% sản phẩm khô) để tiêu thụ gia
đình, và để bán ở thị trường địa phương ở Quảng Công
Khuyến ngư
TT Khuyến Ngư Sở Thuỷ sản hàng năm đều có các đợt tập huấn, đặc biệt đầu vụ Hàng năm có
20 kĩ thuật viên nhận được tập huấn và tài liệu tập huấn đổi mới để nghiên cứu và học tập Sau
đó những người này truyền đạt lại cho người nuôi bằng cách tổ chức thành ba nhóm, mỗi nhóm làm việc ở một hoặc nhiều huyện, tổ chức các đợt tập huấn cấp xã tuỳ theo nhu cầu Phương pháp sử dụng ở đây là tập huấn tại chỗ, mặc dầu ít hoặc không có tài liệu cho người nuôi vì thiếu nguồn lực Ở Vinh Hưng, tập huấn được tổ chức 1-2 ngày một năm, có 30-40 người học Ngoài các lớp tập huấn ra, đội ngũ TT Khuyến Ngư còn có nhiệm vụ hướng dẫn người nuôi tại địa phương Họ là đội ngũ kĩ thuật, đóng tại cơ sở và thường tiếp xúc làm việc với người nuôi
TT Khuyến Ngư chủ yếu tập huấn về nuôi tôm, điều này phản ánh mối ưu tiên cần phát triển kinh tế và tạo việc làm của các UBND xã đối với nền công nghiệp này Khoảng 20% tập huấn là dành cho các phương thức và loài nuôi khác như mô hình cá-lúa, được khuyến khích phát triển mấy năm trước ở Quảng Thái và hiện nay thực hành ở một số vùng đầm phá TT Khuyến Ngư cũng đang khuyến khích phát triển trại giống địa phương đối với cá trắm cỏ, cá chép và
Cirrhinus cirrhosus ở các cộng đồng dân cư đất liền ở xã Phong Xuân, huyện Phong Điền và A
Lưới TT Khuyến Ngư cho biết nội dung tập huấn nuôi tôm được sửa đổi tuỳ theo vị trí của hồ nuôi, như thấp hay cao triều, để thích hợp với nhu cầu kĩ thuật cụ thể, mặc dù người nuôi ở Vinh Hiền, Hương Phong và Quảng Ngạn lại nói khác2 TT Khuyến Ngư còn chú ý đến phương pháp tập huấn mới như Trường Thực hành cho Người Nuôi Trồng Thuỷ Sản (Aquaculture Farmers’ Field School- AFFS)3 Hiện nay TT Khuyến Ngư không phối hợp với Hội Nghề Cá để tổ chức tập huấn vì cho rằng Hội Nghề Cá chưa tổ chức chặt chẽ TT Khuyến Ngư ghi nhận các nhu cầu sau để cải thiện hiệu quả khuyến ngư:
Cần có Tập huấn cho Nhân viên Tập huấn để thêm kiến thức cho nhân viên TT Khuyến Ngư;
Tài liệu tập huấn chất lượng cao, chẳng hạn như tờ tóm tắt của NACA về Thực hành Quản lý Hiệu quả hơn và Thực hành NTTS Hiệu quả;
Phương pháp tập huấn mới, như Trường NTTS
Thêm thiết bị, như máy chiếu LCD
Sở NNPTNT không tham gia vào công tác khuyến ngư thuỷ sản, nhưng dưới cấp huyện thì phòng NNPTNT tổ chức các khoá tập huấn khuyến ngư cơ bản không định kì về NTTS cho người nuôi, coi như đó là điều kiện tiên quyết để được vay vốn từ ngân hàng NNPTNT Các công ty thức ăn và thuốc như KP90 (Đà Nẵng), CP (Thái Lan), MEGA (Pháp), Bayer, Long Sinh, Nam Phú Mỹ và Bio một năm cũng có vài đợt tập huấn có thể cho là có giá trị, mặc dầu không thường kì Các khoá tập huấn thường dài 1-2 ngày, nhắm đến 30-40 người học tự nguyện; thực hành được hướng dẫn trực tiếp tại hồ Tuy nhiên, các khoá tập huấn này được thiết kế để quảng cáo sản phẩm chứ ít chú trọng đến nhu cầu cụ thể của từng mô hình và địa điểm NTTS Các trường đại học, các tổ chức phi chính phủ và các dự án phát triển ở Huế cũng có hoạt động khuyến ngư và tập huấn NTTS thường xuyên Chẳng hạn, dự án IDRC "Quản Lý Tài Nguyên
2 Một số kĩ thuật trong tập huấn có thể ứng dụng được, một số không; lý do là vì tập huấn không sửa đổi cho thích hợp vùng nuôi cao triều hay thấp triều Chẳng hạn, nuôi cao triều thì dùng quạt gió, thả mật độ cao Còn hồ thấp triều thì không dùng quạt gió, và thả mật độ thấp
3 Trường Cho Người NTTS lấy sáng kiến từ các nguyên tắc của ngành nông nghiệp và của Quản Lý Tổng hợp Loài Vật Phá Hoại (Integrated Pest Management- IPM) Nói ngắn gọn thì Trường NTTS là phương pháp tập huấn có dân tham gia, người nuôi làm việc theo nhóm kết hợp tập huấn với thực hành ngoài thực tế tại hồ Nhân viên khuyến ngư làm người thúc đẩy và tạo điều kiện cho người nuôi thảo luận và trao đổi ý kiến (người nuôi cho nhau chuyển giao công nghệ nuôi trồng thuỷ sản) SUMA đã thử nghiệm mô hình Trường NTTS trong nuôi tôm ở Cà Mau và Quảng Ninh từ 2003-2005
Trang 33Ven Bờ Dựa Vào Cộng Đồng ở miền Trung Việt Nam" do Canada tài trợ và Đại học Nông Lâm thực hiện từ trước đến nay đã tổ chức tập huấn NTTS cho nhiều xã quanh vùng đầm phá và đã thành lập được một số quĩ tín dụng xoay vòng
Tập huấn của ĐHNL rất tập trung và kéo dài 1-2 tuần Gần đây (tháng Năm 2006), khoá tập huấn ở xã Hương Phong kéo dài hai tháng (4-5 ngày/tuần) và có 30-40 người nuôi tham dự trên cơ sở tự nguyện (IMOLA, 2006) Tuy nhiên, người dân có nêu ra một số hạn chế: (a) mặc dầu miễn phí tập huấn và phụ cấp cơm trưa, người tham dự cũng không nhiều vì vào mùa vụ người nuôi không muốn bỏ công việc ở hồ lâu; (b) tập huấn chú trọng NTTS qui mô lớn và nuôi cao triều; (c) tập huấn ở trình độ chuẩn, tương tự như những tập huấn khác đã thực hiện ở trên toàn tỉnh chứ không xét đến những khác biệt địa phương cấp thôn
Nhìn chung, mặc dù những hoạt động khuyến ngư này (chính phủ, các đại học, tổ chức phi chính phủ, dự án hay tư nhân) có mục đích ban đầu tốt đẹp, hiện nay vẫn không có sự phối hợp và có thể làm người nuôi trồng khó xử lý nhất là nếu mỗi bên truyền đạt một nội dung Một vấn đề khác nữa là những tập huấn đã có trước đây có theo sau một Chương Trình Đánh Giá Nhu Cầu Tập Huấn với người dân không? Hơn nữa, Chiến Lược Khuyến Ngư Mới mà Bộ Thuỷ Sản dự định ban hành năm 2006 nhắm tới mục tiêu đưa Nghị định 56 đi vào hoạt động (Chính phủ Việt Nam, 2005) đã ghi nhận vai trò quan trọng của công tác khuyến ngư đối với phát triển kinh tế của ngành thuỷ sản:
“Rõ ràng là nên có những thay đổi trong công tác khuyến ngư Việt Nam và những thay đổi này nên dựa vào tài nguyên hiện có Một trong những thách thức là bảo đảm chất lượng và hiệu quả của công tác khuyến ngư Trong tương lai, các bên liên quan trong ngành thuỷ sản có thể có đủ khả năng trả công cho những dịch vụ khuyến ngư chất lượng cao Nhưng điều cần thiết là các dịch
vụ khuyến ngư hiệu quả cần đến được với nhiều ngư dân nghèo nhất, và miễn phí cho họ."
Cần phải có những phương cách mới để củng cố mối quan hệ giữa các bên, và quan hệ giữa Nhà nước, Tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp tư nhân, để cải thiện chất lượng và đưa dịch
vụ khuyến ngư đến càng nhiều người càng tốt Vì vậy, dịch vụ khuyến ngư ở Huế nhất định sẽ
hưởng lợi ích từ mối phối hợp đồng bộ hơn giữa các bên liên quan
Điều tra cho thấy người nuôi được tập huấn chủ yếu từ nhân viên Nhà nước (68,1%) và công ty thức ăn tư nhân (45,3%) Tuy vậy, tập huấn đó vẫn có thể cải thiện cho tốt hơn Chỉ có 12% người phỏng vấn cho biết họ có thể áp dụng thực tế khoảng 75-100% kiến thức và kĩ năng họ thu nhận được từ tập huấn; 32,8% áp dụng 25-50%, và 28,2% áp dụng 50-75%
Nhu cầu tập huấn Cuộc điều tra đã áp dụng phương pháp câu hỏi đóng và vì vậy mà người
được phỏng vấn có ít lựa chọn Kết quả như sau: chuẩn bị hồ và cơ sở vật chất (58,7%), chọn giống (69,8%), kĩ thuật nuôi –chăm sóc (82,3%), phòng chữa bệnh (84,0%), kiểm soát và cải thiện chất lượng nước (59,8%), hoạt động trại giống hậu trường (13,7%), ương giống (34,8%), công việc sau thu hoạch (20,5%), lập kế hoạch kinh doanh (27,1%), kinh tế NTTS cơ bản (21,4%), và ghi chép, lưu giữ sổ sách (11,4%)
Hội Nghề cá: triển vọng của NTTS
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế gần đây có ra một số Quyết định4 qui định việc quản lý tài nguyên đầm phá, khai thác thuỷ sản và nuôi tôm Sở Thuỷ sản đang nỗ lực đưa các Chỉ thị vào hoạt động bằng cách truyền bá thông tin hiện có cho các cộng đồng dân cư và khuyến khích pháp lý hoá quyền đánh bắt truyền thống Hơn nữa, chỉ thị khuyến khích thành lập các Hội NTTS và Nghề Cá, Sở Thuỷ sản đang trao nhiều trách nhiệm quản lý cho các hội này để đồng quản lý đầm phá Theo Sở Thuỷ sản, danh từ "Hội Nghề Cá" trong thực tế bao gồm cả nuôi trồng và đánh bắt Sở Thuỷ Sản, Sở Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn và Hội Nghề Cá Tỉnh hiện đang
4 Quyết định số 3014/2005/QĐ-UBND, số 3677/2004/QĐ-UB, và số 4260/2005/QĐ-UBND
Trang 34cổ vũ thành lập các Hội Nghề Cá, xem như đó là một phần của chiến dịch để cải thiện quản lý tài nguyên đầm phá (Khung 3.2)
Khung 3.2: Hội Nghề Cá xã Quảng Công
"Hội Nghề Cá Cao Triều xã Quảng Công" thành lập tháng Ba, 2005 nhờ hỗ trợ của Hội Nghề Cá Tỉnh, UBND xã và có 58 hộ tham gia chia thành 4 nhóm, sở hữu 36 hồ, mỗi hồ rộng 3.500m 2 Một số hộ dùng chung hồ theo năm và thông thường các thành viên của hội dùng chung thiết bị Các hồ này xây năm
2002 trong một dự án phát triển NTTS của chính phủ cho vùng ruộng lúa chuyển đổi, trao cho người nuôi
và mỗi người nuôi phải trả 47 triệu đồng cho nhà nước Các vụ 2 năm đầu thất bát nên người nuôi quyết định tổ chức thành hội để cải thiện hoạt động Hội có qui chế riêng, có phí hội viên và chỉ một số hội viên
có thẻ đỏ vùng hồ Hội viên hàng năm nhận được tập huấn của TTKN Sở TS (kĩ thuật cho ăn, sức khoẻ tôm và kĩ thuật nuôi) Chủ tịch hội ông Nguyễn Ngọc Song tin rằng làm việc với nhau trong cùng một hội
sẽ giúp lợi ích cho người nuôi và sau khi Hội Nghề Cá Quảng Công thành lập vững thì sẽ mở rộng cho thành viên mới tham gia
Kết quả điều tra cho thấy 51,9% người nuôi có tham gia vào một hội nghề cá nào đó, 24,2% tham gia vào hội tự quản và 11,7% tham gia vào cả hai hội
Vì các hội NTTS và hội Nghề cá sẽ đóng vai trò quan trọng sau này, Phụ lục 7.3 trình bày những chiến lược khả dĩ để thành lập các Hội Nghề cá bền vững có liên kết với kinh nghiệm và
dự án của Việt Nam Ngoài ra, trong chương khai thác thuỷ sản chúng tôi sẽ trình bày toàn diện
về các Hội Nghề Cá ở Huế và vai trò của hội đối với quản lý thuỷ sản đầm phá
Những vấn đề đa ngành liên quan đến NTTS ở Huế
Các vấn đề sau liên quan đến tiểu ngành NTTS cũng tồn tại và tương quan với các ngành nghề khác Vì lý do đó chúng tôi chỉ trình bày một số vấn đề mà thôi
Sinh kế và NTTS
Giới Bàn về giới thì điều tra cho thấy trong NTTS có một số chênh lệch về thời gian hai giới
dùng cho hoạt động này, chẳng hạn như ở Vinh Hưng, Hương Phong, Quảng Ngạn NTTS được xem là hoạt động "của đàn ông" nhiều hơn, thường chiếm 70% thời gian của đàn ông và 30% thời gian của phụ nữ Mặc dù nam và nữ làm chung việc ở hồ, vai trò của nam là trội hơn Phụ
nữ lo về tài chánh, mực nước, thức ăn tươi (mua cá/tôm vụn ở chợ), thu hoạch và bán (chung với chồng.) Đàn ông lo về sức khoẻ của vật nuôi, những việc dùng nhiều sức như dọn hồ và đắp đê Trẻ em cũng có tham gia, chủ yếu là cho ăn Tập huấn kĩ thuật thì đàn ông tham dự nhiều hơn, còn phụ nữ ít tham gia vì vai trò chính của họ là trong gia đình Chị em không cho đây là vấn đề vì về kĩ thuật thì họ coi đàn ông giỏi hơn Tuy nhiên, vì phụ nữ phải chăm nom các vấn đề tiền bạc nên họ muốn tham dự các lớp tập huấn về tài chính và làm ăn kinh tế
Tín dụng Về tín dụng cho người NTTS, điều tra nhấn mạnh đến nhu cầu tín dụng đúng thời
điểm và dễ tiếp cận cho người nuôi, là cái mà hiện nay không có Tuy vậy, các khả năng tín dụng và tín dụng vi mô vẫn có ở Huế Nếu đầu tư qui mô nhỏ không quá 7 triệu đồng, ở địa phương vẫn có mô hình tín dụng vi mô thông qua Hội Phụ Nữ và Ngân hàng Chính sách Xã hội (xem Phụ lục 7.2) Khi người nuôi đề cập đến vấn đề thiếu tín dụng thì nên hiểu đó là thiếu khả năng tiếp cận nguồn vốn lớn chẳng hạn như 10-100 triệu đồng, hoặc khả năng đầu từ vào NTTS là nghề mà người dân vẫn coi là lựa chọn tốt nhất (đáng tiếc là nhiều khi không có lựa chọn nào ngoài nuôi tôm) để trong thời gian ngắn có thể thoát nghèo và làm giàu Hoàn cảnh hiện nay trên đầm phá cho thấy điều ngược lại: nhiều người nuôi mắc nợ Có nhiều nguyên nhất thất bại trong nuôi tôm Tuy vậy, nếu đầu tư không khéo (trong trường hợp này, và nói rộng ra là nuôi tôm nhưng không đủ kiến thức kĩ thuật cần thiết), hoặc người nuôi đã mắc nợ nhiều, thì nếu có tạo thêm dòng tín dụng mới làm phương tiện tăng thu nhập hộ gia đình cũng khó thấy phát huy hiệu quả
Trang 35Nuôi tôm, tín dụng, nợ nần và rủi ro Nhìn chung vẫn có tín dụng cho đầu tư nuôi tôm, đặc
biệt từ Ngân hàng NNPTNT, có thể cho vay lên đến 40-50 triệu đồng cho người nuôi có thế chấp Ngân hàng này có hệ thống giám sát tại chỗ để loại những kế hoạch kinh doanh kém hiệu quả của người nuôi; nhưng phương pháp này không được khách quan, chẳng hạn, làm sao
để phân biệt kế hoạch làm ăn khéo, để tiếp cận các khía cạnh kĩ thuật của kế hoạch NTTS đang xét, và quan trọng nhất là làm sao để định được rủi ro trong kế hoạch làm ăn của người nuôi Ở Quảng Ngạn, muốn xây hồ người nuôi cần có 120 triệu đồng, Ngân hàng cho vay 50 triệu, 70 triệu còn lại là từ các nguồn khác Tuy vậy, số tiền đó vẫn không đủ để cải thiện nghề (mua dụng cụ, sửa đê, thả giống) Trước đây, các công ty thức ăn có cho dân mua thức ăn dưới hình thức tín dụng, nay không còn nữa
Thực tế chung ghi nhận được từ điều tra là người nuôi tôm có thể chưa có vụ nào thành công nhưng sau đó phải chịu mất mùa mấy vụ liên tiếp, do đó nợ càng tăng thêm Như vậy vẫn không ngăn họ mượn thêm tiền để đầu tư cho vụ sau, và Ngân hàng NNPTNT đồng ý cho một
số hộ vay thêm 2-3 vụ sau Không may là vụ này nối tiếp vụ kia thua lỗ, người nuôi trồng rơi vào vòng luẩn quẩn nợ nần chồng chất So với 30,8% trong khai thác và 31,1% trong nông nghiệp thì có khoảng 44,4% người NTTS là quá hạn trả nợ và hơn một nửa số đó thấy rằng bây giờ mà trả đủ nợ còn khó hơn 5 năm trước Ở Quảng Công, khoảng 30 - 40% người nuôi tôm không trả nổi nợ Hội đồng Nhân dân ủng hộ cho những trường hợp thiếu nợ ngân hàng được gia hạn trả nợ, nhưng chỉ có 10-15% và thường là những người mới mắc nợ lần đầu Ở Lộc Bình một số người nuôi mắc nợ đến 100 triệu đồng Mặc dù thất bát và nợ nhiều, có khoảng 80% người nuôi vẫn tiến hành NTTS trở lại
Hơn thế nữa, người nuôi vỡ nợ lại kiếm những nguồn vay từ các chủ nậu mà lãi suất hàng tháng có thể lên tới 20% Vì đó mà lãi mẹ đẻ lãi con, người nuôi không tài nào kham nổi Vì nhiều nợ nên các mối quan hệ trong cộng đồng có thể bị lung lay Người dân sáng tối tối tập trung vào nợ và nhiều khi còn nợ người cùng thôn, nên đoàn kết trong cộng đồng có thể không như trước nữa Có điều đáng nói nữa là có khi người nuôi vay được khoản tiền lớn từ Ngân hàng nhưng lại dùng tiền đó vào các mục đích khác (mua xe máy mới, đồ điện hoặc các đồ dùng khác) chứ không trả nợ hoặc đầu tư vào nuôi tôm
Thiếu kiến thức kĩ thuật
Mặc dù người nuôi có được tập huấn, kiến thức về kĩ thuật NTTS của họ rất hạn chế và thậm chí dụng cụ đơn giản để kiểm tra chất lượng nước cũng không có (độ pH, nhiệt độ, độ mặn) Do vậy nên (i) nuôi không đúng mùa, (ii) làm và quản lý hồ chưa đúng kĩ thuật, (iii) dịch bệnh và mất mùa, nhất là nuôi tôm, (iv) năng suất thấp, (v) ô nhiễm và xuống cấp môi trường, (vi) sử dụng chất hoá học và thuốc không đúng hoặc sử dụng chất cấm Rõ ràng là người nuôi cần có kiến thức tốt hơn về NTTS thông qua các dịch vụ khuyến ngư tốt hơn để giảm rủi ro tỉ lệ chết
và để gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
Dịch bệnh NTTS
Dịch bệnh thường xuyên xảy ra và xảy ra mỗi vụ, làm ảnh hưởng đến những loài có nuôi với mức độ ảnh hưởng khác nhau Nguy hiểm đặc biệt đến sinh kế là dịch bệnh tôm, đã gây ra tổn thất kinh tế rất lớn cho cộng đồng đầm phá Một số mặt của dịch bệnh liên quan đến sản phẩm mua đã đề cập Những lý do khác của dịch bệnh có thể như sau:
Người nuôi thiếu kiến thức kĩ thuật chuyên môn về làm hồ, về chăn nuôi chung, về phòng bệnh và về cách sử dụng hoá chất hợp lý;
Chất lượng giống kém do giống bố mẹ bị tận dụng quá mức, hoặc do tôm con không kiểm tra PCR hoặc kiểm tra sức khoẻ
Làm hồ ở vùng thấp triều có thể cản trở dòng lưu thông nước;
Chất lượng nước trong phá xuống cấp;
Ở nhiều nơi, đường nước vào và đường nước ra rất gần nhau, hoặc chung kênh Lại không
có xử lý nước hoặc lắng chất cặn nên làm nguyên nhân cho dịch bệnh
Trang 36Liên quan đến các vấn đề, điều 7 trong Quyết định số 3014/2005/QĐ-UBND nói rõ rằng trong mùa nuôi, và khi có dịch bệnh tôm, người nuôi cần: (i) kịp thời báo cho UBND xã hoặc Trạm Bảo Vệ Nguồn Lợi Thuỷ Sản hoặc Hội Nghề Cá trong xã, (ii) tuân thủ nghiêm ngặt các qui định
về quản lý và kiểm soát bệnh dịch; (iii) không xả nước từ trong hồ bị nhiễm ra ngoài Người nuôi nào không tuân theo các điều nói trên sẽ bị phạt, hoặc bị cấm nuôi một đến hai vụ hoặc tịch thu đất hoặc mặt nước đã được giao
Chất lượng nước và ô nhiễm môi trường
Đầm phá TT.Huế có vai trò quan trọng không những đối với hệ sinh thái ven biển và môi trường trong vùng mà còn đối với phát triển kinh tế-xã hội, nhất là phát triển NTTS Chất lượng nước đầm phá là nhân tố chủ đạo trong phát triển NTTS và là một trong những quan tâm của người nuôi và các chính quyền Hiện nay, chất thải từ nhiều nguồn thải vào đầm phá mà không qua
xử lý Chẳng hạn, chất thải công nghiệp (nhà máy bia HUDA và các nhà máy chế biến TS), sinh hoạt (khách sạn, bệnh viện thượng nguồn, chợ Đông Ba v.v) và chất thải sinh hoạt dọc bờ sông Hương đều đổ vào đầm phá qua các đường cống không có xử lý Các chất thải đó là nguồn gốc
vi khuẩn gây nhiễm đường ruột (coliform bacteria) Theo Nguyễn và De Vries (2004) hiện nay đầm phá quanh năm đều phải hứng chịu chất ô nhiễm Cụ thể, trong mùa mưa và mùa khô đầm phá Cầu Hai và Tam Giang bị ô nhiễm vì chất dinh dưỡng (phosphorus và nitrogen) và thuốc trừ sâu Đầm Thanh Lam thì ô nhiễm chất dinh dưỡng trong mùa khô và thuốc trừ sau trong mùa mưa Đầm Thuỷ Tú bị ô nhiễm chất dinh dưỡng vào mùa khô, nhưng nồng độ thuốc trừ sâu vẫn dưới mức tiêu chuẩn đối với vùng nuôi thuỷ sản (Tiêu chuẩn chất lượng nước vùng ven bờ Việt Nam TCVN (5943-1995) Điều đáng tiếc là trong tiêu chuẩn này lại không có qui định giá trị giới hạn đối với tổng hàm lượng phosphorus và nitrogen, các loại thuốc trừ sâu và formalin cụ thể; thay vào đó lại sử dụng các tiêu chuẩn của Nhật, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) Những vùng ô nhiễm nhất là các cửa sông và những vùng NTTS Đầm Thanh Lam và Cầu Hai chịu ảnh hưởng nhiều nhất của những điều kiện ngoài biển qua hai cửa Tư Hiền và Thuận An
Thuốc trừ sâu và phân bón từ hoạt động nông nghiệp đổ vào các sông và đầm phá là tác nhân chính gây ô nhiễm (Nguyễn và De Vries, 2004) Đã có báo cáo về các đợt rộ tảo gây hại theo chu kỳ (harmful algal blooms- HAB) ở phá (còn gọi là triều đỏ) ở vùng Quảng Công; điều này đặt ra vấn đề về an ninh lương thực, sức khoẻ con người cũng như của các loài nhuyễn thể và sinh vật tích tụ sinh học thường tiêu thụ ở cộng đồng dân cư
NTTS đang gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là từ tháng Hai đến tháng Chín; và cũng đang bị ảnh hưởng do chất lượng nước thấp ở đầm phá Năm 2004, tính toán cho thấy (VEPA-VNICZM, 2004) NTTS góp khoảng 20% lượng phosphorous và nitrogen (lần lượt 37 tấn và 40 tấn) hàng năm thải vào đầm phá, và đến năm 2010 sẽ là 50%, tăng sáu lần (lần lượt 222 tấn và 240 tấn) Theo Nguyễn và De Vries (2004) tình trạng mở rộng sản xuất nông nghiệp và NTTS hiện nay đang ảnh hưởng hệ sinh thái Việc này vi phạm tiêu chuẩn chất lượng nước, cho thấy rằng khả năng chịu tải đang bị quá hạn ở nhiều nơi trên đầm phá5 Nếu thực hiện thêm nhiều kế hoạch phát triển mở rộng nữa thì tình trạng sẽ xấu hơn nhiều
Đối với các hồ cao triều, Điều 7 của Quyết Định số 3014/2005/QĐ-UBND có đề cập đến việc bảo vệ môi trường Vùng Nuôi Tôm An Toàn và qui định việc thải an toàn các chất thải và bùn hữu cơ từ các hồ sau khi thu hoạch Hơn nữa, quyết định này cũng cấm thải rác và hoá chất
5 Sức tải hay khả năng môi trường có thể định nghĩa là "đặc tính của môi trường và khả năng dung nạp một hoạt động cụ thể hay mức độ của một hoạt động nào không có tác động vượt sức quá tải." Trong thực tế, liên quan đến NTTS, sức tải có nghĩa là: (a) tốc độ tăng chất dinh dưỡng nhưng không gây ra tình trạng phú dưỡng (eutrophication); (b) tốc độ dòng chảy hữu cơ vào tầng sinh vật đáy mà không phá vỡ các quá trình sinh vật tự nhiên; và (c) tốc độ hoà tan ô-xy có thể dung nạp được mà không gây tử vong cho vùng sinh vật tại chỗ đó (GESAMP, 2001)
Trang 37độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ) từ vùng nuôi Việc thiếu kế hoạch phát triển NTTS đúng cách thức đã làm cho hồ tôm thấp triều dày đặc ở một số vùng; lại thêm nò sáo, ao vây, các ngư cụ khác và cơ sở NTTS nên hãm dòng lưu thông của nước
Nuôi tôm Hiện nay nuôi tôm gây ô nhiễm vì không có hồ xử lý nước trước khi thải Người nuôi
có thể ý thức kém về vấn đề này nên không đầu tư xây hồ xử lý và/hoặc là không có diện tích
để xây Vùng NTTS công nghiệp ở Quảng Công được xây lên với hệ thống hồ chứa và xử lý hợp
lý mặc dầu Hội Nghề cá chưa quản lý chặt chẽ lắm Người nuôi được giao 3.000m2 chỉ dùng làm vùng sản xuất Hơn nữa, người nuôi nhiều khi cho tôm ăn quá lượng thức ăn viên và thức ăn thô cần thiết, điều này cũng làm nước thêm ô nhiễm Đây là điều đáng quan ngại nhất là đối với các hồ tôm ở vùng thấp triều tâm vì không thể phơi khô đáy và không thể làm sạch chất thải hữu cơ Những hồ nuôi cao triều thì Điều 7 Quyết Định số 3014/2005/QĐ-UBND có đề cập đến việc bảo vệ môi trường ở Vùng Nuôi Tôm An Toàn và các qui định về việc thải chất thải và bùn hữu cơ an toàn từ các hồ sau mùa thu hoạch vào những nơi cố định
Độ mặn Độ mặn của nước biến động cũng ảnh hưởng NTTS Ở Phú Xuân thường có nước lợ,
đến mùa đông thì nước lợ hoá thành nước ngọt trong một thời gian ngắn Độ mặn dao động từ
0 phần nghìn trong mùa lũ đến 30-32 phần nghìn trong mùa hè Môi trường đầm phá xã Hương Phong độ mặn dễ biến động, trong khoảng 2-30 phần nghìn Ở Cồn Tè gần cửa Thuận An, độ mặn cao không thuận lợi cho tôm sinh trưởng nhanh Tuy vậy, độ mặn cao là điều kiện thích hợp để nuôi xen canh nhiều loại cá biển Ở Cồn Tè, xa cửa Thuận An thì điều kiện cửa biển thích hợp hơn cho tôm phát triển Nhìn chung, hồ vùng cao triều thường không có kênh dẫn nước ngọt vào cho NTTS
Qui hoạch NTTS và lấn phá
Hồ nuôi tôm sắp thành từng hàng dọc theo bờ đầm phá Huế Có báo cáo cho rằng đầm phá gần như đã bị mất hết vùng cạn tự nhiên mà thay vào đó là hồ nuôi (VEPA-VNICZM, 2004) Hồ thường xây ở vùng ruộng lúa chuyển đổi hoặc những vùng nông nghiệp bị nhiễm mặn; UBND
xã cho phép làm và cấp cho người nuôi Các hồ này nằm ở vùng cao triều Tuy nhiên, những người mới vào nghề nuôi tôm thường chọn vùng thấp triều là vùng luôn luôn ngập nước Hồ cao triều và thấp triều liên quan tới vị trí của nước khác nhau nên có những đặc điểm vật lý và hoá học khác nhau, thể hiện thành những đặc tính NTTS khác biệt tóm tắt ở Bảng 3.5
Bảng 3.5: Những khác biệt chính giữa nuôi cao triều và thấp triều
Ít bị thiên tai ảnh hưởng Bị ảnh hưởng thiên tai (đê bao đất bùn nên hàng năm đều bị xói lở, lụt lội, v.v.)
Có nhiều thời gian chuẩn bị hồ Ít nhiều thời gian chuẩn bị hồ
Có thể phơi khô đáy Không thể phơi khô đáy
Đất cát và sét (Vinh Hưng) Cát và bùn (Vinh Hưng)
Đầu tư nhiều hơn Đầu tư ít hơn
Độc canh tôm, mật độ thả cao Vừa độc canh vừa xen canh Vụ đầu nuôi cá (cá
dìa và cá kình) và tôm Vụ hai vụ ba chỉ nuôi tôm
2 vụ/năm 2 hay 3 vụ/năm tuỳ theo thời tiết và tốc độ sinh trưởng Dùng hồ ương để từ hồ đó lấy loài nuôi thả
ra hồ nuôi khi xong một vụ
Dùng quạt gió Không dùng quạt gió
Cần bơm nước từ phá Không cần bơm nước từ phá
Thành công cao hơn, nhưng thua lỗ nhiều hơn nếu
thất bại Nếu thành công thì ít lời hơn, nhưng nếu thất bại thì cũng không lỗ nhiều
Tỉ lệ thành công tương đối thấp (rủi ro nhiều) Tỉ lệ thành công tương đối cao (rủi ro ít)
Nguồn: IMOLA, 2006d – xã Hương Phong
Ở Vinh Hưng, phần lớn các hồ nuôi tôm là thấp triều Hương Phong cũng vậy (90%) và 10% kia
là cao triều Ở Quảng Công, đê bao của hồ thấp triều đắp bằng bùn từ phá và không đủ sức qua nổi mùa mưa bão từ tháng Chín đến tháng Mười Một Đắp hồ ở vùng thấp triều có thể hãm giòng nước lưu thông và ảnh hưởng các hồ khác ở vùng cao triều Hồ xây ở mé vùng thấp triều
Trang 38độ bền kém nên rủi ro và hư hại trước thiên tai như bão lụt càng cao Người nuôi tôm có hồ nằm xa ngoài phá thường mắc nợ nhiều hơn Nước sâu chừng nào thì rủi ro nhiều chừng ấy và đầu tư xây dựng, sửa chữa hồ cũng nhiều hơn
Những nghiên cứu trước đây ở Huế (De Vries, 2004) cho thấy tổng diện tích NTTS có lẽ đã vượt ngoài khả năng chịu tải của đầm phá Tuy vậy, các kế hoạch phát triển của UBND các xã đều cho rằng tiềm năng mở rộng và thâm canh NTTS vẫn còn, trong đó có cả việc chuyển đổi vùng thấp triều và ruộng lúa sang vùng NTTS; chẳng hạn, năm 2006 xã Quảng Công dự định sẽ chuyển tiếp 3 ha ruộng lúa và 4 ha mặt nước chưa sử dụng sang NTTS (UBND xã Quảng Công, 2005) Hiện nay, khoảng 3.000 ha đã chuyển đổi, chiếm gần trọn nơi cư trú tự nhiên vùng nước cạn bao quanh đầm phá (De Vries, 2004) Thiếu qui hoạch NTTS đúng mức đã dẫn tới tình trạng xây hồ chằng chịt nhưng lại không có cơ sở hạ tầng đầy đủ (đê bao, hệ thống dẫn nước, hồ xử lý) Bộ Thuỷ Sản cho biết rằng việc chuyển đổi những vùng đất nông nghiệp kém năng suất thành diện tích NTTS đã diễn ra quá nhanh, khi chưa qui hoạch nên gây ra những tác động xấu lên môi trường, trong khi đó đầu tư vào cơ sở hạ tầng lại không đủ Điều này là nguyên nhân của dịch bệnh tôm trong ở nhiều nơi hiện nay Bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh thuỷ sản, và hiệu quả sản xuất đã trở thành những vấn đề bức xúc trong phát triển ngành thuỷ sản (Bộ Thuỷ Sản, 2006)
Có một vấn đề môi trường khác do NTTS đất cát gây ra và phổ biến trong vòng 3-4 năm Theo điều tra, có khoảng 6,6% người nuôi có hồ ở vùng đất cát Mọi người nhìn nhận rằng ngoài những khó khăn về kĩ thuật do vỡ đê bao và rỉ nước thường xuyên còn có những vấn đề liên quan khác: tác động lên mạch nước ngầm và độ nhiễm mặn của ruộng lúa, khiến cho toàn vụ mùa bị mất trắng; và làm cho đất không sử dụng được (xem chương Nông Nghiệp và Hình 4.X) Vì những lý do trên mà không nên khuyến khích NTTS trên đất cát (Viện NCNTTS 1, tài liệu nội bộ)
Các chính quyền địa phương ở Huế đã ý thức được rủi ro và nhận thấy nhu cầu phải qui hoạch tổng thể NTTS và nuôi tôm tốt hơn, với hệ thống cấp nước và tháo nước riêng biệt và thông với
hồ lắng để cải thiện chất lượng nước cho các hệ thống và các nhánh nuôi Theo Điều 2 Quyết Định số 3677/QĐ-UB, giấy sử dụng đất sẽ không trao cho những vùng đất sát đầm phá, vì nếu không sẽ làm cho đầm phá cạn và suy thoái dần Ranh giới giữa mặt nước và đất liền được phân định bằng bản đồ địa hình do Tổng cục Địa chính xuất bản năm 1994 Quan trọng hơn nữa, những qui định của quyết định số 3014/2005/QĐ-UBND qui định nghiêm ngặt việc xây hồ phải theo những điều kiện sau:
phải theo qui hoạch chung của tỉnh hoặc huyện và qui hoạch chi tiết của xã (nếu có) và phải có hệ thống xử lý nước; và
phải giới hạn trong vùng mặt nước được phân bổ, không được mở rộng thêm, hoặc vượt ra ngoài hoặc sử dụng sai mục đích
Theo điều tra, có 71,8% người nuôi có NTTS là sinh kế cho rằng hồ và dụng cụ của họ đều nằm trong Diện Tích NTTS Có Qui Hoạch và có 47,6% người nuôi có giấy chứng nhận sử dụng đất (thẻ đỏ) Năm 2004, có 16 hồ cao triều được cấp thẻ đỏ (UBND xã Lộc Bình, 2004) Có 83,9% người NTTS cho rằng họ có quyền chiếm dụng diện tích mặt phá để dựng cơ sở nuôi của họ, còn 76,9% cho rằng vùng nuôi của họ nằm trong Diện Tích NTTS Có Qui Hoạch Có gần 50% có thẻ đỏ Điều đáng chú ý là những phần trăm trung bình kể trên đều giảm khi đưa vào xét tất cả người nuôi, tức cả người nuôi có sinh kế là NTTS và người nuôi chỉ làm phụ Những người nuôi chỉ làm phụ có thể biết là mình đang "lấn" ra những vùng không dành cho NTTS
Thiên tai Lũ lụt làm ngưng hoạt động ngoài hồ và gây thiệt hại Từ tháng Chín đến tháng Hai,
người dân không thể tiến hành hoạt động NTTS vì thời tiết lạnh, lũ lụt và độ mặn giảm xuống dưới mức 6 phần nghìn gần cửa Thuận An và Tư Hiền, và xuống gần bằng không ở đầm Cầu
Hai
Trang 39Cơ sở hạ tầng và NTTS
Phát triển NTTS bị ngăn trở là vì thiếu cơ sở hạ tầng như đường sá Một số xã như Quảng Công
và Hải Dương có thể đi bằng đò và một phần đường nhựa, khó khăn cho người nuôi muốn đến những thị trường ở Huế và nhà máy chế biến Một số xã đường điện đã cũ kĩ và không ổn định, làm cho hệ thống thông khí ở hồ tôm có hoạt động không được liên tục, gây chết tôm hàng loạt
và thất thu
Thị trường
Thị trường thường được xem là mối cản trở cho những nhà NTTS qui mô nhỏ ở Huế Ở cấp cơ
sở, người nuôi thì ít học và ít cơ hội tiếp cận thông tin nên cơ hội tìm và khám phá những đầu thị trường mới là rất hạn chế Cần phải phối hợp theo chiều dọc từ người sản xuất đến người tiêu dùng bằng chuỗi giá trị Hơn nữa, người nuôi qui mô nhỏ thường điều hành công việc làm
ăn của mình riêng lẻ, vì vậy mà khi thu hoạch thì thu hoạch riêng, không tham khảo ý kiến những người nuôi khác, không theo dõi mùa và cần phải có thu nhập bằng tiền mặt càng sớm càng tốt Có vụ thì nhu cầu bán là do sản phẩm hỏng, tức là khi có dấu hiệu dịch bệnh hoặc vì thời tiết xấu đang đến có thể mất trắng vụ Nuôi riêng lẻ thì không có khả năng sản xuất đủ sản phẩm để bán một lần cho nhà máy chế biến hoặc người mua quốc tế Đầu tư vào vận chuyển đường xa để mở thêm đầu mối thị trường có thể rất tốn kém, lại đòi phải biết thương thuyết và những kĩ năng thương mại khác Vì những lý do đó, người nuôi mới bán sản phẩm cho người trung gian địa phương hoặc từ các tỉnh khác, mà giá cả lại do thành phần này thao túng Ở Quảng Ngạn chẳng hạn, năm 2005 giá xuất cổng 1 kg tôm (30 con/kg) của người nuôi
là 90.000 nghìn đồng, trong khi đó giá ở TPHCM là 150.000 đồng/kg
Lên cấp quốc gia và quốc tế, Bộ Thuỷ sản dự đoán sẽ có nhiều cạnh tranh hơn từ các đối thủ nước ngoài ở cả hai thị trường nội địa và xuất khẩu sau khi Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) Để tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam và để giữ và phát triển khả năng cạnh tranh thị trường, ngành thuỷ sản cần tiếp tục đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của thị trường và tuân theo qui luật ở các nước khác, gồm có những qui luật liên quan đến thuế xuất nhập khẩu, chống phá giá, an toàn thực phẩm và khả năng truy nguyên bằng chuỗi giá trị và một số hệ thống chứng nhận Hiện nay Việt Nam có khoảng 170 nhà máy chế biến được cấp chứng nhận xuất khẩu theo tiêu chuẩn EU hết sức nghiêm ngặt (chỉ có một trong bốn nhà máy
ở Huế được cấp chứng nhận này); và số nhà máy được phép xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Nhật còn nhiều hơn nữa
Hơn nữa, cần phải cải thiện đường nguyên liệu hải sản thô nội địa từ vùng sản xuất có ít nhà máy chế biến ở Huế đến vùng có nhiều khả năng chế biến hơn bằng cơ sở vật chất tốt hơn, hoặc có thể bằng một tổ chức chặt chẽ của các nhà sản xuất thông qua Hội Nông dân Làm được như vậy sẽ giúp cho ngành thuỷ sản đứng vững trong tình trạng thiếu nguyên liệu thô dùng cho chế biến ở một số vùng, bắt buộc phải nhập khẩu từ nước ngoài Và còn giúp người nuôi bán được với giá công bằng hơn vào những mùa thu hoạch rộ, khi mà giá cả thường đi xuống
Trang 403.2 Khai Thác Thuỷ Sản
Khai thác đánh bắt là nghề truyền thống của cư dân đầm phá TT.Huế và có thể định nghĩa là
nghề cá qui mô nhỏ và sinh kế thuỷ sản thủ công (Berkes et al., 2001) Đây còn là nghề cá sử
dụng nhiều ngư cụ và bắt tạp, rất phổ biến ở những nước nhiệt đới Ngư dân dùng một hoặc nhiều loại ngư cụ tuỳ theo địa điểm và mùa đánh bắt Đánh bắt chủ yếu diễn ra trên đầm phá; một số xã còn có đánh bắt trên sông và đánh bắt gần bờ như Quảng Công và Lộc Bình Xã Hải Dương có thuyền lớn đánh bắt xa bờ trong khuôn khổ một dự án của tỉnh năm 2001, dự án không thành công và nay đã ngưng Kế hoạch Phát triển Kinh tế-Xã hội 2006-2010 dự định khôi phục hoạt động đánh bắt xa bờ, chủ yếu là xây dựng thêm cơ sở hạ tầng tại các thôn đánh
cá Thuận An, Tư Hiền và Cầu Hai (UBND tỉnh TT.Huế, 2005)
Ngư cụ
Hiện có hơn 35 loại ngư cụ đang được ngư dân đầm phá sử dụng để đánh cá, các loài giáp xác
và nhuyễn thể Có thể phân thành (a) ngư cụ di động và (b) ngư cụ cố định Một số ngư cụ bị cấm theo Quyết định số 4260/2005/QĐ-UBND, trong đó có các ngư cụ xiết điện thường dùng ở đầm phá Các ngư cụ khác dùng để bắt cá nhỏ đưa vào lồng hoặc ao vây nuôi Phạm vi của nghiên cứu cơ bản này không xét đến tất cả ngư cụ đang dùng ở Huế mà chỉ mô tả qua ba ngư
cụ chính, là nò sáo, lưới đáy và ao vây (đây thực ra là ngư cụ kết hợp giữa NTTS và đánh bắt)
Nò sáo Nò sáo là một trong những ngư cụ cố định phổ biến và hiệu quả nhất, nhưng không có
tính chọn lọc ở đầm phá và ở những vùng khép kín ở Đông Nam Á (Fezzardi, 2001, SEAFDEC, 2002) Ngư cụ này hoạt động bằng cách gom những loài di chuyển trong nước đưa vào một lồng giam không thể thoát ra được (coi Phụ lục 7.3) Trước 1985 nò sáo làm toàn bằng tre, nhưng sau Bão số 8 năm 1985, phần nhiều nò sáo tre đều bị quét đi và ngư dân lấy nylon làm sáo thay tre Sáo vẫn còn làm bằng tre và có nơi người dân lấy nhựa bọc ngoài để tăng tuổi thọ Hiện nay mắt lưới các ngư cụ là 8 mm (qui ra 2a, xem Phụ lục 7.3) Có hai loại nò sáo: (1)
nò sáo vùng nước cạn và (2) nò sáo vùng nước sâu
Số lượng nò sáo ở đầm phá trong mấy năm qua đã gia tăng nhanh chóng, hậu quả của gia tăng dân số và giảm sút sản lượng một lần đánh bắt Điều đáng tranh cãi là nò sáo bị coi là nguyên nhân: (1) gây ra tình trạng khai thác quá mức tài nguyên nước, (2) cản trở dòng nước trong các lạch và giảm chất lượng nước, (iii) ngăn đường di cư vào hoặc ra đầm phá của cá, hoặc ngay trong đầm phá do nò sáo quá dày đặc và (iv) cản trở giao thông Nò sáo cũng là món hàng mua bán giữa người ngư dân với nhau mặc dầu không nhiều, giá cả thay đổi tuỳ theo năng suất của sáo, từ 20 đến 70 triệu đồng một trộ sáo Ở Vinh Hiền có trộ sáo trị giá tới 100 triệu đồng
Lưới đáy Lưới đáy cũng là một loại ngư cụ phổ biến và hiệu quả Đây là ngư cụ có khả năng
chịu đựng lâu dài được đóng xuống đáy đầm phá Túi lưới của đáy cất một ngày một lần, khi dòng nước chảy xiết và thuỷ triều đi ra biển Lưới đáy bắt chủ yếu là tôm, chứa sau túi đáy Kích cỡ thông thường của lưới đáy như sau: chiều rộng và chiều cao của miệng đáy 10*2 m; đáy dài 15-20 m; mắt lưới (túi đáy) là 12mm, qui ra 2a (Phụ lục 6.3)
Ao vây Khi mẻ cá của những ngư cụ truyền thống như nò sáo và lưới đáy giảm xuống thì
người ngư dân bắt đầu làm ao vây để gia tăng sản xuất Ao vây là vùng phá rộng hoàn toàn vây kín bằng lưới, dùng để nuôi và đánh bắt các loài thuỷ sản, gọi là đánh bắt cải tiến Các loài trong ao vây là giống các loài thuỷ sản, bắt tự nhiên hoặc trong ao vây, hoặc là giống mua ở chợ địa phương hoặc từ các ngư dân khác, gồm tôm, cua, cá dìa và các loài cá khác sống bằng thức ăn tự nhiên hoặc cá vụn Ao vây thu hoạch theo từng giai đoạn, chủ yếu bằng lưới ba màn Mỗi hộ có 1 hoặc 2 ao vây diện tích trung bình mỗi cái là 8.500m2 Làm một ao vây tốn khoảng 5 triệu đồng cho 1 ha