Vì vậy, nếuđưa được cách dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” và bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển năng lực HS thì bài học
Lời giới thiệu
1.1 Nền Giáo dục – Đào tạo nước ta luôn được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”
Bộ GD-ĐT cũng đề ra trong công văn 791/HD-Bộ GD-ĐT, chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy học tích cực, lấy
HS làm trung tâm, nhằm hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục và năng lực học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay
Môn Ngữ văn là một môn học chính, giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học nên các giáo viên dạy môn Ngữ văn cần nỗ lực trong công cuộc đổi mới này.
1.2 Năng lực phản biện là một năng lực mới được bổ sung vào trong nhóm năng lực cần phát triển ở HS cấp phổ thông nói chung và khối BT THPT nói riêng Đồng thời bài học “Thao tác lập luận bác bỏ” là bài học trọng tâm PTNL phản biện cho học sinh, đặc biệt là trong viết văn nghị luận Bởi trong xã hội ngày nay có rất nhiều ý kiến trái chiều với thực tại, nên bản thân mỗi người cần có kiến thức sâu rộng để gạt đi, bác đi những ý kiến sai lệch và bảo vệ, thuyết phục người khác đồng tình với quan điểm của mình Trong văn nghị luận cũng không thể thiếu kĩ năng bác bỏ để bài văn của mỗi học sinh hay hơn, thuyết phục hơn.
1.3 Thực trạng dạy học bài Thao tác lập luận bác bỏ trong nhà trường phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế, các giáo viên chủ yếu dạy lí thuyết mà không chú trọng kĩ năng, cũng như không sử dụng các phương pháp, phương tiện mới vào dạy học nên học sinh chưa hứng thú và bài học còn nhiều hạn chế.
Bản thân tôi cũng muốn nghiên cứu việc dạy học theo định hướng PTNL học sinh để qua đó có thể trang bị cho mình kiến thức, kĩ năng phát triển năng lực nghề nghiệp, nhằm phần nào đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông hiện nay.
Tên sáng kiến
Dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Tác giả sáng kiến
Họ và tên: Đường Thị Huệ Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc.
Số điện thoại: 0915257427 E-mail: huegdtxyenlac@gmail.com
Chủ đầu tư sáng tạo ra sáng kiến
Họ và tên: Đường Thị Huệ Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Số điện thoại: 0915257427 E-mail: huegdtxyenlac@gmail.com
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Môn Ngữ văn lớp 11 BT THPT
Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Năng lực
1.1.1 Khái niệm về năng lực
Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”, ngày nay có nhiều khái niệm năng lực được hiểu theo các nghĩa khác nhau
“Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí” (John Erpenbeck 1998)
Từ đó, chúng ta có thể nhận định: Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống.
1.1.2 Định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong nhà trường
Theo Weinert (2001) định nghĩa “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”
* Sơ đồ khái quát các năng lực chung cần hình thành ở HS.
1.1.3 Định hướng phát triển năng lực môn Ngữ văn cho học sinh trong nhà trường
Theo cuốn sách “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh” thì sau năm 2015 sẽ triển khai thực hiện dự thảo đề án đổi mới chương trình SGK giáo dục phổ thông theo định hướng năng lực Đối với HS THPT khi học môn Ngữ văn cần hình thành các năng lực chuyên biệt sau [5, tr50 – 56]
Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ: là khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
Năng lực sử dụng ngôn ngữ
Năng lực xã hội Năng lực cá thể Năng lực công cụ
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực sáng tác: đó là việc tiếp thu các kiến thức kết hợp với kiến thức của bản thân viết nên tác phẩm, có thể là thơ, truyện, sách, báo để có được tác phẩm có giá trị và giàu cảm xúc người đọc cần tích lũy kĩ năng tạo lập văn bản, tìm hiểu kết cấu, bố cục, nội dung của thể loại mình muốn sáng tác, xác định đối tượng cần viết và xây dựng bố cục chặt chẽ Cần nắm chắc các thủ pháp nghệ thuật từ đó có thể tạo một tác phẩm văn học hấp dẫn.
Năng lực lí luân, phê bình: Từ việc tiếp nhận một tác phẩm văn học, người học sẽ được tiếp nhận các tri thức mới và tự nói lên quan điểm, tư tưởng riêng của mình đối với tác phẩm văn học Như vậy, để có sự đánh giá đúng đắn về tác phẩm, người học cần biết văn bản đó có giá trị nội dung và nghệ thuật nào? Đồng thời cũng cần có kĩ năng tìm tòi, phát hiện những giá trị mới trong văn bản đó Qua đó, tổng hợp lại viết thành một bài lí luận hoàn chỉnh.
Năng lực giải quyết vấn đề: năng lực này cần được triển khai và áp dụng nhiều khi dạy học một số nội dụng cụ thể trong môn Ngữ văn như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một số thể loại văn học mới, viết một kiểu loại văn bản, lý giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học GV tạo ra càng nhiều tình huống có vấn đề trong tiết học thì càng khơi gợi được hứng thú tìm tòi, khám phá cái mới, tinh thần trách nhiệm của học sinh và sự phối hợp, tương tác giữa các em [4,50].
Năng lực sáng tạo: đây cũng là một trong những năng lực mà môn Ngữ văn muốn hình thành ở HS Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc sống Nó còn bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức
Năng lực giao tiếp Tiếng Việt: là một trong những năng lực quan trọng cần hình thành ở HS khi dạy học môn Ngữ văn Năng lực này được thể hiện ở 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Năng lực này coi trọng khả năng thực hành, vận dụng những kiến thức Tiếng việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc sống [4, 55].
Năng lực hợp tác: Đây là một năng lực cần thiết trong xã hội hiện đại, khi mà chúng ta đang sống và làm việc trong một môi trường phát triển với xu thế hội nhập Trong tiết học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện rõ khi HS cùng chia sẻ phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học Từ đó, HS được bày tỏ những suy nghĩ, cảm nhận của mình về các vấn đề đặt ra đồng thời biết cách lắng nghe những ý kiến trao đổi, thảo luận của các bạn trong nhóm để tự điều chỉnh hành vi và suy nghĩ của bản thân Đây là những yếu tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách cho HS [4, 52].
Năng lực tự quản bản thân: năng lực này giúp mỗi con người luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của mình, sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình.
Muốn HS có được các năng lực này thì dạy học không được thiên quá nhiều về lý thuyết mà cần dành đa số thời gian để HS được trải nghiệm và vận dụng. Để đạt được mục tiêu trên GV cần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách kiểm tra đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực.
Tức là, GV phải thiết kế giáo án theo các hoạt động dạy học mới, trong phần mục tiêu bài học GV cần chỉ rõ những năng lực mà HS cần hình thành và rèn luyện Đối với những nội dung dạy học mới hoặc có sự thay đổi về mục tiêu bài học, cần có sự thay đổi thống nhất giữa các GV trong tổ, nhóm chuyên môn để đưa ra mục tiêu và những nội dung, hình thức dạy học cụ thể, thống nhất.
- Ngoài việc phát huy tối đa tác dụng của những hình thức và phương pháp dạy học truyền thống, nên tiến hành dạy học theo những hình thức mới như: nghiên cứu bài học, dạy học theo dự án… kết hợp với hệ thống các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt nhằm đánh giá mức độ năng lực của HS Đặc biệt, cần ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, hình thành cho các em phương pháp tự học để có năng lực học tập suốt đời.
Thao tác lập luận bác bỏ
Thao tác lập luận bác bỏ là một hoạt động tư duy nhằm giúp cho con người nhận thức được cái đúng, biết phê phán cái sai, bảo vệ chân lí, lẽ phải. Tuy nhiên đây là thao tác khá mới trong dạy học Làm văn Bởi lẽ trước đây, trong dạy Làm văn chỉ đưa ra những kiểu bài nghị luận (phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận ) Nhưng do việc thay đổi chương trình và xuất phát từ thực tế viết văn nghị luận là phải vận dụng kết hợp thao tác lập luận trong một bài văn, các em học sinh cần nhận biết được các thao tác lập luận nên chương trình SGK Ngữ văn 11 đã đưa ra một số thao tác lập luận cơ bản, trong đó có thao tác bác bỏ Vì đây là một thao tác mới nên những công trình nghiên cứu về thao tác và dạy học thao tác bác bỏ là chưa nhiều.
Thao tác lập luận bác bỏ cũng được nghiên cứu trong SGK Việc nghiên cứu này chỉ mang tính chất khái quát về lập luận bác bỏ, chưa đi sâu nghiên cứu các bài tập mới ngoài SGK Trong SGK cũng đã có có cả hai phần lý thuyết và thực hành luyện tập thao tác lập luận bác bỏ nhưng hầu như cả hai phần này đều chưa thực sự đi sâu vào kết quả cần đạt đến Trong bài dạy lý thuyết, SGK chỉ mới đề cập tới các vấn đề đó là: Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận và cách bác bỏ; cách bác bỏ vẫn còn rất mơ hồ, chưa cụ thể, không mới mẻ Vì vậy, nếu đưa được cách dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” và bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển năng lực HS thì bài học sẽ đạt được kết quả rất cao.
Cùng với đó là cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn lớp 11, tập 2 do Phan Trọng Luận chủ biên đã đề cập tới lập luận bác bỏ, nhưng công trình này cũng chưa đi sâu nghiên cứu các bài tập ngoài SGK mà chỉ định hướng việc dạy thao tác lập luận bác bỏ trong dạy học lý thuyết và thực hành Nếu đưa các bài tập ngoài SGK nhất là những bài tập ngay trong đời sống xã hội, văn học theo hướng phát triển năng lực thì kỹ năng lập luận bác bỏ của HS sẽ tốt hơn rất nhiều
Theo SGK Ngữ văn 11, tập 2 đưa ra khái niệm như sau: “Lập luận bác bỏ là dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, … từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe (người đọc).
1.2.2 Vai trò của bác bỏ và lập luận bác bỏ
Bác bỏ là một khái niệm trong logic học Khái niệm này được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống, học tập và công việc Khi cần trao đổi, tranh luận để phản bác một ý kiến sai lầm, lệch lạc, phản khoa học, người ta thường sử dụng lập luận bác bỏ.Tư duy bác bỏ thể hiện rất rõ trình độ hiểu biết, khả năng suy nghĩ độc lập và tính tự chủ của người nói, người viết.Vì vậy, muốn làm việc hiệu quả, muốn nhận thức thấu đáo chân lí và sự thật, muốn hiểu bản chất của vấn đề một cách vững chắc, chúng ta phải biết cách bác bỏ.
Trong thực tế, HS có thể đã biết bác bỏ nhưng lập luận còn thiếu cơ sở, thiếu logic dẫn đến kết quả bác bỏ không có sức thuyết phục Mục tiêu của giáo dục trong nhà trường phổ thông hiện nay là nhằm phát triển năng lực toàn diện cho HS, trong đó đề cao năng lực sáng tạo, suy nghĩ độc lập, biết bảo vệ chân lí, lẽ phải… nên việc dạy học thao tác lập luận bác bỏ là rất cần thiết Không phải ngẫu nhiên mà trong Chương trình Ngữ văn lớp 11 (mới), LLBB được coi là một trong bốn thao tác lập luận chính cần dạy cho HS LLBB vừa rèn luyện khả năng tư duy ngược chiều một cách độc lập tự chủ, vừa nâng cao năng lực nghị luận cho HS khi nói và viết Đồng thời giúp HS có ý thức hơn trong việc nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân để bảo vệ chính kiến của mình, bảo vệ chân lí, thẳng thắn chỉ ra những sai lầm, lệch lạc Đó cũng chính là việc hình thành và bồi dưỡng cho HS ý thức dân chủ, công khai, đức tính trung thực, tôn trọng chân lí và sự thật trong cuộc sống, trong khoa học.
Từ điển tiếng Việt giải thích: “Bác bỏ (đg): Bác đi, gạt đi, không chấp nhận Bác bỏ ý kiến Bác bỏ luận điệu vu khống Dự án bị bác bỏ” [24; tr37].
Trong logic học “Bác bỏ là thao tác logic nhằm xác lập tính giả dối hay tính không có căn cứ của luận đề đã được nêu ra Phán đoán cần bác bỏ gọi là luận đề của bác bỏ Các phán đoán dùng để bác bỏ gọi là các luận cứ Có ba cách bác bỏ: 1 Bác bỏ luận đề (bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp); 2 Bác bỏ luận cứ và 3 Làm sáng tỏ tính không vững chắc của luận chứng” [25; tr193].
Trong văn nghị luận muốn cho lập luận chặt chẽ, khi viết cần biết soi sáng vấn đề dưới nhiều góc cạnh bằng cách tự đặt ra các câu hỏi như là chất vấn, đối thoại để làm nổi bật sự thật, để phơi bày mặt trái, mặt vô lí của một vấn đề nào đấy Ở đây, thao tác LLBB thường được vận dụng một cách triệt để.
Như vậy, rèn kĩ năng lập luận bác bỏ cho HS cũng chính là rèn luyện năng lực tư duy, suy luận, năng lực thuyết phục cho HS khi nói và viết.
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Thuận lợi
Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc, nơi tôi công tác, là một ngôi trường khang trang, đảm bảo vệ sinh môi trường, nhà trường đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học. Đồng thời luôn có sự chỉ đạo sát sao của Chi bộ, Ban giám đốc trong mọi lĩnh vực hoạt động đặc biệt là trong công tác giảng dạy.
Bản thân tôi luôn trau dồi, học hỏi kiến thức cho mình Là người giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi luôn yêu nghề, nguyện đem hết khả năng của mình để phục vụ cho sự nghiệp.
+ Hàng tháng tôi luôn được Ban giám đốc, các anh chị đồng nghiệp trong tổ nhóm chuyên môn dự giờ, rút kinh nghiệm.
+ Đồng thời thông qua bạn bè đồng nghiệp tôi đã học hỏi được một số kinh nghiệm trong phương pháp giảng dạy Đó là điều kiện thuận lợi để bản thân có thể dạy tốt môn học này Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cũng không thể tránh những khó khăn trong quá trình giảng dạy.
Khó khăn
2.2.1.Thực trạng về tài liệu dạy học
* Tìm hiểu nội dung dạy bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2)
Mục tiêu bài học của bài: “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn
11, tập 2 bao gồm 3 phần: kiến thức, kĩ năng, thái độ, cụ thể như sau:
Giúp học sinh nắm được:
- Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ.
- Yêu cầu sử dụng thao tác lập luận bác bỏ.
- Nhận diện và chỉ ra tính hợp lí, nét đặc sắc của các cách bác bỏ trong các
- Viết một đoạn văn, bài văn bác bỏ một ý kiến với cách bác bỏ phù hợp.
- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch.
Nhìn chung về mục tiêu bài học đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) về lí thuyết đã chỉ ra những mục tiêu cơ bản về kiến thức, kĩ năng và thái độ Tuy nhiên, cần phải khai thác sâu hơn nữa về mục tiêu bài học và theo hướng phát triển năng lực của HS.
B Nội dung bài học Đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) có những nội dung chính như sau:
I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ
1 Phân tích ngữ liệu a Ngữ liệu a b Ngữ liệu b c Ngữ liệu c
Nội dung dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) về cơ bản vẫn còn đơn giản, ở phần I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ trong phần này mới chỉ ra bác bỏ là gì? (theo từ điển tiếng Việt) Phần II.Cách bác bỏ, với mục 1 là phân tích các ngữ liệu nhưng sang đến mục 2 SGK chỉ viết hãy cho biết các cách thức bác bỏ, không đưa ra các ví dụ hay những lời nhận xét Qua đây, chúng ta có thể thấy trong mục I thiếu phần khái niệm, trong
SGK chưa chỉ ra các bước LLBB và ở phần II tên đề mục chưa đầy đủ Như vậy, với nội dung bài “Thao tác lập luận bác bỏ” như trong SGK thì còn quá chung chung, sơ sài, cần phải thay đổi các phần và sắp xếp hợp lí để nội dung bài học được chi tiết hơn.
Trong thực tế, yêu cầu phát triển năng lực cho HS THPT nói chung và HS
BT THPT nói riêng xuất phát từ khả năng trí tuệ của HS đã có những bước hoàn thiện về thế chất lẫn tâm lí.
Tài liệu dạy học cụ thể là SGK, SBT, SGV cũng đã bước đầu định hướng các kiến thức, kỹ năng cơ bản để HS có thể biết cách lập luận bác bỏ.
Tuy nhiên qua việc khảo sát các tài liệu dạy học tôi thấy, vẫn chưa có bước định hướng vào phát triển năng lực cho HS.Thao tác lập luận bác bỏ là kiểu bài lí thuyết về kĩ năng, vì thế mà mục tiêu chính của bài là phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng lập luận bác bỏ SBT mặc dù đã đưa ra cho HS một số bài tập nhưng vẫn còn ít và chưa đa dạng, chưa rèn luyện được kĩ năng sửa chữa, lập luận cho HS Do đó, trong quá trình dạy học cần phải tăng cường, đa dạng hoá hệ thống ngữ liệu và hệ thống bài tập để rèn luyện nhiều về kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh.
Tài liệu dạy học về kiểu bài này còn ít, giữa những tài liệu còn chưa có sự thống nhất cao trong việc phát triển năng lực cho học sinh và chưa có tài liệu nào thiết kế bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS một cách cụ thể.
Vì vậy, tôi nhận thấy tài liệu dạy học chưa đề ra những kiến thức nhằm rèn luyện kĩ năng cũng như phát triển năng lực cho HS bởi vậy mới dẫn đến tình trạng bài học chưa sâu, chưa đạt được mục tiêu rèn luyện và phát triển những năng lực cần thiết cho HS.
2.2.2 Thực trạng về hoạt động dạy của GV
Qua nhiều dịp dự giờ thăm lớp, các giờ dạy của đồng nghiệp, tôi nhận thấy việc tổ chức dạy học của tôi và các GV khác đã hướng vào việc định hướng cho HS kiến thức lí thuyết về cách lập luận bác bỏ và cung cấp cho HS một số kĩ năng làm bài Đa số các GV đều cho rằng việc vận dụng các PPDH tích cực trong giảng dạy là cần thiết và sẽ đem lại hiệu quả cao hơn so với các phương pháp truyền thống Tuy nhiên, nhiều GV còn ngần ngại vận dụng các PPDH tích cực, nhất là
PPDH dự án vì phải đầu tư nhiều thời gian, công sức Còn một số GV đã quen với các phương pháp truyền thống nên ngại đổi mới.
Về việc dạy học để phát triển các NLCB cho HS vẫn chưa được các GV viên chú trọng Đa số GV giảng dạy theo lối truyền thụ tri thức là chủ yếu, nên việc phát triển các NLCB cho HS trong bài thao tác lập luận bác bỏ còn nhiều hạn chế Như: việc dạy học kiểu cũ chỉ chú ý tới tiếp nhận kiến thức mà chưa chú ý tới phát triển năng lực cho HS Tri thức mà HS tiếp nhận còn phiến diện, một chiều, đôi chỗ còn làm các em mơ hồ.
2.2.3 Thực trạng về hoạt động học của HS
Văn nghị luận là một loại văn khó, đòi hỏi người viết phải có trí tuệ, có sự quan sát, tổng hợp, khái quát, đánh giá….nên không phải học sinh nào cũng có thể tiếp nhận dễ dàng.
Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc, nơi tôi đang giảng dạy là trường thuộc khối GDTX, đa số các em HS ở đây có học lực trung bình và một số ít HS có học lực khá Nhiều em ý thức còn kém, việc dạy - học theo kiểu cũ về thao tác lập luận bác bỏ còn rất mơ hồ Rất nhiều HS chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của thao tác này trong bài văn nghị luận.
Hệ thống bài tập chưa có sự đa dạng, chưa có sự phân hoá, phân loại theo chủ đề, theo sở thích, năng lực của HS Vì vậy hoạt động của các em rất thụ động, không có sự sáng tạo, hứng thú trong học tập Đặc biệt, hệ thống bài tập chưa có những bài tập ứng dụng, bài tập vận dụng năng lực giao tiếp để rèn luyện cho HS năng lực nói - trình bày vấn đề cũng như thể hiện cách lập luận, dẫn dắt vấn đề, nói một cách rõ ràng, thuyết phục cho mọi người về các vấn đề đặt ra
Một số phụ huynh còn coi nhẹ và chưa sát sao với việc học tập của con em mình, thường xuyên cho con nghỉ học tuỳ tiện nên ít nhiều cũng làm ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em.
Tôi nhận thấy rằng việc dạy học cần điều chỉnh hoạt động học cho HS thông qua việc chú trọng các kiến thức, kĩ năng nhằm nâng cao năng lực cho các em để các em thành thục kĩ năng lập luận so sánh, tiếp cận những đề bài một cách chủ động, sáng tạo; đồng thời tạo hứng thú học tập, kích thích, khơi gợi ở các em khả năng tự bộc lộ suy nghĩ, quan điểm của mình… như thế bài học mới đạt được mục tiêu giáo dục đề ra là: Dạy học văn gắn liền với với đời sống, phát huy năng lực của người học để lĩnh hội và chủ động chiếm lĩnh tri thức Việc kết hợp dạy học vào việc phát triển năng lực cho HS là vô cùng cần thiết, nó phải được định hướng một cách cụ thể bằng những phương pháp dạy học tích cực để nâng cao năng lực làm văn nghị luận cho HS.
CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Cách tiến hành thực nghiệm
* Thực nghiệm thăm dò: Chúng tôi tiến hành thực nghiệm phỏng vấn
GV và phát phiếu điều tra khảo sát HS ở một số lớp khối 11, để thăm dò thực trạng dạy và học kiểu bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2).
* Tác giả khảo sát qua điều tra phỏng vấn (phiếu điều tra GV và HS) Để tìm hiểu được thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) của giáo viên và thực trạng học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” ở học sinh, chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra, khảo sát với 4 GV trong nhóm chuyên môn Ngữ văn (phiếu điều tra, khảo sát số 1), phát phiếu điều tra, khảo sát đối với học sinh lớp 11A2 trong trường (phiếu điều tra, khảo sát số
2) Kết quả đạt được như sau:
- S phi u thu v : 04ố phiếu thu về: 04 ếu thu về: 04 ề: 04
Câu hỏi Đáp án Trả lời
7 - Học sinh hiểu bài nhưng khi vào bài viết không phải học sinh nào cũng áp dụng được, số áp dụng được không nhiều.
- Ngữ liệu của bài “Thao tác lập luận bác bỏ” thường dài nên khi tìm hiểu mất nhiều thời gian Vì vậy, trong giờ dạy phân tích được ít ngữ liệu.
- Câu hỏi còn khó Các dạng đề kiểm tra ít sử dụng thao tác LLBB.
- Nội dung lý thuyết còn sơ sài.
- Trình độ nhận thức của học sinh còn thấp, thiếu tính tích cực, chủ động, sáng tạo Học sinh không hứng thú khi học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”.
8 - Các dẫn chứng chưa thật sự sinh động, phong phú, cần bổ sung thêm.
- Có nhiều cách để bác bỏ một luận điểm, luận cứ tuy nhiên khi dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” cần đưa ra một số cách cơ bản để học sinh áp dụng.
- Phần I, mục đích, yêu cầu của bài “Thao tác lập luận bác bỏ” cần bổ sung khái niệm về “Thao tác lập luận bác bỏ”.
- Dạy học kết hợp với các phương tiện hỗ trợ (máy chiếu, sơ đồ, tranh ảnh, bảng phụ…) để tạo hứng thú cho học sinh và nâng cao chất lượng giờ dạy.
- Cần có trong chương trình một bài viết văn có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ để biết được khả năng nhận thức và vận dụng của HS.
Câu hỏi Đáp án Trả lời
9 - Em mong được học theo phương pháp hiện đại, có sử dụng máy chiếu, video, tranh ảnh minh họa, được học theo nhóm để làm giờ học không nhàm chán.
- Em muốn kiểm tra những câu hỏi tùy vào lực học của mỗi HS,kiểm tra với kiến thức vừa phải Khi kiểm tra bài cô giáo nên cho
HS lập luận về một vấn đề nào đó mà bản thân mình quan tâm nhất và cô giáo nhận xét.
- Em muốn tìm hiểu kĩ thêm về thao tác lập luận bác bỏ, bài học được mở rộng và nâng cao hơn (nâng cao phương pháp giảng dạy, đưa ra nhiều ví dụ và bài tập để nâng cao kĩ năng làm văn)
- Em muốn được học theo phương pháp hiện đại, thầy (cô) giúp hoàn thiện kĩ năng lập dàn ý để có thể có kiến thức chắc hơn.
- Em muốn được học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” với cách cô giáo cho bài tập ngoài SGK, sau đó bản thân tự làm và được cô giáo chữa, xem mình có làm đúng hay không, khả năng tự lập luận như thế nào để biết được khả năng nắm bài và kĩ năng của mình đến đâu.
- Mong thầy cô giảng chậm và kĩ hơn về bài học này.
Khảo sát giáo án, thiết kế
* Khảo sát giáo án Để biết thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn
11, tập 2) trong nhà trường diễn ra như thế nào thì chúng tôi đã tiến hành khảo sát 2 giáo án của 2 GV khác nhau ở trường, chúng tôi nhận thấy như sau:
- Về mục tiêu bài học: với kiến thức GV mới chỉ giúp HS nắm được mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ mà chưa chỉ ra cần phải giúp HS nắm được khái niệm về thao tác LLBB Tiếp theo là giúp HS nắm được cách bác bỏ, vậy cách bác bỏ ở đây là gì thì GV vẫn chưa chỉ ra cụ thể mà nói một cách rất chung như phần II Cách bác bỏ trong SGK, cuối cùng là giúp HS nắm được một số vấn đề xã hội và văn học, vậy vấn đề xã hội và văn học là cái gì? GV cần xác định đủ vấn đề hơn như giúp HS biết bác bỏ một ý kiến sai, thiếu chính xác về một vấn đề nào đó trong xã hội và trong văn học.
- Về nội dung bài học: ở phần I Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ GV có chỉ ra bác bỏ là bác đi, gạt đi, không chấp nhận nhưng đây thực chất là khái niệm của bác bỏ chứ không phải mục đích của thao tác LLBB và
GV lại chỉ ra nghị luận về bản chất là tranh luận, tranh luận để bác bỏ những quan điểm, ý kiến không đúng, bày tỏ và bênh vực những ý kiến đúng đắn Để chất đây chính là khái niệm của nghị luận Như vậy GV vẫn chưa chỉ ra mục đích của thao tác LLBB Đến phần II Cách lập luận bác bỏ, GV cho phân tích 3 ngữ liệu trong SGK thì phần này cần chuyển thành mục một số dạng bác bỏ sẽ thích hợp hơn
- Về phần luyện tập: GV cũng mới chỉ chữa 2 bài tập trong SGK đơn giản, không có bài tập củng cố, nâng cao kiến thức cho HS, chưa rèn luyện được kĩ năng nói, kĩ năng viết cho HS.
- Thời gian dạy học diễn ra trong thời gian rất ngắn, GV không sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học như: máy chiếu, phiếu học tập… GV có chia hoạt động nhóm nhưng nhìn chung giáo án này vẫn rất đơn giản, sơ sài, GV chưa chú ý tới quá trình dạy và học Làm văn.
- Về mục tiêu bài học: với kiến thức như ở giáo án số 1 GV mới chỉ giúp
HS nắm được mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ mà chưa chỉ ra giúp HS nắm được khái niệm về thao tác LLBB Tiếp theo là giúp HS nắm được cách bác bỏ, vậy cách bác bỏ ở đây là gì thì GV vẫn chưa chỉ ra mà nói một cách rất chung như phần II Cách bác bỏ trong SGK và ở giáo án này GV chưa chỉ ra mục tiêu về kiến thức cần giúp HS biết bác bỏ một ý kiến sai, thiếu chính xác về một vấn đề nào đó trong xã hội và trong văn học.
- Về nội dung bài học: GV để mục I Mục đích và yêu cầu của thao tác LLBB như trong SGK nhưng lại chia ra thành các phần nhỏ hơn đó là: khái niệm thao tác LLBB, mục đích, yêu cầu là hoàn toàn không hợp lí Nếu chia các phần nhỏ như vậy thì phần I phải là Thao tác lập luận bác bỏ Đến phần II Cách lập luận bác bỏ GV cần chuyển thành phần một số dạng bác bỏ thì sẽ hợp lí hơn.
- Về luyện tập: GV cũng chỉ cho HS làm 2 bài tập trong SGK và không có bài tập củng cố, nâng cao kiến thức cho HS, chưa rèn luyện được kĩ năng nói và kĩ năng viết cho HS.
- Ở giáo án này GV không sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học như: máy chiếu, phiếu học tập…, không sử dụng các hoạt động học như hoạt động nhóm Cũng như giáo án số 1, giáo án số 2 cũng rất đơn giản và sơ sài, không phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo của người học.
Trên đây là những nhận xét về 2 giáo án mà chúng tôi đã khảo sát được của 2 giáo viên dạy tại trường, về cơ bản giáo án vẫn còn rất đơn giản, sơ sài,không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS khi dạy và học, trong giáo án vẫn theo lối truyền thống, chưa sử dụng các hoạt động tích cực cũng như các phương pháp mới.
Khảo sát hoạt động dạy học qua dự giờ
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát hoạt động dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) qua dự giờ của 2 giáo viên tại hai lớp khác nhau thì nhận thấy rằng: cả hai GV chúng tôi dự giờ đều dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo cách truyền thống, nội dung bài đơn giản chỉ đơn thuần trong SGK, chưa thiết kế những hoạt động để HS chủ động thực hiện theo hướng phát triển năng lực, GV không sử dụng các thiết bị dạy học tích cực HS học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” không sôi nổi, trầm trong hoạt động học.
Khảo sát qua bài văn của học sinh
Theo như chúng tôi có khảo sát các lớp ở khối 11của trường, thì hầu như các em không có bài kiểm tra riêng về thao tác lập luận bác bỏ (15 phút, 1 tiết, bài viết ở nhà…) Như vậy, chứng tỏ rằng đối với bài “Thao tác lập luận bác bỏ” các em không được vận dụng vào trong việc viết một bài văn nghị luận có sử dụng thao tác bác bỏ Cũng như trong chương trình SGK Ngữ văn 11, tập 2 đến bài viết văn số 6: nghị luận xã hội phần II Gợi ý một số đề cũng không có đề nào có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong khi thao tác lập luận bác bỏ cũng là một thao tác rất quan trọng trong đời sống.
Thực nghiệm dạy học
Chúng tôi tiến hành dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực học sinh với giáo án mà chúng tôi đã đề xuất ở lớp thực nghiệm, cụ thể là lớp 11A2 Sau đó chúng tôi tiến hành dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo giáo án truyền thống ở lớp đối chứng, cụ thể là lớp 11A3 Đây là 2 lớp với học lực của học sinh là tương đương nhau, nhằm mang lại kết quả chính xác nhất.
3.5.2 Định hướng dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS
A Về mục tiêu dạy học
Mục tiêu bài học của bài: “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển các năng lực cho người học Các nội dung ở mỗi phần đưa ra phải bám sát vào chuẩn kiến thức kĩ năng theo quy định của Bộ Giáo Dục, bám sát vào nội dung bài học có trong SGK, và phải phù hợp với trình độ nhận thức của
HS Cụ thể như sau:
- Hiểu được mục đích, yêu cầu, khái niệm của thao tác lập luận bác bỏ; các dạng bác bỏ và cách xây dựng lập luận bác bỏ.
- Biết cách bác bỏ một ý kiến, quan niệm sai lầm.
- Một số vấn đề xã hội và văn học
- Rèn kĩ năng bác bỏ vấn đề, các kĩ năng sau:
+ Tự nhận thức bài học cho bản thân
+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ
- Từ đó, HS có thể hình thành các năng lực sau:
+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến ngữ liệu
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các ngữ liệu
+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa thao tác lập luận bác bỏ
+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận
- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch.
B Về nội dung dạy học Đối với nội dung dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn
11, tập 2) theo hướng phát triển năng lực học sinh, chúng tôi xây dựng nội dung bài học có một vài điểm khác so với SGK chuẩn Ngữ văn 11, tập 2 như sau:
I Thao tác lập luận bác bỏ
1 Khái niệm a Ví dụ b Nhận xét
2 Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận bác bỏ
3 Một số dạng bác bỏ a Bác bỏ cách lập luận b Bác bỏ luận cứ c Bác bỏ luận điểm
II Cách xây dựng lập luận bác bỏ
C Về phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học
- Về phương pháp dạy học: Đối với dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực về phương pháp dạy cần sử dụng những phương pháp sau: Vấn đáp, thảo luận nhóm, bình giảng…
- Về hình thức: Khi dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực cần dạy học theo các hình thức như: Tổ chức các hoạt động dạy học theo mô hình VNEN nhằm phát triển năng lực HS, dạy học theo lớp kết hợp với dạy học theo nhóm.
- Về phương tiện dạy học: Khi dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” (SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực cần kết hợp sử dụng những phương tiện: SGK Ngữ văn 11, tập 2; SGV Ngữ văn 11, tập 2; giáo án; máy tính; máy chiếu; phiếu học tập…
D Về kiểm tra đánh giá Đối với kiểm tra đánh giá, GV nên đưa những vấn đề trong thực tiễn,những vấn đề trong cuộc sống vào đề kiểm tra để đánh giá được mức độ nắm bài cũng như kĩ năng của HS Từ đó tạo lập được kĩ năng giao tiếp trong cuộc sống một cách tốt hơn.
Đề xuất giáo án mới dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực cho HS
Nội dung chủ yếu của thực nghiệm là tiến hành dạy học theo 2 loại giáo án khác nhau: giáo án thực nghiệm (dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ” trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 theo định hướng phát triển năng lực cho HS) và giáo án đối chứng (giáo án truyền thống) Sau đợt thực nghiệm, HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng được tiến hành kiểm tra trong cùng một điều kiện với cùng một đề kiểm tra 15 phút mà chúng tôi đã thiết kế để đánh giá kết quả Để tiến hành dạy thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành thiết kế giáo án sau:
Qua sự tham khảo một số giáo án của giáo viên một số trường, tham khảo trên internet… chúng tôi có thiết kế một giáo án của bài “Thao tác lập luận bác bỏ”(SGK Ngữ văn 11, tập 2) theo định hướng phát triển năng lực học sinh như sau:
THAO TÁC LẬP LUẬN BÁC BỎ
- Giúp học sinh nắm được khái niệm thao tác LLBB, yêu cầu và cách sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận.
- Giúp học sinh biết bác bỏ một ý kiến sai, thiếu chính xác về văn học và xã hội.
- Bác bỏ những ý kiến sai
- Biết vận dụng thao tác lập luận bác bỏ khi viết một đoạn văn, một bài văn nghị luận Có kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận.
- Rèn kĩ năng bác bỏ vấn đề bao gồm:
+ Tự nhận thức bài học cho bản thân
+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ.
- Có quan điểm, lập trường vững vàng, bảo vệ những ý kiến đúng đắn, bác bỏ các quan điểm, ý kiến sai lệch
- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến ngữ liệu
- Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các ngữ liệu
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa thao tác LLBB
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, phản biện.
- SGK Ngữ văn 11, tập 2; SGV Ngữ văn 11, tập 2; Máy chiếu
- Bộ câu hỏi định hướng.
- Các phiếu đánh giá, phiếu câu hỏi (trước khi bắt đầu Thực nghiệm: phiếu điều tra người học, hợp đồng học tập; trong khi thực hiện thực nghiệm: phiếu học tập định hướng, phiếu tự đánh giá; kết thúc thực nghiệm: thông tin phản hồi, phiếu đánh giá, tổng kết).
- Chuẩn bị các dụng cụ, phương tiện để hoàn thành thực nghiệm: sách giáo khoa,vở ghi, vở soạn, bút, bản báo cáo sau thực nghiệm.
- Tổ chức các hoạt động dạy học theo mô hình VNEN nhằm PTNL HS.
- Vận dụng kết hợp các phương pháp: vấn đáp; truyền đạt trực tiếp; thảo luận nhóm; phân tích mẫu kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cực
D Tổ chức hoạt động dạy - học
Câu 1: Vì sao‘‘Vội vàng’’được coi là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ Xuân Diệu trước cách mạng Tháng 8?
A Vì bài thơ thể hiện triết kí sống vội vàng của Xuân Diệu.
B Vì bài thơ bộc lộ niềm khát khao giao cảm với đời và nhiều sáng tạo mới lạ trong hình thức thể hiện (Đáp án đúng)
C Vì bài thơ phô bày mọi vẻ đẹp của thiên đường trần thế.
D Vì bài thơ thể hiện cái nhìn nhạy cảm với thời gian của Xuân Diệu.
‘‘Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già’’
Xuân Diệu đã thể hiện quan niệm về thời gian như thế nào?
A Thời gian luân chuyển tuần hoàn
B Thời gian tĩnh tại và chậm chạp
C Thời gian phát triển theo đường thẳng, không quay trở lại (Đáp án đúng)
* Hoạt động 1 : Trải nghiệm (khởi động)
GV: Kể một câu chuyện cười.
Có một chàng ngốc có nói rằng:
‘‘Vợ mình con của người ta Con mình do vợ sinh ra Ngẫm đi nghĩ lại chẳng bà con chi.’’
Theo em cách lập luận này của chàng ngốc là đúng hay sai? Nếu em cho là sai thì em có phản bác hay phủ định ý kiến này không?
GV: Đó là cách phủ định vấn đề mà mình cho là không đúng Thao tác này trong văn nghị luận gọi là thao tác lập luận bác bỏ Vậy bác bỏ là gì? Thao tác lập luận bác bỏ là gì? Cách bác bỏ như thế nào? Ngày hôm nay cô và các em sẽ đi tìm hiểu một thao tác nữa trong văn nghị luận, đó là thao tác lập luận bác bỏ.
GV: chia lớp thành 2 nhóm lớn tương ứng và nêu câu hỏi.
+ Bằng kiến thức đã học, một em nhắc lại lập luận là gì?
+ Thế nào là bác bỏ?
HS trả lời câu hỏi ra giấy, nhóm nào xong mang sản phẩm lên dán trên bảng Nhóm nào xong trước và câu trả lời đúng là chiến thắng.
(Lập luận là đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để làm cho người đọc, người nghe hiểu rõ tư tưởng mà mình định trình bày.
Bác bỏ là bác đi, gạt đi, không chấp nhận, tìm cách đưa ra những lí lẽ để chứng minh một sự việc, một ý kiến nào đó sai trái, không đúng sự thật.) Cả lớp cho nhóm thắng 1 tràng vỗ tay.
Hoạt động 2: Hoạt động khám phá (hình thành kiến thức)
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt
TT1 Tìm hiểu về thao tác lập luận bác bỏ
GV định hướng HS tìm hiểu vấn đề
GV đưa ra ví dụ.
+ Em có đồng tình với ý kiến này không? Vì sao?
+ Vậy em bác bỏ cái gì?
( Bác bỏ nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm ‘‘Chữ người tử tù’’ của
Nguyễn Tuân là một người bình thường như bao bậc anh hùng khác và cũng không quá tài giỏi.)
+ Bác bỏ bằng cách nào?
(Đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để bác bỏ ý kiến trên là sai trái)
+ Em hãy đưa ra những lí lẽ, dẫn
I Thao tác lập luận bác bỏ
Có ý kiến cho rằng : Nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm ‘‘Chữ người tử tù’’ của Nguyễn Tuân là một người bình thường như bao bậc anh hùng khác và cũng không quá tài giỏi.
- Huấn Cao là một nho sĩ tài hoa :
+ Tài văn : viết chữ rất nhanh và rất đẹp
+ Tài võ: bẻ khóa, vượt ngục
- Huấn Cao là người có thiên lương trong sáng: kiến của mình?
HS: Tìm tòi, trả lời
GV: Từ ví dụ trên, theo em thế nào là thao tác lập luận bác bỏ?
GV: Nhận xét, chốt kiến thức
GV: Trong thực tế đời sống có rất nhiều ý kiến sai cần được phản biện, bác bỏ nhằm đề cao, khẳng định ý kiến đúng để hướng tới chân lí Muốn vậy mọi người cần phải biết cách bác bỏ.
GV: Trong đời sống hằng ngày, em có thường bắt gặp những quan điểm ý kiến sai lệch không?
HS: Trong đời sống hằng ngày thường bắt gặp những ý kiến, quan điểm sai lệch.
GV: Vậy khi bắt gặp những quan điểm, ý kiến sai lệch đó em cần làm gì? Và ngược lại, khi bắt gặp những quan điểm, ý kiến đúng đắn em phải làm gì?
HS: - Khi bắt gặp quan điểm, ý kiến sai lệch thì cần bác bỏ ý kiến đó, đưa ra dẫn chứng, lí lẽ chứng minh cho
+ Ít chịu cho chữ những người không tri kỉ
+ Không vì vàng ngọc, quyền thế ép mình viết câu đối bao giờ
+ Nhận lời cho chữ viên quản ngục do cảm kích tấm lòng biệt nhỡn liên tài
- Huấn Cao là người có khí phách hiên ngang:
+ Dám chống lại triều đình mà ông căm ghét.
+ Hành động dỗ gông và coi khinh lời dọa dẫm của tên lính áp giải.
+ Thản nhiên nhận rượu thịt như việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh b Nhận xét
Thao tác lập luận bác bỏ là dùng lí lẽ, dẫn chứng, chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch,thiếu chính xác… từ đó nêu ý kiến của mình để thuyết phục người đọc,người nghe. điều đúng
- Khi bắt gặp những quan điểm, ý kiến đúng đắn thì bày tỏ quan điểm, bênh vực những cái đúng.
GV: Vậy khi bác bỏ hay bênh vực một quan điểm, ý kiến thì ta phải dùng những lí lẽ như thế nào?
HS: Dùng những lí lẽ, lí luận sâu sắc, giàu tính thuyết phục.
GV: Một em hãy cho biết, mục đích của thao tác lập luận bác bỏ là gì?
GV: Để LLBB có sức thuyết phục cần đảm bảo những yêu cầu gì?
GV: Chia lớp thành 3 nhóm, phát phiếu học tập cho 3 nhóm để hoàn thành :
+ Nhóm 1 : Phân tích ngữ liệu 1
+ Nhóm 2 : Phân tích ngữ liệu 2
+ Nhóm 3 : Phân tích ngữ liệu 3
GV: Đặt câu hỏi cho cả 3 ngữ liệu,yêu cầu các nhóm trả lời những câu hỏi sau :
- - Nội dung nào bị bác bỏ?
- - Bác bỏ bằng cách nào? (lí lẽ, dẫn chứng)
- - Ý kiến nêu ra nó sai ở chỗ nào? (luận
- - Bác bỏ những quan điểm, ý kiến không đúng.
- - Bày tỏ, bênh vực những quan điểm, ý kiến đúng.
Lí luận, lí lẽ sâu sắc, giàu tính thuyết phục.
- - Nắm chắc sai lầm của quan điểm, ý kiến cần bác bỏ
- - Dưa ra lí lẽ, bằng chứng thuyết phục
- Thái độ: thẳng thắn, cẩn trọng, chừng mực, phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng tranh luận.
3 Một số dạng bác bỏ a Bác bỏ cách lập luận
*Ví dụ : Ngữ liệu 1 SGK T24,25
- Nội dung bác bỏ : ý kiến ‘‘Nguyễn
Du là con bệnh thần kinh ’’.
+ Chỉ ra sự suy diễn vô căn cứ :
- - Rút ra nhận xét về cách bác bỏ (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
HS: Thảo luận, điền vào phiếu học tập trong 5 phút, sau đó dán kết quả hoạt động nhóm và cử một đại diện trình bày lại kết quả.
- - Nội dung nào bị bác bỏ?
- - Bác bỏ bằng cách nào? (lí lẽ, dẫn chứng)
- - Ý kiến nêu ra nó sai ở chỗ nào? (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
- - Rút ra nhận xét về cách bác bỏ (luận điểm, luận cứ, cách lập luận
- - Nội dung nào bị bác bỏ?
- - Bác bỏ bằng cách nào? (lí lẽ, dẫn chứng)
- - Ý kiến nêu ra nó sai ở chỗ nào? (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
- - Rút ra nhận xét về cách bác bỏ (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
Mắc bệnh (bài Mạn hứng, U cư)
Khiếu ảo giác (bài Văn tế thập loại chúng sinh)
Mấy bài thơ tả nỗi sầu muộn và sợ hãi
Quyết đoán rằng Nguyễn Du mắc chứng loạn thần kinh
+ So sánh với những thi sĩ nước ngoài có trí tưởng tượng kí dị tương tự Nguyễn Du : ‘‘Có những thi sĩ
Anh Cát Lợi, Na Uy, Đan Mạch thường sẵn thứ tưởng tượng kì dị, có khi quái dị ấy’’
Bác bỏ cách lập luận
* Nhận xét : Bác bỏ cách lập luận là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic trong lập luận của đối phương, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận. b Bác bỏ luận cứ
*Ví dụ : Ngữ liệu 2 SGK T25
- Nội dung bác bỏ : ý kiến ‘‘ Tiếng nước mình còn nghèo nàn’’.
+ Trực tiếp phê phán : ‘‘Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả’’
+ Phân tích bằng lí lẽ và dẫn chứng :
Lí lẽ : ‘‘Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người
- - Nội dung nào bị bác bỏ?
- - Bác bỏ bằng cách nào? (lí lẽ, dẫn chứng)
- - Ý kiến nêu ra nó sai ở chỗ nào? (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
- - Rút ra nhận xét về cách bác bỏ (luận điểm, luận cứ, cách lập luận)
GV: Gọi nhóm khác nhận xét, sau đó
GV nhận xét, đối chiếu kết quả (sử dụng máy chiếu).
GV: Đưa ra một ví dụ:
Có ý kiến cho rằng: không nên kết bạn với những người học yếu
GV: Để bác bỏ ý kiến này em sẽ làm theo mấy bước, đó là những bước nào?
(GV gợi dẫn để HS tìm ra các bước lập luận bác bỏ).
HS: Tư duy và trả lời phụ nữ và nông dân An Nam nào.’’
Dẫn chứng : ‘‘Ngôn ngữ của
Nguyễn Du nghèo hay giàu ?’’ ; ‘‘Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự ?’’
+ Tìm nguyên nhân của luận cứ sai lệch : ‘‘sự bất tài của con người’’
*Nhận xét : bác bỏ luận cứ tức là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng. c Bác bỏ luận điểm
*Ví dụ : Ngữ liệu 3 SGK T25,26
- Nội dung bác bỏ : ý kiến ‘‘ Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi !’’
+ So sánh tác hại của rượu và tác hại của thuốc lá :
Uống rượu thì chỉ người uống chịu.
Hút thuốc thì những người ở gần người hút cũng hít phải luồng khói độc.
+ Phân tích tác hại của những người hút thuốc lá gây ra :
Đầu độc, gây bệnh cho những người xung quanh
Làm nhiễm độc, suy yếu thai nhi.
Nêu gương xấu cho con trẻ.
* Nhận xét : Bác bỏ luận điểm tức là vạch ra cái sai của bản thân luận điểm.
II Cách xây dựng lập luận bác bỏ
1 Bước 1 : Xác định nội dung cần bác bỏ và mục đích bác bỏ
- Nội dung bác bỏ : ‘‘Không nên kết bạn với những người học yếu’’
- Mục đích : chỉ ra cái sai của luận điểm trên
2 Bước 2 : Phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác và tìm những dẫn chứng để minh họa, lựa chọn phương thức lập luận
- Phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác của bản thân luận điểm (luận cứ, cách lập luận), đưa ra những dẫn chứng cụ thể.
- Lựa chọn phương thức biểu đạt : diễn dịch ; quy nạp
1 Bước 3 : Diễn đạt đoạn văn, bài văn LLBB theo cấu trúc đoạn văn, bài văn.
* Hoạt động3 : Hoạt động thực hành
Bài tập 1: (Dạng bài tập nhận diện) Đọc đoạn văn sau, cho biết đoạn văn bác bỏ cái gì? LLBB sử dụng ở dạng nào? Và hãy lí giải tại sao?
Người ta thường nói: “Cứng quá thì gãy” Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm?
Ngô Tử Văn là một chàng áo vải Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.
(Nguyễn Dữ, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên)
Bài tập 2: (Dạng bài tập tạo lập.)
GV chia lớp làm 4 nhóm Mỗi nhóm thực hiện một yêu cầu.
Em sẽ sử dụng những ý kiến gì để bác bỏ những tình huống sau: a Có ý kiến cho rằng nghệ sĩ Hoài Linh không tài giỏi chút nào. b Có ý kiến cho rằng “Chí Phèo” là một tác phẩm mà Nam Cao đã làm hạ thấp đi nền văn học Việt Nam. c Mẹ em cho rằng em thích hợp với nghề dạy học, nhưng em lại thích nghề khác d Có ý kiến cho rằng: thể thao nước nhà Việt Nam quá kém.
Bài tập 3: (Dạng bài tập sửa chữa.)
Từ sản phẩm của bài tập 2, GV đảo sản phẩm của các nhóm để nhận xét, sửa chữa.
Em hãy sửa chữa, nhận xét sản phẩm của nhóm bạn qua bài tập 2 (nếu có cái sai).
* Hoạt động 4: Hoạt động ứng dụng
Bài tập 4: Em hãy đối thoại về việc bác bỏ một tình huống thực tiễn mà em cho là đang nóng nhất trên mạng xã hội hiện nay
(GV: Mời 2 HS lên bảng đối thoại trực tiếp về tình huống mà các em chọn.
HS: Đối thoại bác bỏ tình huống đã chọn.
* Nhận xét giờ học: - Để HS tự đánh giá giờ học của mình.GV: Nhận xét lại.
*Hoạt động 5: Hoạt động bổ sung
Xây dựng bài tập, đề kiểm tra trong dạy học bài “Thao tác lập luận bác bỏ”
3.7.1 Xây dựng bài tập nhằm phát triển năng lực lập luận bác bỏ khi viết bài văn nghị luận cho HS Để rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức cho HS, chúng tôi có xây dựng hệ thống bài tập bài “Thao tác lập luận bác bỏ” theo định hướng phát triển năng lực
HS, sẽ khiến cho các em chủ động, tích cực và thích thú hơn trong quá trình làm bài, các em có thể sáng tạo, không bị gò bó bởi chủ yếu những bài tập chúng tôi đưa ra là để các em thỏa sức lựa chọn, sáng tạo, phát huy những mặt mạnh của mình Chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập theo các loại bài tập: bài tập nhận diện; bài tập tạo lập; bài tập đánh giá, sửa chữa Sau đây là hệ thống bài tập mà chúng tôi xây dựng.
HỆ THỐNG BÀI TẬP (Bài Thao tác lập luận bác bỏ)
1 Bài tập 1: Đọc các văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu ở dưới. a “Một hôm vua Vũ Đế nhà Hán nói với các quan rằng:
- Ta xem trong sách tướng có nói: Người ta nhân trung dài một tấc thì sống lâu một trăm tuổi. Đông Phương Sóc đứng bên thì cười Các quan cho là vô phép Đông Phương Sóc cất mũ, tạ rằng:
- Muôn tâu bệ hạ, kẻ hạ thần không dám cười bệ hạ, chỉ cười ông Bành Tổ mặt dài mà thôi
Vua hỏi: “ Sao lại cười ông Bành Tổ?”. Đông Phương Sóc nói:
-Tục truyền ông Bành Tổ sống tám trăm tuổi, nếu quả thực như câu trong sách tướng bệ hạ vừa nói, thì nhân trung ông dài tám tấc, mà nhân trung ông dài tám tấc thì mặt ông dễ dài đến một trượng.
Vua Vũ Đế nghe nói, bật cười, tha tội cho”.
(Theo Nguyễn Văn Ngọc – Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, sđd ) b “Có người nước Sở bán thuẫn và mâu Anh ta khoe cái thuẫn (cái khiên):
- Cái thuẫn của tôi chắc, không có cái gì đâm nó thủng được.
Anh ta lại khoe cái mâu (cái giáo):Cái mâu của tôi sắc, đâm cái gì cũng thủng.
Có người hỏi: Nếu lấy cái mâu của anh mà đâm cái thuẫn của anh thì như thế nào?
Người kia không có cách gì trả lời”.
(Theo Hàn Phi Tử, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1990) c “Một anh nông dân kiện một tên nhà giàu ăn trộm trâu của mình Tên nhà giàu thì vẫn khăng khăng cho con trâu ấy là của hắn Quan xử kiện – ông phủ Tuấn – hỏi hắn:
- Nhà mi có mấy con trâu?
- Mi có biết đặc điểm chi về con trâu ni không?
Tên nhà giàu kể vanh vách về từng đặc điểm của con trâu ấy: cao bao nhiêu, mình dài bao nhiêu, đuôi dài bao nhiêu thước ta; có mấy răng; mấy khoáy, các khoáy nằm ở chỗ nào; sừng bên trái dài hơn bên phải mấy phân…
Quan phủ Tuấn quay lại hỏi người nông dân Anh này thưa:
- Bẩm quan, nhà con chỉ có một con trâu nớ Khi đặt ách cày vô cổ hắn, con lấy tay gãi gãi vô cổ, hắn thè lưỡi ra liếm vô tay con.
Anh đặt ách cày vào cổ trâu, lấy tay gãi nhẹ cổ nó Con trâu thè lưỡi liếm mãi tay anh.
- Bên bị! Các con trâu còn lại của anh có đặc điểm chi? Tên nhà giàu đứng thuỗn mặt Phủ Tuấn vỗ đùi đánh đét, cười ha hả:
- Thế là trắng đen đã rõ Xưa nay nuôi trâu có ai đi đêm đo từng đặc điểm của trâu bao giờ!.
(Theo Giai thoại văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hà Nội, 1986)
Câu hỏi:Những mẩu chuyện trên có chứa lập luận bác bỏ không? LLBB sử dụng ở dạng nào? Chỉ rõ biểu hiện của dạng lập luận bác bỏ đó trong ngữ liệu?.
2 Bài tập 2: Em hãy chọn 1 tình huống mà em thích nhất và bác bỏ ý kiến. a Có ý kiến cho rằng: thời đại bây giờ không nên nghe những ca khúc trữ tình, nó làm cho con người u sầu, buồn bã và không tiến bộ được. b Có ý kiến cho rằng: không nên chơi với những người học yếu c Có ý kiến cho rằng: học môn Ngữ văn chẳng có tác dụng gì cả. d Có ý kiến cho rằng: thơ Xuân Diệu toàn chứa những điều sầu não.
3 Bài tập 3: Em hãy đọc đoạn văn sau và bổ sung, sửa chữa (nếu có)
Quan niệm: “Không nên chơi với những người học yếu” là hoàn toàn sai lầm, vì sống trên đời cần phải giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ Sự lớn mạnh của người này sẽ là điểm tựa, đồng thời cũng chính là sự lớn mạnh, tiến bộ của người khác Đối với bản thân tôi, thì quan niệm đó là hoàn toàn sai lầm và cần sửa chữa Có một số người rất cố gắng vươn lên, có thái độ cầu tiến… Như vậy cần phải giúp đỡ những người học yếu để cùng nhau cố gắng.
4 Bài tập 4: Hãy xây dựng một lập luận để bác bỏ ý kiến cho rằng: một cuộc sống cá nhân gặp quá nhiều đau khổ, bất hạnh là một cuộc sống vô nghĩa. Khi đánh giá bài làm của HS, GV có thể đưa ra một đoạn văn ví dụ:
Nếu vậy, mục đích duy nhất của con người chỉ là cầu cho sung sướng, sướng không được thì đời tuyệt nhiên không còn gì nữa hay sao?
Không! Vì may thay, không phải chỉ có hạnh phúc cá nhân ở trên đời Ta không có quyền chỉ nghĩ đến mình ta Chúng ta cần hoạt động vì người, sống có ích về vật chất, tinh thần, làm tròn bổn phận trong cõi nhân sinh, nâng đỡ kẻ không may lâm vào vòng cùng khổ.
Cây cứng mềm chỉ tỏ rõ gặp khi gió cả! Ta phải vượt lên trên mọi đau buồn chán nản, ra ngoài đời cá nhân nhỏ hẹp, để tham gia vào công cuộc tranh đấu chung của dân tộc và nhân loại.
Nếu ở đời chỉ có hạnh phúc cá nhân thì khi mất nó, ta sẽ sống bằng gì? Hãy gạt bỏ thứ hạnh phúc nhỏ hẹp ra ngoài Ta sống bằng hành động: hành động vì những mục đích cao quý , vị tha Ta sống bằng bổn phận: bổn phận đấu tranh cho con người ở ta, ở đồng bào ta, ở khắp thế giới này được thành người.
Ta sống bằng lí tưởng, bằng hi sinh, hi sinh hạnh phúc cá nhân mình, vì sự vị tha sẽ nâng cao giá trị ta lên và sẽ biến thành một nguồn hạnh phúc cho kẻ biết vì người chịu khổ (Theo Nghiêm Toản, Luận văn thị phạm, NXB Thế giới, Hà