1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Sáng kiến kinh nghiệm) chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn lịch sử

22 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 159,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều phương pháp dạy học trong giảng dạy môn lịch sử, điều quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp giảng dạy sao cho hài hoà, phù hợp vớiđối tượng học sinh, có

Trang 1

Lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và lịch sử dân tộc Việt Nam

nói riêng đã khẳng định vai trò của “người tài” Họ là lực lượng khởi đầu cho sự nghiệp

phát triển kinh tế- xã hội, đem đến cho mỗi quốc gia nền văn minh, tiến bộ khôngngừng

Ngày nay trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, nhất là trong nền

kinh tế tri thức, vai trò của “ người tài” càng tăng lên gấp bội Chính vì thế, bồi dưỡng

học sinh giỏi là bước đi đầu tiên để đào tạo nhân tài cho đất nước và là nhiệm vụ quantrọng của ngành giáo dục Công tác này được xác định là một hoạt động mũi nhọn trongviệc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và đang được Đảng, Nhànước cùng toàn thể xã hội đặc biệt quan tâm

Bên cạnh các môn khoa học tự nhiên như: Toán, Lý, Hoá thì việc dạy các mônkhoa học xã hội trong đó có môn Lịch sử đang được ngành đặc biệt chú ý Mấy năm gầnđây thực trạng dạy và học lịch sử ở trường phổ thông đã gây ra nhiều bức xúc, nỗi lo âucủa xã hội Điều này không chỉ được phản ánh qua điểm số các kỳ thi tốt nghiệp phổthông và tuyển sinh đại học, cao đẳng mà còn qua kết quả điều tra xã hội học, qua cácsân chơi truyền hình và dư luận xã hội Mặt hạn chế nặng nề nhất của giáo dục môn Lịch

sử là đại bộ phận học sinh không thích học môn này, coi như môn học của các sự kiện,năm tháng, môn học của trí nhớ, khô khan, nhàm chán

Giáo sư Phan Huy Lê nói: Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông màkhông yêu mến lịch sử dân tộc, không có một vốn hiểu biết cần thiết về lịch sử và vănhoá nhân loại, không có một niềm tự tin dân tộc thì làm sao có thể hoàn chỉnh đượcphẩm chất của người công dân Việt Nam Từ đặc điểm đó, môn Lịch sử càng phải đặtđúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông

Dạy học lịch sử ở trường THCS là một quá trình sư phạm, bao gồm nhiều loạihoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh Những hoạt động đó nhằm mục đích chohọc sinh nắm được tri thức lịch sử, yêu thích môn học, từ đó phát triển tư duy lịch sử,biết nhận định, đánh giá cá sự kiện lịch sử một cách khách quan, đúng đắn

Có rất nhiều phương pháp dạy học trong giảng dạy môn lịch sử, điều quan trọng

là giáo viên phải biết kết hợp các phương pháp giảng dạy sao cho hài hoà, phù hợp vớiđối tượng học sinh, có như vậy mới tạo được hứng thú học tập, tạo lòng đam mê, yêuthích môn học ở học sinh

Trang 2

Nhưng làm thế nào để bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, đặc biệt là đối vớimôn lịch sử?, đó là câu hỏi luôn trăn trở của các nhà quản lý và của giáo viên trực tiếpgiảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS.

Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá trong các nhà trường nói chung và mônlịch sử nói riêng là vấn đề quan trọng, cơ bản, cốt lõi để nâng cao chất lượng đào tạo,giáo dục trí lực cho học sinh; mũi nhọn học sinh giỏi ở trong mỗi nhà trường nó đánhgiá chất lượng đào tạo cơ bản để nâng cao uy tín của nhà trường và uy tín của giáo viêngiảng dạy Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, kết quả mang lại không cao

Qua thực tiễn giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, bản thân tôi đã tựrút ra những kinh nghiệm, đó có thể là những giải pháp góp phần nhỏ song hành cùngcác đồng nghiệp trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Lịch sử

B PHẦN NỘI DUNG

I Thực trạng việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử:

Trong những năm gần đây, bộ môn Lịch sử ở phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yêntham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh đạt kết quả chưa cao, mỗi năm chỉ có 3-5 em đạtgiải/20em dự thi, và kết quả cũng chỉ dừng lại ở giải 3 và giải KK là nhiều

Nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, theo tôi đó là:

Thứ nhất, Giáo viên tham gia giảng dạy chưa xây dựng được một nội dung,chương trình, giảng dạy chi tiết, phù hợp

Thứ hai, học sinh không yêu thích môn học Lịch sử, xem đó là môn phụ, là mônthi của những người không được học khối A,B,D, là môn của những người học thuộclòng Và đã là môn phụ thì rất khó để học sinh quan tâm học hành tử tế Thực tế những

em tham dự môn học là những em “ không sắc”, hơn nữa, gia đình các em không muốncon mình tham gia dự thi môn học này Theo như lời một phụ huynh nói thì đó là mônphụ, không giúp gì cho cháu thi vào cấp 3 và thi đại học, chúng tôi chỉ muốn cháu học :Toán, Lý, Hoá, Ngoại ngữ thôi

Thứ ba, các em chưa biết cách học môn Lịch sử, chỉ biết học thuộc lòng, “ họcvẹt”, bởi vậy kiến thức nhớ không lâu, không hiểu bản chất sự việc Người học tiếp nhậnkiến thức một cách thụ động, máy móc

Thứ tư, các em chưa biết cách làm bài môn lịch sử Nhiều em làm bài theo ý,gạch đầu dòng như cách ghi thông thường trên bảng của các thầy cô dạy trên lớp Chưabiết phân tích, đánh giá sự kiện lịch sử Chưa biết tổng hợp, chọn lọc kiến thức cho cáccâu hỏi mang tính khái quát

Thứ năm, trong quá trình giảng dạy, giáo vên chưa kiểm tra thường xuyên để biếtđược sự tự học của các em Giáo viên chưa dạy các em kỹ năng trình bày, phân tích ,

Trang 3

đánh giá các sự kiên lịch sử mình đang học, chưa giúp các em biết tự đặt ra các câu hỏicho những nội dung mình tiếp cận.

Thứ sáu, BGH nhà trường chưa thực sự vào cuộc, chưa có những giải pháp đồng

bộ để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi

Từ thực tế đó, tôi đưa ra các giải pháp để chúng ta cùng thảo luận

II Các giải pháp

a Đối với Ban giám hiệu:

- BGH các nhà trường cần chỉ đạo lấy phương châm chất lượng giáo dục đại trà lànền tảng để nâng cao chất lượng mũi nhọn

- Phân công chuyên môn, phân công GV dạy đội tuyển một cách hợp lý, lựa chọngiáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, cốgắng phân công theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáo viên

- Phát hiện và xây dựng nguồn HSG bắt đầu từ lớp 6

- Tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ

- Có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên và họcsinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi Động viên khuyến khích thầy dạy cho học sinhgiỏi và học sinh thi học sinh giỏi đạt kết quả cao, kết hợp hài hoà giữa động viên tinhthần với những biện pháp khuyến khích lợi ích vật chất Nguồn kinh phí cho công tácnày được huy động từ nhiều nguồn: Ngân sách của nhà nước, xã hội hóa

- Tổ chức khảo sát các đội tuyển vào các thời điểm thích hợp

b Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng.

Muốn có HSG phải có Thầy giỏi và tâm huyết với nghề, vì thế người thầy phảiluôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn,

luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo Phải thường xuyên

tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạnginternet Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có cácchuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu… người thầy phải luôn trăn trở, tìm racác phương pháp dạy học thích hợp;…

Thứ nhất, Về chương trình bồi dưỡng:

- GV dạy bồi dưỡng phải xây dựng chương trình cho toàn bộ đợt bồi dưỡng

một cách cụ thể, chi tiết Trên cơ sở đó, phân bố thời gian hợp lý cho từng buổi dạy,tiết dạy

- Xác định rõ kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm, kiến thức nâng cao mở rộng

ở từng bài, từng chương, từng phần…để có kế hoạch giảng dạy, phương pháp giảng dạyphù hợp

Trang 4

- Xây dựng giáo án cụ thể cho từng tiết dạy, giáo án phải tập trung chú trọngnâng cao kiến thứ bộ môn, mở rộng kiến thức, nhưng phải hệ thống, giúp học sinh dễnhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng trong làm bài Xây dựng giáo án có vai trò hết sức quan trọng,thể hiện nội dung xuyên suốt trong cả quá trình bồi dưỡng.

Thứ hai, về việc dạy bồi dưỡng (Đây là quá trình quan trọng nhất)

Học sinh được lựa chọn tham gia vào đội tuyển HSG là những em có những phẩmchất đạo đức và năng lực trí tuệ hơn học sinh khác Chính vì thế, những học sinh này cầnđược tổ chức dạy học đặc biệt sao cho nhịp độ giảng dạy được cao hơn, nội dung giảngdạy cao hơn, phương pháp giảng dạy đặc biệt hơn, để các em được học tập, làm việc,phát triển hết khả năng của mình Người giáo viên phải làm được:

Giúp học sinh thực sự yêu thích học bộ môn Lịch sử

Đây là vấn đề khó khăn nhất của mỗi giáo viên đứng lớp Làm sao để học sinhthực sự yêu thích môn học của mình, làm sao giáo viên truyền được lòng đam mê họctập cho học sinh?

Dạy sử không đơn thuần là sự truyền đạt kiến thức một chiều, càng không phải là

áp đặt những khuôn sáo có sẵn…mà là sự đối thoại hai chiều giữa thầy cô giáo với họcsinh để lớp trẻ đi vào môn Lịch sử một cách năng động, thích thú và thoải mái Ngườithầy không đơn thuần chỉ là người truyền đạt kiến thức cho học sinh, mà thầy còn làngười giúp đỡ, động viên học sinh, gần gũi, tìm hiểu tâm tư của các em trong cuộc sống.Đặc biệt, Thầy cần biết khéo léo, động viên, khích lệ các em trong giờ học Trong quátrình giảng dạy, nên kết hợp nhiều phương pháp, kết hợp kể 1 số câu chuyện về Lịch sử

để giờ học đỡ khô khan, không nhàm chán Giáo viên cần khéo léo động viên để gắntrách nhiệm của các em cũng là cách để các em thêm yêu thích môn học Hãy cho các

em thấy rằng mình là niềm tự hào, niềm tin tưởng của gia đình, dòng họ, của thầy cô,bạn bè, của nhà trường của Phòng, Sở…

Giúp các em phương pháp học tập bộ môn Lịch sử

Hầu hết học sinh khi học môn Lịch sử đề cố gắng học thuộc lòng và nhớ từng sựkiện mà không có khả năng phân tích, khái quát, nhìn nhận sự kiện lịch sử trong bốicảnh thời đại, từ đó thấy rõ bản chất, nguyên nhân và mối liên hệ của các sự kiện để hệthống hoá vấn đề cho dễ nhớ các sự kiện điển hình, tiêu biểu của mỗi giai đoạn lịch sử,không sa đà vào chi tiết vụn vặt Học Lịch sử phải hiểu được bản chất vấn đề, tránh lối

“học vẹt” Chính vì thế học sử tuyệt đối không phải là thuộc lòng các năm tháng, sự

kiện, tên tuổi, nhân vật cùng với những con số khô cứng… mà là hiểu biết một cáchthông minh những diễn biến cơ bản của Lịch sử, thấm nhuần một cách hứng thú nhữnggiá trị tiêu biểu của Lịch sử và văn hoá, xây dựng tư duy Lịch sử

Phương pháp học bắt đầu từ cách ghi vở Ghi vở, học sinh chỉ cần ghi những ýchính, trọng tâm, ghi những sự kiện cơ bản, còn giành thời gian để nghe giảng, để hiểu,

để hỏi lại thầy những vấn đề mình chưa rõ…

Trang 5

Bên cạnh đó, việc tự học của các em là vô cùng quan trọng Giáo viên phải hướng

dẫn các em cách tự học ở nhà Không nên “học vẹt” mà phải nắm vững những kiến thức

lịch sử chính ở từng bài, từng chương, từng giai đoạn, sau đó mới liên hệ với các sự kiêkhác có liên quan Phải phân biệt được đâu là sự kiện chính? Sự kiện đó nằm trong bốicảnh lịch sử nào diễn ra như thế nào? kết thúc ra sao? Có tác dụng gì?

Hướng dẫn các em làm bài thi môn lịch sử

Dạy học sinh giỏi cần phải dạy và rèn luyện kỹ năng làm bài Kỹ năng làm bài thicủa HS có có nhiều hạn chế, vì vậy GV phải là người hướng dẫn, rèn luyện cho HS cáchlàm bài, trình bày bài thi một cách khoa học Việc làm này phải được tiến hành thườngxuyên, liên tục

Kỹ năng làm bài thi là một yêu cầu quan trọng trong quá trình bồi dưỡng Họcsinh phải đọc qua tất cả các câu hỏi trong đề ra trước khi làm bài

Trước khi làm bài nên ghi dàn ý

Bài thi môn lịch sử cần chú ý:

+ Phần mở bài ( Có thể sử dụng hoàn cảnh lịch sử để mở bài), lưu ý không nênquá dài dòng, chỉ cần vài câu, đủ ý để dẫn dắt vào nội dung

+ Phần thân bài: Đây là phần trọng tâm câu trả lời Dựa trên cơ sở những ý cơ bản

đã vạch ra học sinh tập trung liên hệ những kiến thức đã học, đã nắm được và học sinh

sử dụng phương pháp liên kết câu, liên kết đoạn văn để làm bài Đây là phần cơ bảnnhất, học sinh cần đưa ra đầy đủ các kiến thức mà đề yêu cầu, đồng thời phải có sự đánhgiá, liên hệ thực tế

+ Phần kết luận: Tóm tắt ý nghĩa, tác dụng của phần thân bài để làm kết luận.Phần kết luận không cần dài dòng (Có thể dùng phần kết quả, ý nghĩa, bài học kinhnghiệm cho phần kết luận)

Lưu ý: Chọn câu dễ làm trước, Tuy nhiên trong kỳ thi HSG môn Lịch sử khuyến

khích làm các câu hỏi theo tiến trình lịch sử Câu nào sự kiện trước thì làm trước

Phải tập trung vào làm bài, nhưng cần phân bố thì gian hợp lý Cố gắng làm hếtcác câu hỏi trong đề thi Tuy theo từng câu để phân bố thời gian cho phù hợp Cuối giờnên để giành khoảng 10 phút để đọc lại bài trước khi nộp

Thường xuyên kiểm tra sự tự học ở nhà.

Sau mỗi buổi học, giáo viên dạy bồi dưỡng cần đưa ra các câu hỏi, những bài tậpyêu cầu học sinh học bài, làm bài ở nhà Hôm sau giáo viên giành khoảng thời gian 30phút để kiểm tra lại việc học của học sinh (GV nắm được học sinh học như thế nào? họcđến đâu? Đồng thời giáo viên kiểm tra được cách diễn đạt của học sinh, từ đó có phươngpháp uốn nắn kịp thời) Với mỗi bài kiểm tra của học sinh, thầy cần chấm kỹ phát hiệnnhững cái mới, hay mang tính sáng tạo, đồng thời cũng phát hiện những điểm sai, bỏ sót

về kiến thức, cách trình bày Sau đó trả bài và chữa cẩn thận lại từng câu hỏi, các lỗi saiphổ biến cho học sinh

Trang 6

Tăng cường hướng dẫn học sinh biết sử dụng sách giáo khoa, học sinh phải hiểu

và khai thác hết kiến thức có trong sách giáo khoa

Giáo viên cần sưu tầm các dạng câu hỏi, các dạng đề thi của các năm trước, của các đơn vị bạn để học sinh tham khảo

Mỗi nội dung lịch sử, người ra đề có thể hỏi bằng nhiều cách hỏi khác nhau, trongquá trình giảng dạy sau mỗi nội dung, giáo viên nên đặt câu hỏi cho học sinh trả lời,đồng thời giáo viên nên tập cho học sinh cách đặt ra các câu hỏi theo ý của mình vàhướng trả lời các câu hỏi đó Có như vậy các em tự phải tư duy và chắc chắn sẽ nhớ kiếnthức một cách lâu hơn

III Hệ thống kiến thức sử dụng trong chuyên đề: Giai đoạn lịch sử 1945.

1930-Trong mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viên cần xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức mở rộng, nâng cao để có phương pháp giảng dạy phù hợp Trong giai đoạn 1930- 1945 của Lịch sử Việt Nam, tôi có thể đưa ra 1 số dạng câu hỏi cụ thể như sau:

+ Sự chuyển chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939; 1939-1945.+ Mặt trận Việt Minh và công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa

+ Cao trào kháng nhật cứu nước( Hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa)

+ Cách mạng tháng Tám: Thời cơ, diễn biến, nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch

sử, tuyên ngôn độc lập 2.9.1945)

2 Kiến thức nâng cao

+ So với thời kỳ 1930- 1931 chủ trương sách lược của Đảng và hình thức đấu

tranh trong thời kỳ 1936- 1939 có gì khác? Vì sao?

+ Tại sao nói phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết NghệTĩnh và phong trào cách mạng 1936- 1939 là hai cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cáchmạng tháng 8- 1945?

+ Bối cảnh lịch sử và chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của đảngtrong thời kỳ 1939- 1945?

+ Mặt trận Việt Minh có vai trò như thế nào đối với cách mạng tháng 8 -1945? + Hãy phân tích yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến thời cơ Cách mạng thángTám năm 1945? Tại sao nói đây là thời cơ ngàn năm có một?

3 Những định hướng cơ bản ( Hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong giai đoạn 1930- 1945)

Trang 7

Câu1: Tình hình Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới?

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng

và sâu sắc nhất trong lịch sử CNTB Nó chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của CNTBtrong những năm 20

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 không những tàn phá nặng nề các nước TB

mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước thuộc địa trong đó có VN:Sản xuất đình đốn, hàng hoá ế ẩm, nhiều xí nghiệp nhất là của tư sản VN và nhữngngười sản xuất nhỏ bị phá sản, công viên chức bị sa thải ngày càng nhiều, nạn thấtnghiệp thường xuyên bị đe doạ, nông dân đói khổ, điêu đứng vì nạn khủng hoảng kinh tế

Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắngtrợn, gắt gao trên phạm vi toàn quốc Cả nước bao trùm 1 không khí bắt bớ, đàn áp.Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ yêu nước bị bắt, tù đày Trong tình hình đó, ĐCS VN ra đời3.2.1930 là nguồn cổ vũ lớn lao đối với công nhân, nhân dân lao động

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nhân, nhân dân cả nước liên tiếp vùng lên đấutranh

Câu 2: Nguyên nhân, diễn biến phong trào cách mạng 1930- 1931? Vì sao ở Nghệ Tĩnh phong trào lại lên cao như vậy?

* Nguyên nhân:

- Do nhân dân ta bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề Thêm vào đó tácđộng của cuộc khủng hoảng KT 1929-1933 làm cho kinh tế NN, CN, TN nước ta suysụp Đời sống nhân dân đã khổ lại càng khổ thêm, do vậy, mâu thuẫn giữa nhân dân tavới đế quốc phong kiến ngày càng sâu sắc

- Đầu 1930 khởi nghĩa Yên Bái thất bại, TD Pháp khủng bố đàn áp dã man lạicàng làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc của nhân dân ta

Trong bối cảnh đó, ĐCS VN ra đời đã tập hợp và lãnh đạo cách mạng, biến sựcăm thù của quần chúng thành hành động cách mạng đó là đấu tranh

Nhận xét: Trong 3 nguyên nhân ấy thì nguyên nhân Đảng ra đời và lãnh đạo cáchmạng là nguyên nhân cơ bản nhất quyết định sự bùng nổ phong trào

* Diễn biến:

Phong trào đấu tranh của quần chúng bùng lên mạnh mẽ từ 1929 trên khắp đấtnước Đến năm 1930- 1931 phát triển tới đỉnh cao với sự ra đời của Xô Viết – NghệTĩnh

- 2.1930 cuộc bãi công của 3000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng

- 4.1930 là các cuộc bãi công của 4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, hơn

400 công nhân nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ, nhà máy xi măng Hải Phòng…

- Phong trào đấu trnh của nông dân đã diễn ra ở nhiều địa phương như: Hà Nam,Thái Bình, Nghệ An,, Hà Tĩnh…

Trang 8

- Đặc biệt là ngày 1.5.1930, lần đầu tiên công nhân và các tầng lớp nhân dânĐông Dương tỏ rõ dấu hiệu đoàn kết với vô sản thế giới và biểu dương lực lượng của

mình (Đòi tăng lương, giảm giờ làm, bỏ sưu, giảm thuế, đòi bồi thường cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc KN Yên Bái…cuộc đấu tranh được Liên Xô ủng hộ Chính quyền TD đàn áp, bắn vào đoàn biểu tình làm 7 người chết, 18 gười bị thương, bắt 98 người)

- Từ thành phố đến nông thôn trong cả nước đã xuất hiện nhiều truyền đơn, cờđảng, mít tinh, bãi công, biểu tình, tuần hành…các cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ

ra trong các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn- Chợ Lớn…

- Các cuộc đấu tranh của nông dân nổ ra ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh TháiBình, Hà Nam, Nghệ An, …

( Các cuộc khởi nghĩa lan rộng trong cả nước Trong tháng 5 có 21 cuộc đấu tranh ở Bắc kỳ, 21 cuộc ở Trung kỳ, 12 cuộc ởNam kỳ; Trong đó có 16 cuộc đấu tranh của công nhân, 34 cuộc đấu tranh của nông dân, 4 cuộc của HS và dân nghèo thành thị.)

- Nghệ Tĩnh là nơi phong trào diễn ra mạnh nhất Tháng 9.1930 phong trào công –nông đã phát triển tới đỉnh cao Khẩu hiệu đấu tranh chính trị được kết hợp với các khẩuhiệu kinh tế Các cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt Quần chúng tổ chức tuần hành thị uy,biểu tình có vũ trang tự vệ, tấn công vào cơ quan chính quyền địch ở địa phương

+ 01.9.1930: 20 ngàn nông dân Thanh Chương biểu tình đòi bỏ thuế, giảm thuế,thả tù chính trị…Pháp nổ súng bắn vào đoàn biểu tình, nhưng những người biểu tình vẫntiến vào huyện đường phá nhà giam, thả tù chính trị, đốt hồ sơ sổ sách và dinh tri huyện.Bọn hào lý địa phương bỏ chạy, hầu hết các thôn xã thuộc huyện Thanh Chương trongtình trạng không có chính quyền

+ 05.9 Nhân dân huyện Anh Sơn biểu tình ủng hộ nhân dân Thanh Chương…+ 8-11.9 Khí thế đấu tranh càng sôi sục, hàng chục ngàn nông dân Nam Đàn,Thanh Chương, Diễn Châu, Anh Sơn, Nghi Lộc…nổi dậy

+ 12.9.1930 tại Hưng Nguyên hơn 20 ngàn nông dân liên kết với nông dân NamĐàn tổ chức biểu tình lớn Đoàn xếp hàng dài hơn 1km kéo về thành phố Vinh, đi đầu lànhững người cầm cờ đỏ, hai bên là những đội viên tự vệ được trang bị dao, gậy Trênđường đi, đoàn biểu tình dừng lại để diễn thuyết, chỉnh đốn đội ngũ Dòng người càng đicàng được bổ sung thêm Khi đến gần Vinh con số lên tới 30 vạn người và xếp thànhhàng dài tới 4km TD Pháp đàn áp dã man, chúng cho máy bay ném bom, dùng súng liênthanh bắn vào đoàn biểu tình làm chết 217 người, bị thương 125 người, đốt cháy 277nóc nhà Hai làng Lộc Châu, Lộc Hải bị triệt hạ hoàn toàn Sự đàn áp dã man của Pkhông ngăn nổi đoàn biểu tình…

* Kết quả:

Trang 9

- Bộ máy chính quyền của TD Pháp và phong kiến tay sai ở nhiều huyện bị tê liệt,

ở nhiều xã bị tan rã

- Các chính quyền Xô Viết được thành lập

*Vì sao phong trào ở Nghệ Tĩnh lên cao như vậy?

- Bên cạnh những nét chung của cả nước, Nghệ Tĩnh có những nét riêng:

+ Chịu ách thống trị của ĐQ, PK rất nặng nề

+ Là vùng đất nghèo, nhân dân Nghệ Tĩnh có truyền thống cách mạng

+ Cơ sở công nghiệp Vinh, Bến Thuỷ là trung tâm kỹ nghệ lớn nhất ở trung kỳ, làđiều kiện thuận lợi cho liên minh công – nông

+ Các tổ chức cộng sản và cơ sở Đảng ở đây khá mạnh

Nhận xét: Đây là phong trào cách mạng mới ở Việt Nam do Đảng của giai cấp

công nhân lãnh đạo, phong trào nổ ra đều khắp cả nước, rầm rộ lôi cuốn nông dân và cáctầng lớp nhân dân lao động tham gia

Câu 3: Chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời trong hoàn cảnh nào? Nêu những việc làm của chính quyền Xô Viết rồi rút ra nhận xét?.

*Hoàn cảnh ra đời: Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính

quyền của TD Pháp và PK tay sai ở nhiều huyện bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã Các banchấp hành nông hội xã do các chi bộ Đảng lãnh đạo đứng ra quản lý mọi mặt về đờisống chính trị và xã hội, ở nông thôn, làm nhiệm vụ của chính quyền nhân dân theo hìnhthức Xô Viết Thực chất đó là 1 chính quyền cách mạng sơ khai do giai cấp công nhânlãnh đạo

*Những việc làm của chính quyền Xô Viết

- Về chính trị: Chính quyền đã ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, quần

chúng được tự do hội họp, thảo luận và hoạt động trong các tổ chức đoàn thê cách mạng:Nông hội, công hội, hội phụ nữ giải phóng, đoàn thanh niên phản đế, hội học sinh, hộicứu tế đỏ…tổ chức các cuộc mít tinh, hội nghị để tuyên truyền giáo dục ý thức chính chịcho quần chúng

- Về kinh tế: Chia ruộng đất công cho nông dân, giảm tô, xoá nợ, bãi bỏ các thứ

thuế vô lý, bất công do ĐQ, PK đặt ra

- Về VH- XH: Chính quyền Xô Viết tổ chức cho nhân dân thực hiện đời sống

mới, mở lớp dạy chữ quốc ngữ, xoá bỏ tệ nạn xã hội, bài trừ mê tín dị đoan, xây dựngtình đoàn kết…

-Về quân sự: Mỗi làng đều có đội tự vệ vũ trang, do vậy trị an được đảm bảo, nạn

trộm cướp không còn

*Nhận xét: Tuy chính quyền mới thành lập ở 1 số xã, thời gian tồn tại chỉ được

4-5 tháng nhưng qua những việc làm trên, chính quyền Xô Viết đã tỏ rõ bản chất cáchmạng và tính ưu việt của nó đã đem lại nhiều lợi ích căn bản cho nhân dân Chính quyền

Trang 10

Xô Viết thật sự là chính quyền cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng(Chính quyền của dân, do dân, vì dân)

Câu 4 : Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939 như thế nào?

a.Hoàn cảnh lịch sử:

* Thế giới:

-Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 giai cấp tư sản lũng đoạnnhiều nước tìm lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng cách thiết lập chế độ phát xít( Italia, Đức, Nhất)

Chủ nghĩa phát xít ra đời, chúng xoá bỏ mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân,ráo riết chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới, chủ yếu là tiêu diệt Liên Xô và phong tràocách mạng vô sản thế giới…

Trước nguy cơ đó, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ( 7.1935) chỉ ra kẻ thù chínhtrước mắt của nhân dân lao động thế giới là chủ nghĩa phát xít Vì vậy phải tập trungmũi nhọn chống phát xít Đại hội chủ trương mỗi nước thành lập một mặt trận nhân dân

để tập hợp rộng rãi các lực lượng dân chủ chống phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hoàbình thế giới

Thực hiện nghị quyết của Quốc tế cộng sản nhiều nước đã thành lập mặt trận nhândân 1936 mặt trận nhân dân Pháp lên nắm quyền đã thực hiện 1 số chính sách tiến bộnhư cho nhân dân thuộc địa được hưởng 1 số quyền tự do dân chủ…

*Trong nước:

Hậu quả kéo dài của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 làm cho đời sống các tầnglớp, giai cấp bị ảnh hưởng Thêm vào đó đế quốc Pháp ở Đông Dương vẫn thi hànhnhững chính sách bóc lột, vơ vét, khủng bố, đàn áp làm cho đời sống của nhân dân tacàng thêm đói khổ, ngột ngạt

Một số tù chính trị được thả, họ đã nhanh chóng hoạt động trở lại

b Chủ trương của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939

Cách mạng Việt Nam là 1 bộ phận của cách mạng thế giới, căn cứ vào tình hìnhthế giới và trong nước, tiếp thu nghị quyết của Quốc tế cộng sản, Đảng ta nhận định kẻthù trước mắt, cụ thể của nhân dân lúc này là bọn phản động Pháp và bè lũ tay sai khôngchịu thi hành chính sách của Mặt trận nhân dân Pháp tại các thuộc địa

Tạm gác khẩu hiệu “ Đánh đổ đế quốc Pháp, Đông Dương hoàn toàn độc lập”,

“ Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày” nêu nhiệm vụ trước mắt của nhândân Đông Dương là “ Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản độngthuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình”

Trang 11

Thành lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương năm 1936 ( đến tháng 3.1938mặt trận dân chủ Đông Dương) nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước dân chủ, tiến bộđấu tranh chống chủ nghĩa phát xít bảo vệ hoà bình thế giới.

Hình thức và phương pháp đấu tranh : Hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai, nửacông khai khi cần thì rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng của ta

Như vậy do hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên chủ trương của Đảng cũng thay đổi,điều đó chứng tỏ Đảng đã trưởng thành hơn trong việc chỉ đạo sách lược đấu tranh

Câu 5: So với thời kỳ 1930- 1931 chủ trương sách lược của Đảng và hình thức đấu tranh trong thời kỳ 1936- 1939 có gì khác? Vì sao?

Kẻ thù Đế quốc, phong kiến

Thực dân Pháp cùng bè lũ tay saikhông chịu thi hành chính sách củamặt trận Nhân dân Pháp

Nhiệm vụ( Khẩu

hiệu)

Chống đế quốc, giành độclập dân tộc, chống phongkiến, giành ruộng đất chodân cày

Hoãn khẩu hiệu “ Đánh đổ đế quốcPháp, Đông Dương hoàn toàn độclập”, “ Tịch thu ruộng đất của địa chủchia cho dân cày” mà nêu các khẩuhiệu: Chống phát xít, chống chiếntranh, đòi tự do, cơm áo hồa bình

Mặt trận

Thành lập Mặt trận Nhân dân phản đếĐông Dương, sau đổi thành mặt trậndân chủ Đông Dương

Hình thức,

phương pháp

đấu tranh

Bí mật, bất hợp phápBậo động vũ trang

Hợp pháp, nửa hợp pháp; công khai,nửa công khai…

Câu 6: Tại sao nói phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh và phong trào cách mạng 1936- 1939 là hai cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cách mạng tháng 8- 1945?

a Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất:

- Mặc dù cuối cùng vẫn bị thất bại, song phong trào cách mạng 1930- 1931 màđỉnh cao là XVNT là thuận lợi đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trìnhphát triển tiếp theo của cách mạng Phong trào đã tạo ra những nhân tố đầu tiên đảm bảocho thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp cách mạng

- Phong trào đã khẳng định thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng qua phong trào này,

uy tín của Đảng được xác lập trong quần chúng, phong trào chứng tỏ đường lối cách

Ngày đăng: 15/06/2021, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w