Ưu điểm nổi bật của dạy 2 buổi/ngày là giáo viên có rộng thời gian nên sâu sát và nắm được điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh hơn và là cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy học sinh
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng, mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học tốt bậc học Trung học cơ sở Để thực hiện mục tiêu và nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình, đồng thời với việc thay sách giáo khoa, Bộ GD&ĐT đã chủ trương chuyển dần Tiểu học sang học 2 buổi/ngày Dạy học buổi 2 nhằm tăng thời lượng học tập cho học sinh trên một đơn vị kiến thức Điều đó đồng nghĩa với việc giảm áp lực về việc học tập cho học sinh Thực hiện dạy học 2 buổi / ngày không những các
em có năng khiếu môn Toán, Tiếng Việt, Nghệ thuật được phát triển mà các em còn được tiếp xúc với các môn tự chọn( Ngoại ngữ, Tin học) Ưu điểm nổi bật của dạy 2 buổi/ngày là giáo viên có rộng thời gian nên sâu sát và nắm được điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh hơn và là cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy học sinh theo nhóm đối tượng, có thời gian bù đắp lỗ hổng kiến thức cho học sinh Yếu, có điều kiện tốt nhất để phát triển năng lực tư duy cho học sinh có năng khiếu và là sân chơi thật bổ ích cho việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh
Hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục được đặt lên hàng đầu và cũng đã phần nào thấm nhuần trong mỗi giáo viên nhưng phần lớn cũng chỉ mới được quan tâm và dừng lại ở những tiết học buổi 1 - buổi học
mà các tiết được cơ cấu có sẵn trong chương trình Còn vấn đề dạy học buổi 2 như thế nào thì chưa được nhiều giáo viên quan tâm, không ít giáo viên còn xem nhẹ hình thức dạy học buổi 2
Như vậy để thực hiện tốt việc dạy học 2 buổi / ngày thì việc dạy học buổi thứ 2 như thế nào cho hiệu quả mà không sai lệch định hướng mà Bộ GD đã đề ra là một vấn đề không dễ Qua thực tế ở trường tôi và một số trường bạn, tôi thấy việc giáo viên chon nội dung kiến thức trong các tiết học buổi 2 đang còn mơ hồ, chưa được coi trọng, chưa thật sự quan tâm xem học sinh cần rèn kiến thức, kỹ năng gì? Học sinh cần phát huy những gì? Vì thế mà chất lượng dạy học buổi 2 chưa được như mong muốn
Xuất phát từ thực tế đó mà tôi đã tìm hiểu ở một số giáo viên dạy học buổi 2 và khảo sát chất lượng một số lớp ở các trường (trường tôi cũng như một số trường bạn)
tại các thời điểm khác nhau và rút ra được kinh nghiệm cho mình về: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học buổi 2 ở tiểu học
Trang 2
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I THỰC TRẠNG:
Chương trình dạy học 2 buổi/ ngày ở tiểu học là tổ chức cho học sinh học tập và vui chơi ngay ở trường Buổi thứ nhất thực hiện chương trình chính khóa, buổi thứ 2
là giành thời gian để bổ sung chương trình và tổ chức ôn luyện kiến thức đã học, tăng cường nội dung môn Nghệ thuật, Thể dục nhằm phát triển năng khiếu cho học sinh,
tổ chức dạy các môn tự chọn và các hoạt động tập thể Định hướng là như vậy nhưng thực tế việc dạy buổi 2 ở các trường học đang còn là một vấn đề nan giải Với thời lượng dạy học 2 buổi / ngày thì học sinh không được học quá 7 tiết/ ngày ( Sáng 4 tiết chính khóa, chiều 3 tiết trong đó có 1 tiết chính khóa được chuyển
từ buổi sáng lên và 2 tiết bổ trợ khác) Ngoài những tiết chính khóa, tiết học tự chọn như Ngoại ngữ, Tin học thì những tiết bổ trợ như: Luyện Toán, Luyện Tiếng Việt, Tự học, Nghệ thuật thì giáo viên cần dạy gì? học sinh được học những gì? Qua thực tế qua dự giờ và hỏi một số giáo viên về dạy buổi thứ 2 cùng với khảo sát chất lượng của học sinh ở các lớp đó tôi thấy:
- Giáo viên còn ngại khi lên lớp buổi 2
- Giáo viên chưa tự tin với việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp dạy nên rất sợ khi có người vào dự giờ buổi 2
- Không biết thiết kế một tiết học buổi 2 như thế nào cho phù hợp
- Hình thức dạy buổi 2 nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưa tạo cho học sinh thích thú và hăng say trong học tập
- Một số tiết chưa dạy theo nhu cầu của học sinh, nhiều giáo viên xem buổi 2 như
là giờ làm bài tập của học sinh và học sinh giải quyết hết các bài tập đó là hết nhiệm
vụ của tiết học Còn trong tiết đó, bao nhiêu học sinh cần rèn kiến thức, kỹ năng gì? Cần rèn đến đâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học hay không thì giáo viên ít chú ý đến vì thế chưa giúp được học sinh yếu rèn kiến thức, kỹ năng cũng như chưa phát triển được năng khiếu cho những học sinh có năng khiếu, từ đó tạo cho không khí lớp học bị trầm xuống không sôi nổi, học sinh chán học, hiệu quả không cao
Với cách làm này của giáo viên vô hình dung đã làm tăng thêm áp lực học tập cho học sinh, tạo cho học sinh một tâm trạng nặng nề, chán học, đặc biệt là không phụ đạo được học sinh Yếu kém và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh
Qua thực tế khảo sát cho thấy:
Trang 3* Đối với giáo viên tôi trực tiếp hỏi và được biết:
Năm học Xác định đúng ý nghĩa của dạy học
buổi 2
Tự tin trong dạy học
* Đối với học sinh mà tôi đã khảo sát ở một số lớp trong năm học 2010-2011:
Lớp Học sinh hào hứng
học tập
Học sinh TB,Yếu nắm chắc kiến thức
cơ bản
Học sinh Khá, Giỏi phát triển năng khiếu của
mình
Số lượng Tỷ lệ% Số lượng Tỷ lệ% Số lượng Tỷ lệ%
Với thực trạng như thế này thì đây là một vấn đề nóng bỏng trong việc dạy học buổi 2 Chính vì vậy mà tôi đã tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học buổi 2 ở Tiểu học
NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG.
Việc dạy học buổi 2 có những khó khăn nhất định:
- Giáo viên còn cứng nhắc trong việc dạy buổi 2 cứ nghĩ rằng sáng học kiến thức
gì thì chiều ôn nội dung kiến thức đó và giáo viên tập trung dạy sao cho hết kiến thức, bài tập ở SGK, còn việc đưa nội dung cho phù hợp với từng đối tượng là rất ít
- Giáo viên chưa nắm vững tinh thần chỉ đạo của công văn “Hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày”
- Nội dung kiến thức buổi 2 không có sẵn nên giáo viên chưa thực sự đầu tư
- Thời gian giành cho việc soạn bài, nghiên cứu bài của giáo viên Tiểu học còn hạn chế
Trang 4- Chưa chú trọng đến hiệu quả của buổi 2 nên vân dụng phương pháp, hình thức dạy học còn hời hợt thiếu đầu tư, dẫn đến sự nhàm chán cho học sinh trong khi học
- Việc tiếp cận thông tin mới, nghiên cứu các tài liệu, soạn giáo án buổi 2 còn bị xem nhẹ
- Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh như (giỏi, khá, trung bình, yếu, khuyết tật,
cá biệt) nên giáo viên rất lúng túng khi dạy học theo đối tượng
- Điều kiện về cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ cho dạy học theo pháp mới còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu (thiếu các phương tiện nghe nhìn, )
Với những nguyên nhân đó mà tôi đã tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học buổi 2.
II CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2
1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên
- Mỗi giáo viên phải nắm bắt, hiểu thấu đáo nội dung và tinh thần chỉ đạo của công văn hướng dẫn học 2 buổi / ngày và ý thực được trách nhiệm của mình khi thực hiện công văn đó
- Giáo viên phải hiểu rõ về mục tiêu, ý nghĩa của dạy học buổi 2 để từ đó định hướng nội dung cho những bài học cụ thể phù hợp với đặc điểm của lớp mình giảng dạy
- Xem chương trình dạy học buổi 2 là phần mền nên có thể sử dụng một cách linh hoạt, không máy móc, cứng nhắc
2 Dạy học theo đối tượng.
Mỗi lớp học đều có nhiều đối tượng học sinh Việc dạy đến từng đối tượng học sinh, dạy theo nhu cầu người học một cách hợp lý không phải là dễ Vì thế muốn đạt được mục tiêu này giáo viên cần phải:
2.1 Phân loại đối tượng học sinh:
- Kết hợp với kết quả năm học trước và kết quả khảo sát đầu năm từ đó giáo viên phân loại học sinh theo từng đối tượng: Yếu, Trung bình, Khá Giỏi
- Tìm hiểu năng lực sở trường qua giao tiếp của học sinh với bạn bè và giáo viên
2.2 Chọn nội dung kiến thức cho phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh:
Để nâng cao chất lượng dạy học thì giáo viên phải quan tâm đến khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh xem ở buổi 1 các em đã tiếp thu kiến thức đến mức độ nào?
Trang 5Những gì đã đạt được so với chuẩn và những gì cần bồi dưỡng thêm? Nắm bắt được những vấn đề đó thì giáo viên sẽ biết mình cần làm gì trong tiết học buổi 2 Cụ thể: Học sinh Trung bình, Yếu cần gì trong buổi 2? Em nào chưa nắm được chuẩn? Em nào hổng kiến thức, em nào cần luyện kỹ năng ? Nguyên nhân do đâu? Cần đưa nội dung kiến thức nào vào dạy và với lượng bài bao nhiêu? Còn học sinh khá giỏi cần
mở rộng, khắc sâu hoặc nâng cao đến đâu? Nên đưa dạng bài nào vào dạy ở phần nào là hợp lý là tạo được điều kiện tốt nhất cho các em được cọ xát, phát triển năng khiếu Với suy nghĩ như vậy và thực trạng của các đối tượng học sinh là:
* Đối với học sinh Yếu:
Đây là đối tượng học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản hay nói cách khác là các em chưa nắm được chuẩn kiến thức cần đạt Với đối tượng này thì giáo viên cần chú ý hơn và hướng dẫn các em bằng những lời động viên, hệ thống bài tập, câu hỏi gợi mở để các em nắm được chuẩn kiến thức cần đạt Giáo viên không ra thêm kiến thức mới cho các em
* Đối với học sinh Trung bình:
Với học sinh Trung bình thì qua tiết học chính khóa các em cơ bản đã nắm được nội dung kiến thức và biết vận dụng để làm các bài tập song các em cũng chỉ mới dừng lại ở tính rập khuôn, máy móc chứ chưa thành thục và có kỹ năng làm bài Cho nên đối với học sinh Trung bình thì giáo viên cần chú ý đưa ra những nội dung kiến thức mang tính củng cố để hình thành kỹ năng vận dụng để làm bài tốt
* Đối với học sinh có năng khiếu( Học sinh Khá, Giỏi):
Đây là những học sinh có khả năng tiếp thu bài nhanh, sau tiết học chính khóa các
em đã có kỹ năng vân dụng tốt kiến thức vào làm các bài tập Chính vì thế ở tiết học buổi 2 ngoài việc rèn kỹ năng vận dụng kiến thức để làm bài tập thì cần tạo điều kiện
để các em được phát triển năng khiếu của mình Để phát triển năng khiếu cho học sinh thì giáo viên chú ý khi đưa ra nội dung kiến thức phải dựa vào kiến thức cơ bản
và nâng dần lên tùy vào mức độ nhận thức, tư duy của học sinh Tránh quá khó gây
sự chán nản của học sinh trong khi làm bài
Việc chọn nội dung kiến thức cho từng tiết học buổi 2 là một công việc hết sức quan trọng và có ý nghĩa nhằm giúp cho giáo viên có định hướng trong quá trình giảng dạy ( Tùy vào điều kiện và trình độ của học sinh lớp mình mà giáo viên cần linh hoạt vận dụng và đưa nội dung kiến thức vào trong từng tiết học cho phù hợp ) Đối với các tiết học buổi 2 là chương trình thuộc phần mềm nên giáo viên có thể tham khảo và xây dựng cho mình kế hoạch bài giảng theo quy trình sau:
* Mục tiêu: ( Cần nêu rõ cho từng đối tượng)
Trang 6*Đồ dùng dạy học.
*Các hoạt động dạy học
- Hoạt động 1: Củng cố kiến thức( Ôn kiến thức cần luyện) ( 5 -7 phút)
- Hoạt động 2: Luyện kỹ năng( Thực hành luyện tập) ( 23-27 phút)
( Hệ thống bài tập đưa ra phải theo từng đối tượng và trình độ nhận thức của các em)
- Hoạt động 3: Củng cố dăn dò ( 3 phút)
Sau đây là một số ví dụ minh họa các tiết học buổi 2 ( dạy theo đối tượng học sinh)
Ví dụ 1: LUYỆN TIẾNG VIỆT:( Lớp5 – Tuần 23)
Luyện tập về nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ.
Chuẩn kiến thức và kỹ năng cần đạt của tiết dạy chính khoá bài ngày là:
- Hiểu được câu ghép thể hiện quan hệ tăng tiến
- Tìm câu ghép chỉ quan hệ tăng tiến trong truyện Người lái xe đảng trí ( Bài tập 1
mục III); tìm được quan hệ từ thích hợp để tạo ra các câu ghép
Giảm tải: Không dạy phần nhận xét và ghi nhớ chỉ làm bài tập ở phần luyện tập.
Vậy việc dạy buổi 2 bài này ta có thể lên kế hoạch như sau:
I Mục tiêu:
* Đối với học sinh Yếu:
- Hiểu được câu ghép thể hiện quan hệ tăng tiến
- Tìm được câu ghép chỉ quan hệ tăng tiến
* Đối với học sinh Trung bình:
- Hiểu và tìm được câu ghép chỉ quan hệ tăng tiến
- Luyện kỹ năng làm bài
* Đối với học sinh Khá, Giỏi:
Ngoài những mục tiêu như học sinh Trung bình còn yêu cầu cao hơn đó là: Vận dụng kiến thức về câu ghép chỉ quan hệ tăng tiến thêm một vế câu để tạo thành câu ghép chỉ quan hệ tăng tiến
II Chuẩn bị:
Trang 7* Giáo viên: - Bảng phụ
III Các hoạt động dạy học:
1 Hoạt động 1: Củng cố kiến thức (Ôn kiến thức cần luyện)
? Hãy nêu những cặp từ chỉ quan hệ tăng tiến? ( 3- 5 HS nêu)
? Quan hệ tăng tiến có ý nghĩa như thế nào trong câu ghép?
? Hãy đặt câu có sử dụng từ chỉ quan hệ tăng tiến?
2 Hoạt động 2: Luyện kỹ năng ( Thực hành luyện tập)
Chia lớp thành các nhóm đối tượng: Học sinh Yếu, Trung bình, và học sinh Khá Giỏi
* Đối với học sinh Yếu: Củng cố lại kiến thức cơ bản ở tiết học chính khóa.
Trang 8Bài 1: Cho câu ghép:
Lan không chỉ là người bạn tốt mà Lan còn là học sinh xuất sắc của lớp em
a) Hãy xác định cặp từ chỉ quan hệ trong câu trên
b) Cặp từ đó chỉ quan hệ như thế nào trong câu ghép?
+ Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm cùng nhau trao đổi về những yêu
cầu của bài tập ( Một bạn nêu câu hỏi, một bạn trả lời)
+ Nhóm trình bày kết quả.
+ Giáo viên chốt lại và nhấn mạnh cho học sinh hiểu về ý nghĩa của việc sử dụng cặp từ chỉ quan hệ tăng tiến
Bài 2: Đặt một câu ghép có sử dụng cặp từ chỉ quan hệ tăng tiến
+ Tổ chức cho học sinh trình bày miệng
+ Học sinh đánh giá, nhận xét lẫn nhau
+ Giáo viên nhận xét, đánh giá
* Đối với học sinh Trung bình: Luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào làm bài
tập
Bài 1: Câu nào dưới đây là câu ghép có quan hệ tăng tiến:
a) Kẻ bất lương ấy không chỉ lấy mất con gà mà nó còn lấy đi cả ổ trứng
b) Người này ngoa ngoắt, độc miệng làm xóm giềng điếc tai đã hai ngày, không thể không trị tội
c) Kẻ kia run như cầy sấy, đành cúi đầu nhận có bắt trộm gà
+ Tổ chức cho học sinh hoạt động theo hình thức cá nhân, sau khi học sinh hoàn
thành bài tập thì chuyển sang hình thức nhóm để trao đổi thông tin hai chiều
+ Giáo viên chốt lại kiến thức.
Bài 2: Thêm quan hệ từ thích hợp điền vào chổ trống để tạo ra câu ghép chỉ quan
hệ tăng tiến
Mưa …….làm cho khí hậu mát mẻ, dễ chịu……… làm cho cây cối tốt tươi + Tổ chức hoạt động cả lớp - trình bày miệng
+ Giáo viên đánh giá, nhận xét
* Lưu ý: Đối với những dạng bài mang tính củng cố kiến thức giáo viên nên gọi
những học sinh trung bình và yếu trình bày tránh chỉ dạy học sinh khá giỏi
* Đối với học sinh Khá, Giỏi: Ngoài việc luyện kỹ năng thì giúp học sinh phát
triển năng khiếu
Ngoài các bài tập như học sinh Trung bình thì giáo viên đưa thêm một bài tập sau:
Trang 9Bài 3: Thêm vào chổ trống một vế câu thích hợp để tạo thành câu ghép chỉ quan
hệ tăng tiến
Hoa Nhài không chỉ dùng trong trang trí……… + Tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm, các em tự tranh luận để đưa ra ý hay
và đúng nhất
+ Giáo viên tổng kết đánh giá
3 Hoạt động 3: Củng cố dặn dò :
Tổ chức cho HS chơi trò chơi Ai nhanh – Ai đúng
GV: Ai nhanh nhất, nói được nhiều nhất từ chỉ quan hệ tăng tiến?
- Đại diện 3 tổ, 3 em nói nhanh (sau 1p) Nhận xét , động viên học sinh
- Nhận xét đánh giá tiết học
Ví dụ 2: LUYỆN TOÁN ( Lớp 4)
Luyện tập về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5.
I Mục đích yêu cầu:
* Đối với học sinh Yếu:
- Biết dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5
- Biết kết hợp dấu hiệu chia hết cho 2 và 5
* Đối với học sinh Trung bình:
- Biết dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5
- Biết kết hợp dấu hiệu chia hết cho 2 và 5
- Luyện kỹ năng làm bài
* Đối với học sinh Khá, Giỏi:
Ngoài những mục tiêu như học sinh Trung bình còn yêu cầu cao hơn đó là: Vận dụng kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5 để làm dạng toán tìm một số khi chia cho 2 và 5 có dư
II Chuẩn bị:
- Học sinh: Bảng con, phấn, dẻ lau
- GV: bảng phụ
III Các hoạt động dạy học:
Trang 101 Hoạt động 1: Củng cố kiến thức( Ôn kiến thức) (5-7 phút)
- Những số chia hết cho 2 là những số như thế nào? Lấy ví dụ?
- Những số chia hết cho 5 là những số như thế nào? Lấy ví dụ?
- Em có nhận xét gì về số vừa 2 và chia hết cho 5?
- GV chốt lại kiến thức ôn
2 Hoạt động 2: Luyện kỹ năng ( Thực hành luyện tập)
Chia lớp thành các nhóm đối tượng: Học sinh Yếu, Trung bình, và học sinh Khá Giỏi
* Đối với học sinh Yếu: Củng cố lại kiến thức cơ bản ở tiết học chính khóa.