MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
Một số kỹ thuật dạy học tích cực
1 Kỹ thuật "động não" (Brainstorming)
5 Tranh luận ủng hộ – phản đối
6 Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học
10 Kỹ thuật "Khăn trải bàn"
11 Kỹ thuật "Các mảnh ghép"
13 Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)
16 Kỹ thuật giao nhiệm vụ
17 Kỹ thuật đặt câu hỏi
20 Kỹ thuật “Trình bày một phút”
21 Kỹ thuật “Chúng em biết 3”
22 Kỹ thuật “Hỏi và trả lời”
23 Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”
24 Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
25 Kỹ thuật “Viết tích cực”
26 Kỹ thuật “Đọc tích cực” (Đọc hợp tác)
27 Kỹ thuật “Nói cách khác”
28 Kỹ thuật phân tích phim Video
29 Kỹ thuật tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Kỹ thuật chia nhóm
5 Tranh luận ủng hộ – phản đối
6 Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học
10 Kỹ thuật "Khăn trải bàn"
11 Kỹ thuật "Các mảnh ghép"
13 Kỹ thuật chia sẻ nhóm đôi (Think-Pair-Share)
16 Kỹ thuật giao nhiệm vụ
17 Kỹ thuật đặt câu hỏi
20 Kỹ thuật “Trình bày một phút”
21 Kỹ thuật “Chúng em biết 3”
22 Kỹ thuật “Hỏi và trả lời”
23 Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”
24 Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
25 Kỹ thuật “Viết tích cực”
26 Kỹ thuật “Đọc tích cực” (Đọc hợp tác)
27 Kỹ thuật “Nói cách khác”
28 Kỹ thuật phân tích phim Video
29 Kỹ thuật tóm tắt nội dung tài liệu theo nhóm
II MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
1 Kỹ thuật động não (Brainstorming) Đây là kỹ thuật kích thích người học suy nghĩ bằng cách thu thập ý kiến khác nhau về một vấn đề nào đó mà không tiến hành đánh giá, trao đổi hay bình luận ý kiến đó Kỹ thuật này cho phép làm xuất hiện một cách nhanh chóng một số ý kiến về một đề tài chung, là một phương pháp đặc sắc dùng để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề Phương pháp này hoạt động bằng cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều giải pháp căn bản cho nó.
Các ý niệm và hình ảnh về vấn đề được trình bày một cách phóng khoáng và ngẫu nhiên, phản ánh dòng suy nghĩ phong phú và đa dạng Những ý kiến này có thể sâu sắc và rộng lớn, không bị giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt, cho phép người tham gia tự do bày tỏ quan điểm của mình.
Mặc dù có sự tự do trong việc phát biểu ý kiến, nhưng nhiều quan điểm thường hướng về một hướng nhất định, từ đó hình thành một ý kiến chung Cuối cùng, các ý kiến này sẽ được phân nhóm và đánh giá Kỹ thuật động não có thể được áp dụng vào đầu tiết học hoặc khi bắt đầu một vấn đề, nội dung giữa bài học.
Kỹ thuật này được được tiến hành theo các bước:
- Nêu tên đề tài/chủ đề/vấn đề (có thể gắn với phương tiện trực quan) và đưa câu hỏi kích thích suy nghĩ của người học.
Khuyến khích cả lớp tham gia suy nghĩ và đóng góp ý kiến bằng cách ghi lại ý tưởng của mình trên giấy nhỏ và ghim lên bảng, hoặc từng người lần lượt trình bày ngắn gọn ý kiến trước lớp Trong quá trình này, không thực hiện nhận xét hay đánh giá về các ý kiến được đưa ra.
- Sau khi không còn ý kiến nữa, có thể nhóm các ý kiến lại và đánh giá khái quát về công dụng và tính khả thi.
- Trong quá trình thu thập ý kiến, không được phê bình hay nhận xét, cần xác định rõ: Không có câu trả lời nào là sai
Một số ví dụ minh họa trong môn Văn:
Ví dụ 1: Hướng dẫn học viên (HV) đọc hiểu văn bản Tỏ lòng (Thuật Hoài) Phạm Ngũ Lão (Ngữ văn lớp 10, tập 1)
- Trong phần hướng dẫn HV tìm hiểu chung về tác giả và văn bản (trong phần tiểu dẫn)
GV yêu cầu HV làm việc theo cặp, trả lời các câu hỏi sau:
Dựa vào những hiểu biết về tác giả, hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tỏ lòng?
Hoàn cảnh đó ảnh hưởng như thế nào đến giọng điệu bài thơ?
Trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nạn ngoại xâm, vua Trần đã tổ chức hội nghị Bình Than để bàn kế hoạch chống giặc Phạm Ngũ Lão cùng một số tướng lĩnh được cử đi bảo vệ biên ải phía Bắc Chính trong hoàn cảnh khó khăn này, ông đã sáng tác bài thơ "Tỏ lòng", thể hiện giọng điệu hào hùng, cảm hứng yêu nước và tinh thần kiên cường của người Trần.
Hướng dẫn học viên đọc hiểu tác phẩm "Mùa thu câu cá" (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến trong Ngữ văn lớp 11, tập 1 Giáo viên có thể đặt ra những câu hỏi kích thích sự hứng thú và khởi động cho học viên trước khi bắt đầu bài học mới.
- Kể tên các bài thơ hoặc đọc vài câu thơ viết về mùa thu mà các em biết?
Mùa thu được thể hiện qua nhiều tác phẩm thơ nổi bật như "Sang thu" của Hữu Thỉnh và "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư Ngoài ra, hình ảnh mùa thu cũng xuất hiện trong một số câu thơ trong "Truyện Kiều", tạo nên những cảm xúc sâu lắng và đặc trưng cho mùa này.
- GV hỏi tiếp: Các em có nhận xét gì về hình ảnh mùa thu trong các bài thơ trên?
Giáo viên gọi một số học viên để trả lời, sau đó tập hợp ý kiến và đưa ra nhận xét chung Tiếp theo, giáo viên giới thiệu bài học mới về chủ đề mùa thu, tập trung vào hình ảnh mùa thu được tác giả sáng tạo, thể hiện vẻ đẹp độc đáo của mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ.
Sau khi hoàn thành bài thơ, giáo viên đặt câu hỏi cho toàn lớp, khuyến khích học viên ghi lại câu trả lời trên giấy Câu hỏi này không chỉ kích thích sự sáng tạo mà còn khuyến khích học viên suy nghĩ sâu sắc hơn về nội dung bài học.
Cách gieo vần trong bài thơ mang đến sự đặc biệt và độc đáo, tạo nên âm điệu hài hòa, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của cảnh thu và tình thu Những vần điệu này không chỉ tạo nhịp điệu cho bài thơ mà còn khắc họa sâu sắc tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được sự tĩnh lặng, thanh bình của mùa thu, cùng với những hoài niệm và nỗi nhớ, từ đó làm cho bức tranh thu trở nên sống động và gần gũi hơn.
Giáo viên khuyến khích học viên nộp câu trả lời và chia sẻ suy nghĩ của mình trong lớp Toàn bộ lớp sẽ thảo luận về vấn đề này, và giáo viên sẽ tổng kết lại cách sử dụng vần một cách hiệu quả.
“eo” tinh tế khắc họa hình ảnh đẹp và đặc trưng của mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời thể hiện những tâm tư u uẩn khó nói của nhà thơ.
Ví dụ 3: Hướng dẫn HV tìm hiểu truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, tập 2)
Trong phần đọc hiểu văn bản, GV hướng dẫn HV đọc, tóm tắt tác phẩm, bố cục văn bản xong,
- GV đưa ra yêu cầu: Qua việc tóm tắt tác phẩm, các em cho biết truyện có mấy tình huống? đó là những tình huống nào?
HV đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, cụ thể là 2, 3, hoặc 4 ý kiến Dựa trên những phản hồi của HV, GV đã xác định rằng ý kiến hợp lý nhất trong câu chuyện này là 3 tình huống.
GV gợi ý giúp HV suy nghĩ và nêu 3 tình huống, GV chốt các tình huống:
+ Người nghệ sĩ choáng ngợp trước vẻ đẹp tuyệt đỉnh của khung cảnh thiên nhiên của vùng trời nước mênh mông.
+ Người nghệ sĩ kinh ngạc khi chứng kiến người đàn ông đánh vợ dã man trên bờ biển.
+ Ngạc nhiên trước cảnh người đàn bà nhất quyết không chịu bỏ chồng, nghệ sĩ nhiếp ảnh đã thay đổi quan điểm về đối tượng nghệ thuật.
Có nhiều phương pháp để thành lập nhóm dựa trên các tiêu chí đa dạng, và không nên chỉ áp dụng một tiêu chí duy nhất trong suốt năm học Dưới đây là bảng liệt kê 10 cách thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau.
Tiêu chí Cách thực hiện - Ưu, nhược điểm
1 Các nhóm gồm những người tự nguyện, chung mối quan tâm
Đối với HV thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất.
Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp, vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất.
Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,
Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các HV đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các HV khác.
Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao HV phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm như vậy là bình thường.
Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tài liệu cần xử lý thành những mẩu nhỏ Những học viên sẽ được phát các mẩu xé nhỏ, và những ai ghép thành bức tranh hoặc tài liệu đó sẽ tạo thành một nhóm.
Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch.
Cần một ít chi phí để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm.
4 Các nhóm với những đặc điểm chung
Ví dụ tất cả những HV cùng sinh ra trong mùa đông, mùa xuân, mùa hè hoặc mùa thu sẽ tạo thành nhóm
Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HV có thể biết nhau rõ hơn.
Cách làm này mất đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên.
5 Các nhóm cố định trong một thời gian dài
Các nhóm được duy trì trong một số tuần hoặc một số tháng Các nhóm này thậm chí có thể được đặt tên riêng.
Cách làm này đã được chứng tỏ tốt trong những nhóm học tập có nhiều vấn đề.
Sau khi đã quen nhau một thời gian dài thì việc lập các nhóm mới sẽ khó khăn.
Những HV khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HV yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn. để hỗ trợ HV yếu
Tất cả đều được lợi Những HV giỏi đảm nhận trách nhiệm, những HV yếu được giúp đỡ.
Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ phi những HV giỏi hướng dẫn sai.
7 Phân chia theo năng lực học tập khác nhau
Những HV yếu hơn sẽ xử lý các bài tập cơ bản, những HV đặc biệt giỏi sẽ nhận được thêm những bài tập bổ sung.
Kỹ thuật giao nhiệm vụ
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng
- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
- Nội dung nhiệm vụ là gì?
- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
- Nguồn tư liệu để thực hiện nhiệm vụ là gì?
- Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
- Cách thức trình bày/đánh giá sản phẩm như thế nào?
Lưu ý: Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HV, thời gian, không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị.
Có thể so sánh sự khác biệt trong kỹ thuật giao nhiệm vụ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực thông qua các ví dụ cụ thể Phương pháp truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức từ giáo viên đến học sinh, trong khi phương pháp tích cực khuyến khích sự tham gia và tương tác của học sinh trong quá trình học Những ví dụ này sẽ làm rõ cách thức mà mỗi phương pháp ảnh hưởng đến hiệu quả học tập và sự phát triển kỹ năng của học sinh.
Ví dụ 1: Dạy Lịch Sử lớp 11, chương trình cơ bản, bài: NHẬT BẢN.
Theo phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh trình bày nội dung cơ bản của cuộc Duy Tân Minh Trị, nhằm giúp các em hiểu rõ về sự kiện lịch sử quan trọng này.
Sau đó gọi HV trả lời.
Theo phương pháp dạy học tích cực, giáo viên yêu cầu học viên quan sát bức tranh về nhân vật Thiên Hoàng Minh Trị (1852-1912) và đặt câu hỏi về mối liên hệ của nhân vật này với các sự kiện quan trọng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX.
HV suy nghĩ, thảo luận và trả lời.
Giáo viên hướng dẫn học viên đọc tài liệu trong sách giáo khoa trang 5-6 và yêu cầu điền thông tin vào phiếu học tập về nội dung chính của cuộc Duy Tân Minh Trị năm 1868.
Từ đó rút ra được ý nghĩa nổi bật của cuộc Duy Tân Minh Trị.
Ví dụ 2: Dạy Lịch sử lớp 12, chương trình cơ bản, bài: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ
Theo phương pháp dạy học truyền thống, trong phần 3: Sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh trình bày hoàn cảnh ra đời của tổ chức ASEAN Điều này giúp học sinh hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử và chính trị dẫn đến sự hình thành của tổ chức này, cũng như vai trò quan trọng của ASEAN trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực.
Sau đó gọi HV trả lời.
Theo phương pháp dạy học tích cực, giáo viên yêu cầu học viên quan sát bức tranh biểu tượng của tổ chức ASEAN và đặt câu hỏi: "Đây là biểu tượng của tổ chức nào?" Học viên cần trình bày những hiểu biết của mình về tổ chức này.
GV yêu cầu HV tham khảo tài liệu từ trang 31-32 của sách giáo khoa để lập bảng thống kê các mốc thời gian quan trọng liên quan đến sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN.
HV suy nghĩ, thảo luận và trả lời
Từ đó rút ra cơ hội và thách thức của Việt Nam khi gia nhập tổ chứcASEAN.
Kỹ thuật đặt câu hỏi
Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HV -
Kỹ năng đặt câu hỏi hiệu quả trong giảng dạy giúp tăng cường mức độ tham gia của học viên (HV) và khuyến khích họ học tập tích cực hơn Mục đích của việc sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học là để kích thích tư duy, tạo cơ hội cho HV thể hiện ý kiến và nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức.
- Kích thích, dẫn dắt HV suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HV tham gia vào quá trình dạy học
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng (KT, KN) của HV và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập
- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
- Phù hợp với trình độ HV
- Kích thích suy nghĩ của HV
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc b Kỹ năng hình thành năng lực đặt câu hỏi nhận thức
Câu hỏi biết là loại câu hỏi yêu cầu học viên tái hiện lại kiến thức đã học Ví dụ, câu hỏi có thể yêu cầu nêu cấu tạo của nguyên tử từ góc độ điện hoặc định nghĩa về điện trường.
Câu hỏi hiểu là yêu cầu học viên diễn đạt lại kiến thức đã học bằng ngôn ngữ của chính mình, nhằm chứng minh sự hiểu biết Ví dụ như: “Trình bày thuyết electron và giải thích hiện tượng nhiễm điện của các vật” hoặc “Giải thích hiện tượng nhiễm điện do hưởng ứng.”
Câu hỏi vận dụng thấp yêu cầu học viên áp dụng kiến thức đã học vào tình huống mới, khác với bài học Ví dụ như việc áp dụng công thức của định luật Cu Lông để tính lực tương tác giữa hai điện tích cách nhau một khoảng r, hoặc giải thích tại sao các vật khác nhau về khối lượng lại chịu lực hút của Trái đất khác nhau khi ở cùng một vị trí.
Câu hỏi vận dụng cao yêu cầu học viên phân tích nguyên nhân hoặc kết quả của một hiện tượng mà chưa được cung cấp trước đó, đồng thời đòi hỏi họ đưa ra nhận định và phán đoán về một vấn đề cụ thể Ví dụ như "Giải thích hiện tượng Sấm, Sét trong tự nhiên?" hay "Áp dụng các công thức đã học để giải các bài toán nâng cao."
Dạy Vật lí lớp 11, bài 8: ĐIỆN NĂNG CÔNG SUẤT ĐIỆN
I Điện năng tiêu thụ và công suất điện
II Công suất tỏa nhiệt của dây dẫn khi có dòng điện chạy qua
- Khi dạy mục I Điện năng tiêu thụ và công suất điện, GV yêu cầu HV:
1 Dựa vào SGK và các kiến thức đã học ở THCS trả lời câu hỏi sau:
- Trình bày kết luận và viết biểu thức điện năng tiêu thụ của một đoạn mạch điện? (Câu hỏi hiểu)
- Hãy cho biết đơn vị của các đại lượng có mặt trong công thức (8.1)? (Câu hỏi biết)
- Dụng cụ gì được dùng để đo điện năng tiêu thụ? (Câu hỏi hiểu)
- Mỗi số đo của dụng cụ trên có giá trị là bao nhiêu jun? (Câu hỏi vận dụng cao)
2 Dựa vào kênh chữ trong SGK hãy:
- Nêu định nghĩa và biểu thức tính công suất điện? (Câu hỏi biết)
- Cho biết đơn vị của các đại lượng trong công thức ? (Câu hỏi biết)
- Giải thích ý nghĩa của các số ghi trên 1 bóng đèn 220V- 20W ? (Câu hỏi hiểu)
- Tính công suất tiêu thụ điện của gia đình trong 1 tháng? (Câu hỏi vận dụng cao)
Dạy vật lí lớp 11, bài26: Khúc xạ ánh sáng
Khi dạy mục I Sự khúc xạ ánh sáng.
GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu biết của bản thân, em hãy cho biết:
- Hiện tượng khúc xạ ánh sáng? (Câu hỏi biết)
- Lấy các ví dụ về hiện tượng khúc xạ ánh sáng trong thực tế ? (Câu hỏi hiểu)
- Phát biểu định luật khúc xạ ánh sáng và viết biểu thức định luật? (Câu hỏi biết)
- Làm các thí nghiệm với các góc tới khác nhau để kiểm chứng định luật? (Câu hỏi vận dụng thấp)
Khi dạy mục II Chiết suất của môi trường.
2 GV lần lượt đặt các câu hỏi: Dựa vào thông tin trong bài học và hiểu biết của bản thân, em hãy:
- Nêu khái niệm và viết biểu thức chiết suất tỉ đối? (Câu hỏi biết)
- So sánh góc i và r khi n21> 1 và n21< 1? (Câu hỏi hiểu)
- Vẽ hình với 2 trường hợp trên? (Câu hỏi hiểu)
- Vận dụng giải thích các hiện tượng trong thực tế? (Câu hỏi vận dụng cao)
- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập cơ bản ? (Câu hỏi vận dung thấp)
- Sử dụng công thức 26.4 để làm các bài tập năng cao ? (Câu hỏi vận dung cao)
Kỹ thuật “đọc tích cực”
Kỹ thuật này giúp học viên nâng cao khả năng tự học, đồng thời giúp giáo viên tiết kiệm thời gian cho những bài học hoặc phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó cho học viên.
Cách tiến hành như sau:
- GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HV đọc bài/phần đọc.
- HV làm việc cá nhân:
Để nâng cao khả năng hiểu bài đọc, học viên nên thực hiện việc đọc lướt qua nội dung, chú ý đến các hình ảnh, tiêu đề và từ/cụm từ quan trọng để tìm ra những gợi ý cần thiết.
Học viên cần đọc và liên tưởng đến những kiến thức đã có để đoán nội dung bài đọc Việc này giúp các em phát hiện và hiểu rõ hơn về các từ ngữ và khái niệm cần tìm ra trong văn bản.
- Tìm ý chính: HV tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.
- HV chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc.
- HV nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).
Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HV tóm tắt ý chính:
- Em có chú ý gì khi đọc ?
- Em so sánh A và B như thế nào?
- A và B giống và khác nhau như thế nào?
6 Kỹ thuật phân tích phim Video
Phim video là một phương tiện hiệu quả để truyền đạt nội dung bài học, với thời lượng lý tưởng từ 5-10 phút Giáo viên cần xem trước phim để đảm bảo nội dung phù hợp và hấp dẫn cho học sinh.
Trước khi cho học viên xem phim, hãy đặt ra một số câu hỏi thảo luận và định hướng nội dung, cũng như liệt kê các ý chính mà các em cần tập trung vào Việc này sẽ giúp học viên chú ý hơn và hiểu rõ hơn về nội dung phim.
Sau khi xem video, học viên cần làm việc độc lập hoặc theo cặp để trả lời các câu hỏi hoặc viết tóm tắt những ý chính về nội dung phim đã xem.
Để tránh tình trạng học viên cảm thấy lúng túng sau khi xem xong đoạn phim, giáo viên nên đặt câu hỏi ngay trong quá trình xem Điều này giúp học viên dễ dàng nhận diện và tập trung vào vấn đề cần tìm hiểu, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
7 Sơ đồ tư duy a Khái niệm
Sơ đồ tư duy là công cụ trực quan giúp trình bày rõ ràng các ý tưởng, kế hoạch và kết quả làm việc của cá nhân hoặc nhóm về một chủ đề cụ thể Nó có thể được tạo ra trên giấy, bảng trắng hoặc thông qua phần mềm máy tính Để xây dựng sơ đồ tư duy hiệu quả, cần tuân theo các bước tiến hành cụ thể.
Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một sơ đồ tư duy là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang).
- HV cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
- HV có thể sử dụng tất cả màu sắc mà các em thích.
- Khi vẽ không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật dễ nhớ.
- HV có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Một bí quyết vẽ chủ đề là nên vẽ chủ đề to cỡ đường kính khoảng 1,5- 2cm
Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
Quy tắc vẽ tiêu đề phụ:
- GV hướng dẫn HV nên viết Tiêu đề phụ bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh khổ nét lớn, đậm để làm nổi bật.
- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
Tiêu đề phụ nên được thiết kế theo hướng chéo góc nhằm tạo không gian rộng rãi, giúp dễ dàng vẽ ra nhiều nhánh phụ khác nhau.
Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ.
- Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
Để tiết kiệm không gian và thời gian khi viết, việc sử dụng biểu tượng và cách viết tắt là rất quan trọng Mỗi người thường có những cách viết tắt riêng cho các từ thông dụng Giáo viên khuyến khích học viên phát huy sự sáng tạo trong việc tạo ra nhiều cách viết tắt độc đáo Dưới đây là một số cách viết tắt phổ biến mà mọi người thường sử dụng.
Mỗi từ khóa hoặc hình ảnh được trình bày trên một đoạn gấp khúc riêng biệt trên nhánh, với tối đa một từ khóa cho mỗi khúc Cách này cho phép dễ dàng thêm nhiều từ khóa mới và các ý tưởng khác bằng cách nối từ các khúc khác nhau.
- Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm.
- Tất cả các nhánh tỏa ra từ một điểm (thuộc cùng một ý) nên có cùng một màu.
Khi tạo sơ đồ tư duy, cần thay đổi màu sắc từ ý chính đến các ý phụ để làm nổi bật các chi tiết hỗ trợ quan trọng Lưu ý rằng sơ đồ tư duy không chỉ đơn thuần tóm tắt một chương sách mà còn bao gồm tất cả các thông tin chi tiết cần thiết Đọc sơ đồ tư duy theo hướng từ trong ra ngoài, với các ý tưởng và từ khóa được phân tán từ trung tâm, cho phép người đọc tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn, với các ý nằm bên trái được viết và đọc từ phải sang trái.
Bước cuối cùng, hãy khuyến khích học viên (HV) phát huy trí tưởng tượng của mình bằng cách thêm nhiều hình ảnh để làm nổi bật các ý tưởng quan trọng, giúp chúng dễ nhớ hơn Cấu trúc sơ đồ tư duy cũng cần được chú trọng để tổ chức thông tin một cách hiệu quả.
Sơ đồ tư duy có cấu trúc như sau:
Viết và vẽ sơ đồ tư duy khác biệt hoàn toàn so với cách viết truyền thống Sơ đồ tư duy không tuân theo quy tắc từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, mà thể hiện một cách sáng tạo và linh hoạt hơn.
Sơ đồ tư duy được thiết kế để phát triển từ trung tâm ra ngoài và theo chiều kim đồng hồ, giúp người học dễ dàng tiếp cận thông tin Các từ ngữ bên trái sơ đồ được đọc từ phải sang trái, bắt đầu từ trung tâm và di chuyển ra ngoài Các mũi tên và số thứ tự trong sơ đồ cũng cung cấp hướng dẫn rõ ràng cho việc đọc và hiểu thông tin.
Kỹ thuật đặt vấn đề tranh luận
Kỹ thuật đặt vấn đề là một phương pháp dạy học thú vị, khuyến khích sự chủ động của học viên Phương pháp này thường dựa trên việc đưa ra các vấn đề phát sinh từ những chiều hướng tư duy đối lập về cùng một hiện tượng, yêu cầu học viên cung cấp dẫn chứng và kiến thức chính xác để lý luận và giải quyết vấn đề.
Kỹ thuật tranh luận là phương pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề thông qua việc đối thoại giữa các nhóm Phương pháp này kích thích tư duy của học viên, buộc họ phải sử dụng trí tuệ để tìm kiếm và bảo vệ quan điểm của mình.
Kỹ thuật tranh luận thường được xây dựng dưới dạng câu hỏi giả định, nhằm kích thích tư duy và tạo ra nhiều trạng thái nhận thức khác nhau Mục tiêu chính của phương pháp này là tạo ra mâu thuẫn giữa hai trường phái "có" và "không".
“không” từ đó đòi hỏi phải đi giải quyết mâu thuẫn đó để thoả mãn sự nhận thức vấn đề.
- Kỹ thuật tranh luận cũng có thể diễn ra ở ngoài lớp học, ở những buổi học nhóm, những buổi hội thảo….
Kết quả của tranh luận có thể không đạt được mục tiêu cụ thể, nhưng giáo viên có thể sử dụng nó để giải thích và đưa ra nhận định chung về vấn đề cần nghiên cứu Qua đó, quá trình tư duy của học viên và các nhóm sẽ hình thành nhận thức đúng đắn về vấn đề thông qua nhiều ý kiến và luận cứ thực tiễn.
Kỹ thuật này nổi bật ở chỗ diễn ra một cách tự nhiên, có thể bắt đầu khi giáo viên giới thiệu bài học hoặc trong quá trình một học viên giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung chính.
Trong bài học, giáo viên có thể giới thiệu các cách giải quyết khác nhau cho một vấn đề và khuyến khích học sinh tham gia thảo luận bằng cách đưa tay biểu quyết Sau khi phân loại ý kiến, giáo viên nên hỏi "Tại sao em chọn cách này mà không chọn cách khác?" để kích thích tranh luận giữa các học sinh Trong quá trình này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh vào chủ đề chính và điều chỉnh kịp thời những ý kiến chưa chính xác Kết quả cuối cùng cần được giáo viên khẳng định dựa trên lý lẽ thuyết phục và tổng kết các ý kiến của học sinh, lưu ý rằng một giải pháp có thể được nhiều học sinh ủng hộ nhưng chưa chắc đã là cách đúng nhất.
- Đặt vấn đề cho toàn lớp.
Bước 1: Chọn chủ đề đặt vấn đề
- Việc lựa chọn chủ đề trong loại phương pháp đặt vấn đề là hết sức quan trọng, bởi vì:
Chủ đề được lựa chọn cần phải phản ánh hai khía cạnh của vấn đề, buộc người giải quyết phải đưa ra một trong hai quyết định: có cần thiết hay không cần thiết.
Chủ đề được lựa chọn nên tập trung vào những khía cạnh cốt lõi của bài học, mang tính nhận thức sâu sắc về bản chất của vấn đề cần được phân tích.
Bước 2: Đặt câu hỏi có vấn đề
Câu hỏi trong kỹ thuật tranh luận cần chứa đựng những nhận định trái ngược nhau, từ đó tạo ra hai trường phái với quan điểm và nhận định khác biệt về cùng một vấn đề đã được nêu ra.
Bước 3: Kích thích và điều khiển HV giải quyết vấn đề
Khi câu hỏi được đặt ra, giáo viên cần đóng vai trò khởi xướng để kích thích tư duy của học viên Họ nên khuyến khích học viên nhận định vấn đề và bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề đó.
Trong lớp học, học sinh sẽ được chia thành hai nhóm có quan điểm trái ngược nhau về vấn đề đang thảo luận Giáo viên sẽ đóng vai trò trọng tài, hướng dẫn và điều khiển cuộc tranh luận giữa các nhóm thông qua việc trình bày ý kiến và lập luận để bảo vệ quan điểm của mình.
- Khi điểu hành tranh luận GV cần lưu ý tránh tình trạng tranh luận dẫn đến cãi nhau…
Bước 4: Kết thúc tranh luận, tổng kết vấn đề
Nếu cuộc tranh luận kết thúc theo hướng đúng về mặt kiến thức thì điều đó rất tốt Tuy nhiên, nếu cuộc tranh luận không ngã ngũ, giáo viên sẽ quyết định thời điểm kết thúc dựa trên tính chất và tình hình thực tế Sau đó, giáo viên sẽ phân tích vấn đề và đưa ra kết luận về bên nào có nhận định đúng, dựa trên các bằng chứng và kiến thức bảo vệ quan điểm của mình Qua đó, giáo viên sẽ nhấn mạnh lại bản chất của vấn đề để học viên có thể hiểu rõ hơn.
Kỹ thuật đóng vai
Đóng vai là một phương pháp học tập hiệu quả, trong đó học viên thể hiện các vai trò khác nhau để khám phá các sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ của chúng Phương pháp này giúp học viên tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc và sinh động hơn.
Phương pháp đóng vai là một hoạt động sáng tạo, nơi các nhân vật giả định thể hiện các tình huống thực tế qua những hành động kịch tính Các hành động này phát sinh từ sự hiểu biết, trí tưởng tượng và sự sáng tạo của trẻ em, không cần phải qua quá trình tập dượt hay dàn dựng phức tạp.
Nếu còn thời gian, có thể cho một số học viên khác tham gia vào các vai diễn hoặc lặp lại nội dung đóng vai với nhóm học viên khác Điều này giúp tăng cường sự tham gia và tạo cơ hội cho nhiều học viên thể hiện khả năng của mình.
- HV được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho HV.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HV.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HV theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị – xã hội
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn d Cách tiến hành
GV chia nhóm và giao tình huống đóng vai cho từng nhóm, đồng thời quy định rõ thời gian chuẩn mực và thời gian thực hiện đóng vai Bối cảnh, mục tiêu và yêu cầu của hoạt động này cần được nêu rõ để tạo không khí tích cực cho việc đóng vai.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
- GV phỏng vấn HV đóng vai:
+ Vì sao em lại ứng xử như vậy?
+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được cách ứng xử (đúng hoặc sai?)
- Lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?
- GV kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống
* Những điều cần lưu ý khi sử dụng
- Tình huống nên để mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ cả những HV nhút nhát tham gia
- Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
Một số ví dụ trong dạy Địa Lý:
Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư ở nước ta.
Mục 2: Dân số tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ. b Tác động của dân số đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Cốt truyện phản ánh hậu quả của sự gia tăng dân số nhanh chóng qua những hoàn cảnh của các cặp vợ chồng trẻ và gia đình đông con, cho thấy họ đang phải đối mặt với nhiều khó khăn liên quan đến chất lượng cuộc sống, việc làm, nhà ở, giáo dục và y tế.
Cần xây dựng các vai trò phản ánh rõ nét các vấn đề kinh tế-xã hội liên quan đến những gia đình có nhiều con, từ đó làm nổi bật hậu quả của dân số đông và sự gia tăng nhanh chóng, đang trở thành gánh nặng cho các gia đình trong cuộc sống hàng ngày.
Gia đình A Gia đình B Tụ điểm trẻ lang thang
Cảnh cuộc sống vất vả với miếng cơm, manh áo
Con cái nheo nhóc, ốm đau liên miên.
Vì cố gắng để có một cậu con trai nối dõi nên vợ chồng đã 4 lần sinh nở mà vẫn chưa được toại nguyện.
Con cái không có điều kiện chăm sóc, đứa thứ nhất và đứa thứ hai mới học cấp 2 đã phải nghỉ học ở nhà giữ em và làm
Câu chuyện của những đứa trẻ phải bỏ học sớm để đi kiếm tiền giúp bố mẹ nuôi gia đình.
Các em ngồi tâm sự với nhau về hoàn cảnh của mình và mong muốn được tiếp tục đến trường. những cuộc sung đột vì miếng cơm, manh áo.
Người chồng chán nản rượu chè về nhà đổ lỗi của sự nghèo đói lên đầu vợ con. việc như những lao động thực thụ.
Hai đứa trẻ tâm sự với bạn về mơ ước được đến trường đi học
Hàng xóm đến khuyên không nên sinh thêm nữa, để chăm sóc con cái cho tốt, nhưng anh chồng không nghe…
Mỗi sáng đi tìm việc làm qua cổng trường nhìn thấy các bạn cùng trang lúa đi học mà rơi nước mắt
Trụ sở dân số KHHGĐ Huyện.
Các thành viên trong ban báo cáo tình hình dân số của huyện và tác động của nó đến đời sống xã hội
Cuộc họp đã đưa ra các giải pháp quan trọng để giải quyết hậu quả của dân số tăng nhanh, bao gồm việc tăng cường giáo dục về dân số và hỗ trợ, động viên trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đến trường.
Giúp đỡ các gia đình học nghề và tìm việc làm để có cuộc sống ổn định…
Ví dụ 2: Đóng vai với Chủ đề Phát triển bền vững
Bảo vệ rừng ngập mặn hiện nay là trách nhiệm không chỉ cho cuộc sống hiện tại mà còn cho lợi ích của nhiều thế hệ tương lai.
Rừng rậm nhiệt đới Amazon ở Brazil là tài sản quý giá với giá trị đa dạng sinh học, kinh tế và môi trường không chỉ cho Brazil mà cho toàn thế giới Tuy nhiên, sự tàn phá nghiêm trọng của rừng đang gây ra mối lo ngại toàn cầu, đòi hỏi sự bảo vệ khẩn cấp.
Amazon đang đối mặt với thách thức lớn về sự tồn tại, khi sự tàn phá rừng gây ra nhiều thảm họa cho môi trường và nền kinh tế của Brazil cũng như khu vực Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiện tại mà còn đe dọa tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ tương lai Cần thiết phải tìm ra những giải pháp hợp lý để cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
+ Nhận vai (tự chọn hay đề nghị): Ông, cha, con, con út Một số người đóng vai Chính phủ, số còn lại của lớp đóng vai Cộng đồng
+ Diễn xuất: Không khí gia đình sau bữa cơm chiều Logic mạch tranh luận có thể gợi ý như sau: (các con số chỉ sự tiếp nối ý kiến).
Người Ông Người Cha Người Con Người con út
1 Hồi ức lại tuổi thơ sống trong một thiên nhiên hoang dã, giàu có
Than phiền: hiện nay chim, cá ngày càng hiếm, rừng mất dần,
6 Đề xuất: cần phải khai phá, nhưng có mức độ để các loài còn sinh sôi, nảy nở.
2 Lý giải: vì người đông, của khó, phải thi nhau phá rừng lấy gỗ, củi, làm vuông tôm, bắt chim, cua
4 Phân trần: không làm vậy thì lấy tiền đây nuôi sống cả nhà và nuôi con ăn học?
8 Tại sao đã nói khai thác mà còn phải bảo vệ, phải để dành, phải có mức độ?
3 Bình luận: Nói về lợi ích của rừng ngập mặn và khi phá đi thì gặp nhiều nguy hại đến đa dạng sinh học, kinh tế, môi trường.
7 Tán thành với Ông Thêm: cần phải để dành rừng cây, chim, cá cho con cháu sau này.
5 Mơ ước: hỏi Ông ngoại: bao giờ mới được như Ông ngày xưa?
9 Giải pháp: Chính phủ, Cộng đồng cùng với các thành viên gia đình trao đổi, vừa bảo vệ phát triển rừng (Kết hợp trình diễn một số tranh, ảnh, mô hình )
Kỹ thuật XYZ
Kỹ thuật XYZ nhằm nâng cao tính tích cực trong thảo luận nhóm, trong đó X đại diện cho số người tham gia, Y là số ý kiến mà mỗi người cần trình bày, và Z là thời gian dành cho mỗi cá nhân.
Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:
- Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh
- Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác
- Con số X-Y-Z có thể thay đổi
- Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.
Kỹ thuật “bể cá”
Kỹ thuật bể cá là phương pháp thảo luận nhóm hiệu quả, trong đó một nhóm học viên (HV) ngồi ở giữa lớp để trao đổi ý kiến, trong khi các HV khác ngồi xung quanh theo dõi Sau khi cuộc thảo luận kết thúc, những HV ở vòng ngoài sẽ đưa ra nhận xét về cách ứng xử và tương tác của nhóm thảo luận, giúp cải thiện kỹ năng giao tiếp và phản biện.
Trong một nhóm thảo luận, có thể có một vị trí trống mà người tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào và đóng góp ý kiến Họ có thể đặt câu hỏi hoặc phát biểu khi cuộc thảo luận bị ngưng trệ Phương pháp này được gọi là thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi bên ngoài có thể quan sát các thành viên thảo luận giống như xem cá bơi trong nước.