1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam docx

26 436 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 414,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam Công việc chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán TTCK Việt Nam được bắt đầu từ năm 1991 – 1992 bởi

Trang 1

phát triển thị trường chứng khoán Việt nam

mục lục

I- Sự ra đời của thị trường chứng khoán ở Việt Nam

I.1 Những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam

I.2 Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

II- Sự phát triển của TTCK Việt Nam

II.1 Diễn biến của TTCK Việt Nam từ 2002 đến nay

II.2 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

III- Đánh giá chung về TTCK Việt Nam trong năm 2006

III.1 Một số nhận xét

III.2 Về cơn sốt giá chứng khoán đang diễn ra từ đầu tháng 4 năm 2006

IV- Một số vấn đề đặt ra sau 5 năm hoạt động của TTCK Việt Nam

IV.1.Về thị trường phi tập trung (OTC)

IV.2 Tăng hàng hoá cho TTCK

IV.3 Ra đời các tổ chức đánh giá tín nhiệm

IV.4 Hoàn thiện khung pháp lý về TTCK

IV.5 Hội nhập thị trường vốn khu vực và thế giới

IV.6 Quyết tâm của Chính phủ

Trang 2

Vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng cao (bình quân 8%/ năm) nhờ huy động được các nguồn vốn đầu tư phong phú Tuy nhiên, vốn đầu tư từ khu vực dân cư chưa được huy động tương xứng với qui mô được đánh giá do chưa có kênh huy động phù hợp Vốn đầu tư nước ngoài cũng chỉ mới được thu hút qua đầu tư trực tiếp, nguồn vốn gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư là các tổ chức chưa được khai thông Mặc dù hệ thống ngân hàng thương mại đã lớn mạnh hơn và nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã tự đảm bảo phần lớn nhu cầu đầu tư bằng nguồn vốn tự có, nhưng vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước và tín dụng nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn Đầu tư vào kinh tế từ nguồn ngân sách nhà nước bị hạn chế bởi chức năng “cai trị” của Nhà nước Tín dụng đầu tư của Nhà nước, đặc biệt là tín dụng đầu tư với lãi suất ưu đãi, chỉ nên có qui mô hạn chế

do tính hiệu quả thấp và dễ bị lạm dụng

Nguồn vốn đầu tư phát triển do các ngân hàng thương mại quốc doanh cung cấp mặc dù giữ vị trí quan trọng trong suốt thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam nhưng việc sử dụng nguồn vốn này cũng có nhiều hạn chế do qui mô nhỏ bé của các ngân hàng này và do cơ cấu vốn của chúng rất khó đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển Việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn một cách phổ biến trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam là rất rủi ro cho

hệ thống ngân hàng Rủi ro này nếu để tích tụ lại sẽ tác động dây truyền đến hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung

Trong bối cảnh đó, việc ra đời thị trường chứng khoán như một kênh quan trọng huy động nguồn vốn dài hạn cho đầu tư phát triển và làm cho lưu chuyển vốn có tính thanh khoản cao trở nên cấp bách Chuyên đề này giới thiệu tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam, nêu ra những điểm còn hạn chế, rút ra một số bài học kinh nghiệm, và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển TTCK ở Việt Nam trong thời gian tới

I- Sự ra đời của thị trường chứng khoán ở Việt Nam

I.1 Những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Công việc chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam được bắt đầu từ năm 1991 – 1992 bởi Ban Phát triển Thị trường Vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước Năm 1996, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để mở cửa TTCK, và Trung tâm

Trang 3

Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) đầu tiên đã mở cửa ngày 20 tháng 7 năm

2000 tại thành phố Hồ Chí Minh

Sở dĩ phải mất 8 năm chuẩn bị với vài lần đình hoãn thị trường chứng khoán Việt Nam mới có thể khai trương được là do có sự thiếu tin tưởng ở thành công của hình thức hoạt động kinh doanh chứng khoán tại thời điểm thị trường vốn trong nước chưa phát triển và trong bối cảnh xảy ra cuộc khủng hoảng tiền

tệ khu vực Đông Nam á (1997 – 1998) Lý do khiến nhiều người không mặn

mà với việc thành lập thị trường chứng khoán tựu trung ở mấy điểm:

- Thị trường chứng khoán chủ yếu giao dịch cổ phiếu của các công ty cổ phần, mà tại thời điểm đó Việt Nam hầu như chưa có mấy công ty cổ phần có

đủ uy tín để được niêm yết cổ phiếu trên TTCK; liệu có sa vào tình trạng “có chợ mà không có hàng” ?

- Kinh doanh chứng khoán là hoạt động có nhiều rủi ro nên đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ từ phía nhà nước Trong khi đó Việt Nam chưa có đủ khung pháp lý, đội ngũ chuyên gia cũng như kinh nghiệm quản lý loại thị trường “đẳng cấp cao” này;

Những ý kiến phân vân còn do có nhiều thông tin về sự đổ vỡ của TTCK tại nhiều quốc gia, gần nhất là tại nước láng giềng Trung Quốc với những vụ nhẩy lầu tự tử do thua lỗ vì kinh doanh chứng khoán tại Thượng Hải, Thâm Quyến vào thời điểm đó Hơn nữa, có một thực tế là một số nền kinh tế đã phát triển mà không có TTCK như Đài Loan Còn Nhật Bản thì mãi đến những năm

80 của thế kỷ XX thị trường chứng khoán mới trở thành nguồn quan trọng huy

động vốn cho đầu tư Không ít người lại e ngại nguy cơ đầu cơ, lũng đoạn từ đầu tư gián tiếp thông qua kinh doanh chứng khoán như đã từng xảy ra đối với Thái Lan trong cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997

Quyết tâm xây dựng thị trường chứng khoán tại Việt Nam dựa trên cơ sở thực tế là vào thời điểm đó, những yếu tố cần thiết cho sự hình thành thị trường này đã được tạo lập:

- Xuất hiện nhu cầu mua bán chứng khoán, trước hết là các chứng khoán

nợ (trái phiếu) nhằm tạo tính thanh khoản cho loại vốn này, hỗ trợ cho kế hoạch phát hành trái phiếu của Nhà nước và trái phiếu doanh nghiệp;

- Khung pháp lý chung cho hoạt động của TTCK như luật dân sự, luật thương mại, luật ngân hàng, luật công ty đã có Khung pháp lý cho việc phát hành và mua bán chứng khoán cũng đã được ban hành với sự hỗ trợ về tư vấn

Trang 4

của các chuyên gia thuộc nhiều mô hình TTCK đã hoạt động có hiệu quả trên thế giới và khu vực;

- Các loại dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động của TTCK như dịch vụ thanh toán, kiểm toán, tư vấn pháp luật đã có sự phát triển nhất định;

- Đã xuất hiện “hàng hoá ” cho thị trường chứng khoán Bên cạnh một số công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả, có được thương hiệu trên thị trường, Nhà nước đã có chủ trương cung cấp một lượng trái phiếu cần thiết để tạo nguồn hàng ban đầu cho TTCK Tiến trình cổ phần hoá DNNN, nơi nắm giữ tuyệt đại

bộ phận vốn đầu tư trong công nghiệp đã đạt được sự nhất trí cao và được cam kết với các tổ chức tài chính quốc tế như một nỗ lực của Việt Nam trong định hướng hội nhập với kinh tế thế giới Đây sẽ là sự bảo đảm cho hoạt động của TTCK sau khi ra đời;

- Đã có đội ngũ chuyên viên quản lý và thực hiện các hoạt động giao dịch chứng khoán hàng ngàn người được đào tạo từ nhiều nguồn kinh phí, trong đó kinh phí từ nguồn viện trợ ODA chiếm tỷ trọng đáng kể

I.2 Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh

Với tất cả những tiền đề và trở ngại trên, sau khi tham khảo ý kiến rộng rãi của các chuyên gia trong nước và nước ngoài, tìm hiểu mô hình hoạt động cũng như quá trình hình thành và phát triển của TTCK ở nhiều quốc gia, Chính phủ đã quyết định thử nghiệm xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam với qui mô và mức độ giao dịch rất hạn chế giúp công chúng làm quen với hình thức

đầu tư mới nhằm mục tiêu dài hạn tạo nên sự đa dạng trong hoạt động đầu tư Hình thức đầu tiên của TTCK Việt Nam được lựa chọn là một Trung tâm giao dịch chứng khoán khiêm tốn đặt tại thành phố Hồ Chí Minh

Trong 3 tháng đầu, TTGDCK Tp Hồ Chí Minh hoạt động cầm chừng hai ngày một phiên, thời gian giao dịch từ 9 giờ đến 11 giờ vào các buổi sáng thứ hai, thứ tư, thứ sáu với 5 Cty cổ phần tham gia, trong đó chỉ có một công ty đến

từ phía Bắc (Công ty Cổ phần giấy Hải Phòng: HaPhaCo (HAP) Trị giá cổ phiếu giao dịch mỗi phiên chưa tới 1 tỷ đồng Trái phiếu Chính phủ, loại hàng hoá mà ban đầu dự định làm nòng cốt cho TTCK, cũng tham gia thưa thớt, thậm chí đóng băng do vẫn duy trì các phiên đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước phạm vi hẹp với sự tham gia chủ yếu của các ngân hàng thương mại quốc doanh

và Quĩ Bảo hiểm xã hội

Giao dịch chứng khoán sôi động hơn từ nửa cuối năm thứ nhất với trị giá giao dịch mỗi phiên hơn 5 tỷ đồng

Trang 5

Tổng kết sau một năm hoạt động, TTGDCK Tp Hồ Chí Minh thu được những kết quả sau đây:

Một là, thu hút đông đảo công chúng tham gia Ngay phiên giao dịch đầu tiên đã có 1.500 tài khoản được mở; đến cuối năm 2000 số tài khoản đã vượt con số 5.000 và không khỏi gây bất ngờ cho nhiều người vốn không tin vào sự thành công của TTCK ở Việt Nam vào thời điểm đó

Hai là, tạo ra tính thanh khoản thuận lợi hơn cho chu chuyển vốn Trị giá giao dịch bình quân 5,6 tỷ đồng/phiên vào nửa cuối của năm thứ nhất cho thấy mức độ sôi động của kinh doanh chứng khoán Việt Nam không kém các nước trong khu vực

Ba là, trong một năm đầu hoạt động đã phát triển đầy đủ các yếu tố tham gia và quản lý TTCK Có thể đánh giá đã đạt được yêu cầu của bước thử nghiệm

Bốn là, tạo tiền đề ra đời một kênh huy động vốn ở khía cạnh tác động

đến thị trường phát hành một khi xu hướng cổ phần hoá DNNN được đẩy mạnh

Đây cũng là kỳ vọng mà chủ trương ra đời TTCK nhằm tới, vì về lý thuyết cổ phần hoá thông qua phát hành cổ phiếu dễ hơn vì được tham gia TTCK

Năm là, việc quản lý tài chính, kế toán các công ty niêm yết đã đi vào nền nếp, tạo được niềm tin cho nhà đầu tư Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán

bộ, chuyên gia quản lý thị trường chứng khoán đã được nâng cao, tích luỹ được kinh nghiệm bước đầu

Sáu là, sau một năm hoạt động, các công ty chứng khoán đều có lãi Điều này vượt xa dự kiến lỗ hai năm đầu của những người thiết kế thị trường

Bẩy là, về mặt kỹ thuật, mặc dù tổ chức TTCK trong bối cảnh không thuận lợi như đã nêu, nhưng công tác quản lý hoạt động giao dịch chứng khoán

đã được thực hiện tốt, thể hiện ở tình trạng ổn định trong kinh doanh trên thị trường, không có những trục trặc lớn xảy ra tại các phiên giao dịch

Bên cạnh những thành công bước đầu, hoạt động giao dịch chứng khoán sau năm đầu tiên cũng bộc lộ những nhược điểm như sau:

- Do nhu cầu mua chứng khoán lớn trong khi hàng hoá trên thị trường còn quá ít nên giá chứng khoán tăng cao (sau một năm tăng hơn 20 lần) Hiện tượng giá chứng khoán tăng cao liên tục mà không có ai bán ra thể hiện sự lệch lạc trong cán cân cung, cầu cổ phiếu Giá chứng khoán tăng nhanh trong năm giao dịch đầu tiên có yếu tố không lành mạnh do các hoạt động cầm cố ngân hàng (vay ký quĩ) và bán khống (vay chứng khoán của công ty chứng khoán để bán

Trang 6

lúc cao , sau đó mua lại để trả khi giá xuống) Để hạn chế tiêu cực nảy sinh, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã đưa ra các biện pháp can thiệp như khống chế biên độ dao động giá cổ phiếu, khống chế lượng cổ phiếu mỗi người nắm giữ trong mỗi phiên giao dịch (không quá 200 chứng khoán/người) Tuy nhiên, biện pháp cơ bản nhất để giảm tình trạng mất cân đối cung, cầu trên TTCK là tăng

“hàng” cho thị trường này Tại thời điểm mở cửa TTCK, có hơn 20 Tổng công

ty Nhà nước đủ tiêu chuẩn niêm yết trên TTCK nhưng không ra niêm yết vì ngại công khai thông tin

- Thiếu sự gắn kết giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp (trong khi Nghị định 48/NĐ qui định công ty muốn phát hành chứng khoán ra công chúng phải được kiểm toán, thì Nghị định 44/NĐ về cổ phần hoá DNNN lại không ràng buộc điều này) Trên thực tế có công ty cổ phần phát hành cổ phiếu ra công chúng không phải để tăng vốn mà là huy động thêm vốn để trả nợ (!);

- Lãi suất trái phiếu không được hình thành theo thị trường mà do Ban tổ chức chỉ đạo đã hạn chế tính khách quan, năng động của thị trường Nhiều phiên không bán được trái phiếu do lãi suất trái phiếu bị chỉ đạo ở mức quá thấp;

- Thị trường còn kém về công khai thông tin Do chưa thực hiện theo chuẩn mực kế toán quốc tế nên số liệu công bố chưa đáng tin cậy Thí dụ như theo kết quả kiểm toán trong nước thì lãi của Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE) năm 2000 là 20 tỷ đồng, nhưng kiểm toán của Cty kiểm toán quốc tế Erns and Young chỉ đưa ra mức lãi 5 tỷ đồng Báo cáo của cơ quan thuế và báo cáo của cơ quan chủ quản cũng không thống nhất với nhau Ngoài ra, trong các luật về công ty chưa có các qui định nhằm bảo vệ cổ đông nhỏ;

- Trình độ công chúng đầu tư còn thấp, chủ yếu theo phong trào Thành phần tham gia TTCK chủ yếu mới là các nhà đầu tư cá nhân, chưa có các nhà

đầu tư là các tổ chức cho nên hoạt động kinh doanh không vững vàng, trình độ phân tích kém

- Việc duy trì hình thức hỗ trợ doanh nghiệp Nhà nước thông qua Quĩ Hỗ trợ phát triển và tín dụng Nhà nước với lãi suất ưu đãi gây ra tình trạng đóng băng trái phiếu Chính phủ trên thị trường chứng khoán, hạn chế một loại hàng hoá quan trọng mà TTCK nhằm vào trong bước đầu hoạt động (Vai trò của trái phiếu rất quan trọng đối với hoạt động của TTCK: TTCK Frank Furt chủ yếu giao dịch trái phiếu, nhưng trái phiếu kho bạc phải có mệnh giá lớn và chỉ bán cho các ngân hàng và các quĩ đầu tư, không bán cho công chúng, còn ở nước ta thì ngược lại)

Trang 7

- Do bị hạn chế bởi khung pháp lý nên tỷ lệ sở hữu chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài là Bên liên doanh và Chi nhánh bị giới hạn (20%)

Với khoảng 150 phiên giao dịch trong năm đầu tiên, TTCK Việt Nam tuy chưa thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ nhưng đã gây được sự chú ý của các tổ chức tài chính khu vực Trong bài phân tích về TTCK Việt Nam sau một năm hoạt động do Hãng tin Dow Jones phát, một chuyên gia cao cấp thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam á có trụ sở tại Singapore cho rằng TTCK VIệt Nam đã trở thành thị trường có sức tăng trưởng mạnh nhất ở Châu á Điều khiến các chuyên gia nước ngoài chú ý là nhịp độ lớn mạnh của TTCK Việt Nam diễn ra trong bối cảnh ngoài nước thì các nền kinh tế khu vực sa sút, trong nước thì giao dịch chứng khoán bị giới hạn trong ba phiên mỗi tuần với những qui định chặt chẽ về biên độ dao động giá cổ phiếu trong một phiên Căn cứ triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam, chuyên gia này nhận định: về lâu dài, kinh tế Việt Nam

sẽ vươn tới một TTCK lành mạnh và sôi động Dư luận Việt Nam nhìn chung cũng kỳ vọng vào sự ra đời của TTCK, có báo còn đánh giá quyết định thành lập TTCK là một trong mười sự kiện kinh tế nổi bật của năm 2000

II- Sự phát triển của TTCK Việt Nam

II.1 Diễn biến của TTCK Việt Nam từ 2002 đến nay

Từ 01 tháng 3 năm 2002, TTGDCK Tp Hồ Chí Minh mở cửa đủ các ngày trong tuần và áp dụng phương thức giao dịch thoả thuận đối với cổ phiếu

Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là những đơn vị tham gia kinh doanh chứng khoán ngay từ những ngày đầu tiên TTGDCK Tp Hồ Chí Minh đi vào hoạt động (Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), vốn điều lệ 43 tỷ đồng; Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), vốn điều lệ 200

tỷ đồng) Ngày 19/6/2002, phòng giao dịch chứng khoán đầu tiên (thuộc công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, được cấp phép hoạt động

Tuy nhiên, tình trạng giảm sút của nền kinh tế đã tác động trực tiếp đến hoạt động của TTCK Việt Nam Liên tiếp trong hai năm, 2002, 2003 chỉ số chứng khoán sụt giảm mạnh: từ khoảng 240 điểm vào cuối năm 2001 tụt xuống còn 183,05 điểm trong phiên giao dịch cuối năm 2002 và 138,19 điểm vào đầu tháng 11 năm 2003 Giá trị giao dịch chứng khoán có phiên chỉ đạt 80 triệu

đồng (phiên ngày 11/10/2002) Bên cạnh sự trì trệ của thị trường, đã có cổ phiếu phải tạm ngừng giao dịch do phát hiện gian lận trong hoạt động của công ty niêm yết (gian lận hoàn thuế Giá trị gia tăng tại Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ

Trang 8

Long (CAN) bị phát hiện từ đầu tháng 10/2002 Giá cổ phiếu của CAN sụt giảm mạnh, từ 19.200 đ/cp tại phiên giao dịch 02.10.2002 giảm xuống còn 18.200

đ/cp tại phiên giao dịch ngày 16/10/2002 rồi 17.800 đ/cp vào phiên 23/10/2002

Từ giữa tháng 4/2002, các công ty chứng khoán hạ phí môi giới chứng khoán nhằm tăng khả năng cạnh tranh Bên cạnh đó, do Nhà nước có chính sách kiểm soát việc chuyển nhượng đất ven đô làm cho giá đất chững lại tạo điều kiện cho giá chứng khoán nhích lên Đây là dẫn chứng đầu tiên về sự gắn kết giữa TTCK và thị trường nhà đất Từ 01/8/2002, áp dụng biên độ giao dịch giá

cổ phiếu ± 3% thay vì ±2%, thị trường phản ứng tích cực, giá trị giao dịch tăng gấp 11 lần phiên trước Từ tháng 3/2002 TTGDCKHCM thử nghiệm hệ thống giao dịch hạt điều (nut trade.com) 5 ngày một tuần với sự tham gia của 10 doanh nghiệp xuất khẩu hạt điều lớn nhất thế giới

Từ tháng 4 năm 2003, TTCK bắt đầu sôi động trở lại cùng với sự tham gia của Công ty cổ phần Cơ khí xăng dầu (PMS, phiên giao dịch đầu tiên ngày 11/4/2003) (Vốn hoạt động 32 tỷ đồng, Nhà nước nắm 36,45% vốn điều lệ, 79 cán bộ công nhân viên Công ty giữ 8,79% và 5.663 cổ đông bên ngoài chiếm 54,76%)

Chỉ số chứng khoán VN - Index tăng cao kỷ lục trong mấy phiên giao dịch sau tết Giáp Thân (2004) Nhiều công ty niêm yết trả cổ tức cao khiến đầu tư chứng khoán trở nên hấp dẫn không kém gửi tiền vào ngân hàng Ngày 08/11/2004, lần đầu tiên một loại Chứng chỉ quĩ đầu tư (VF1) tham gia niêm yết trên TTCK Việt Nam và là loại chứng khoán niêm yết có vốn điều lệ lớn nhất trên thị trường (30 triệu đơn vị quĩ VF1 x mệnh giá 10.000 đ/CP) Sự tham gia niêm yết của Công ty liên doanh quản lý quĩ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VFM) tại TTGDCK Tp Hồ Chí Minh là bổ sung quan trọng vào thành phần tham gia TTCK Việt Nam, tăng đáng kể lượng hàng cho thị trường, và quan trọng hơn cả là củng cố lòng tin của các nhà đầu tư chứng khoán

Cổ phiếu của Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) vẫn đắt hàng nhất (cổ tức 2003 là 15%) Đến cuối tháng 12 năm 2004, chỉ số chứng khoán đạt mức xấp xỉ cuối năm 2001 Năm 2004 chứng kiến sự tăng mạnh giá cổ phiếu của một loạt công ty: GMD (Công ty CP Đại lý Liên hiệp Vận chuyển), HAP (Công

ty CP Giấy Hải Phòng), SAM (Công ty CP Cáp và Vật liệu viễn thông), AGF (Công ty CP Xuất nhập khẩu An Giang), BT6 (Công ty CP Bê tông 620 Châu Thới), GIL (Công ty CP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh), TMS (Công ty CP Đại lý Liên hợp vận chuyển thuộc TCT Hàng Hải VN), VTC (Công ty CP Viễn thông),

Trang 9

SAV (Công ty CP Hợp tác Kinh tế và Xuất nhập khẩu), và sự tham gia niêm yết của Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc (NKD), một thương hiệu mạnh trong ngành chế biến thực phẩm Cổ phiếu NKD chính thức giao dịch từ phiên 15/12/2004 Qua 4 phiên giao dịch, cổ phiếu NKD đã ở trong “top” 10 cổ phiếu có giá cao nhất

Mặc dù hoạt động kinh doanh chứng khoán đã sôi động trở lại trong năm

2004, nhưng đến cuối năm 2004 trên “sàn” giao dịch của TTCK Việt Nam mới

có 26 công ty tham gia niêm yết cổ phiếu với tổng giá trị giao dịch trên 132 triệu USD, chiếm tỷ trọng 0,4% GDP, trong khi tỷ trọng này phải đạt 10 – 15% GDP như mục tiêu đặt ra đến năm 2010 thì TTCK mới thực sự là một kênh huy

động vốn đầu tư có ý nghĩa

TTCK Việt Nam tiếp tục sôi động trong năm 2005 Bên cạnh cổ phiếu của GMD vẫn giữ mức giá cao nhất (trên 50.000 đ/cp), giá cổ phiếu của Cty Kinh Đô đã có mức tăng kỷ lục: trong vòng 7 tháng lên sàn, giá cổ phiếu NKD

đã tăng từ 27.000 đ/cp tại phiên đầu tiên, lên 39.200 đ/cp (phiên 01/8/2005), trở thành cổ phiếu có giá trị cao thứ hai

Thông tin về việc Trung Quốc thúc đẩy các DNNN lớn tham gia huy

động vốn trên TTCK đã tác động đến các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam Giữa tháng 2/2005 Nhà nước cho phép Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk, VNM) bán bớt 15% cổ phần Nhà nước trị giá 182,7 tỷ đồng theo hình thức đấu giá tại TTGDCK Tp Hồ Chí Minh Phiên đấu giá cổ phần nhằm huy động vốn trên TTCK của Vinamilk là một mốc quan trọng trong tiến trình

cổ phần hoá DNNN gắn với hoạt động của TTCK và đã đáp ứng mong đợi từ lâu của các nhà đầu tư

Năm 2005 cũng đánh dấu sự tham gia tích cực của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, khiến cho trị giá giao dịch trong mỗi phiên tăng cao và duy trì sự ổn định Thí dụ rõ nhất về sự quan tâm của nhà

đầu tư nước ngoài đến TTCK Việt Nam là hiện tượng nhà đầu tư nước ngoài mua gần hết (99%) số cổ phiếu của Công ty cổ phần sữa Việt Nam VNM đưa ra

đầu giá tại TTGDCK Tp Hồ Chí Minh sáng ngày 17/02/2005 Đặc biệt trong phiên giao dịch ngày 20/4/2005, Chỉ số VN – Index tăng đột biến, đạt mức 285,99 điểm với trị giá giao dịch lên tới 36 tỷ đồng do ảnh hưởng của thông tin

về dự thảo Quyết định cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu 49% thay vì 30% cổ phiếu giao dịch của một công ty niêm yết

Trang 10

Theo Quyết định số 238/2005/QĐ, ngày 29 tháng 9 năm 2005, từ 01/10/2005 tổ chức, cá nhân nước ngoài được nắm giữ tối đa 49% (thay vì 30%)

số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một công ty niêm yết, đăng ký giao dịch trên trung tâm giao dịch chứng khoán Tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài được góp vốn, mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh thành lập công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quĩ đầu tư chứng khoán tối đa là 49% vốn

điều lệ

Giao dịch chứng khoán sôi động vào cuối năm 2005, ngoài yếu tố mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, còn vì những lý do quan trọng khác là giá vàng tăng (do ảnh hưởng tăng giá trên thị trường vàng quốc tế) và thị trường bất động sản tiếp tục đóng băng Tại phiên giao dịch 17/10/2005, nhà đầu tư nước ngoài mua tới 20.040 cổ phiếu của Công ty CP Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Nam (TNA), 9650 cổ phiếu LAF (CTCP chế biến hàng xuất khẩu Long An), 4.500 cổ phiếu SAV (CTCP hợp tác kinh tế và xuất nhập khẩu), 4.540 cổ phiếu TS4 (Công ty Thuỷ sản 4)

Đến cuối năm 2005, chỉ số Việt Nam - Index đạt mức 309,26, tăng 21,7

điểm, tăng 30% so với cuối năm 2004, một mức tăng kỷ lục cho đến thời điểm

đó Tại phiên giao dịch ngày 17/10/ 2005, chỉ số VN- Index tăng tới 16 điểm (+ 2,01%) với tổng giá trị giao dịch 25 tỷ đồng; trị giá giao dịch trái phiếu lên tới

215 tỷ đồng; giá hầu hết các cổ phiếu đều tăng Tính đến cuối năm 2005, cổ phiếu có giá tăng cao nhất là cổ phiếu của Công ty CP Đại lý liên hiệp vận chuyển (Gemadept, GMD) Tại phiên giao dịch cuối năm 2005, giá cổ phiếu GMD đạt mức kỷ lục: 70.000 đ/CP, tăng gấp 7 lần chỉ sau 4 năm niêm yết trên TTCK Với sự tham giao dịch cổ phiếu của Công ty cổ phần Kinh Đô Miền Nam (KDC, vốn đăng ký 250 tỷ đồng) và Công ty CP Gạch ngói Nhị Hiệp (NHC, Tỉnh Bình Dương), đến cuối năm 2005, số lượng thành viên của TTGDCK Tp Hồ Chí Minh đã lên tới 31, tăng 5 Công ty so với cuối năm 2004

Trong đợt chia cổ tức tháng 12/2005, phần lớn các Công ty CP lấy mức sàn 1%/ tháng Cổ tức của Vinamilk, Bảo Minh là 15 – 16%/năm; Công ty Giống cây trồng miền Nam (SSC) 20% Cổ tức của đơn vị kinh doanh khó khăn như Đường Biên Hoà cũng đạt 18%/năm

Mặc dù chỉ số chứng khoán tăng cao nhưng hoạt động của TTGDCK Tp

Hồ Chí Minh duy trì được sự ổn định, tạo được niềm tin cho nhà đầu tư Trong cả năm, chỉ có một lần UBCK phải can thiệp hành chính, đó là quyết định tạm dừng giao dịch cổ phiếu của Công ty Cơ khí xây dựng Bình Triệu (BTC) từ

Trang 11

phiên giao dịch ngày 11/4/2005 do Công ty này làm ăn thua lỗ hai năm liền (tổng số lỗ là 5 tỷ đồng)

Về mặt quản lý nhà nước, trong năm 2005, Chính phủ đã quyết định chuyển Uỷ ban Chứng khoán Quốc gia về trực thuộc Bộ Tài chính (thay vì trực thuộc Chính phủ) Giới đầu tư đánh giá quyết định này nhằm thúc đẩy hoạt

động chứng khoán phát triển do được sự chỉ đạo trực tiếp của một ngành chuyên môn

II.2 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Sự phát triển ổn định của TTGDCK Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện phát triển kinh doanh chứng khoán ra phía Bắc Quyết định đưa Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vào hoạt động cuối năm 2004 nhằm xây dựng trung tâm này thành một định chế tài chính đặc biệt theo hướng thị trường phi tập trung có chức năng tổ chức các hoạt động giao dịch chứng khoán TTGDCK Hà Nội là đơn vị sự nghiệp có thu, cung cấp dịch vụ đấu thầu, đấu giá và mua, bán lại chứng khoán nhằm huy động vốn và đẩy nhanh quá trính cổ phần hoá Ngày

08 tháng 3 năm 2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã được khai trương với việc đấu giá cổ phiếu lần đầu của nhà máy thiết bị Bưu điện (Postef)

Đây là phiên giao dịch thăm dò và cũng là phiên giao dịch rất thành công: Doanh nghiệp dự kiến giá trị cổ phiếu khởi điểm là 15,8 tỷ đồng nhưng đã thu

về 25 tỷ đồng, gấp 1,6 lần so với giá chào Hai ngày sau, TTGDCK Hà Nội tổ chức phiên đấu thầu thứ hai đấu giá 40% cổ phần Nhà nước (trị giá 437 tỷ đồng) tại Công ty CP Thuỷ điện Vĩnh Sơn, Sông Hinh Số cổ phiếu đưa ra đấu giá đã

được bán hết với giá khớp lệnh cao hơn mệnh giá 300 đ/CP (10.500 đ/cp so với mệnh giá 10.200đ/cp) Trị giá bán được cao hơn giá chào thầu 16 tỷ đồng Phiên

đấu giá thăm dò và phiên đấu giá đầu tiên của TTGDCK Hà Nội không chỉ có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự mở rộng của TTCK Việt Nam mà còn là thành công lớn của chủ trương “đẩy” các DNNN ra thị trường đấu giá công khai nhằm lành mạnh hoá quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá DNNN Thành công của phiên đấu giá cổ phần của nhà máy thuỷ điện Vĩnh Sơn đã củng cố quyết tâm của Chính phủ thực hiện chủ trương cổ phần hoá các nhà máy điện nhằm huy

động vốn bổ sung cho phát triển ngành điện trong tương lai, một công việc mà mới mấy năm trước đây ít người dám nghĩ tới Trong những tháng tiếp theo, TTGDCK Hà Nội duy trì hoạt động liên tục và nhanh chóng trở thành sân chơi cho các doanh nghiệp vừa, các doanh nghiệp đang trên đường tăng vốn chuẩn bị cho giai đoạn cổ phần hoá

Trang 12

Cùng với sự sôi động của hoạt động giao dịch tại TTGDCK Tp Hồ Chí Minh, từ cuối năm 2005 hoạt động của sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng khởi sắc Từ ngày 13 tháng 3 năm 2006, Công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare, VNR) tham gia đấu giá cổ phiếu trên sàn giao dịch Hà Nội với khối lượng cổ phiếu đưa ra bán lên tới 34,3 triệu cổ phiếu Ngay trong phiên giao dịch đầu tiên, giá trúng thầu cổ phiếu của VNR đã đạt 40.000 đ/cp (mệnh giá 10.000 đ/cp) Đây là doanh nghiệp thứ 10 đăng ký giao dịch tại TTGDCK

Hà Nội và là đơn vị đầu tiên trong ngành bảo hiểm tham gia TTCK Sau Nhà máy Thuỷ điện Vĩnh Sơn Sông Hinh, sự tham gia của VNR (đơn vị này chuyển sang cổ phần từ cuối năm 2005 với số vốn 343 tỷ đồng, trong đó nhà nước nắm giữ 55,5%, CNVC trong công ty nắm 5%, 13 đơn vị pháp nhân khác năm giữ 39,5%) đã đưa dung lượng của TTGDCK Hà Nội lên 1800 tỷ đồng

Từ đầu năm 2006 lượng cổ phiếu giao dịch tại TTGDCK Hà Nội đạt hơn 300.000 cổ phiếu một phiên với trị giá giao dịch đạt hơn 4 tỷ đồng/phiên Sau một năm đi vào hoạt động, chỉ số chứng khoán của TTGDCK Hà Nội đã đạt trên

240 điểm, dung lượng thị trường khoảng 4.000 tỷ đồng; giá trị giao dịch bình quân 25 tỷ đ/phiên Mặc dù mục tiêu đặt ra ban đầu cho TTGDCK Hà Nội là khá khiêm tốn, nhằm vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng mới qua một năm đầu hoạt động Trung tâm đã thu hút được những doanh nghiệp có tên tuổi như các công ty Thuỷ điện Vĩnh Sơn Sông Hinh với vốn đăng ký 1.225 tỷ đồng; Công ty CP Tái bảo hiểm quốc gia VNR vốn đăng ký 343 tỷ đồng; Giấy Hải Âu vốn đăng ký gần 13 tỷ đồng; Xi măng Bút Sơn 40 tỷ đồng Đến cuối tháng 4/2006, đã có 10 doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội Đến cuối tháng 7/2005 TTGDCK Hà Nội có 12 thành viên lưu ký chứng khoán gồm

10 Công ty chứng khoán, 1 ngân hàng trong nước (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam) 1 ngân hàng nước ngoài (Deusche Bank AG, chi nhánh Tp Hồ Chí Minh)

Mục tiêu phát triển của TTGDCK Hà Nội trong năm 2006 là : tăng số doanh nghiệp tham gia giao dịch; triển khai hệ thống giao dịch từ xa (bỏ giao dịch tại sàn); phát triển các loại hàng hoá khác và tổ chức giao dịch trái phiếu Với tốc độ phát triển nhanh giữa một vùng kinh tế đang trên đà phát triển

“nóng” ở phía Bắc, Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm tài chính khu vực, trong đó không thể thiếu hoạt động chứng khoán Chủ trương mở TTGDCK Hà Nội là kịp thời và có thể hy vọng vào sự sôi động của trung tâm này trong tương lai

Trang 13

III- Đánh giá chung về TTCK Việt Nam trong năm 2006

III.1 Một số nhận xét

Thời kỳ sôi động của TTCK Việt Nam thực sự bắt đầu khi bước vào năm

2006 với việc hàng loạt “thương hiệu mạnh” lên sàn Mở đầu là sự kiện Công ty

cổ phần Sữa Việt Nam, Vinamilk (VNM) chính thức lên sàn từ ngày 19 tháng

01 năm 2006 với phạm vi kinh doanh được mở rộng Ngoài các mặt hàng truyền thống như các sản phẩm sữa, thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm chế biến, nước giải khát, Vinamilk có kế hoạch phát triển sang nhiều lĩnh vực khác mà thị phần của các doanh nghiệp trong nước còn đang nhỏ bé hoặc thị trường đang có nhu cầu cao như: sản xuất và kinh doanh bia; thiết bị, phụ tùng; vật tư; hoá chất; nguyên liệu; kinh doanh nhà; môi giới cho thuê bất động sản; kinh doanh kho bãi; vận tải bằng ô tô; bốc xếp hàng hoá; mua bán bao bì; in trên bao bì; sản xuất, mua bán sản phẩm nhựa và cả kinh doanh phòng khám đa khoa

Sự kiện Công ty Cáp và Dây điện TaYa VN, công ty có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên niêm yết và giao dịch tại TTGDCK Hồ Chí Minh đầu năm 2006

mở đầu thời kỳ tham gia trực tiếp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam

Từ đầu tháng 3/2006 thị trường cổ phiếu ở cả hai sàn giao dịch Tp HCM

và Hà Nội đều nóng lên, giá nhiều cổ phiếu tăng cao, trị giá giao dịch có phiên vượt quá 200 tỷ đồng (phiên 09/3/2006: 212,522 tỷ đồng) Tại phiên giao dịch ngày 13/3/2006 chỉ số VN-Index tăng 10,1 điểm lên mức 424,46 điểm, tổng giá trị giao dịch đạt 88,272 tỷ đồng; riêng nhà đầu tư nước ngoài đóng góp vào giao dịch với tổng giá trị mua và bán đạt hơn 15,4 tỷ đồng Tại TTGDCK Hà Nội, cổ phiếu của Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia (VNR) giao dịch ngày đầu tiên

có giá chuyển nhượng lên tới 40.000 đ/cp

Ngày 31/3/2006 diễn ra phiên đấu giá cổ phần lần đầu của công ty Đại lý hàng hải Việt Nam (VOSA) Đây được xem là phiên đấu giá ấn tượng nhất từ trước đến nay Phiên đấu giá đạt kỷ lục cả về lượng nhà đầu tư tham gia (1.608 nhà đầu tư); kỷ lục về số lượng cổ phần đăng ký so với lượng cổ phần chào bán (gấp 8,61 lần) và giá trúng thầu cao nhất (giá trúng thầu thấp nhất là 36.000 đ/cp gấp 3,44 lần so mức giá khởi điểm 10.500 đ/cp, giá trúng thầu cao nhất là 65.000 đ/cp, giá bình quân 37.177 đ/cp) 4.491.595 cổ phần đưa ra bán tại TTGDCK đã thu về hơn 166,984 tỷ đồng

Tại TTGDCK Hồ Chí Minh, trong phiên cuối cùng của tháng 3 có tới 30 trong số 36 loại cổ phiếu tăng giá, trong đó 10 loại cổ phiếu được ưa chuộng

Ngày đăng: 13/12/2013, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w