Đề bài : Khảo tả , chụp ảnh , giám định niên đại . Nhận xét , đánh giá , giá trị của 15 hiện vật trong đìng , chùa hoặc bảo tàng. Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam I. Giới thiệu bảo tàng ( Nơi chọn hiện vật ) Địa chỉ : số 1 Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội Hàng ngày mở cửa: Sáng từ 8h00 — 11h30 Chiều từ 13h30 — 16h30 Thứ hai hàng tuần đóng cửa ............
Trang 1
MÔN: CỔ VẬT
Đề bài :
Khảo tả , chụp ảnh , giám định niên đại Nhận xét , đánh giá , giá trị của
15 hiện vật trong đìng , chùa hoặc bảo tàng
Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam
I Giới thiệu bảo tàng ( Nơi chọn hiện vật ) Địa chỉ : số 1 Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm - thành phố Hà Nội
Hàng ngày mở cửa:
- Sáng từ 8h00 — 11h30
- Chiều từ 13h30 — 16h30
- Thứ hai hàng tuần đóng cửa
Là một bảo tàng nằm giữa Thủ đô Hà Nội, trên đường phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm có một toà nhà tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi mang đậm phong cách nghệ thuật kiến trúc phương Đông - ẩn mình dưới những tán cây đại thụ - Đó chính là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Viện Bảo tàng vốn năm trên khu đất của cung Tây Long ngày xưa, từ năm
1873 thì bảo tàng nằm trên khu đất nhượng địa cho Pháp tại Hà Nội, sau đó là Toà lãnh sự quán Pháp Đầu thế kỉ XX, đây là nhà bảo tàng của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp Từ năm 1958 gọi là Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam Trước đây quen gọi là nhà Bác cổ
Bảo tàng là nơi lưu giữ và trưng bày các hiện vật về lịch sử đất nước và con người Việt Nam
Khuôn viên của bảo tàng vốn là phần đất thuộc thôn Tây Long, tổng Tả Túc, huyện Thọ Xương và là khu đất quân đồn, thường gọi là Đồn Thuỷ Khi
Trang 2Pháp chiếm Hà Nội, nhà Nguyễn đã dâng phần đất này làm nhượng địa Lúc đầu, Pháp xây ở đây một toà lãnh sự (1873) Từ đó đến năm 1906, nơi đây trở thành bản doanh quân đội, lãnh sự quán và sau đó là Toà Công sứ (1906) Khi Phủ Toàn quyền (Phủ Chủ tịch hiện nay) xây xong thì ngôi nhà này được chuyển cho Bảo tàng Louis Finot, thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) Từ 1926 - 1932, toà nhà cũ bị dỡ bỏ và xây dựng lại với kiến trúc như hiện nay, do Viện Viễn Đông Bác Cổ quản lí Năm 1958, toà nhà được giao cho Chính phủ Việt Nam Bảo tàng do kiến trúc sư Ernest Hébrard thiết kế Các chi tiết kiến trúc mang đậm phong cách châu Âu nhưng được cách điệu từ các chi tiết kiến trúc gỗ truyền thống Hệ thống kết cấu chính của toà nhà được làm bằng bê tông cốt thép
Khi còn là Viện bảo tàng của trường Viễn Đông Bác cổ, đây là nơi trưng bày những đồ cổ thu thập được ở các nước Đông Nam Á
Được biết, trong hệ thống các bảo tàng quốc gia Việt Nam, Bảo tàng lịch sử Việt Nam được thành lập sớm nhất Sau khi Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản công trình này đã tiến hành bổ sung các tài liệu, hiện vật để chuyển nội dung trưng bày của bảo tàng từ một bảo tàng nghệ thuật trở thành bảo tàng lịch
sử
Ngày 03/09/1958 , sau 5 tháng khẩn trương chuyển đổi nội dung trưng bày , Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam đã chính mở cửa đón khách tham quan với nội dung trưng bày về lịch sử Việt Nam từ thời Tiền Sử đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng rộng khoảng 2000 mét vuông, được chia thành nhiều không gian cho các tuyến tham quan theo chủ điểm và thứ
tự thời gian lịch sử
Hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử gồm bốn phần trọng tâm:
Phần thứ nhất: Việt Nam thời tiền sử
Trang 3Phần thứ hai: Từ thời dựng nước đầu tiên đến Triều Trần
Phần thứ ba: Việt Nam từ Triều Hồ đến Các Mạng Tháng Tám năm 1945 Phần thứ tư: Phòng trưng bày sưu tập điêu khắc đá Chăm pa
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam lưu giữ gần 7000 hiện vật được trưng bày theo nguyên tắc niên biểu Ngoài ra, các hiện vật cũng được trưng bày theo hướng "mở" để tạo điều kiện thu hút, cập nhật các tư liệu nghiên cứu mới nhất
để nội dung trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem Bảo tàng cũng thường xuyên tổ chức trưng bày chuyên đề với các thiết bị chiếu sáng, màn hình hiện đại giúp đưa lịch sử đên gần với người xem hơn
Hệ thống kho cơ sở của bảo tàng được sắp xếp khoa học, trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, hiện lưu giữ hơn 100.000 tiêu bản hiện vật gồm nhiều chất liệu sưu tập hiện vật quý hiếm thuộc các nền văn hoá núi Đọ, Hoà Bình - Bắc Sơn, Đông Sơn cùng các bộ sưu tập hiện vật có giá trị như Sưu tập gốm men cổ Việt Nam, sưu tập điêu khắc đá Chăm Pa, sưu tập đồ đồng thời Lê - Nguyễn
Bảo tàng cũng là nơi diễn ra nhiều hội thảo khoa học cấp quốc gia và quốc
tế như Bảo tồn hiện vật khảo cổ (1996); Vai trò của bảo tàng trong thế kỷ XX (1997) cũng như tiếp nhận, triển khai các dự án giao lưu văn hoá của Thuỵ Điển, Pháp, Nhật Bản
Sau đây sẽ là 15 hiện vật được trưng bày trong các gian trưng bày của bảo tàng Lịch Sử Việt Nam Mỗi hiện vật , mỗi thời kì đều có những đặc điểm , có những nét độc đáo riêng
II Khảo Tả :
1.Bia Vĩnh Lăng :
Trang 4Tấm bia Vĩnh Lăng đồ sộ, có giá trị lịch sử nhất thời Lê sơ được đặt trang
trọng ngay đầu phòng trưng bày Bài minh trên bia nói về thân thế và sự nghiệp của Lê Lợi do chính Nguyễn Trãi soạn, đây cũng là một kiệt tác về nghệ thuật điêu khắc đá đầu thế kỷ 15, đánh dấu phong cách trang trí giai đoạn chuyển biến
từ Trần sang Lê
Bia Vĩnh Lăng được tạc từ một khối đá xanh rất lớn đặt trên lưng rùa Trán bia hình bán nguyệt trên đó chạm nổi đôi rồng chầu mặt trời (một đề tài truyền thống trong nghệ thuật thời phong kiến), xung quanh diềm bia được trang trí hình rồng trong nửa lá đề, xen kẽ là các hình hoa cúc dây mềm mại, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê Dưới chân tấm bia được trang trí hình sóng nước, một lần nữa, chúng ta lại gặp hình ảnh trang trí rồng - sóng nước trong nghệ thuật thời Lê mà đề tài đó đã từng được thể hiện trạng trang trí ở cột đá chạm rồng, ở trang trí trên bệ tượng Adiđà (thời Lý) và trên bức chạm rồng ở chùa Thái Lạc (Hưng Yên) vào thời Trần trước đó Như vậy, tinh thần bản địa (nhu cầu thờ cúng của cư dân nông nghiệp) cùng những nét truyền thống của nền nghệ thuật dân tộc được thể hiện khá đậm nét trên tấm bia Vĩnh Lăng kể cả hình ảnh rùa đội bia với con rùa được thể hiện rất lớn, chân thực và sống động Hình ảnh này có thể chúng ta đã từng gặp ở Trung Hoa, nhưng với tấm bia của người Việt, nó mang ý nghĩa bản địa sâu sắc bởi lẽ con rùa là một con vật sống lưỡng
cư (thể hiện sự hài hoà với môi trường) và trường thọ cùng với tấm bia đá bền vững, người dân Việt mong ước công lao của các anh hùng dựng nước và giữ nước sẽ được lưu truyền mãi mãi về sau
Toàn bộ nội dung văn bia được khắc chìm, do Nguyễn Trãi - một anh hùng kiệt xuất, một danh nhân văn hoá lỗi lạc soạn thảo nói về thân thế, sự nghiệp của Lê Lợi - người anh hùng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) cũng như cuộc kháng chiến chống quân Minh, sự đầu hàng của Vương Thông (một tướng của nhà Minh) tại thành Đông Quan Đặc biệt, qua nội dung
Trang 5văn bia Vĩnh Lăng cùng với sự kiện Lê Lợi hoàn gươm cho rùa thần ở hồ Lục Thuỷ (nay là hồ Hoàn Kiếm) đã thể hiện tinh thần yêu hoà bình của người Việt
đã có từ ngàn xưa Bia Vĩnh Lăng xứng đáng là một công trình điêu khắc đá đồ
sộ, tiêu biểu cho nghệ thuật dân tộc thế kỷ XV
Bia Vĩnh Lăng được phục chế năm Thuận Thiên 6(1433), di tích Lam Kinh , Thọ Xuân, Thanh hoá Chiều cao của Bia là : 330cm , chiều rộng Bia là: 280cm , dày 27cm Là tấm bia lớn nhất thời Lê Sơ
2.Đôi Bát Thờ:
Đôi Bát Thờ thời triều Tây Sơn được làm bằng Gốm men trắng hoa lam, lò gốm Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội, thế kỷ XVIII Cao: 8.5cm, đường kính miệng:
20,4cm
Năm 1802, nhà Nguyễn với sự trợ giúp của nước ngoài đã lật đổ và thi
hành một chính sách trả thù tàn bạo nhà Tây Sơn, ngăn cấm mọi biểu hiện tưởng niệm dòng họ Quang Trung - Nguyên Huệ Song lòng tôn kính, ngưỡng mộ của nhân dân dối với người anh hùng dân tộc đã có công dẹp yên thù trong, đánh thắng giặc ngoài, thống nhất đất nước vẫn vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, sáng tạo ra nhiều hình thức để tưởng niệm Quang Trung - Nguyên Huệ: có nơi lập đền thờ (An Khê - Bình Định): tạc tượng thờ trong chùa (chùa Bộc - Hà Nội); làng gốm Bát Tràng sáng tạo một hình thức thờ Quang Trung rất tế nhị, sâu sắc Đó là đôi bát thờ gốm men trắng hoa lam Cũng bình thường, giản dị như bao sản phẩm gốm dân gian khác, xương gốm dầy, men tráng mỏng vẽ lam Dưới chôn bát có 4 chữ "Quang Trung niên tạo" Đối xứng qua tâm, trên thân bát, một bên
có dòng chữ "vị xuất địa thời tiên hữu tiết", một bên vẽ khóm trúc xanh tốt với các thân trúc mọc thẳng vươn cao
Trang 6Dưới thời phong kiến, trúc tượng trưng cho người quân tử (quân tử trúc)
có bản lĩnh, khí phách ngay thẳng, cương trực Câu thơ có ý nghĩa: măng trúc chưa ra khỏi lòng đất đã có đốt thẳng "Quang Trung niên tạo" có nghĩa là làm vào năm Quang Trung Toàn bộ chữ nghĩa, hoạ tiết hoa văn vẻ bề ngoài tưởng chừng như bình thường, nhưng bên trong chính lại ẩn dụ một ý nghĩa sâu sắc: người dân muốn tỏ lòng ngưỡng mộ và ca ngợi Quang Trung - Nguyễn Huệ, Ông là người xứng đáng với biểu tượng quân tử trúc Khóm trúc đương thì sung sức, cành lá sum xuê, lộ rõ những thân trúc dóng ngay đốt thẳng ứng với tài năng, khí phách của Quang Trung đương buổi sung mãn Câu thơ ứng vào thời niên thiếu của Quang Trung Nguyễn Huệ, bởi ngay từ nhỏ, khi đang học cùng hai anh ở nhà thầy giáo Hiến, ông đã sớm tỏ ra có tư chất hơn người Chính thầy giáo Hiến đã nhận xét: trong ba anh em họ Nguyễn này, xem ra chỉ có chú Thơm (tức Quang Trung - Nguyễn Huệ) là hơn cả, sau này ắt làm nên nghiệp lớn Khi đôi bát đặt trên ban thờ tôn nghiêm, trang trọng thì chính là lúc tâm linh người dân hướng về người anh hùng dân lộc với tất cả lòng ngưỡng mộ và tôn kính
3 Trống Cảnh Thịnh :
Trống Cảnh Thịnh với nguyên liệu chính là đồng đuợc đúc vào năm 1800 Chiều cao trống là : 37,40cm, đường kính nắp: 54,30cm, nặng: 64 cân (khoảng
32 kg)
Trang 7Trống đồng Cảnh Thịnh là một di vật thuộc loại quý hiếm trong số những hiện vật còn lại ít ỏi của triều đại Quang Trung hiển hách nhưng ngắn ngủi (1789
- 1802)
Trống được đúc mô phỏng theo kiểu trống da Mặt trống cong vồng lên, chính giữa là hai vòng tròn nổi, thân và chân trống liền nhau trang trí nhiều loại hoa văn: hình hoa 4 cánh, cao 3,5 cai phân bố đều quanh thân, văn nhũ đinh được trang trí tạo thành cánh hoa ở chân trống Đặc biệt thân trống có bài văn chữ Hán nói về bà Nguyền Thị Lộc vợ của tổng thái giám Giao quận công thuộc năm Vĩnh Hựu thứ 2 triều Lê (1736) đời vua Lê Ý Tông góp công lập chùa Linh Ứng (nay là chùa Nành), cùng lời dẫn đến việc đúc trống để thờ cúng, tu bổ chùa Ngoài ra, những dòng chữ Hán khác cho biết trống đúc vào ngày lành tháng 4 năm thứ 8 niên hiệu Cảnh Thịnh đời Nguyên Quán Toản (1800), xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội) ghi nhớ việc này
Tới kiểu dáng khác lạ so với những trống đồng truyền thống cùng trang trí nổi những con vật trong bộ tứ linh khiến trống Cảnh Thịnh trở nên độc đáo và khá đẹp, phản ánh sự sáng tạo trong nghệ thuật trang trí, kỹ thuật đúc trống cũng như nghề đúc đồng cổ truyền của dân tộc
Trống Cảnh Thịnh góp phần làm phong phú thêm sưu tập trống đồng cổ và
là nguồn sử liệu có giá trị về lịch sử đương thời
Trang 84 Chuông Thanh Mai ( phiên bản ):
Chuông Thanh Mai là một trong những hiện vật được trưng bày tại phòng
trưng bày : thời kì chống Bắc thuộc
Trang 9Thân chuông có các đường chỉ đúc nổi Chuông có hai núm gõ hình tròn, được trang trí nhiều cánh sen nhỏ ở xung quanh, được đúc nổi trên thân chuông, chính giữa nơi những gờ chỉ nổi dọc và ngang giao nhau Điều đặc biệt trên thân chuông có khắc bài minh bằng chữ Hán Bài minh không có đầu đề và cũng không chia thành từng phần như trên nhiều quả chuông thường gặp Mở đầu là dòng ghi niên đại của chuông, tiếp theo ghi tên 53 người góp tiền đúc chuông và
họ tên những người tham gia đúc chuông Bài minh có ghi nhiều dịa danh và chức tước phổ biến thời thuộc Đường
Văn bản chuông Thanh Mai là một trong những văn bản sớm nhất được biết trên đấl nước ta, phản ánh tương đối rõ xã hội, con người thời Bắc thuộc
Hiện nay, ở dân tộc Mường (Hòa Bình và Phú Thọ) vẫn còn lưu giữ được
lễ hội đánh trống đồng vào những ngày xuân, ngày mùa (ngày hội làng) của họ
Trang 10Trang trí trên trống đồng Tân Long, các loại hoa văn của trống đồng Đông Sơn
đã được cách điệu hoá song nó vẫn thể hiện được những đặc trưng cơ bản của phong cách trống đồng Đông Sơn Những phong cách, hoa văn trang trí cơ bản
đó cùng với tục đúc trống đồng (được coi như truyền thống của người Việt) đã thể hiện sức đấu tranh bền bỉ, mạnh mẽ của cư dân Việt chống lại âm mưu đồng hoá của phong kiến phương Bậc (đặc biệt là nhà Hán), cho dù nhà Hán một mặt
ra sức truyền bá văn hoá Hán (phong tục, lập quán, chữ viết, tiền tệ, ăn, mặc, ở ), mặt khác lại ra sức phá hoại những tập tục của người Việt đặc biệt là tục đúc trống đồng Điều đó đã góp phần khẳng định chủ nhân của trống đồng chính
là người Việt Cùng với những trang trí hoa văn cơ bản mang tính bản địa, trên trống đồng Tân Long còn trang trí những vành hoa văn: lá đề (cánh sen?) cách diệu - một biểu tượng của Phật giáo, hình chim phượng (một con vật linh thiêng mang tính biếu tượng gắn liền văn chế độ phong kiến); các hình ô trám lồng được trang trí kết hợp rất hài hoà, tỉ mỉ Với những đề tài trang trí này, phần nào
đã thể hiện sự giao lưu, liếp thu những yếu tố văn hoá từ bên ngoài của cư dân Việt đồng thời cũng thể hiện đây là thời kỳ mở đầu sự du nhập văn hoá Phật giáo
Trống đồng Tân Long là một hiện vật tiêu biểu cho thời kỳ Bắc thuộc, phản ánh sự tồn tại, sức sống mãnh liệt của văn hoá Việt cũng như đặc trưng tính cách của người Việt trong thời kỳ lịch sử đặc biệt
Trống Tân Long có niên đại thế kỷ II- III với chiều cao 43,7cm , đường kính mặt : 66,5cm , và nặng 30,4 kg
6 Bia Linh Xứng :
Trang 11Bia Linh Xứng là tấm bia bằng đá ghi công lao của vị anh hùng giữ nước
còn lại nguyên vẹn cho đến ngày nay với toàn bộ văn bia được khắc chìm, nét chữ chân phương, rõ ràng khắp mặt bia Nội dung văn bia nói về công lao cũng như sự quan tâm của Lý Thường Kiệt trong việc tìm đất, công đức tiền của để xây dựng chùa Linh Xứng, Hà Trung , Thanh Hoá đồng thời cũng phản ánh sự phát triển đến đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ này Trong văn bia
có đoạn: “ Đạo Phật truyền sang nước ta đến nay đã hơn 2000 năm, càng ngày càng được sùng thượng Các nơi danh sơn thắng cảnh, chỗ nào cũng có khai thác
để dựng giác trường Nhưng nếu không có các vương công đại nhân tận tâm giúp
đỡ thì không thể nào thành công được Chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn là của Thái uý lệnh công lập ra ” Như vậy, cùng với sự ra đời của các ngôi chùa khác cho chúng ta thấy rằng: vào thời Lý, các ngôi chùa thờ Phật ra đời chủ yếu gắn với cung đình và phục vụ chủ yếu cho tầng lớp quý tộc triều Lý
Đặc biệt, trong nửa phần nội dung văn bia đã nói về nhân thế, sự nghiệp, nhân cách của Lý Thường Kiệt cũng như công lao của ông trong sự nghiệp giữ nước của triều Lý như: vai trò của Ông trong cuộc dẹp yên Hoàn Vương nước Phật Thệ (Chiêm Thành) vào khoảng năm 1069 - 1072 và được triều đình phong chức Thái uý Đổng Trung Thư Hạ Bình Chương Sự, đặc biệt là vai trò của ông trong cuộc kháng chiến chống Tống với các trận đánh ở ba châu Ung - Khâm - Liêm và trận tuyến sông Như Nguyệt Trong văn bia có đoạn: “ Gần đây, quân Tống dòm ngó đất đai của ta, ông vận trù thành toán miếu đường, đem quân càn quét Ba châu, bốn trại, phá tan như bẻ cành khô Chưa được bao lâu quân Tống kéo đến sông như Nguyệt để báo thù quân ta đánh phá ba châu, ông đem quân chống cự, lấy tài hùng biện nghị luận, đánh bại quân giặc, giữ yên tôn miếu Vua thấy ông là người dũng cảm, càng thêm kính yêu Đầu đời Anh Võ Chiếu Thắng (l076) Ông được phong làm em nuôi vua (Thiên tử nghĩa đệ) và được cử ra coi
Trang 12việc quân châu ở trấn Thanh Hoá, quận Cửu Chân, Ái Châu, ăn lộc muôn hộ Việt Thường ”
Tấm bia được dựng vào ngày mồng 3 kháng 3 năm Bính Ngọ niên hiệu Thiên Phù Duệ Võ 7 (Lý Nhân rông - 1126) Với chiều cao 134cm , rộng 70cm Nội dung văn bia do Tứ thích, Hải chiếu đại sư Pháp Bảo soạn, cùng Tăng Huệ Tống, Thường Trung, Pháp Nhàn phụng khắc Nội dung văn bia Linh Xứng, các tài liệu sử sách lưu truyền cùng “Nam quốc sơn hà” (bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân lộc) đã thể hiện loàn bộ thân thế, sự nghiệp của vị anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt
7 Cọc Bạch Đằng :
Là một trong những hiện vật bằng gỗ được trưng bày tại phòng trưng
bày triều Trần Thế kỉ XIII với chiều cao là 150cm đến 300cm
Những chiếc cọc trưng bày tại bảo tảng Lịch sử Việt Nam được phát hiện năm 1976 tại ngã ba Sông Chanh và sông Bạch Đằng tỉnh Quảng Ninh là dấu tích trận địa cọc năm 1288 do Trần Quốc Tuấn chỉ huy Cọc gỗ lim, màu nâu đen, một đầu thuôn mịn dùng để cắm xuống lòng sông, một đầu nhọn mang nhiều rãnh nứt song song do nuớc bào mòn
Bãi cọc ngầm được đóng tại các chi lưu của sông Bạch Đằng: sông Chanh sông Kênh, sông Rút là đường rút lui theo kế hoạch của 600 chiến thuyền quân Mông Nguyên Bãi cọc chính nầm ở cửa sông Chanh, cọc dài khoảng 3m
Trang 13Khoảng cách trung bình giữa các cọc từ 0,9m đến 1.2m Giữa các hàng cọc có nhiều khúc gỗ nằm ngang có lẽ là khúc gỗ cài để chặn thuyền giặc Ngoài những cọc cắm thẳng đứng, còn có một số cọc cắm nghiêng góc 45 độ nhằm mục đích đánh vào thuyền giặc áp sát bờ Trong khoảng 20 ngày, hàng ngàn chiếc cọc được quân Đại Việt dựng lên, tạo nên một phòng tuyến ngầm ở cửa sông Ngày 9 – 4-1288, quàn ta đã phá tan đoàn thuyền của giác
Trong chiến thắng này, trận địa cọc chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Nhà quân sự lỗi lạc Trần Quốc Tuấn đã tính toán một cách chính xác, khoa học địa thế và con nước thuỷ triều lên xuống để tổ chức những trận đánh khiêu chiến
và kiềm chế địch, đưa thuyền địch vào trận dịa cọc đúng lúc thuỷ triều rút Trận địa cọc là một hình thức và phương pháp tác chiến độc đáo biểu hiện sức sáng tạo trong nghệ thuật quân sự và tài thao lược của tổ tiên ta thời Trần
8 Chuông Vân Bản:
Chuông Vân Bản được phát hiện năm 1958, tại biển Đồ Sơn, Hải Phòng
Thế kỉ XIII- XIV với chiều cao 125cm , đường kính miệng 8cm Quai chuông trang trí hai con rồng đấu lưng vào nhau, nơi tiếp giáp ở vị trí cao nhất trang trí hình búp sen vẩy cá chép bao phủ toàn bộ thân rồng