Sự can thiệp của nhà nước nhằm chống các cơn sốc tỷ giá bằng các biện pháp: Can thiệp vào thị trường ngoại hối lúccần thiết, Quy định biên độ dao động tỷ giá.. Chính sách này thường lựa
Trang 1Mục Lục:
Phần 1: Khái quát chung 2
I Khái niệm Tỷ giá hối đoái 2
II Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái 2
1 Chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa các đồng tiền 2
2 Sự biến động của cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối 2
3 Sự can thiệp của Nhà nước 2
4 Tâm lý dân chúng 3
III Chế độ tỷ giá hối đoái 3
1 Khái niệm về chế độ tỷ giá 3
2 Các loại chế độ tỷ giá 3
IV Chính sách tỷ giá hối đoái 4
Phần 2: Phân tích chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam từ năm 1986 đến nay 6
I Giai đoạn 1986-1990 6
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 1986-1990 6
2 Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam đã áp dụng trong giai đoạn 1986-1990 và kết quả thực hiện 7
2.2 Kết quả việc thực hiện chính sách tỷ giá trong giai đoạn 1986-1990 8
II Giai đoạn 1991-2000 9
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 1991-2000 9
2 Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam đã áp dụng trong giai đoạn 1991-2000 và kết quả thực hiện 10
3 Kết quả thực hiện 15
III Giai đoạn 2000-2010 17
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 2000-2011 17
2 Chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2000-2010 18
3 Kết quả thực hiện 22
IV Giai đoạn 2010-2018 24
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 2010-2018 24
Trang 23 Kết quả thực hiện 29
V Giai đoạn 2019-2020 31
1 Bối cảnh thực hiện chính sách tỷ giá giai đoạn 2019-2020 31
2 Chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2019-2020 32
3 Kết quả thực hiện 36
Phụ Lục: 38
Trang 3Phần 1: Khái quát chung.
I Khái niệm Tỷ giá hối đoái.
- Tỷ giá hoái đoái là giá cả của đồng tiền này được biểu hiện thông qua một đồng tiền khác, là tỷ lệ trao đổi, quy đổi, chuyển đổi giữa các đồng tiền, về thực chất là so sánhtương quan sức mua của các đồng tiền đó với nhau
II Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái.
1 Chênh lệch tỷ lệ lạm phát giữa các đồng tiền.
- Tỷ lệ lạm phát đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của các đồng tiền Vì vậy, trong một khoảng thời gian nhất định nếu hai đồng tiền nào đó có tỷ lệ lạm phát không giống nhau, giả sử các yếu tố khác không thay đổi, có nghĩa là, tương quan sức mua giữa chúng không còn như cũ, mà đã thay đổi Tức là, tỷ giá đã thay đổi
2 Sự biến động của cung - cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
- Trên thị trường ngoại hối của các quốc gia, tỷ giá chính là giá cả của các loại ngoại hối, mà chủ yếu là ngoại tệ, được đưa ra mua bán Lúc này ngoại tệ là -
“hàng hóa”, tỷ giá là “giá cả” của ngoại tệ Giá cả của bất cứ hàng hóa nào cũng đều phụ thuộc vào cung - cầu của hàng hóa đó Ở đây cũng không phải là ngoại
lệ và tỷ giá chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự tăng giảm của cung - cầu ngoại tệ trên thị trường
3 Sự can thiệp của Nhà nước.
Thông thường, Nhà nước cũng là một nhân tố chủ quan tác động không nhỏ đến sự tăng, giảm hay ổn định tỷ giá Sự can thiệp đó thường theo các chiều hướng sau đây:
- Can thiệp để giữ tỷ giá ổn định trong một thời gian dài
Sự can thiệp này thể hiện rõ nét nhất khi Nhà nước chủ trương thực hiệnchính sách tỷ giá cố định, tức là, giữ cho tỷ giá ổn định, thậm chí là cố định trongmột thời gian dài Muốn được như vậy, nhiều khi Nhà nước đã áp dụng các biện pháp chủ quan để can thiệp vào thị trường ngoại hối Như: quy định biên độ dao động tỷ giá thấp; bán ngoại tệ ra với giá thấp khi tỷ giá có xu hướng tăng cao để kéo tỷ giá xuống, hoặc mua ngoại tệ vào với giá cao khi tỷ giá có xu hướng giảm thấp để kéo tỷ giá lên
- Phá giá nội tệ
Đây là giải pháp mặc dù không phổ biến nhưng chính phủ của một số quốc gia vẫn chủ trương thực hiện Nội dung chính của giải pháp này là khi chính phủ bị lâm vào tình trạng bội chi NSNN một cách trầm trọng mà với các giải pháp đã có hầu như không thể xử lý được, lúc này chính phủ buộc phải phát hành một khối lượng lớn nội tệ vào lưu thông để bù đắp thiếu hụt NSNN và đồngthời tuyên bố phá giá đồng nội tệ Với động thái này, ngay lập tức tỷ giá có sự
Trang 4tăng lên đột biến thêm 10, 15, 30 % …, thậm chí còn cao hơn nữa và sự tác động kéo theo của các yếu tố khác.
III Chế độ tỷ giá hối đoái.
1 Khái niệm về chế độ tỷ giá.
Có thể nói, tỷ giá là phạm trù tồn tại khách qua gắn liền với hoạt động kinh tế quốc tế giữa các quốc gia Tuy vậy, việc lựa chọn và vận dụng tỷ giá phục vụ cho lợiích kinh tế - xã hội của các quốc gia là không hoàn toàn giống nhau và cũng không phải là bất biến trong mọi giai đoạn Hay nói cách khác, trong từng thời kỳ gắn với các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, mỗi quốc gia đều lựa chọn áp dụng một chế độ
tỷ giá nào đó
Vậy, chế độ tỷ giá là các loại hình tỷ giá được quốc đảm bảo cho các loại hình
tỷ giá đó được thực hiện
Qua khái niệm này cho thấy, một chế độ tỷ giá gồm hai yếu tố cơ bản là:
+ Các loại hình tỷ giá, tức là các hình thức tỷ giá được lựa chọn áp dụng
+ Các biện pháp được sử dụng để đảm bảo cho các loại hình tỷ giá đó được thực hiện
2 Các loại chế độ tỷ giá.
a) Nếu căn cứ vào số lượng loại hình tỷ giá cùng đồng thời tồn tại, có chế độ
tỷ giá đơn và chế độ tỷ giá kép
- Chế độ tỷ giá đơn là chế độ tỷ giá mà ở đó chỉ tồn tại một loại hình tỷ giá cho mọi giao dịch tiền tệ (chế độ một giá)
Như vậy, chế độ tỷ giá đơn tạo ra sự công bằng, bình đẳng trong các giao dịch tiền tệ và chúng được áp dụng phổ biến trong điều kiện tỷ giá được thiết lập chủ yếu trên cơ sở thị trường
- Chế độ tỷ giá kép là chế độ tỷ giá mà ở đó cùng đồng thời tồn tại ít nhất hai loại hình tỷ giá trở lên trong các giao dịch tiền tệ (chế độ nhiều giá)
Trang 5Chế độ tỷ giá này đã tạo ra sự phân biệt của các giao dịch tiền tệ thuộc các chủ thể khác nhau mà nhiều khi mức chênh lệch giữa các loại tỷ giá là rất lớn Từ đó tạo ra sự bất công bằng, bất bình đẳng, thậm chí tiêu cực trong việc thực hiện những giao dịch tiền tệ
Trong chế độ tỷ giá kép thường tồn tại trong điều kiện tỷ giá chính thức được giữ cố định trong khoảng thời gian quá dài, không còn phù hợp với thực tế, nên đã phát sinh tỷ giá không chính thức, tỷ giá ngầm
b) Nếu căn cứ vào mức độ linh hoạt của loại hình tỷ giả được áp dụng, có chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá linh hoạt
- Chế độ tỷ giá cố định là chế độ mà tỷ giá được giữ ổn định, thậm chí là cố định trong một thời gian dài
Thông thường, ở đây tỷ giá chính thức do nhà nước quy định và được giữ ởmức cố định trong một khoảng thời gian dài Chế độ tỷ giá này có ưu điểm là gópphần tạo ra sự ổn định tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội Tuy thế, nếu tỷ giá được giữ cố định quá lâu sẽ không còn phù hợp với thực tế, dễ phát sinh tỷ giá ngầm như đã đề cập ở trên
- Chế độ tỷ giá linh hoạt là chế độ mà tỷ giá dàng biến động theo những tác động của thị trường
Trong chế độ này, tỷ giá được hình thành theo những yếu tố của thị trường nên chúng thường là phản ánh sát với điều kiện của thị trường Song, vì là linh hoạt nên chúng rất dễ biến động và có thể xảy ra những cơn “sốc” tỷ giá, thậm chí kéo theo là khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Từ ưu nhược điểm của các chế độ tỷ giá trên đây, nhiều quốc gia đã đi đến quyết định lựa chọn một chế độ tỷ giá kết hợp của cả hai chế độ tỷ giá Đó là Chế
độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của nhà nước, với các yếu tố cụ thể sau:
+ Linh hoạt Tỷ giá được hình thành chủ yếu dựa theo các yếu tố của thị trường
+ Sự quản lý của nhà nước Sự can thiệp của nhà nước nhằm chống các cơn sốc tỷ giá bằng các biện pháp: Can thiệp vào thị trường ngoại hối lúccần thiết, Quy định biên độ dao động tỷ giá
IV Chính sách tỷ giá hối đoái
1 Khái niệm.
- Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của chính sách tiền tệ của các quốc gia Đó là các chủ trương, biện pháp của nhà nước trong việc lựa chọn thực hiện những chế độ tỷ giá phù hợp cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả công cụ tỷ giá hối đoái phục vụ cho các hoạt động kinh tế - xã hội
2 Nội dung
Tuỳ theo mục tiêu của chính sách tỷ giá trong từng giai đoạn mà nội dung của
Trang 6- Chính sách duy trì tỷ giá ổn định Chính sách này thường lựa chọn chế độ tỷ giá
cố định hoặc thực hiện sự điều tiết mạnh mẽ của nhà nước để tỷ giá ít biến động
- Chính sách thả nổi tỷ giá Thả nổi tỷ giá còn có tên gọi khác là tự do hóa tỷ giá,
tức là tỷ giá hoàn toàn để cho thị trường quyết định Lúc này nhà nước sẽ lựa chọn áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi (linh hoạt hoàn toàn)
- Chính sách duy trì tỷ giá linh hoạt có điều tiết Với chính sách này tỷ giá vừa
được hình thành trên cơ sở thị trường, vừa chịu sự điều tiết của nhà nước thông qua quy định biên độ dao động để tỷ giá biến động không quá thấp hoặc không quá cao, hay can thiệp vào thị trường hối đoái khi cần thiết
3 Công cụ thực hiện.
Để đảm bảo thực hiện chính sách tỷ giá, các quốc gia thường sử dụng nhiều công
cụ khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng thời kỳ Phổ biến có ba nhóm công cụ sau đây:
- Các công cụ trực tiếp: Đây là các công cụ can thiệp trực tiếp vào tỷ giá hối đoái nhằm phục vụ cho chính sách tỷ giá Thường có:
+ Phá giá đồng nội tệ
+ Nâng giá đồng nội tệ
+ Can thiệp trực tiếp của NHTW vào thị trường hối đoái thông qua mua bán ngoại
tệ
+ Thực hiện kết hối ngoại tệ
+ Các quy định hạn chế về mua, bán ngoại tệ
- Các công cụ gián tiếp Các công cụ này sẽ ảnh hưởng, tác động gián tiếp lên tỷ giáhối đoái Gồm:
+ Lãi suất tái chiết khấu của NHTW
+ Thuế quan, hạn ngạch để điều tiết xuất nhập khẩu
+ Giá cả để điều tiết sản xuất và tiêu dùng
+ Các công cụ cá biệt: Đây là những công cụ không được sử dụng một cách phổ biến, thường nhật, mà thường được sử dụng khi tình hình có những diễn biến bất lợi, hoặc là những điểm “nóng” có thể nguy cơ gây sốc hoặc khủng hoảng tỷ giá Như:
+ Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ của các ngân hàng thương mại.+ Quy định lãi suất trần thấp với tiền gửi ngoại tệ
+ Quy định trạng thái ngoại tệ đối với ngân hàng thương mại
Trang 7Phần 2: Phân tích chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam
từ năm 1986 đến nay.
I Giai đoạn 1986-1990.
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 1986-1990.
Trong những năm 1980, kinh tế nước ta tiếp tục trong tình trạng phải khắc phục hậu quả do chiến tranh để lại, kinh tế bị tàn phá nặng nề trong nhiều thập kỷ, ngoài ra còn bị cấm vận, hầu như cô lập với thị trường khu vực và thế giới Do đó, những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của cơ chế thị trường không có khả năng thâm nhập vào Việt Nam Ngay từ năm 1979, tại Hội nghị trung ương 6, Đảng ta đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cơ chế quản lý nền kinh tế, nhằm “cởi trói” và để cho sản xuất “bung ra” Tiếp theo, những cải tiến quản lý thử nghiệm được bắt đầu từ năm 1981 với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Có thể coi những cải tiến quản lý trong các năm này là các tìm tòi thể nghiệm chuẩn bị cho cải cách toàn diện (Đổi mới) nền kinh tế Song, các cải tiến cục
bộ này vẫn chưa làm thay đổi căn bản thực trạng nền kinh tế, khủng khoảng kinh tế vẫn rất trầm trọng
Từ 1981- 1983 kinh tế có phục hồi đôi chút song tốc độ phát triển chậm, nét đặctrưng là hiệu quả thấp do chi phí sản xuất cao, công nghệ và thiết bị lạc hậu, trình độ tổ chức sản xuất và quản lý kém hiệu quả Cơ cấu kinh tế mất cân đôi nghiêm trọng, lệ thuộc nhiều vào các nước xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh bị sa xút, thế mạnh của sản xuất không được khai thác Kinh tế nhiều thành phần chưa được chú trọng Ngân sách nhà nước liên tục bội chi lớn phải dựa vào nguồn thu từ vay nợ và viện trợ Quản lý tài chính còn lỏng lẻo mang nặng tính cấp phát, bù lỗ và trợ cấp, do đókhông khuyến khích các đơn vị kinh tế quốc doanh nâng cao vai trò tự chủ kinh tế, phát triển sản xuất mà dựa vào ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, việc phát hành tiền trong lưu thông tăng cao Vì vậy đổi mới toàn diện nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nước ta
Đầu năm 1985, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô Viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Mặc dù có nhiều nỗ lực trong xây dựng và phát triển kinh tế, nhất là tập trung chocông nghiệp hoá, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Nhưng nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp vẫn tăng chậm, hơn nữa, có xu hướng giảm sút và rơi vào khủng khoảng Trong khi nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của
đế quốc Mỹ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới
Trang 8Nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước bắt đầu có một
số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối đổi mớicủa Đảng nhanh chóng được sự hưởng ứng rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội Chính thức từ năm 1989, chúng ta đã chuyển sang chế độ đơn tỷ giá, điều chỉnh theo tín hiệu lạm phát, lãi suất, BOP
Cụ thể, trước năm 1986 đây là thời kỳ nền kinh tế mang tính kế hoạch hóa tập trung bao cấp, Nhà nước can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội, quyết định các chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô theo một kế hoạch quy mô tập trung toàn quốc Vì vậy việc áp dụng chế độ tỷ giá cố định do Nhà nước độc quyền xác định, không cần tính
đến yếu tố cung cầu của thị trường: Chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá Chính thức từ năm 1989, chúng ta đã chuyển sang chế độ tỷ giá linh hoạt có sự quản lý của Nhà nước.
2 Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam đã áp dụng trong giai đoạn 1986-1990
và kết quả thực hiện.
2.1 Chính sách duy trì tỷ giá linh hoạt có điều chỉnh.
Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khởi xướng công cuộc đổi mới nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế, tài chính Sau khi có Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VI), với chủ trương kiên quyết đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nền kinh tế - tài chính nước ta đã có những chuyển biến tích cực, cơ chế thị trường từng bước hình thành thay thế dần cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Trong giai đoạn 1986 – 1990, các chế độ thu quốc doanh, các pháp lệnh về thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp được bổ sung sửa đổi, hệ thống thu ngân sách được cải cách, các bộ luật thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế được xây dựng và hoàn thiện từng bước Trong khu vực kinh tế quốc doanh, chính sách động viêntài chính không ngừng được hoàn thiện đi đôi với chế độ quản lý xí nghiệp từng bước được chấn chỉnh Những bổ sung, sửa đổi chế độ thu quốc doanh và trích nộp lợi nhuận trong giai đoạn này là bước chuyển tiếp dẫn đến sự ra đời các luật thuế chung, có hiệu lực thi hành từ 1/10/1990
Theo hệ thống phân loại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tháng 3/1989, Việt
Nam chính thức áp dụng Chính sách duy trì tỷ giá linh hoạt có điều chỉnh, cơ chế neo
Trang 9hiệu lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán; tỷ giá thị trường tự do, tỷ giá ngân hàng thương mại được phép dao động trong giới hạn 5% tỷ giá chính thức:
Vào năm 1989, Việt Nam đã có nhiều điều chỉnh trong lựa chọn cơ chế tỷ giá Những thay đổi theo hướng thị trường đã góp phần nhất định giúp nền kinh tế Việt Namđạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô trong một thời gian dài Mặc dù đã phản ánh được cung cầu của thị trường, nhưng về cơ bản chế độ tỷ giá tại Việt Nam vẫn xoay quanh chế độ neo tỷ giá Ở Việt Nam, đồng đô - la Mỹ (USD) gần như được mặc định là đồng tiền cố định tỷ giá Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là cơ quan công bố tỷ giá VND / USD ' Căn cứ vào tỷ giá quốc tế giữa USD và các đồng tiền ngoại tệ khác, các ngân hàng thương mại sẽ xác lập tỷ giá giữa các ngoại tệ đó với VND
Sự lựa chọn cơ chế neo tỷ giá vào đồng đô la với nhiều lần điều chỉnh tỷ giá chính thức hoặc điều chỉnh biên độ đã được thực hiện trong thời gian dài
2.2 Kết quả việc thực hiện chính sách tỷ giá trong giai đoạn 1986-1990.
Việc neo tỷ giá cố định ở một số thời điểm đã giúp ổn định được thị trường ngoại hối, làm giảm hiện tượng đầu cơ và đô - la hóa, hạn chế rủi ro thanh khoản đối với nợ nước ngoài, và đặc biệt là neo được kì vọng lạm phát và hạn chế được hiện tượng nhập khẩu lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, cơ chế tỷ giá này lại khiến VND lên giá cực mạnh, làm giảm sức cạnh tranh của Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế và gây thâmhụt thương mại lớn Ngoài ra, cơ thể neo tỷ giá cố định không theo tín hiệu thị trường nhiều lúc còn làm cho nguồn lực của nền kinh tế không được phân bổ một cách hiệu quả, gây khó khăn và bất ổn cho các hoạt động kinh tế
Trang 10II Giai đoạn 1991-2000.
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 1991-2000.
Đầu năm 1991, tình trạng leo thang giá USD đã thúc đẩy lạm phát do đồng Việt Nam bị mất giá mạnh và do giá hàng nhập khẩu tăng nhanh Trước tình hình đó từ năm
1992 chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách quản lý ngoại tệ, đổi mới chính sách
và cơ chế điều hành tỷ giá Đồng thời giai đoạn 1995 -2000 là khoảng thời gian diễn ra khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á Việt Nam tuy không nằm trong “tâm bão” nhưng
ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng
Trong thời gian này, nước ta áp dụng Chính sách duy trì tỷ giá linh hoạt có điều chỉnh, cơ chế neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh cơ chế là sự pha trộn giữa cơ chế
neo tỷ giá cố định và neo tỷ giá với biên độ được điều chỉnh Cụ thể:
Trang 11Bảng 2.0
2 Chính sách tỷ giá hối đoái Việt Nam đã áp dụng trong giai đoạn 1991-2000
và kết quả thực hiện.
2.1 Chính sách tỷ giá trong giai đoạn 1991-1995.
Trong thời gian này, chế độ tỷ giá của Việt Nam là sự pha trộn giữa neo
tỷ giá cố định và neo tỷ giá với biên độ điều chỉnh (Bảng 2.0) Có thể nói đây là giai đoạn có dấu mốc quan trọng trong việc lần đầu tiên dỡ bỏ thế độc quyền của nhà nước trong kinh doanh ngoại hối Nghị định 53/HĐBT ra đời, quy định về việc tách
hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp, bao gồm Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện chức năng quản lý vĩ mô và hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ và tín dụng
Tỷ giá ngoại tệ do NHNN công bố được xác định dựa trên tổng hợp các yếu
tố như lãi suất, lạm phát, cung cầu ngoại hối…Tỷ giá mua bán các NHTM được phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do NHNN công bố cộng trừ theo biên độ cho phép Để giảm bớt chênh lệch tỷ giá nhằm tiến tới điều hành tỷ giá dựa chủ yếu vào quan hệ cung cầu trên thị trường Nhà nước đã thông qua chính sách tỷ giá linh hoạt hơn, điều chỉnh tỷ giá chính thức theo tỷ giá trên thị trường tự do
Trước nguy cơ lạm phát và sự mất giá của đồng Việt Nam, Chính phủ đã đổi mới cách quản lý ngoại tệ cũng như cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hối đoái NHNN
đề nghị với chính phủ thành lập quỹ điều hòa ngoại tệ tại NHNN để có thể can thiệp vàothị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá Việc thành lập quỹ ngoại tệ đã làm dịu những biến động thất thường của tỷ giá trên thị trường Tháng 9/1991, NHNN đã thành lập mộttrung tâm giao dịch ngoại tệ tại thành phố Hồ Chí Minh và tháng 11/1991, một trung tâm giao dịch thứ 2 ở Hà Nội cũng ra đời Tỷ giá được yết 2-3 lần mỗi tuần với sự tham gia của NHNN, các NHTM và các công ty XNK chủ chốt Tỷ giá này là cơ sở tham chiếu cho tỷ giá mà các NHTM áp dụng cho khách hàng
Việc thành lập hai trung tâm giao dịch là nước ngoặt đầu tiên của hệ thống ngân hàng trong quá trình đổi mới thực sự theo hướng thị trường Thông qua hoạt động của hai trung tâm, với vai trò là người tổ chức và điều hành, NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên thị trường để điều hành chính sách tiền tệ cũng như tỷ giá phù hợp với tín hiệu thị trường
Năm 1992, do NHNN can thiệp vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá USD/VND đã dần ổn định, làm suy yếu tâm lý đầu cơ, khiến các doanh nghiệp tập trung ngoại tệ cho hoạt động xuất nhập khẩu Bên cạnh đó, thặng dư cán cân thương mại năm 1992 cũng
đã góp phần làm cung ngoại tệ tăng, gây sức ép lên giá VND Theo đà đó, từ năm 1993
Trang 12trở đi, VND liên tục chịu sức ép lên giá Để khắc phục xu hướng này, nhà nước đã thực hiện một số biên pháp sau:
- Thông qua các giao dịch ngoại tệ, NHNN luôn kịp thời can thiệp vào thị trường để ổn định tỷ giá hối đoái Trong hầu hết các phiên giao dịch quý 1 năm 1993, hệ thống ngân hàng đã phải mua đồng USD vào nhằm hạn chế
xu hướng lên giá của VND
- Nhà nước còn vận dụng công cụ lãi suất để ổn định giá NHNN đã 24 chủ trương giảm bớt sự chênh lệch lãi suất bằng cách nâng lãi suất ngoại tệ để vừa ổn định tỷ giá, vừa thu hút ngoại tệ vào ngân hàng, bổ sung nguồn dự trữ ngoại hối
Ngày 20/10/1994, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập thay thế hai trung tâm giao dịch ngoại tệ Đây là bước ngoặt lịch sử trong qúa trình hình thành và phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế Do thị trường liên ngân hàng có quy mô lớn hơn, linh hoạt hơn, tỷ giá hối đoái ngày càng phản ánh đầy đủ hơn quan hệ cung cầu thị trường Qua thị trường liên ngân hàng, NHNN có thể nắm bắt dấu hiệu thị trường về tỷ giá hối đoái, công bố tỷ giá chính thức hàng ngày và biên độ giao dịch cho các NHTM Để gia tăng tính linh hoạtcủa tỷ giá và với mục đích định giá thấp tiền đồng cho mục tiêu xuất khẩu, biên độ dao động của tỷ giá đã được nới lỏng từ 0,5% lên 1% vào tháng 11/1996, lên 5% vàotháng 2/1997, 10% vào tháng 10/1997 trước khi giảm xuống còn 7% vào tháng 8/1998
Trang 13Có thể nói, những đổi mới trong chính sách tỷ giá hối đoái đó đã góp phần nào xóa đi tâm lý găm giữ ngoại tệ, góp phần giảm giá USD và tỷ giá được duy trì tương đối ổn định trong giai đoạn 1992 – 1997.
II.3 Chính sách tỷ giá trong giai đoạn 1995-2000.
Trong thời gian này, chế độ tỷ giá của Việt Nam là sự pha trộn giữa neo tỷ giá
cố định và neo tỷ giá với biên độ điều chỉnh (Bảng 2.0) Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, đồng Việt Nam chịu áp lực giảm giá mạnh đã khiến thị trường ngoại hối rơi vào tình trang đầu cơ, tích trữ ngoại tệ Đường tỷ giá trong giai đoạn này là những bậc thang dứt khoát, thể hiện những đợt phát giá VND của NHNN
Tỷ giá VND/USD có xu hướng tăng nhanh, đồng thời đột biến theo những cơn sốt giá ngoại tệ (Biểu đồ 2.1)
Để gia tăng tính linh hoạt của tỷ giá và với mục đích định giá thấp tiền đồng cho mục tiêu xuất khẩu, biên độ dao động của tỷ giá đã được nới lỏng từ 0,5% lên 1% vào tháng 11/1996, lên 5% vào tháng 2/1997, 10% vào tháng 10/1997 trước khi giảm xuống còn 7% vào tháng 8/1998 Do ảnh hưởng bởi những yếu tố nội tại của nền kinh tế như lạm phát, mất cân đối cán cân thanh toán nên NHNN đã phải giảm giá mạnh tiền đồng 2lần liên tiếp trong năm 1998 (tháng 2 và tháng 8) với tổng tỉ lệ phá giá lên đến 16,3% (Bảng 2.0)
Việc điều chỉnh giá này là một quyết định kịp thời Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, việc cố định một tỷ giá được coi là cao hơn so với tỷ giáthực là một rủi ro quá lớn cho nền kinh tế Việt Nam, không những nó cản trở xuất nhập khẩu mà còn hạn chế " khả năng đề kháng" của nền kinh tế Việt Nam Việc tăng tỷ giá
đã góp phần giảm nhập siêu 20,3% năm 1997 xuống còn 17,6% năm 1998
Trong năm 1999, với cơ chế điều hành tỷ giá mới, chính sách tỷ giá thả nổi có
sự điều tiết của nhà nước ở nước ta hiện nay càng có cơ hội phát huy hiệu quả Nếu
trước tháng 2 năm 1999, (Bảng 2.2) cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là cơ chế can thiệp trực tiếp bằng cách ấn định tỷ giá chính thức với biên độ giao dịch ở thời điểm tương ứng có khi lên đến 10% thì từ ngày 25/02/1999 NHNN Việt Nam đã công
bố 2 quyết định mới về tỷ giá:
- Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN7 về việc công bố tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam với các ngoại tệ
(NHNN7-cong-bo-ty-gia-hoi-doai-dong-Viet-Nam-ngoai-te-45073.aspx)
Trang 14https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tien-te-Ngan-hang/Quyet-dinh-64-1999-QD Quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 về việc quy định nguyên tắc xác định giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức được phép kinh doanh ngoại tệ
(NHNN7-nguyen-tac-xac-dinh-ty-gia-mua-ban-ngoai-te-to-chuc-tin-dung-duoc-phep-kinh-doanh-ngoai-te-57963.aspx)
Từ ngày 26/2/1999, NHNN chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên cơ sở tỷ giá thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó Căn cứ vào đó các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay không vượt quá 0,1% so với tỷ giá này Việc điều chỉnh tỷ giá này nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam; giảm bớt sự mất cân bằng của đồng Việt Nam so với USD, dịch chuyển tỷ giá dần tới trạng thái cân bằng của nó Nhờ cơ chế điều hành tỷ giá mới, tình hình tỷ giá hối đoái ở Việt Nam rất ổn định, không biến động nhiều lắm, tỷ giá giữa VND và USD giao động trong khoảng 14.000 - 14.014 đ/ 1 USD
Trong năm 2000, từ ngày 5/9, cơ chế tỷ giá trong kinh doanh ngoại tệ của các NHTM được thực hiện theo quyết định số 289/2000QĐ-NHNN7 ngày 30/8/2000 của Thống đốc NHNN quy định mới về nguyên tắc xác định tỷ giá của các giao dịch hối đoái kỳ hạn, hoán đổi của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ Còn nguyên tắc xác định tỷ giá giao ngay vẫn được thực hiện theo quyết định số 65/1999/QD-NHNN7
Trang 15(Bảng 2.2)
Trang 163 Kết quả thực hiện.
3.1 Giai đoạn 1991-1995.
Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thời góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tếvới tốc độ cao trên 8%/ năm
Do ngoại tệ được đánh giá rẻ nên đã khuyến khích các nhà đầu tư vay ngoại tệ
để đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều vốn và nguyên liệu nhập khẩu mà không khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có và những lợi thế so sánh của đất nước, đó là nguồn lực lao động
Việc duy trì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đã được kiềm chế, song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ (nước có đồng tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giỏ ngoại tệ để xác định tỷ giá của Việt Nam) và các nước có quan
hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu hướng tăng giá từ năm 1995 đã làm cho VND có xu hướng ngày càng bị đánh giá cao hơn thực tế Do tỷ giá hối đoái thực tế giảm xuống, VND được đánh giá cao đã làm suy giảm sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam, làm cán cân thương mại thâm hụt
3.2 Giai đoạn 1995-2000.
Mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp nhưng chúng ta vẫn duy trì được tốc độ tăng GDP đạt 7% Bình quân từ năm 1991-2000 GDP tăng 7,6%/năm
Sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Việt Nam bắt đầu đươc cải thiện, thể hiện
ở chỉ số tỷ giá xuất khẩu lớn hơn chỉ số tỷ giá nhập khẩu và thâm hụt của cán cân
thương mại giảm Đặc biệt, trong năm 1999, lần đầu tiên cán cân thương mại thặng dư Nguyên nhân là do tháng 10/1997, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá giao dịch tại các thị trường liên ngân hàng
Đến hết năm 1999, đã căn bản khắc phục xong hiệu ứng trễ của cuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, góp phần kéo lạm phát từ mức 9,2% năm 1998 xuống còn 0,1% năm 1999 Tiếp đó là quá trình chủ động kiềm chế và kiểm soát lạm phát (Năm 1999: 0,1%; 2000: -0,6%
Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cực đối với xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêu trong các năm 1997-1999 Ngoài ra, giá cả trên thị trường biến động không đáng kể cũng là một nhân tố góp phần
Trang 17Trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, đã phân định những chức năng quản lý Nhà nước của ngân hàng Nhà nước và chức năng kinh doanh của ngân hàng thương mại Việc điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn đinh giá trih đồng tiền Việt Nam, quản lý ngoại hối, xây dựng thị trường hối đoái hợp pháp và các hoạt động tín dụng, thanh toán đều có bước tiến.
Tuy nhiên, do chưa có chiến lược và tầm nhìn tổng thể, cách điều hành tỷ giá của NHNN chưa mang tính chủ động, chưa phối hợp các để hỗ trợ cho sự thành công như mong muốn của chính sách tỷ giá Giữa NHNN và dân chúng, doanh nghiệp luôn
có sự cách biệt, thông tin trên thị trường về những động thái và quyết tâm của NHNN đều chỉ là phỏng đoản, không chính thức Điều này đã dẫn đến hệ quả là 2000, lạm phát
và thâm hụt cán cân vãng lai lại bắt đầu gia tăng
Trang 18III Giai đoạn 2000-2010.
1 Bối cảnh thực hiện chính sách điều hành tỷ giá giai đoạn 2000-2011.
Từ năm 2000-2006, trong giai đoạn này, thị trường ngoại hối nhìn chung tương đối ổn định, tỷ giá diễn biến theo chiều hướng tăng (Biểu đồ 2.3) Tuy nhiên, trong từngnăm tỷ giá lại có những diễn biến thất thường
Đặc biệt với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO năm 2005, nền kinh tế Việt Nam mới có cơ hội thử sức mình tại sân chơi cởi mở hơn Cùng với những cam kết về tự do hóa thương mại mà chính phủ Việt Nam đã kí trong các vòng đàm phán, các rào cản đối với hàng nhập khẩu dần
dỡ bỏ, hàng hóa 150 nước thành viên vào thị trường Việt Nam thuận lợi hơn và hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng có nhiều cơ hội xuất ra thị trường rộng lớn
Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009 và suy thoái kinh tế sau
đó đã gây tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong nước với biểu hiện rõ nét là dòngvốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh, gây áp lực lạm phát và tỷ giá Trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2011, lạm phát luôn ở mức cao
Trong giai đoạn nay Nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi có sự điều tiết của nhà nước với cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh Theo đó, nhà nước sẽ quản lý thông
qua “tỷ giá bình quân thị trường liên ngân hàng và biên độ dao động được phép”, nhằm theo kịp xu hướng thay đổi của nền kinh tế mở cửa và đối phó với khủng hoảng tài chính 2008
Trang 192 Chính sách tỷ giá trong giai đoạn 2000-2010.
Năm 2003, tỷ giá VND/USD khá ổn định mặc dù USD mất giá mạnh so với các ngoại tệ chủ chốt khác và có diễn biến phức tạp trên thị trường ngoại hối thế giới Năm 2004, tình hình tỷ giá tương đối ổn định do một số nguyên nhân Thứ nhất, đồng USD mất giá trên thị trường quốc tế Thứ hai, nguồn cung USD dồi dào nhờ hoạt động trực tiếp nước ngoài, hoạt động du lịch, xuất khẩu dầu mỏ, kiều hối Sự ổn định tỷ giá như vậy có lợi ích cho cả xuất khẩu và nhập khẩu, giúp kiềm chế lạm phát, cải thiện cán cân thanh toán Nếu chính sách tỷ giá thay đổi nhằm khuyến khích xuất khẩu thì sẽ không thể có lợi cho nhập khẩu và ngược lại Đặc biệt, đối với Việt Nam nhiều mặt hàng xuất khẩu lại dựa chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu, do đó chính sách
tỷ giá ổn định thì sẽ có lợi cả cho xuất khẩu và nhập khẩu
Giai đoạn 2005-2007, tình hình TGHĐ ở Việt Nam tỷ giá VND/USD thường khá ổn định, biến động thấp Nếu so tháng 12 năm nay với tháng 12 năm trước thì
TGHĐ năm 2005 tăng 0,9%, năm 2006 tăng 1%, năm 2007 giảm 0,03% - bình quân thời kì 2004 - 2007 tăng 0,57% Nếu tính bình quân năm so với năm trước thì năm 2005tăng 0,56%, năm 2006 tăng 0,95%, năm 2007 tăng 0, 62% TGHĐ thực sự có những chuyển biến tốt, khi mà TGHĐ tuy có tăng nhưng với mức tăng không lớn
Trang 20Cụ thế là, tỷ giá cuối năm 2005 là 15.905VND/USD so với 15.778VND/USDvào đầu năm (vào ngày 13/10/2005 tỷ giá TTTD lên mức kỷ lục là 16.000VND/USD),
tỷ giá chính thức vào tháng 12/2006 là 15.965VND/USD và có lúc là tỷ giá TTTD tăng lên 17.000 VND/USD tháng 6 năm 2007 tỷ giá là 16.101VND/USD, 6 tháng cuối năm
2007 là 16.132VND/USD, Tỷ giá VND/USD 6 tháng cuối năm 2007 đã diễn biến như sau: tháng 7 tăng 0,22%, tháng 8 tăng 0,16%, tháng 9 tăng 0,57%, tháng 10 giảm 0,6%, tháng 11 giảm 0,28%, tháng 12 giảm 0,19% NHNN đã có những can thiệp đáng kế để bình ổn, duy trì TGHĐ NHNN đã thay đối biên độ dao động tỷ giá từ +0,25% năm
2005 lên ±0,5% năm 2006 và ±0,75% năm 2007, đây là một trong những chính sách canthiệp kịp thời của NHNN tới TGHĐ
2007 đã tới 20 tỉ USD)
Sơ đồ: Mức tăng cung tiền của VN so với các nước khác trong khu vực