1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Sáng kiến kinh nghiệm) chuyên đề giá trị nhân đạo trong truyện kiều của nguyễn du

36 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 288 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là việc làm góp phần phát hiện, bồi dưỡng, tiến tớiđào tạo một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội – lao động sáng tạo nghệ thuật.Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong nhữ

Trang 1

CHUYÊN ĐỀGIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU

Người thực hiện: Phạm Thị Hồng Huế

Đơn vị công tác: Trường THCS Liên Bảo- Thành phố Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc

Trang 2

IV Phương pháp nghiên cứu

B Nội dung chuyên đề:

I Lý thuyết

1 Tiếng nói thương cảm với số phận bi kịch của con người nhất là người phụ nữ

2 Tiếng nói lên án, tố cáo đanh thép sự tàn bạo của chế độ phong kiến

3 Tiếng nói ngợi ca, trân trọng, khẳng định tài năng, nhân phẩm của con người.4.Tiếng nói đồng tình với những khát vọng, ước mơ chính đáng của con người

II Ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn chuyên đề

Văn học là nhân học( M.Góoc-ki).Văn học là cuốn sách về cuộc đời, phản

ánh đời sống, số phận con người ở mọi thời đại, đấu tranh cho quyền sống, quyền

hạnh phúc của con người Văn học chắp đôi cánh để các em đến với mọi thời đại

văn minh, mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em niềm tin vào cuộc sống, trang

bị vốn sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân - thiện – mĩ

Nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn Ngữ văn là phải giúp học sinh hiểuđược cái hay, cái đẹp của văn học, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh; tạo

ra được những rung động thẩm mĩ sâu sắc khiến các em say mê Từ tác phẩm vănchương, những cảm xúc thẩm mĩ phải được uốn nắn, định hướng và bồi dưỡngnâng lên thành năng lực thẩm mĩ đúng đắn Muốn đạt được mục tiêu đó, bên cạnhviệc dạy học sinh đại trà theo chuẩn kiến thức kĩ năng cần chú trọng đến công tácbồi dưỡng học sinh giỏi Đây là việc làm góp phần phát hiện, bồi dưỡng, tiến tớiđào tạo một lực lượng lao động đặc biệt của xã hội – lao động sáng tạo nghệ thuật.Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những công tác trọng tâm trong nhàtrường, tác động thiết thực vào việc nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũthầy, cô giáo, nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần bồi dưỡng nhân tài cho đấtnước

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc khó khăn, đòi hỏi người giáo viênphải có kiến thức, năng lực chuyên môn, có lòng nhiệt tình, có những tìm tòi, sángtạo Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy một trong những nguyên nhân có được sựthành công là bên cạnh những kiến thức cơ bản được trang bị ở giờ học chính khoácần có những chuyên đề mang tính chất tổng hợp, nâng cao trong quá trình bồidưỡng học sinh giỏi để học sinh có cái nhìn thấu đáo, sâu sắc về giá trị của văn học

Trang 4

Từ đó các em cảm thụ và thẩm thấu văn chương một cách tốt hơn Đó là lý do thứ

nhất nhất tôi chọn chuyên đề Giá trị nhân đạo trong“Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Lý do thứ hai tôi tìm hiểu, nghiên cứu chuyên đề này là bởi “ Truyện Kiều” làmột kiệt tác đỉnh cao của nền văn học dân tộc Đồng thời có một vị trí quan trọngtrong chương trình Ngữ văn THCS Đây là tác phẩm duy nhất được bố trí một tiếtgiới thiệu về tác giả, tác phẩm và được học tới ba đoạn trích Những đoạn tríchđược lựa chọn nhằm giúp học sinh tiếp cận với nhiều phương diện đặc sắc về nộidung và nghệ thuật của “ Truyện Kiều” Có nhiều yếu tố làm nên sức sống của tácphẩm song có thể khẳng định giá trị nhân đạo là nội dung quan trọng nhất của“Truyện Kiều”

Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn chuyên đề Giá trị nhân đạo trong

Truyện Kiều của Nguyễn Du.

II Cơ sở khoa học của chuyên đề

1 Cơ sở lí luận

Chúng ta đã biết, một nền văn học chân chính bao giờ cũng có giá trị nhânvăn sâu sắc Một trong những giá trị nhân văn ấy chính là cảm hứng nhân đạotrong văn học Nền văn học trung đại ra đời cách đây khá xa Nó tồn tại và pháttriển trong khuôn khổ của xã hội phong kiến Nó chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhữngluồng tư tưởng trong xã hội ấy Cho đến nay, nền văn học trung đại với những tácphẩm tiêu biểu vẫn được người Việt Nam trân trọng, ca ngợi và gìn giữ Vậy điều

gì đã làm nên sức sống vĩnh hằng ấy? Cảm hứng yêu nước hay cảm hứng nhânvăn? Có lẽ cả hai

Có thể nói, một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học nóichung, văn học trung đại nói riêng là cảm hứng nhân đạo Nó như mạch nước ngầmkhông bao giờ vơi cạn trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc Chính cảmhứng này đã rung lên trong trái tim người đọc những cảm xúc, yêu thương, bởi nó

đề cập tới những gì là bản chất của con người Mà tác phẩm tiêu biểu cho nguồncảm hứng ấy chính là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du Vì vậy, nghiên cứu giá trịnhân đạo trong tác phẩm này là hoàn toàn có cơ sở để từ đó ta có thể tìm hiểu giátrị ấy thông qua nhiều tác phẩm cùng giai đoạn, cùng một nền văn học Đồng thờigiúp học sinh có khả năng nhận biết, khai thác vấn đề này vừa đúng, vừa sâu trên

cơ sở khái quát, tổng hợp

2 Cơ sở thực tiễn

Một thực tế mà chúng ta dễ nhận thấy, hiện nay chất lượng dạy học môn Ngữvăn ở nhà trường còn hạn chế Môn học này chưa được học sinh yêu thích thực sự,trong đó phần văn thơ trung đại các em càng ngại học Hơn nữa do xu thế của xãhội, phần lớn những học sinh có nhận thức tốt thường thích môn khoa học tự nhiên,ngoại ngữ Một số phụ huynh không muốn cho con em tham gia đội tuyển Văn Vìvậy, việc chọn học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng môn Ngữ văn thật sự nhọcnhằn

Một khó khăn nữa của giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn đó làvấn đề tài liệu; những bài viết mang tính chất chuyên sâu, tổng hợp, khái quát vấn

Trang 5

đề trên các sách báo còn quá ít Hơn nữa, đội ngũ giáo viên chúng ta hiện nay số trẻtuổi ngày càng đông, vốn hiểu biết về văn học trung đại nói chung và tác phẩm

“Truyện Kiều” nói riêng còn hạn chế

Qua việc trực tiếp bồi dưỡng, nắm bắt tình hình thực tế thông qua trao đổivới các giáo viên về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong tổ, nhóm chuyên môn

và các trường bạn, tôi nhận thấy việc tìm hiểu để bồi dưỡng về giá trị của TruyệnKiều cho học sinh giỏi là một vấn đề khó Đặc biệt khi tìm hiểu về giá trị nhân đạotrong tác phẩm và qua các đoạn trích đã học, nhiều học sinh và một số giáo viêncòn có những hiểu biết chưa rõ ràng, thiếu tính lý luận về vấn đề này Vậy để nângcao chất lượng giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi xuất phát từ cơ sở lí luận, cơ

sở thực tiễn trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu, trao đổi và đề cập tới chuyên đề Giá trị

nhân đạo trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

III Phạm vi, đối tượng, mục đích của chuyên đề.

1 Đối tượng nghiên cứu

- Giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

- Chuyên đề này phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9

- Số tiết bồi dưỡng: 3 tiết

2 Phạm vi nghiên cứu

Bàn về giá trị của “Truyện Kiều” không phải là một vấn đề nhỏ dễ viết, vìthế trong phạm vi của chuyên đề, tôi chỉ xin dừng lại ở việc tìm hiểu giá trị nhânđạo trong tác phẩm Với vấn đề cơ bản trên, tôi đi sâu nghiên cứu tìm hiểu các văn

bản được học trong chương trình Ngữ văn 9 gồm bài giới thiệu “Truyện Kiều” của

Nguyễn Du và các đoạn trích (Chị em Thuý Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích), các đoạn trích được giới thiệu trong sách giáo khoa đồng thời tập hợp

thêm những tư liệu trong “Truyện Kiều” ở mức độ phù hợp với học sinh THCS đểlàm nổi bật những biểu hiện cụ thể của giá trị nhân đạo

3 Mục đích.

Bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm phát hiện tài năng, nâng cao năng lực cảm thụvăn chương cho học sinh là một việc làm thiết thực Muốn đạt được kết quả tốt thìnhất thiết phải có những chuyên đề có tính chuyên sâu, khái quát đối với học sinhgiỏi Đó là mục đích cơ bản giúp tôi nghiên cứu chuyên đề này Đồng thời quachuyên đề giáo viên giúp học sinh có những hiểu biết đầy đủ sâu sắc về giá trị nhânđạo trong ‘Truyện Kiều”, hiểu được trái tim giàu tình yêu thương của Nguyễn Du.Qua đó các em hoàn thiện nhân cách của mình Mặt khác, chuyên đề này còn giúphọc sinh có đầy đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện những chuyên đề khác phục

vụ cho quá trình nâng cao kiến thức bộ môn, khơi dậy ở các em niềm say mê, tìmtòi, nghiên cứu Đây cũng là cơ sở, là việc làm cần thiết của bản thân tôi trong quátrình tự học nhằm nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn

IV Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tôi đãtiến hành nghiên cứu, tìm hiểu bắt nguồn từ những cơ sở mang tính lí luận như:Nhân đạo là gì? Những biểu hiện cụ thể của giá trị nhân đạo trong văn học trung

Trang 6

đại? Từ đó dùng lí luận soi vào tác phẩm “Truyện Kiều” để tìm ra giá trị ấy thôngqua một hệ thống luận điểm, luận cứ và cách lập luận chặt chẽ giàu sức thuyết phụcbằng các phép lập luận cụ thể như giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, sosánh, khái quát, tổng hợp; chú ý bám sát các đoạn trích được học trong chươngtrình kết hợp vói việc nâng cao, mở rộng kiến thức ở mức độ phù hợp với học sinhgiỏi bậc THCS.

B NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

“Truyện Kiều” - kiệt tác bất hủ của nền văn học dân tộc và văn học nhân loại mộtnỗi niềm thương cảm với những yêu ghét rạch ròi Vì vậy, có thể nhận thấy giá trị

lớn nhất của Truyện Kiều là nội dung nhân đạo sâu sắc Cảm hứng chủ đạo này

được thi hào Nguyễn Du thể hiện bằng cả tâm huyết cao đẹp và tài năng kiệt xuấtcủa mình

Để có cái nhìn đúng đắn, sâu sắc về vấn đề, trước hết chúng ta cần nhận thức

rõ nội dung nhân đạo Nhân đạo là những cách ứng xử tốt đẹp nhất, nhân văn nhấttrong quan hệ giữa con người với con người Nó thể hiện ở lòng yêu thương conngười, đặc biệt là những kiếp người bất hạnh trong cuộc sống, là sự trân trọng giátrị con người Cốt lõi của nhân đạo chính là lòng yêu thương con người Chủ đề này

có nhiều biểu hiện cụ thể, phong phú, đa dạng Tuy vậy có thể thấy một số biểuhiện chủ yếu của giá trị nhân đạo trong văn học trung đại như sau:

Đó là tiếng nói thương xót, đồng cảm sâu sắc với số phận bi thảm của conngười (nhất là người phụ nữ); lên án, tố cáo những thế lực phong kiến bạo tàn đãchà đạp, dập vùi những cuộc đời lương thiện; ngợi ca, đề cao, trân trọng, khẳngđịnh tài năng và nhân phẩm của con người; đồng tình với những ước mơ, khát vọngchính đáng của con người Từ cơ sở trên, chúng ta có thể nhận thấy giá trị nhân đạođược biểu hiện như thế nào trong “Truyện Kiều”? Nhưng để hiểu sâu sắc điều đó tacần đặt nó trong hoàn cảnh xã hội cụ thể Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là thờiđại diễn ra sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến Việt Nam, xã hộiloạn lạc đen tối khiến cho đời sống nhân dân vô cùng điêu linh khốn khổ Trongthời kỳ này, thời kỳ mà con người phải sống trong cảnh “Ma đưa lối, quỷ đưađường/ Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi” đã xuất hiện trào lưu nhân đạo chủnghĩa trong văn học với một loạt nhiều năng lớn như Nguyễn Du, Nguyễn GiaThiều, Hồ Xuân Hương… Trào lưu này hướng tới những con người bị chà đạp,nhất là người phụ nữ Sống trong một xã hội như vậy, các nhà thơ, nhà văn rất cảmthương cho số phận con người nên họ thường đứng trên lập trường nhân sinh đểviết nên những dòng thơ văn bênh vực con người, tố cáo thế lực phong kiến xấu xa,tàn bạo đã đẩy con người đến bước đường cùng Chứng kiến những cảnh đời bi

Trang 7

thảm cùng với thực tế cuộc sống bể dâu mà Nguyễn Du từng nếm trải đã nuôidưỡng trong ông một tình yêu thương vô hạn đối với con người Đây là điều thôithúc nhà thơ đặt ra trong “Truyện Kiều” một vấn đề nóng bỏng nhất của thời đạilúc bấy giờ là “Quyền sống con người và vận mệnh con người” Giá trị nhân đạo

trong Truyện Kiều được thể hiện trên những phương diện cụ thể như sau:

1 Tiếng nói thương cảm với số phận bi kịch của con người (nhất là người phụ nữ)

Truyện Kiều là một tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc, chính

vì vậy mà từ xưa đến nay đã có rất nhiều những trí thức phong kiến, những học giảhiện đại nghiên cứu, đánh giá…về tác phẩm này Mộng Liên Đường chủ nhân(1820) bình luận “…Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắtthấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột.Nguyễn Du dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếukhông phải có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tàinào có cái bút lực ấy

Nếu là một tâm hồn không bị sóng gió vùi dập, một trái tim không thổn thứctrước những nỗi đắng cay của bức tranh thế sự, một lương tâm không phẫn nộ trướcnhững thói đời vô nhân bạc nghĩa, thì Nguyễn Du, dẫu có tài ba lỗi lạc đến đâucũng không tìm ra những âm điệu, những vần thơ khiến cho người đọc trong cuộcnghe như khóc, như than, như uất ức, oán hờn.”

“Truyện Kiều” là tiếng nói thiết tha bảo vệ quyền sống con người Trong vô

số nạn nhân của xã hội xưa, Nguyễn Du đặc biệt trân trọng và xót thương cho sốkiếp mỏng manh, bất hạnh của người phụ nữ có tài sắc Xã hội phong kiến vốn coithường người phụ nữ nhưng Nguyễn Du lại dành cả tấm lòng trọn vẹn của mình vớinhững người phụ nữ bất hạnh Ông đã đi ngược lại thời đại để cảm thông, sẻ chiavới họ Với Nguyễn Du, họ là hình ảnh kết tinh về số kiếp bi đát của con ngườitrong cuộc đời bế tắc Chứng kiến những mảnh đời bất hạnh đang quằn quại trongvũng lầy của xã hội cũ, Nguyễn Du một trái tim lớn đã từng xúc động đến nghẹnlòng.Tiếng khóc của ông trước hết dành cho Đạm Tiên một người con gái tài sắcvẹn toàn mà một thời xuân sắc đã có biết bao người thầm yêu trộm nhớ

Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh.

Nhưng đau đớn thay cuộc đời nàng lại là đời của một ca nhi ê chề đau đớn:

Sống làm vợ khắp người ta, Khéo thay thác xuống làm ma không chồng!

Biết bao người đàn ông đi qua đời nàng nhưng bất hạnh thay, cuối cùng ĐạmTiên lại quay trở lại với con số không tròn trĩnh, xót xa hơn sau khi mất nấm mồcủa nàng chỉ là nấm mồ vô chủ, hoang lạnh, tội nghiệp không hương khói, khôngngười viếng thăm ngay trong ngày lễ tảo mộ:

“Sè sè nấm đất ven đường Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”

Trang 8

Đặc biệt Thuý Kiều là nhân vật mà Nguyễn Du đã dành cho sự yêu thương.Khóc Thuý Kiều, Nguyễn Du khóc cho những nỗi đau lớn của con người khi tìnhyêu tan vỡ; tình cốt nhục lìa tan, nhân phẩm bị chà đạp, thân xác bị đoạ đày.Nguyễn Du như hoá thân vào nàng Kiều trong từng trang viết để cùng đau, cùngbuồn, cùng cất lên tiếng kêu xé ruột Đứng trên bậc thang của xã hội thượng lưu,nhưng tác giả không ngần ngại nói những lời tha thiết để làm dịu bớt nỗi đau củaKiều Thuý Kiều là một con người đầy đau khổ, một số phận đáng thương Có thểnói tạo hoá đã cho Kiều một vẻ đẹp lộng lẫy, đằm thắm và dịu dàng Với vẻ đẹp, tàinăng ấy, nàng là bảo vật của đất trời; là sự kết tinh của những nét tinh hoa Nhữngtưởng nàng được sống một cuộc đời êm đềm, hạnh phúc Nhưng trớ trêu thay, bấthạnh lại rơi đúng vào con người tài hoa ấy Trong cuộc đời, nàng đã khóc với tất cả

sự đau xót của một kiếp người Và quả thật Kiều đã đứng trước muôn vàn nghịchcảnh, đã chịu đựng tới tận cùng thống khổ Trong suốt mười lăm năm lưu lạc củaThuý Kiều, ta không hề thấy bóng dáng của những người thân yêu mà chỉ thấyNguyễn Du lận đận theo Kiều qua từng trang viết

Tai hoạ ập đến với gia đình, Kiều đành phải hy sinh chữ tình để làm tròn chữhiếu Nhưng chỉ có Nguyễn Du mới hiểu đến tận cùng bi kịch của Thuý Kiều khiphải trao duyên cho Thuý Vân, nhờ em thay mình trả nghĩa chàng Kim Nàng giờsống mà như đã chết Biết bao đau đớn khi Kiều nhận ra mình là kẻ phụ bạc:

Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!

Thôi thôi! Thiếp đã phụ chàng từ đây!

Còn gì đau xót xa hơn khi mối tình đầu giữa Thuý Kiều và Kim Trọng vừachớm nở đã vội ly tan Lời thề gắn bó với Kim Trọng vừa trao thì phải bán mìnhcho bọn lưu manh buôn thịt bán người Khóc cho tình cốt nhục bị lìa tan, nhà thơđồng cảm với cảnh kẻ đi người ở trong ngày chia ly giữa Thuý Kiều và gia đình:

“ Đau lòng kẻ ở người đi,

Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.”

Nàng Kiều thuỷ chung, hiếu thảo và tài đức vẹn toàn nhưng phải chịu sự chàđạp thô bạo, xúc phạm ghê gớm, vùi dập thảm thương của bọn bất lương để phảichấp nhận cảnh đời ô nhục Tài sắc như Kiều mà bị đem ra mua bán, cò kè mặc cảnhư một món hàng giữa chợ:

Đắn đo cân sắc, cân tài

Ép cung cần nguyệt thủ bài quạt thơ.

Đây là nỗi đau về cảnh con người bị trở thành hàng hoá, trở thành đồ chơitrong tay bọn có quyền và có tiền Qua đó ta thấy được sự bất công trong xã hội và

sự tàn bạo của chế độ phong kiến Hình ảnh của Kiều thật tội nghiệp xót xa:

“ Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” Nỗi lòng nàng đau đớn tái tê quá mức vìhai nỗi oan khuất chất chồng lên nhau mà không người chia sẻ Nỗi hổ thẹn trong

sự nhục nhã, ê chề của người con gái đang “ Êm đềm chướng rủ màn che/ Tườngđông ong bướm đi về mặc ai”, nay phải mặt dạn mày dày cho người định giá Nàng

vô cùng khổ tâm, cảm giác xấu hổ, sượng sùng được miêu tả bằng một tấm lòngcảm thông sâu sắc

Trang 9

Lúc này, nàng phải chịu hai bi kịch thương tâm: phải tự bán mình là bi kịchthân phận con người lương thiện bị chà đạp thô bạo; bậc tuyệt thế giai nhân lại bịbiến thành món hàng cho bọn bất lương dày vò, cho đồng tiền dơ bẩn chà đạp lêndanh dự, nhân phẩm là bi kịch tài hoa bị vùi dập thảm thương Trong suốt đoạntrích này, Thuý Kiều không nói một lời nào Sự im lặng ấy diễn tả một nỗi đau chếtlặng của một con người đã tan nát cả cõi lòng Nguyễn Du đã từng bồi hồi trướcmối tình đầu của nàng nhưng rồi cũng đau đớn, lo sợ khi nàng phải rời nhà ra đi,dấn thân vào cuộc đời gió bụi trong cảnh đất trời tối sầm:

Đùng đùng gió giục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay.

Giờ đây, Kiều chỉ như cánh hoa đã tàn trước giông bão cuộc đời Đó là bikịch đầu tiên của mười lăm năm lưu lạc đoạn trường Sau cơn vùi liễu dập hoa, MãGiám Sinh đưa Kiều vào lầu xanh Từ một tiểu thư gia đình Nho giáo nàng trởthành kĩ nữ Đau đớn, phẫn uất, Kiều quyên sinh Nhưng Kiều chưa được giải thoát

dễ dàng như vậy Nàng phải sống cuộc đời lưu lạc, đầy ải thương tâm chốn lầuNgưng Bích, ôm trọn tâm trạng cô đơn, đau đớn, tủi hổ bẽ bàng Nỗi đau bủa vây,nỗi nhớ người yêu da diết, nỗi xót thương cha mẹ già Nỗi nhớ người thân cũngkhông làm Kiều khuây khoả, tâm trạng của nàng thấm vào cảnh vật:

Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu, Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Tám câu thơ dựng lên bức tranh tứ bình bắt đầu bằng hai chữ” buồn trông”với ngôn ngữ độc hoại nội tâm đặc sắc; dường như ở đây không có con người chỉ

có cái nhìn hay đúng hơn- chỉ có tâm trạng Đây là một trong những đoạn tả cảnhngụ tình thành công nhất trong Truyện Kiều Với quan niệm thẩm mĩ truyền thống,Nguyễn Du luôn luôn lấy khung cảnh thiên nhiên làm nền cho sự hoạt động của nộitâm nhân vật Tính chất truyền thống ấy biểu hiện qua sự chi phối của lôgic nội tâmđối với lôgic cảnh vật khách quan, qua bút pháp phác hoạ và khái quát, qua hìnhtượng và ngôn ngữ ước lệ công thức Nhưng bút lực của một thi tài đã phát huy cao

độ tính đa nghĩa của ngôn ngữ và do đó tính đa dạng của hình tượng, tạo nêntrường liên tưởng phong phú rộng mở và cũng tạo nên nhiều tầng ý nghĩa của từ

ngữ, hình tượng văn học Cánh hoa trôi man mác giữa dòng nước mênh mông cũng

là tâm trạng và số phận vô định của Kiều Nội cỏ rầu rầu - một sự tàn úa, thê lương

giữa chân mây mặt đất vô cùng rộng lớn xa xăm hay chính là tâm trạng bi thươngtương lai mờ mịt của nàng? Và thiên nhiên dữ dội, gió cuốn mặt duyềnh, ầm ầmtiếng sóng như nói lên tâm trạng hãi hùng và cuộc sống đầy đe doạ đang bao quanhnàng Mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh thiên nhiên đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng, về

Trang 10

cả số phận con người Toàn bộ tám câu thơ kết thành bức tranh toàn cảnh với mặtbiển, chân mây, cánh hoa, nội cỏ, sóng gào, gió cuốn vừa buồn thảm, vừa ghê sợ.Bức tranh thiên nhiên ấy đồng thời mang ý nghĩa phúng dụ về tâm trạng và hoàncảnh cô đơn, tâm trạng hãi hùng trước một cuộc sống đầy đe doạ, dự báo trước mộttương lai mờ mịt…Đoạn thơ nói lên hiện tại lẻ loi, đơn độc thương thân, xót mìnhđầy bế tắc và báo hiệu một ngày mai khủng khiếp của nàng với sự xuất hiện đáng

ngờ và đáng sợ của một hình dung chải chuốt áo khăn dịu dàng, con người ấy đã

cùng Tú Bà đẩy nàng vào cuộc sống ô nhục Bọn chúng là những kẻ mất hết cảnhân tính lẫn nhân hình Khi bắt được Kiều bỏ trốn, Tú Bà sẵn sàng vùi liễu dậphoa một cách nhẫn tâm, thô bạo Khóc cho thân phận con người bị đánh đập tra tấn,nhà thơ cũng như oằn mình trước những trận đòn tan da nát thịt:

Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra Đang tâm vùi liễu dập hoa tơi bời

Tâm trạng Kiều phải chăng cũng là tâm trạng của thi hào Nguyễn Du Nhàthơ đã hoá thân vào nhân vật, hoà vào tâm trạng của nhân vật trữ tình; cùng đồngcảm, buồn thương, đau xót với nhân vật Đó là nỗi đau của tác giả trước cảnh conngười bị tước đoạt quyền làm người, quyền sống, quyền hạnh phúc:

Nhưng tôi có sá chi tôi, Phận tôi đành vậy vốn người để đâu?

Thân lươn bao quản lấm đầu, Chút long trinh bạch về sau xin chừa.

Câu thơ của Nguyễn Du chạm vào nỗi đau nơi trái tim người đọc: nàng Kiều

bị Tú Bà đánh đập và cuối cùng phải xin chừa, không dám làm người trinh bạch.Thật xót xa, tê tái khi một con người luôn trân trọng phẩm giá của mình lại buộcphải từ bỏ danh dự, nhân phẩm trong hoàn cảnh đầy éo le ngang trái Lời nói của

nàng Kiều tôi có sá chi tôi đã toát lên nỗi đau vô hạn của tác giả vì con người, nỗi

đau tình người đọng lại rất sâu trong từng câu, từng chữ của nhà thơ Để rồi thậtđớn đau cho nàng Kiều trong cảnh:

“Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Giật mình, mình lại thương mình xót xa.”

Cái“giật mình” ấy chứng tỏ Thuý Kiều đã đau đớn, đã ý thức rất cao về nhânphẩm của mình

Thuý Kiều buồn cho số phận khi bị đẩy vào lầu xanh, gặp Thúc Sinh dù phảichịu trận đòn tan da nát thịt, nàng quyết không trở lại chốn ấy Nàng gắn bó vớiThúc Sinh; việc chàng Thúc xuất hiện trong cuộc đời Kiều không chỉ như mộtkhách làng chơi mà còn như một người tình, một người chồng, một ân nhân cứumạng đưa Kiều thoát khỏi vũng bùn tăm tối Chính Thúc Sinh đã chuộc nàng rakhỏi lầu xanh và cưới nàng làm vợ lẽ Nhưng mối duyên này ngắn ngủi khi chàngphải về quê báo tin “vườn cũ thêm hoa” với Hoạn Thư Cảnh từ biệt của hai ngườikhông chỉ có buồn, lưu luyến như các cuộc chia li thông thường khác mà còn dựcảm về một cuộc chia li vĩnh viễn:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,

Trang 11

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Cuộc gặp gỡ giữa Thúc Sinh và Hoạn Thư đã không đem lại kết quả như ýmuốn, để rồi trước cơn ghen hờn của Hoạn Thư, cái ghen có bản lĩnh của một kẻgian xảo, cái ghen của một con người quý tộc Ở trong tay Hoạn Thư, tài hoa, nhansắc của Kiều bị lợi dụng, trả thù một cách tinh vi Hoạn Thư buộc Kiều đánh đàn đểlàm cho:

Cùng trong một tiếng tơ đồng, Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm!

Đau đớn đến cùng cực, Kiều cố tìm cách thoát thân, định nương nhờ cửa Phật nhưng lại bị Bạc Bà, Bạc Hạnh bán vào lầu xanh lần thứ hai

Gặp Từ Hải, đời Kiều tưởng như rực sáng nhưng rồi cũng bị dập tắt Mắc lừa

Hồ Tôn Hiến, Kiều vô tình giết chết Từ Hải để rồi phải chịu cảnh ” Nửa đám machồng, nửa tiệc quan” Sau đó, nàng bị Hồ Tôn Hiến làm nhục rồi bị ép gả chongười thổ quan Còn nỗi đau nào hơn, chồng vừa chết mà phải lấy chồng Quá tủinhục, bế tắc, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn Nguyễn Du đã không cầmđược nỗi xót thương vô hạn:

Thương thay cũng một kiếp người, Hại thay, mang lấy sắc tài làm chi!

Những là oan khổ lưu ly, Chờ cho hết kiếp còn gì là thân!

Như vậy từ bọn sai nha, Mã Giám Sinh đến Tú Bà, Hoạn Thư, Hồ TônHiến… tất cả thành một guồng máy đẩy Thuý Kiều vào bùn nhơ của xã hội cũ:

“Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.”

Nhà thơ buồn đau cho cuộc bể dâu mà Thuý Kiều gặp phải trong kiếp đời chìm nổi Thi hào Nguyễn Du đã khái quát những trải nghiệm của cuộc đời bằng tàinăng, tâm huyết và vốn sống:

Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.

Cuộc bể dâu của Kiều là đoạn trường mười lăm năm lưu lạc chịu biết baocực khổ, oan trái Mười lăm năm của đời người con gái mất đi tình yêu ban đầu đẹp

đẽ, mất đi trinh tiết ngàn vàng và có lúc mất đi cả cuộc sống của mình Hết MãGiám Sinh gian giảo đến Sở Khanh trâng tráo rồi tên Hồ Tôn Hiến dâm ô, từ mụ

Tú Bà “nhờn nhợt màu da” đến Hoạn Thư “ sâu sắc nước đời” Tất cả là cái lướiquây tròn vây kín xung quanh cuộc đời Kiều Nàng đang vùng vẫy trong khổ đau

và tuyệt vọng, bởi chúng muốn giết chết những tài năng và sắc đẹp như Kiều;chúng tước quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền làm người của nàng Nàng muốnsống yên phận làm vợ lẽ cũng không được, muốn sống yên lành gần gũi với mẹ chacũng không xong Mấy lần lấy chồng rồi phải tìm đến cái chết để chấm dứt nhữngkhổ đau Có thể nói không có hạnh phúc nào của Kiều được trọn vẹn Nỗi đau ấykhiến ta rơi lệ, đồng cảm, xót thương bởi cả bộ máy xã hội phong kiến thối nát đãbủa vây, nhấn chìm nàng Mỗi lần Thuý Kiều tự mình vươn tới ánh sáng, lại thêmmột lần nữa rơi vào bi kịch Ngay cả khi tái hồi Kim Trọng, mọi con đường lý giải

Trang 12

để đi đến hạnh phúc của nàng đều bị ngăn chặn Muốn đoàn viên có hậu cũngkhông được vì Thuý Kiều ý thức mình đã là nạn nhân của cuộc đời kĩ nữ, bị cầm tù

bởi quan niệm cứng nhắc về chữ trinh mà còn vì Thuý Kiều không muốn xâm

phạm đến hạnh phúc của Thuý Vân và Kim Trọng Tìm hiểu cuộc đời nàng, ta thấy

rõ ràng Thuý Kiều là hình tượng tiêu biểu cho những giá trị đẹp đẽ của con người,biểu hiện một lý tưởng thẩm mĩ có tính nhân dân song ở con người này có một sốphận đầy bi kịch Đây cũng là số phận chung của những người sinh ra làm phận máhồng dưới chế độ phong kiến Hiện thực đó, không phải Nguyễn Du chỉ mô tả, chỉnhìn thấy, chỉ phản ánh và chính nó- cuộc bể dâu ấy đã khiến tác giả cảm thấy quặnlòng

Chính xã hội phong kiến bất công đã làm hại biết bao nhiêu đời người congái vô tội Xã hội đó không có chỗ đứng cho người phụ nữ Kiều, Đạm Tiên là nạnnhân của chế độ nam quyền, là nạn nhân của ma lực đồng tiền, của cường quyền ápbức Tác phẩm “Truyện Kiều” là một xã hội phong kiến thu nhỏ, là những xấu xa,thối nát, là những ngang trái khổ đau cùng cực của cuộc đời những con ngườilương thiện đặc biệt là người phụ nữ Một xã hội mà quyền sống, quyền hạnh phúccủa con người nhất là người phụ nữ bị tước đoạt Đó là những tiếng kêu xé lòngtrong xã hội xưa Như vậy trên cả hai phương diện thấu hiểu những cảnh ngộthương tâm và bày tỏ thái độ rõ rệt” Quyển Kiều thấm lệ người viết nó và đẫm lệ

người đọc nó” Những từ, thương thay, hại thay, còn gì là thân như những giọt lệ

chứa chan tinh thần nhân đạo khóc thương cho những số kiếp đoạn trường củanhững người phụ nữ tài hoa, nhan sắc:

Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

Bằng trái tim tràn đầy yêu thương, Nguyễn Du đã để lại cho đời bao nhiêutrăn trở với bao số phận như Thuý Kiều, Đạm Tiên Nỗi bất hạnh của họ để lạitrong lòng người đọc một niềm thương xót khôn nguôi cũng như tên tuổi Nguyễn

Du và tấm lòng của ông luôn sáng mãi nghìn đời Nhà thơ vẫn dõi theo từng bước

đi trong cuộc đời Thuý Kiều để cảm thông, chia sẻ Từ tác phẩm “Truyện Kiều”,tác giả đặt ra vấn đề quyền sống của con người và vận mệnh con người trong xã hộiphong kiến Thân phận con người là niềm day dứt trong tâm trí của Nguyễn Du.Tác phẩm là tiếng kêu thương cho những số kiếp bị đoạ đày, cho những con ngườitài hoa mà bạc mệnh Đó là sự đau xót đến tột cùng của nhà thơ trước sự bất côngcủa xã hội, trước số phận đen tối của con người

2 Tiếng nói lên án, tố cáo đanh thép sự tàn bạo của chế độ phong kiến

Tác phẩm là tiếng nói đòi quyền lợi, hạnh phúc cho con người đặc biệt làngười phụ nữ Nguyễn Du lên án, phê phán thế lực phong kiến chà đạp lên cuộcsống của họ để thể hiện lòng yêu thương con người, thể hiện cảm hứng nhân đạotrong văn học là một cách thể hiện đúng quy luật, bản chất tình cảm của con người

Căm thù thế lực tàn bạo chà đạp lên cuộc sống của họ, Nguyễn Du đã thểhiện lòng yêu thương con người qua sự lên án, phê phán giai cấp thống trị và thếlực đồng tiền khi xã hội phong kiến rơi vào tình trạng thối nát Về phương diện

Trang 13

nhận thức lý tính hoặc tư duy lý luận, tác giả còn có thể mơ hồ khi lý giải nguyênnhân dẫn đến nỗi khổ của con người trần thế vào một lực lượng huyền bí siêunhiên Nhưng trái tim của nhà thơ có một cách “giải mã” riêng nhờ vào trực giác vàvốn sống Do vậy, những thế lực chà đạp con người, nhất là những con người tàihoa, nhà thơ có thể chỉ trán gọi tên cụ thể Trên phương diện miêu tả nhân vật, đặcbiệt là nhân vật phản diện, ngòi bút của Nguyễn Du như xuất thần, thăng hoa khôngmột tác phẩm văn chương đương đại nào sánh được Những thế lực phong kiến dùkhông có quan hệ cụ thể, gần gũi với nhau nhưng lại tồn tại như một hệ thống, nhưnhững mắt xích của một sợi dây chuyền để tạo nên một thứ thiên la địa võng bủavây người lương thiện “Truyện Kiều” chính là ngọn roi quất thẳng vào những bấtcông, độc ác, đê hèn của giai cấp thống trị trong xã hội cũ Đó là bọn quan lại từquan lớn đến quan bé và cả đám sai nha- công cụ tàn bạo của chế độ phong kiến đã

ập đến gia đình họ Vương như một đám ruồi xanh và cả tên tổng đốc trọng thần HồTôn Hiến tuy được giới thiệu “kinh luân gồm tài” nhưng không có tài nào khácngoài tài phản trắc và dâm ô Những tên quan này xuất hiện vào những thời điểmkhác nhau trong cuộc đời Kiều, mỗi tên một vẻ, không ai giống ai, không phải đúc

từ một khuôn có sẵn, tuy có cùng một hành động là xô đẩy Thuý Kiều, xô đẩy mộtngười lương thiện vào con đường khổ nhục, phá hoại hạnh phúc và chôn vùi nhânphẩm của họ

Thằng bán tơ là kẻ vu oan cho gia đình Kiều, sau việc vu oan ấy: “Sai nhabỗng thấy bốn bề xôn xao”, người nách thước, kẻ tay đao; một lũ đầu trâu mặt ngựaxông vào bắt trói, đánh đập cha và em Thuý Kiều hết sức độc ác rồi đẩy gia đìnhVương ông đến khánh kiệt, tan nát và vét cho đầy túi tham Trong xã hội đó, ngườilương thiện không có công lý bảo vệ, họ bị chà đạp bằng vũ lực, bị tước mất quyềnsống, quyền làm người, bởi công lý chỉ thuộc về tay kẻ mạnh, kẻ có quyền thế

Rường cao rút ngược dây oan, Dẫu là đã cũng nát gan lọ người!

Thần công lý chỉ dịu cơn thịnh nộ khi thấy có mùi tanh tưởi của đồng tiền:

Tính bài lót đó, luồn đây,

Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.

Nhiều nhà nghiên cứu đã từng nói, chính viên quan đầu tiên đã đẩy ThuýKiều, một cô gái trắng trong, lương thiện vào nhà chứa

Thứ hai có thể kể đến tên quan xử vụ Thúc Ông kiện Thuý Kiều Khi quancất tiếng xét xử mới kỳ lạ làm sao:

Một là cứ phép gia hình Hai là lại cứ lầu xanh phó về!

Phép công mà thế đó! Một tên quan ăn đút lót, vô trách nhiệm trước số phận,tính mạng của con người Chỉ vì đồng tiền mà mất hết lương tâm, không quan tâmđến tình cảnh của những người đau khổ đang chịu cực hình như Thuý Kiều Bắtnàng phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc là chịu đánh đòn, hoặc là phảitrở về nhà chứa! Luật pháp ở đây rõ ràng có tính chất trả thù, lăng nhục chứ không

có tính chất giáo huấn, sửa sai Đây là một tên quan vô nhân đạo

Trang 14

Viên quan thứ ba là một trọng thần:

“Có quan tổng đốc trọng thần,

Là Hồ Tôn Hiến kinh luân gồm tài.”

Đây là viên quan tiêu biểu cho cả hệ thống quan lại Hồ là con người tráo trở

và độc ác, đê tiện Biết Từ là đấng anh hùng, hắn tìm cách dụ dỗ Thuý Kiều khuyên

Từ Hải ra hàng rồi lừa Từ vào chỗ chết:

Hồ công quyết kế thừa cơ,

Lễ tiên binh hậu, khắc cờ tập công.

Kéo cờ chiêu phủ tiên phong

Lễ nghi dàn trước vác đòng phục sau.

Tồi tệ hơn, sau khi giết Từ Hải, hắn còn bắt Thuý Kiều đánh đàn hầu rượutrong bữa tiệc hạ công sau cái chết của chồng nàng Rồi hắn lả lơi, ngây dại trướcsắc đẹp, tài năng của Kiều Cuối cùng vì sĩ diện cá nhân, vì ghen ghét Hồ Tôn Hiến

đã gán Thuý Kiều cho một viên thổ quan, để nàng phải nhảy xuống sông TiềnĐường tự vẫn

Giết chồng, cướp vợ, bản chất tàn bạo, dâm ô của hắn được Nguyễn Du lột tảbằng một nét bút biếm hoạ sắc sảo lạ thường:

Nghe càng đắm, ngắm càng say,

Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình.

Gia đình HoạnThư là gia đình quan lại duy nhất trong tác phẩm này, điềuđáng chú ý ở gia đình ấy là trong nhà bao giờ cũng có một bầy côn quang, để khicần thì đốt nhà, bắt người về hành hạ mà không sợ gì đến luật pháp Đối với giađình Hoạn Thư, chính quyền không được động đến, nhà chùa cũng phải sợ, nhàbuôn cũng phải nể, một uy thế nghiêng cả thiên hạ

Có thể nói, bọn quan lại đã dùng thế lực, quyền hành, bạo lực để chà đạp,đày đoạ những người lương thiện, dồn họ vào cảnh ngộ bất hạnh thương tâm, lâmvào con đường cùng không lối thoát và bọn tay sai được quan thần dung túng màtrở thành công cụ gây tai vạ cho dân lành

Trong xã hội ấy, sau thế lực của quan lại là thế lực của đồng tiền, Nguyễn Du

là một trong những nhà thơ tố cáo gay gắt sự tác oai tác quái của đồng tiền:

Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền

Đồng tiền đã chi phối tất cả:

Định ngày nạp thái vu qui Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong.

Trong “Truyện Kiều”, đồng tiền len lỏi vào khắp chốn, khắp nơi Ở đây quanlại có kẻ vì tiền mà lưu manh hoá, bọn buôn thịt bán người tất cả vì tiền mà bày biện ra trăm phương nghìn kế để bẫy người phụ nữ, bắt họ đem thân ra làm món hàng để buôn bán cho chúng kiếm chác Đồng tiền ăn sâu tới mức Mã Giám Sinh trước tài hoa và nhan sắc của Thuý Kiều chỉ biết có cân đo, trả giá Còn Tú Bà thì

Trang 15

mừng cuống lên khi thấy Mã Giám Sinh mua được Thuý Kiều, rồi lồng lộn khi thấyKiều thất thân với Mã và run sợ tái mét khi thấy Kiều rút dao toan tự tử.

Thế lực của đồng tiền rất mạnh Nó biến con người dù người ấy là thứ nhấttrong bậc giai nhân tài hoa trở thành hàng hoá Nó tước mất quyền con người Sốngtrong xã hội ấy, những kẻ xấu, kẻ bất lương thì tha hồ lộng hành, người lương thiệnkhông còn chỗ để tồn tại

Trong “Truyện Kiều”, quan lại đồi bại và đồng tiền là hai thế lực lớn nhất chiphối toàn bộ xã hội Sau đó là thế lực của nhà chứa, nhà chứa được pháp luật thừanhận, hoạt động công khai, tự do đi mua người

Tác phẩm còn là tiếng nói lên án thế lực lưu manh côn đồ bất lương, hungbạo Chúng làm ăn kiếm lời bằng nghề loạn luân, bẩn thỉu, dã man vô nhân đạonhất như Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Sở Khanh…

Nhác trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì to béo đẫy đà làm sao?

Cái màu da nhờn nhợt của một kẻ lấy đêm làm ngày và cả thân hình to béo đẫy đà được tạo nên từ những đồng tiền nhầy nhụa, ăn chèn của những người kĩ nữ sau những đêm tiếp khách ở mụ Tú Bà- chủ cửa hàng thanh lâu thật đáng ghê tởm

Và hình ảnh Mã Giám Sinh cũng hiện lên một cách khá rõ nét qua ngòi bút miêu tả trực diện của Nguyễn Du

Quá niên trạc ngoại tứ tuần, Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.

Hắn chỉ là một tên buôn thịt bán người mà mập mờ đánh lận con đen tự xưng

là sinh viên trường Quốc Tử Giám Nhưng từ diện mạo chải chuốt quá đáng, hắn đãbiến mình thành một kẻ trai lơ đàm điếm

Đặc biệt trên phương diện khắc hoạ tính cách tài tình, Nguyễn Du đã giúp người đọc đi guốc vào tim gan của một kẻ chuyên lừa đảo với hành động đầy mờ

ám và tâm địa phản trắc, âm mưu đen tối:

Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào

Chế độ phong kiến trên con đường suy tàn của nó, luôn luôn là những bấtđịnh đổi thay làm cho cuộc sống con người không yên ổn, không hạnh phúc Xã hội

ấy không đảm bảo quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người, cho an toàn của xãhội Nó sẵn sàng phá huỷ hạnh phúc gia đình, tiêu diệt ước mơ cá nhân Đó là một

xã hội đầy rẫy bất công, tràn ngập bọn bất lương, lừa đảo; lúc nào cũng uy hiếp conngười lương thiện, hiền lành

Có thể nói, Nguyễn Du đã vượt khỏi chỗ đứng của giai cấp xuất thân để bênhvực những con người nhỏ bé, bất hạnh, tố cáo sự thối nát của xã hôi phong kiến;lên án cả xã hôi lợi dụng những ước chế hà khắc và cả chiến tranh phong kiến đểbiến xã hội đương thời thành địa ngục chôn vùi bao cuộc đời lương thiện và

“Truyện Kiều” chính là bản cáo trạng lên án đanh thép tất cả các lực lượng chà đạpcon người

Truyện Kiều đã vẽ nên một bức tranh xã hội có sức tố cáo mãnh liệt chế độ

phong kiến tàn bạo với bầy lang sói khủng khiếp Chúng đã xô đẩy người phụ nữ

Trang 16

có nhân phẩm, có tài sắc vào cuộc sống ba chìm bảy nổi và giết chết một tài năngtrí dũng có thừa, chà đạp quyền sống của những con người lương thiện Đó là tiếngnói của một tâm hồn cao cả, tiếng đập của một trái tim lớn đầy tình nhân đạo, đauxót vì số phận con người.

3 Tiếng nói ngợi ca, trân trọng, khẳng định tài năng, nhân phẩm của con người.

Truyện Kiều là tác phẩm tôn vinh những vẻ đẹp nhân bản của con người, thể

hiện niềm ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của tài năng, trí tuệ là điểm mới mẻ, tiến bộtrong tư tưởng của Nguyễn Du Dưới ngòi bút nhân đạo của tác giả, hình ảnh ngườiphụ nữ, văn nhân, võ tướng… trong Truyện Kiều hiện lên rất đáng trân trọng với vẻđẹp về hình thức, tâm hồn và tài năng Đó là Thuý Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, TừHải…

Vẻ đẹp của Thuý Vân, Thuý Kiều được Nguyễn Du giới thiệu với những nétduyên dáng, thanh cao, trong trắng hoàn hảo, tuyệt mĩ:

“Mai cốt cách tuyết tinh thần Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”

Đó là những ước lệ trong văn chương cổ nhưng Nguyễn Du không sao chép hững hờ mà gửi vào câu chữ biết bao tình cảm yêu mến, trân trọng Lời khen chia đều cho hai người, nét bút lại muốn đậm nhạt mỗi người một vẻ và thi sĩ tập trung soi sáng từng nhân vật

Thuý Vân được miêu tả với một vẻ đẹp tươi tắn, trẻ trung của một cô gáiđang độ trăng tròn

Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Một vẻ đẹp cao sang, quí phái ít ai sánh được Phép ẩn dụ, nhân hoá, so sánh,liệt kê… được sử dụng thật đắt Câu chữ chắt lọc tối đa mà dựng được chân dung khá nhiều chi tiết: có nét hình, có cả âm thanh, tiếng cười, giọng nói Sắc đẹp của nàng sánh với những nét kiều diễm của hoa lá, ngọc vàng, mây tuyết…toàn những báu vật tinh khôi trong trẻo của đất trời Nàng đẹp toàn diện, đoan trang, hiền thục khiến người ta kính nể, chấp nhận một cách êm đềm và tạo hoá cũng nâng niu, âu yếm, nhường nhịn

Nguyễn Du miêu tả Thuý Vân trước, Thuý Kiều sau là muốn dùng Vân làmnền cho vẻ đẹp của Kiều toả sáng Thuý Kiều-nhân vật trung tâm, nhân vật lýtưởng thẩm mĩ với đầy đủ tài, sắc, hạnh, tình Nàng có vẻ đẹp hoàn hảo, dung nhanđằm thắm Và hơn hẳn Thuý Vân, nàng sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn, vẻđẹp của nàng có ấn tượng sâu sắc, nhất là ở đôi mắt thật quyến rũ:

“Làn thu thuỷ nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Miêu tả vẻ đẹp của nàng Kiều, tác giả tập trung vào đôi mắt vì đó là vẻ đẹpgợi cảm nhất trên khuôn mặt thiếu nữ, là cửa sổ của tâm hồn, là thể hiện sự tinh anh

Trang 17

của trí tuệ, sự mặn mà của tình cảm Hình ảnh ẩn dụ ấy đã gợi lên vẻ đẹp sống độngcủa đôi mắt sáng long lanh, rất linh hoạt, đôi mày thanh tú nổi bật trên gương mặttrẻ trung, rạng ngời Gợi tả vẻ đẹp của giai nhân, tác giả dùng những hình tượngnghệ thuật ước lệ Nét vẽ thi nhân thiên về gợi và chủ yếu nói về chiều sâu và sựlan toả của vẻ đẹp chứ không mang tính chất liệt kê, đã tạo một ấn tượng sâu đậm

về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế Đó là vẻ đẹp đằm thắm, rực rỡ, hấp dẫn,duyên dáng của người phụ nữ khiến cho tạo hoá phải ganh ghét đố kỵ Vẻ đẹp củanàng như có một sức mạnh diệu kì làm khuynh đảo nhân tâm thiên hạ:

“Một hai nghiêng nước, nghiêng thành Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai”

Nhà thơ đã sử dụng thành công các biện pháp nghệ thuật chủ yếu là ẩn dụ,tiểu đối, nhân hoá, dùng điển cố và phép đòn bẩy để đề cao hết mực vẻ đẹp củaKiều

Nếu ở Thuý Vân, ta chỉ thấy nét gợi tả nhan sắc thì ở Thuý Kiều, Nguyễn Dudành đến hai phần cho tài tình và nội tâm của nàng Kiều là người đa tài, đủ cảcầm, kì, thi, hoạ đạt tới mức lý tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến Tài nàocũng thành nghề riêng, đáng bậc thầy, tài đàn của nàng là sở trường năng khiếu đặcbiệt, vượt trội hơn người; nàng là bậc nghệ sĩ tài hoa xuất chúng bởi được thiênbẩm lại có tâm hồn đa cảm, sâu sắc nên nổi trội nhất ở nàng là tài năng bộc lộ tìnhcảm:

Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.

Cung thương, làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Khúc nhà tay tựa nên chương, Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân.

Bản đàn bạc mệnh của nàng ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đacảm; là mối sầu trong tim có máu và nước mắt; là lời khóc chứa chất mối bi thương

từ thuở còn xanh tóc Bằng nghệ thuật tiểu đối, liệt kê, tài năng của Kiều đã được

đề cao rất đáng trân trọng Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp giữa sắc, tài, tình, mệnh.Chân dung của nàng là chân dung mang tính cách số phận

Không chỉ có sắc đẹp, tài năng, Kiều còn có một tâm hồn phong phú, mộttrái tim nhân hậu giàu xúc động Tâm hồn ấy đã biết khao khát và tự khẳng địnhtình yêu chân chính để đến với hạnh phúc lứa đôi, với ý thức tự do vượt ra ngoàiquan niệm của lễ giáo phong kiến bằng một tình cảm mãnh liệt, thuỷ chung, trongtrắng Và khi đường đời đột ngột rẽ sang một hướng khác chia cắt tình yêu của họthì trong mười lăm năm lưu lạc, đoạ đày, Thuý Kiều vẫn ôm ấp trong lòng hình ảnhthân yêu của Kim Trọng, vẫn ấp ủ trong lòng mùi hương thơm của những “hoa lában đầu” Suốt mười lăm năm lưu lạc, mối tình Kim Trọng vẫn là tình yêu duynhất, đầu tiên và mãi mãi của nàng Khi ở lầu Ngưng Bích, trong sự tủi nhục, bẽbàng, cô đơn; nàng đã đau đớn nghĩ về chàng Kim:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Trang 18

Tin sương luống những rày mong mai chờ.

Bên trời góc bể bơ vơ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

Lời thơ chứa đựng nhịp thổn thức của trái tim yêu đương đau đớn đến tộtcùng Nỗi nhớ người yêu của Kiều thật da diết, mãnh liệt Kiều hình dung cảnhtượng chàng Kim đang mòn mỏi ngóng trông tin tức một cách vô vọng Mới ngàynào, nàng cùng chàng Kim nặng lời ước hẹn trăm năm mà nay đã trở thành kẻ phụbạc, lỗi hẹn với chàng Chén rượu thề nguyền vẫn còn nguyên sự nồng say, vầngtrăng “vằng vặc giữa trời” chứng kiến cảnh ước thề vẫn như còn kia, lời Kim Trọng

Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời còn vang đâu

đây; vậy mà giờ đây mỗi người một phương trời không biết bao giờ mới gặp lại Dùđang hoạn nạn nhưng nàng tự trách mình đã bội ước, phụ bạc người tình và coi đó

là một tội lỗi không thể tha thứ Nàng Kiều giàu lòng vị tha không hề nghĩ đến nỗiđau xót, tủi nhuc, cô đơn của mình mà trước hết cảm thông cho cảnh ngộ và thấuhiểu tâm trạng của chàng Kim Lòng vị tha của nàng thật đáng thương xót, trântrọng Càng nhớ người yêu, càng nuối tiếc mối tình đầu tuyệt đẹp, nàng càng thấmthía tình cảnh “bơ vơ”, trơ trọi của mình Hơn ai hết, nàng hiểu sâu sắc không baogiờ gột rửa được tấm lòng son sắt, thuỷ chung của mình với Kim Trọng và thực sựhình bóng của chàng không phai nhạt trong tâm hồn của nàng trong suốt mười lămnăm lưu lạc đoạn trường Ngay trong lúc để cả tấm lòng mong nhớ người anh hùngcứu mệnh mình là Từ Hải thì nàng vẫn dành chỗ cho niềm tưởng nhớ đến mối tìnhxưa:

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng, Dẫu lìa ngõ ý, còn vương tơ lòng.

Đến khi gặp lại nhau, tấm lòng của nàng đối với chàng Kim mới đáng mếnlàm sao! Nàng trọng mối tình của Kim Trọng đối với nàng, trọng mối tình của lứađôi tuổi trẻ ngày xưa nên không muốn đem tấm thân vẩn đục làm bẩn giấc mơtrong trắng của tuổi trẻ Cử chỉ của nàng đối với Kim Trọng khiến ta khâm phục,sững sờ! Nàng từ chối Kim Trọng bao nhiêu đúng là nàng trân trọng chàng bấynhiêu:

Nói chi kết tóc, xe tơ

Đã buồn cả ruột, mà nhơ cả đời.

Quyết định của nàng hoàn toàn phù hợp với tính chất lý tưởng của mối tìnhđầu trong sáng Nàng quan niệm như thế mới thật sự thuỷ chung, vẹn lời thề ước

Giàu tình cảm, vị tha trong tình yêu là nét đẹp là nét đẹp đáng quí trong tâmhồn của nàng Kiều Phẩm chất, tâm hồn của nàng càng toả sáng hơn, bởi Kiều còn

là một người con gái có hiếu Khi gia đình gặp tai biến, tài sản bị bon sai nha “Sạchsành sanh vét cho đầy túi tham” cha và em bị tù tội Không thể làm ngơ trước tìnhcảnh đau lòng ấy, Kiều đã quyết định hy sinh mối tình đầu để cứu cha và gia đình.Hành động bán mình chuộc cha của Thuý Kiều thắm đượm một tinh thần nhân đạocao đẹp khiến người đọc vô cùng cảm phục và xúc động:

“Thà rằng liều một thân con,

Ngày đăng: 15/06/2021, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Giảng văn Truyện Kiều- NXB Giáo dục- 1999 Khác
3. Nguyễn Du - Truyện Kiều - NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp- 1976 Khác
4. Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIII- hết thế kỷ XIX-NXB Giáo dục 2004 Khác
5. Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam- NXB Giáo dục- 1999 Khác
6.Văn bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
7. Bồi dưỡng văn năng khiếu 9- NXB Tổng hợp Đồng Nai- 2005 Khác
8. Bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn THCS quyển 5- NXB Giáo dục- 2009 9. Thi pháp” Truyện Kiều”- NXB Giáo duc Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w