Tên sáng kiến; lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các thông tin cần được bảo mật nếu có: - Tên sáng kiến:“ Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn” - Lĩnh
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên
a Tác giả sáng kiến : Nguyễn Thị Thủy
- Ngày tháng năm sinh: 02 / 10 /1987 Giới tính: Nữ
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Sơn Lôi B
- Chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
- Tỉ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến :
b Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Thủy
c Tên sáng kiến; lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các thông tin cần được bảo mật (nếu có):
- Tên sáng kiến:“ Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn”
- Lĩnh vực áp dụng: Môn Toán lớp 1 Trường Tiểu học Phương pháp giải bài toán
có lời văn được áp dụng trong việc dạy giải một số bài toán có lời văn cho học sinh lớp 1
Trang 2- Mô tả sáng kiến:
1 Thực trạng:
Năm học 2017 - 2018 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1C Lớp tôi chủ nhiệm có 27em, trong đó có 17 học sinh nam và 10 học sinh
nữ Học sinh trong lớp phần lớn là con nông dân, công nhân làm tăng ca Nên thời gian quan tâm, kèm cặp đến các em ít
Trong quá trình giảng dạy môn toán tôi thấy các em học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong giải toán có lời văn.Vì vậy chất lượng và hiệu quả trong giờ học chưa cao Chủ yếu từ một số nguyên nhân sau đây:
2 Nguyên nhân
- Đa số học sinh chưa biết cách trình bày bài giải toán có lời văn
- Trong các giờ học Toán còn một số em chưa tập trung, tự giác Nên các em chưa nắm sâu kiến thức
- Có nhiều học sinh đọc đề toán còn chưa lưu loát, rõ ràng Nên các em chưa xác định được yêu cầu của đề toán: Bài toán cho biết gì? Bài toán yêu cầu gì? Nhiều em không biết viết câu trả lời và còn làm sai phép tính và đáp số
Từ các nguyên nhân trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: :“ Một số giải pháp
giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn”
3 Giải pháp thực hiện:
* Giải pháp thứ nhất: Hình thành cho học sinh kiến thức ban đầu( Giai đoạn đầu trước khi giải toán)
Trang 3Dạy học sinh giải toán có lời văn, tôi chuẩn bị trước cho việc học giải toán Mặc dù đến giữa học kì II học sinh mới chính thức học giải toán Song ngay từ tuần
7 ở học kì I, sách giáo khoa đã có những bài chuẩn bị cho học sinh học giải toán
Đó là các bài tập “ nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống”, tôi đặt những câu hỏi để cho các em trả lời miệng
Ví dụ: SGK – trang 47
Từ bức tranh tôi cho học sinh nêu đề toán: “ Có 3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới Hỏi tất cả có mấy con chim” sau khi học sinh điền được phép tính vào dãy ô trống:
+ Vậy có tất cả mấy con chim? ( số chim có tất cả là 4)
+ Em làm thế nào để có 4 con chim? ( lấy 3 + 1 = 4)
Nhiều lần như vậy, học sinh quen dần với cách viết phép tính và nêu lời giải bằng miệng Từ đó các em sẽ không bỡ ngỡ khi bước sang học giải toán có lời văn
* Giải pháp thứ hai: Khảo sát, phân loại đối tượng học sinh trong lớp.
Trong thời gian đầu học giải toán có lời văn, đầu tiên tôi tiến hành khảo sát ra hai bài toán, phân loại đối tượng học sinh trong lớp
Bài 1: Trên cành cây có 5 con chim, sau đó có thêm 4 con chim bay đến Hỏi trên
cành cây có tất cả mấy con chim?
Bài 2: Giải bài toán theo tóm tắt sau:
Hà có : 8 quả bóng
Cho bạn: 4 quả bóng
Trang 4Còn lại : quả bóng
* Giải pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh giải toán theo trình tự các bước
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán và tóm tắt
Bước 2: Phân tích bài toán
Bước 4: Viết và trình bày bài giải
Bước 5: Kiểm tra lời giải và kết quả bài giải
Tôi hướng dẫn cụ thể cho các em từng bước
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán và tóm tắt.
Tôi cho học sinh đọc kĩ đề toán, gạch chân từ khóa quan trọng như “ thêm, và, tất cả ” hoặc bớt, bay đi, ăn mất, còn lại ” Sau đó tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt
đề toán bằng cách đặt câu hỏi: “ Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?, tôi dựa vào câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt lên bảng, tôi cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán Đây là cách giúp học sinh biết phân tích đề toán, nắm được yêu cầu
cơ bản của bài toán
Để các em giải toán đúng và nhanh hơn thì trong khi dạy tôi đã hướng dẫn học sinh một số cách tóm tắt các đề toán sau: Tóm tắt bằng chữ, tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng Tùy từng nội dung bài toán mà các em để chọn cách tóm tắt phù hợp với mình
Ví dụ 1: Bài 3 – SGK trang 118
Đàn vịt có 5 con ở dưới ao và 4 con ở trên bờ Hỏi đàn vịt có tất cả mấy con?
- Tôi gọi học sinh đọc đề toán và nhấn mạnh các từ ngữ quan trọng như:
Trang 5Dưới ao - 5 con vịt, trên bờ - 4 con vịt Có tất cả mấy con vịt?
- Tôi nêu ra những câu hỏi sau:
+ Bài toán cho biết gì? (Dưới ao có 5 con vịt)
+ Bài toán còn cho ta biết gì nữa? ( Trên bờ có 4 con vịt)
+ Bài toán hỏi gì? ( Có tất cả mấy con vịt )
Sau đó tôi viết tóm tắt lên bảng
Tóm tắt
Dưới ao: 5 con vịt
Trên bờ: 4 con vịt
Có tất cả: con vịt?
- Gọi học sinh nhìn vào tóm tắt, nêu lại đề toán
Bước 2: Phân tích bài toán
Sau khi tóm tắt đề bài xong, tôi hướng dẫn các em tập phân tích đề bài để tìm
ra cách giải bài toán, tôi lần lượt đưa ra các câu hỏi sau:
+ Bài toán cho biết gì ?
+ Bài toán hỏi gì?
+ Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm phép tính gì ?
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái phải tìm Cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp:
+ Chọn “ phép trừ” nếu bài toán cho “ ít hơn, bớt đi” hoặc “tìm phần còn lại”
Trang 6+ Chọn “phép cộng” nếu bài toán cho có từ “nhiều hơn, cả hai, tất cả”,
Ví dụ : Bài 2 – SGK trang 118
Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?
- Tôi gọi học sinh đọc đề toán, nêu ra câu hỏi:
+ Bài toán cho ta biết gì? - Tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm
3 bạn nữa
+ Bài toán hỏi gì? - Tổ em có tất cả có mấy bạn?
+ Muốn biết tổ em có tất cả mấy bạn thì phải
làm phép tính gì? - Thực hiện phép tính cộng
+ Mấy cộng mấy? - 6 + 3
+ 6 + 3 bằng mấy? - 6 + 3 = 9
Từ phép tính trên tôi nêu tiếp “ 9 này là 9 bạn”, nên ta viết “ bạn” vào trong dấu ngoặc đơn:
6 + 3 = 9 ( bạn)
Tôi chú ý đến học sinh:
- Nếu học sinh nhìn tranh ở SGK để đếm ra kết quả 9 bạn thì khi đó giáo viên vẫn phải xác nhận kết quả là đúng, song cần hỏi thêm:
+ Em tính như thế nào để ra kết quả là 9 bạn?( 6 + 3 = 9)
Sau đó tôi nhấn mạnh: Khi giải toán có lời văn các em phải nêu được phép tính để tìm ra đáp số
Trang 7Với học sinh lớp 1, các em chỉ giải các bài toán đơn là bài toán bằng một phép tính “ cộng” hay phép tính “ trừ” Khi viết phép tính học sinh viết phép tình hàng ngang dưới câu lời giải, tên đơn vị viết sau kết quả vừa tìm được và được để trong dấu ngoặc đơn “( )” Do các e lớp 1 mới làm quen với giải toán nên việc viết tên đơn vị cũng gặp khó khăn Vì vậy tôi hướng dẫn và phân tích cho học các em biết được tên đơn vị và từ viết ở sau số lượng như “ 9 bạn” tên đơn vị là “ bạn”
Bước 4: Viết và trình bày bài giải
Viết câu lời giải.
Trong giải toán có lời văn ở lớp 1 thì việc các em viết câu lời giải là khó khăn nhất
Vì thế, tôi cho học sinh trả lời miệng trước rồi sau đó ghi câu lời giải Câu lời giải yêu cầu phải phù hợp với nội dung đề toán Do học sinh lớp 1 mới qua giai đoạn học vần, các em còn chưa đọc thông, chữ viết chưa thạo Vì vậy ở giai đoạn đầu tôi hướng dẫn các em viết câu lời giải dựa vào câu hỏi của bài toán Tôi hướng dẫn học sinh một số cách viết lời giải sau:
Ví dụ: Bài 3 – SGK trang 131
An có 30 cái kẹo, chị cho An thêm 10 cái nữa Hỏi An coa tất cả bao nhiêu cái kẹo?
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán: “ Hỏi An có tất cả bao nhiêu cái kẹo?”,
ta bỏ đi từ đầu ( Hỏi ), cuối ( bao nhiêu cái kẹo ) và thay “ ?” bằng “ : ” để có lời giải: “ An có tất cả: ” hoặc thêm từ “ là” để có câu lời giải: “An có tất cả là:”
Trang 8Cách 2: Thay từ “ Hỏi” thành từ “ Số ”, đưa từ “ cái kẹo ” vào sau từ “Số” và
thay từ “ bao nhiêu ” thành từ “ là” để có: “ Số cái kẹo An có tất cả là: ”
Cách 3: Bỏ từ “ Hỏi” ở đầu câu hỏi và thay từ “bao nhiêu cái kẹo” bằng từ “số
kẹo là” để có câu: “An có tất cả số kẹo là:”
Cách 4: Dựa vào dòng cuối cùng của tóm tắt:
Có tất cả : cái kẹo ?
“An có tất cả số cái kẹo là:”
Cách 5: Đưa ra các câu hỏi:
+ Hỏi An có tất cả mấy cái kẹo ? (An có tất cả 40 cái kẹo) sau khi học sinh nêu câu trả lời và phép tính: 30 + 10 = 40 ( cái kẹo )
+ Tôi chỉ vào số 40 và hỏi: “40 cái kẹo ở đây là cái gì?”( Là số cái kẹo An có tất cả)
từ câu trả lời của học sinh, tôi chỉnh sửa giúp học sinh thành câu lời giải “ Số kẹo
An có tất cả là :” Tôi khuyến khích học sinh tự nêu được nhiều câu lời giải khác nhau
Trình bày bài giải:
Khi trình bày bài giải toán có lời văn , tôi hướng dẫn học sinh trình bày bài giải như sau:
+ Viết “ Bài giải”
+ Viết câu lời giải
+ Viết phép tính ( đặt tên đơn vị trong dấu ngoặc đơn)
+ Viết đáp số
Trang 9Ví dụ: Bài 3 SGK trang 130
Lan hái được 20 bông hoa, Mai hái được 10 bông hoa Hỏi cả hai bạn hái được bao nhiêu bông hoa?
Bài giải
Cả hai bạn hái được số bông hoa là:
20 + 10 = 30 ( bông) Đáp số: 30 bông hoa
Bước 5: Kiểm tra lời giải và kết quả bài giải:
Trong thực tế giảng dạy tôi thấy các em làm bài nhưng khi chưa tính ra đáp số cuối cùng mà các em đã viết đáp số Vì vậy khi dạy giải toán, tôi đã hướng dẫn các bước sau:
- Đọc lời giải
- Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa
- Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa
*Giải pháp thứ tư: Tìm ra các dạng toán có lời văn ở lớp 1
Loại 1( Thêm): Tôi hướng dẫn các em với loại toán này thì ta làm phép tính cộng Loại 2( Gộp ): Tôi hướng dẫn các em với loại toán này thì ta làm phép tính cộng Loại 3 ( Bớt ): Với loại toán này tôi hướng dẫn học sinh làm phép tính trừ.
Loại 4 ( Tìm một bộ phận trong toàn thể ): Với loại toán này tôi hướng dẫn học
sinh làm phép tính trừ
Trang 10*Giải pháp thứ năm: Động viên, khen ngợi kịp thời.
Trong các giờ toán tôi thường xuyên kiểm tra bài, nhận xét đánh giá , chữa bài Đặc biệt tôi dùng những lời khen đối với những em nhận thức nhanh, làm bài tốt ngoài ra tôi cũng luôn động viên, khích lệ đối với học sinh chậm tiến
*Giải pháp thứ sáu: Thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
Tôi nghiên cứu nội dung kiến thức từng bài dạy, từ đó tôi có phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình trong quá trình dạy học toán, giáo viên thường phải sử dụng linh hoạt các phương pháp
Ví dụ: Phương pháp trực quan, gợi mở - vấn đáp, giảng giải và minh họa, luyện tập thực hành Mức độ vận dụng phương pháp trên tùy từng loại bài tập mà giáo viên tổ chức hoạt động nhóm, cá nhân, nhóm đôi,
*Giải pháp thứ bảy: Tạo ra sự hứng thú cho học sinh khi học giải toán
Tổ chức trò chơi học toán sẽ làm các giờ học toán thêm nhẹ nhàng, thoải mái Các trò chơi học toán là giáo viên cải biến từ các bài tập toán thành các trò chơi học toán để học sinh vừa học vừa chơi, chơi mà học Giáo viên tổ chức trò chơi vào cuối tiết học Nhằm củng cố kiến thức và khắc sâu kiến thức bài học
Ví dụ: Sau tiết Luyện tập SGK trang 151, giáo viên tổ chức trò chơi vào cuối giờ học Trò chơi: “ Thi giải toán nhanh”
4 Đánh giá tính mới, tính hiệu quả khả thi, phạm vi áp dụng
Tính mới :
Trang 11- Lựa chọn phương pháp dạy học toán có lời văn phù hợp qua từng dạng bài bằng nhiều hình thức khác nhau như: phương pháp trực quan sinh động, giảng dạy vấn đáp, chơi trò chơi toán học, thi đua lập ra đề toán, trò chơi tiếp sức, thủ thuật tính nhanh dễ nhớ, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy, …
- Xây dựng động cơ học tập cho học sinh
- Việc rèn cho các em hiểu mối liên quan giữa phép cộng và phép trừ trong toán học ngay từ lớp một cũng là vấn đề mới giúp các em thành thạo hơn trong kĩ cộng trừ tìm được nhanh kết quả phép tính giải toán có lời văn
Tính hiệu quả khả thi :
Qua một thời gian thực hiện đề tài này học sinh lớp tôi có tiến bộ rõ rệt tỉ lệ học sinh đạt từ mức hoàn thành trở lên tăng đáng kể
Tất cả các đối tượng học sinh trong lớp giờ đây đều yêu thích giải toán và dặc biệt các em yêu thích học môn toán hơn, các em tham gia học tập một cách tích cực hạn chế được học sinh chậm tiến về môn toán
* Kết quả khảo sát của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến: ( Từ tuần 23 ) Bảng 1:
TSHS
27
Viết đúng lời giải
Viết đúng phép tính
Viết đúng đáp số
Làm đúng cả 3
bước
* Kết quả khảo sát của học sinh sau khi áp dụng sáng kiến: ( cuối năm học )
Trang 12Bảng 2:
TSHS
27
Viết đúng lời giải
Viết đúng phép tính Viết đúng đáp số
Làm đúng cả 3 bước
+ Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1, tôi luôn cố gắng tìm tòi trong các loại sách tham khảo, và tôi luôn học hỏi đồng nghiệp để giúp cho mình đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy Vì vậy nên tôi chọn đề tài này Sau khi thực hiện chuyên đề trường thì tôi được giáo viên trong tổ cũng đã áp dụng vào giảng dạy Tôi đã được Ban giám hiệu và giáo viên trong trường đánh giá cao về tính thực thi của đề tài này
+ Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được:
- Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã áp dụng trực tiếp vào một số giờ học Toán tại lớp 1C do tôi chủ nhiệm Qua việc khảo sát trước và sau khi áp dụng đề tài tôi thấy học sinh có sự tiến bộ rõ rệt Đặc biệt các em có hứng thú hơn khi học Toán, các em không còn cảm thấy chán nản, mệt mỏi trong giờ học Chất lượng môn Toán đã được năng lên rõ rệt
+ Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được: Theo cá nhân tôi.
- Tìm hiểu sâu và hệ thống hoá được phương pháp giải toán ở Tiểu học
- Tìm hiểu được thực trạng của việc dạy học toán, phương pháp giảng dạy trong giải toán có lời văn ở lớp 1
Trang 13+ Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được: Theo ý kiến của
tổ khối và Ban giám hiệu
- Sau khi tôi triển khai chuyên đề đến toàn trường thì giáo viên trong tổ đã áp dụng vào giảng dạy Tôi đã được đồng nghiệp đánh giá cao về chuyên đề
- Ban giám hiệu đã dự chuyên đề và đánh giá cao tính thực thi của đề tài Hiện nay chuyên đề của tôi đã được áp dụng cho tất cả các lớp 1 trong toàn trường Chất lượng khảo sát môn Toán hàng tháng đã có tiến bộ rõ rệt
+ So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp:
- Sau khi áp dụng đề tài “ Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn” tôi đã thu được kết quả như sau:
+ Mang lại hiệu quả kinh tế:
- Tiết kiệm thời gian cho giáo viên trong quá trình dạy học sinh giải toán có lời văn Giúp học sinh nhận thức, vận dụng giải toán nhanh, nâng cao chất lượng , hiệu quả giờ dạy
- Mang lại lợi ích xã hội: giúp học sinh làm quen và giải toán có lời văn thông qua giải pháp đã được thực hiện trong sáng kiến Nhằm nâng cao chất lượng môn toán
Bảng 3:Từ hai bảng trên thể hiện rõ kết quả như sau:
đề tài
Sau khi áp dụng đề tài
So sánh
Học sinh viết đúng lời giải 37 % 85,1 % Tăng 48,1% Học sinh viết đúng phép tính 60 % 92,6 % Tăng 32,6% Học sinh viết đúng đáp số 55,6% 88,9% Tăng 33,3% Học sinh làm đúng cả 3 bước 33,3% 88,9% Tăng 55,6%