Là cán bộ quản lý, tôi nghiên cứu về kỹ năng sống, giáo dục kỹ năng sống, quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT; các yếu tố tác động đếngiáo dục kỹ năng sống cho học sinh, từ đ
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Là cán bộ giáo viên trong thời kỳ đổi mới tôi nhận thức rõ khi công cuộc đổi mớicủa đất nước càng đi vào chiều sâu, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, sự đanxen các mặt tốt xấu diễn ra hàng ngày, những mặt tiêu cực của nó tác động không nhỏđến suy nghĩ, hành động của HS, những năm gần đây tình trạng trẻ vị thành niên viphạm pháp luật xu hướng gia tăng, đặc biệt có cả vụ án giết người, cố ý gây thươngtích…mà nạn nhân có cả thầy cô, bạn bè và người thân trong gia đình Trẻ vị thànhniên phạm tội có nhiều nguyên nhân, trên thực tế còn HS học giỏi đạt điểm cao trongcác môn học nhưng khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém, phần này cũng
do giáo dục ở một số nhà trường thiên về dạy chữ hơn là dạy người Nội dung giáo dụctrong nhà trường nặng về lý thuyết, xem nhẹ thực hành, ít liên hệ thực tiễn, HS thiếuhiểu biết về pháp luật, lối sống, KNS Cuộc sống hiện đại khiến mỗi người không chỉtrang bị cho mình những kiến thức, mà cần những khả năng giải quyết vấn đề, khảnăng ứng phó với căng thẳng, khả năng tư duy sáng tạo…, đó chính là KNS, KNS xemnhư năng lực quan trọng để con người làm chủ được bản thân và sống có hiệu quả
Vì vậy, giáo dục KNS và Quản lý giáo dục KNS trong các nhà trường nói chung,trường THPT Hai Bà Trưng nói riêng là vô cùng quan trọng
Trên địa bàn thành phố Phúc Yên, việc giáo dục KNS cho HS trong những nămgần đây đã được các cấp lãnh đạo, các nhà trường quan tâm, đối với các thầy cô giáo
và cả các nhà quản lý giáo dục Để đảm bảo nhiệm vụ giáo dục KNS cho HS đạt hiệuquả cao, công tác quản lý đội ngũ giáo viên giáo dục KNS cho HS thông qua môn học
đóng vai trò then chốt Là cán bộ quản lý, tôi nghiên cứu về kỹ năng sống, giáo dục kỹ
năng sống, quản lý giáo dục kỹ năng sống ở các trường THPT; các yếu tố tác động đếngiáo dục kỹ năng sống cho học sinh, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm nâng caohiệu quả của công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học ở trườngtrung học phổ thông hiện nay Vận dụng vào thực tiễn việc quản lý trong trường THPTHai Bà Trưng
Trang 2- Địa chỉ: Trường THPT Hai Bà Trưng, Thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0948.024.366 Email: dunghuyhbt@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trần Thị Hồng Dung
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Vận dụng trong quản lý, chỉ đạo việc giáo dục kỹ năng sống nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện cho học sinh THPT Hai Bà Trưng
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu:
Từ 10/10/2019 trường THPT Hai Bà Trưng, áp dụng trong công tác quản lý,chỉ đạo thực hiện quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, giáo viên trường THPTHai Bà Trưng đã áp dụng sáng kiến trong việc giáo dục kỹ năng sống thông qua cácmôn học
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
Bằng các phương pháp nghiên cứu: thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, thống
kê, nghiên cứu lý thuyết, so sánh - đối chiếu và phân tích, tổng hợp; thực nghiệm sưphạm để xác định tính ưu việt của việc quản lý nội dung giáo dục KNS thông qua mônhọc Sáng kiến kinh nghiệm 2 chương (5 tiết); kết luận và kiến nghị
Chương 1: Giáo dục KNS, quản lý giáo dục KNS thông qua các môn học chohọc sinh THPT
- Các khái niệm cơ bản về KNS; Nội dung giáo dục KNS;
- Quản lý giáo dục KNS
Chương 2: Thực trạng và một số biện pháp quản lý giáo dục KNS thông quamôn học cho học sinh THPT Hai Bà Trưng hiện nay
Trang 3- Thực trạng việc quản lý nội dung giáo dục KNS thông qua môn học ởtrường THPT Hai Bà Trưng hiện nay
- Một số biện pháp quản lý giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Hai BàTrưng thông qua môn học
- Thực nghiệm sư phạm
Trang 4
CHƯƠNG 1 GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG, QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THÔNG QUA CÁC MÔN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Giáo dục kỹ năng sống
1.1.1.Kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm về KNS và mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo nhữngcách khác nhau
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi tương ứng
và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thứccủa cuộc sống hàng ngày
Theo Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thayđổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thukiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng
Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), KNSgắn với bốn trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm các kỹnăng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo; Học để làm (Learning to do) gồmcác kỹ năng thực hiện công việc như: kỹ năng tự đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm;Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như:
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng, tự khẳng định; Học để tồn tại (Learning tobe) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tựnhận thức, tự tin,…
Theo từ điển tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vàothực tiễn” [9, tr 843], “Sống còn là tồn tại và phát triển” [9, tr 756]
Trong tài liệu hướng dẫn GV về giáo dục KNS trong môn Sinh học của Bộ Giáodục và Đào tạo “Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năngứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trướccác tình huống của cuộc sống” [2, tr 8]
Trên cở sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học về khái niệmKNS ta có thể nói:
“Kỹ năng sống là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn để con người tồn tại và phát triển”.
Trang 51.1.2 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Theo từ điển tiếng Việt: “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệthống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đốitượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [10,tr510] “Giáo dục phổ thông là ngành giáo dục dạy những kiến thức cơ sở cho họcsinh” [10, tr 510] Vậy, giáo dục KNS cho HS là ngành giáo dục dạy những kiến thức
về KNS đáp ứng yêu cầu hình thành nhân cách con người phát triển một cách toàndiện phù hợp với thời đại
Trong giáo trình “Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và giao tiếp ứng xử trong quản lý”, khái niệm giáo dục KNS được
định nghĩa là: “Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiệnđại, xây dựng những hành vi lành mạnh, thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cựcdựa trên nền tảng các giá trị sống, nghĩa là người học không chỉ hướng đến sự hiểubiết mà còn phải làm được những điều mình hiểu, biết ứng xử linh hoạt trong mọihoàn cảnh, công việc nhằm làm cho cuộc sống bản thân và cộng đồng ngày càng tốtđẹp hơn Giáo dục KNS có nhiệm vụ trọng tâm là đảm bảo cho mọi người có được sự
tự do trong tư duy, phán xét cảm nhận, sáng tạo để phát triển tài năng của mình vàkiểm soát được cuộc sống của mình càng nhiều càng tốt” [3, tr.72]
Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Bình: “Giáo dục kỹ năng sống là hình thành cáchsống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổinhững hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị,thái độ và các kỹ năng thích hợp” [1, tr.32]
Trên cở sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về quan niệm giáodục KNS, vận dụng trong giáo dục KNS cho một đối tượng cụ thể là HS trung học phổthông, có thể cho rằng:
“Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông là quá trình tác động của nhà giáo dục tới học sinh nhằm hình thành ở họ cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp”.
Trang 61.1.3 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Trong bộ sách giáo khoa “Giáo dục kỹ năng sống”, các môn học: Địa lý, Giáo dụccông dân, Văn học, của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gợi ý nội dung giáo dục KNS cho
HS trong các nhà trường phổ thông bao gồm 21 kỹ năng sống cơ bản Trong tài liệu tậphuấn “Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, KNS và giao tiếpứng xử trong quản lý” đã phân tích những KNS cơ bản trong giáo dục cho HS được phânthành ba nhóm kỹ năng sau:
Học sinh THPT cần được giáo dục để tu dưỡng phẩm chất đạo đức, các tính cách
cụ thể đối với bản thân, biểu hiện như lối sống trung thực, giản dị, tiết kiệm, khoandung, tự lập, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau,…Trong công việc cần có thái độ siêngnăng, chăm chỉ, tôn trọng kỷ luật, năng động, sáng tạo,…Biết yêu môi trường thiênnhiên, có ý thức bảo vệ môi trường Biết yêu quê hương đất nước, tích cực tham giacác hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tôn trọng, học hỏi và tiếp thu các giá trị tốtđẹp của cuộc sống,…
Học sinh trong nhà trường được giáo dục có đạo đức tốt các em sẽ biết phân biệtđúng, sai, có thái độ sống khoan dung, độ lượng, biết cách giao tiếp ứng xử, các hànhđộng của các em thấu tình đạt lý, đạt tới giá trị nhân văn cao nhất, như thế sẽ khôngcòn tình trạng bạo lực học đường Đó cũng là những kỹ năng kiềm chế cảm xúc, giảiquyết mâu thuẫn, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định,…
Trang 7Mỗi nhà trường đều thực hiện giáo dục đầy đủ, có hiệu quả những kỹ năng ở banhóm: Nhóm KN nhận thức; nhóm KN quản lý bản thân; nhóm KN xã hội thì chắcchắn các em có quan niệm sống đúng đắn, biết phát triển bản thân, có thái độ tích cực,đời sống tâm lý hài hòa, biết xây dựng gia đình và cộng đồng phát triển lành mạnh,bền vững.
1.2 Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
1.2.1 Quản lý giáo dục kỹ năng sống
- Về thuật ngữ “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau Quản lý
giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hộinhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Nghị quyếtHội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã viết: “Quản lý giáodục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạtđộng sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quảnhất” [4, tr.50]
Sự thực, thuật ngữ này có nhiều cấp độ Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu là cấp vĩ
mô và cấp vi mô Việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối.+ Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ýthức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục và nhà trường)nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệtrẻ theo yêu cầu của xã hội
+ Đối với cấp vi mô: Trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý bao gồmnhiều loại, như quản lý các hoạt động giáo dục: hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục(theo nghĩa hẹp), hoạt động xã hội, hoạt động văn thể, hoạt động lao động, hoạt độngngoại khóa, hoạt động giáo dục hướng nghiệp… ; quản lý các đối tượng khác nhau:quản lý GV, HS, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất… quản lý (thực ra là tácđộng đến) nhiều khách thể khác nhau: quản lý thực hiện xã hội hóa giáo dục, điều tiết
và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, tham mưu với phụ huynh học sinh,
…
Trên bình diện vi mô, quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem làđồng nghĩa với quản lý nhà trường Cho nên, một cách khác, ta hiểu:
Trang 8“Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [7, tr 11].
* Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Trên cơ sở các khái niệm KNS, giáo dục KNS, quản lý và quản lý giáo dục, quản
lý giáo dục KNS cho học sinh THPT là:
“Quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT là hoạt động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể quản lý giáo dục trong nhà trường, nhằm tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục kỹ năng sống diễn ra theo một chương trình, kế hoạch thống nhất, phù hợp với tính chất, đặc điểm của nhà trường trung học phổ thông, mục tiêu, nhiệm
vụ giáo dục KNS đã đề ra”.
1.2.2 Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Điều 15, Luật Giáo dục nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảmbảo chất lượng giáo dục” Điều 16 nêu: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quantrọng trong tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục” Tổng hợp cả hai điềutrên cho thấy chất lượng giáo dục được tạo ra bởi sự tương tác giữa người dạy vàngười học, giữa người quản lý và người thực thi công việc trong nhà trường Để nângcao hiệu quả giáo dục KNS người quản lý cần quan tâm quản lý kế hoạch, nội dung,phương pháp, hình thức, hiệu quả của công tác giáo dục KNS trong nhà trường
* Quản lý kế hoạch giáo dục kỹ năng sống
Kế hoạch giáo dục KNS là một khâu cơ bản của quá trình giáo dục KNS Bởi vì,
kế hoạch giáo dục thể hiện rõ mục đích, nội dung chương trình, phương pháp, hìnhthức cũng như các điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục đã đề ra Quản lý kế hoạchgiáo dục KNS phải thực hiện thường xuyên, bao gồm từ kế hoạch nâng cao trình độđội ngũ, quản lý phối hợp các lực lượng giáo dục, quản lý kế hoạch kiểm tra đánhgiá…
Từ kế hoạch giáo dục KNS nhà trường cần chủ động xây dựng chương trình,giáo trình dạy KNS cho trường mình Nội dung giáo dục KNS cần phù hợp với kinhnghiệm, nhu cầu của HS và của cả xã hội Các chủ đề giáo dục KNS phải đưa ra môhình thực hành về kỹ năng tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định (học đểbiết); các kỹ năng thực hành để thực hiện những hành vi mong muốn (học để làm); các
Trang 9kỹ năng giao tiếp liên nhân cách (học để cùng chung sống); các kỹ năng để tự kiểmsoát bản thân (học để khẳng định mình) Do vậy:
- Để quản lý chương trình nội dung giáo dục KNS cho người học, trước hết cầnxác định những KNS cần trang bị cho họ Khi xác định nội dung giáo dục KNS chonhóm đối tượng nào đó cần căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý - xã hội của nhóm đốitượng đó; đặc điểm của bối cảnh xã hội mà nhóm đối tượng đó đang sống
- Sau khi đã xác định được những KNS cần giáo dục cho HS nhà trường cần xâydựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình giáo dục, trong đó cần xác định rõ conđường giáo dục những KNS này: những KNS nào có thể hình thành, củng cố và giáodục thông qua việc khai thác nội dung các môn học, qua sử dụng các phương pháp dạyhọc tích cực, qua hoạt động ngoài giờ lên lớp; những nội dung giáo dục nào cần tiếpcận theo bốn trụ cột “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định, học để chungsống”
Như vậy, quản lý việc xây dựng kế hoạch giáo dục KNS sẽ giúp cho người quản
lý có cách nhìn tổng thể về quá trình giáo dục KNS trong một tháng, một học kỳ, mộtnăm, …
* Quản lý các lực lượng giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục KNS là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, để nâng cao hiệu quảgiáo dục KNS và quản lý tốt công tác giáo dục kỹ năng sống cho HS, cần phải quan tâm tới
cả chủ thể hoạt động và khách thể hoạt động, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chủ thể vàkhách thể hoạt động giáo dục KNS
Trước hết nhà trường phải đầu tư xây dựng đội ngũ GV tốt về phẩm chất, nănglực, đồng bộ về cơ cấu và đủ về số lượng để họ có thể tự tin, sáng tạo đứng trên bụcgiảng phân tích những KNS cần thiết mà các em cần trang bị để có cuộc sống tốt đẹphơn Nhà trường cần đẩy mạnh công tác bồi dưỡng đội ngũ cả nội dung, phương pháp,cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục KNS Từ đó, giúp GV tạo động lực pháttriển nghề nghiệp, tích cực thay đổi cách dạy, tạo phong cách học tập mới cho trò và
sử dụng nhiều dạng thức khác nhau để khích lệ sự tham gia tích cực của trò vào quátrình giáo dục, kích thích động cơ dạy học của GV và động cơ học tập của HS ở mọimôn học, mọi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hoặc ngoại khóa
Cán bộ quản lý cần hỗ trợ xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy với thầy,giữa thầy và trò, giữa trò và trò… Mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về văn hóa
Trang 10học đường cho HS noi theo, từ trang phục đến phong cách làm việc, kỹ năng giao tiếp,ứng xử trước HS, cha mẹ HS và đồng nghiệp Đặc biệt cần phát huy cao độ mối quan
hệ giữa GV chủ nhiệm với HS và cha mẹ HS, nâng cao vai trò của GV chủ nhiệm lớptrong việc đảm nhận trách nhiệm hình thành nếp sống văn hóa cho HS GV chủ nhiệmcần được hỗ trợ để tổ chức dẫn dắt các hoạt động tập thể của lớp chủ nhiệm như cáchoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhằm giúp tổ chức này pháthuy tích cực trong việc giáo dục đạo đức, lối sống theo chuẩn mực văn hóa, giúp HStăng cường các hoạt động về giao tiếp, thuyết trình trước tập thể…
* Quản lý phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống
Để thực hiện tốt nội dung giáo dục KNS cho HS theo mục tiêu đã đề ra thìphương pháp và hình thức tổ chức đóng vai trò quan trọng trong nhận thức của họcsinh Phương pháp giáo dục phù hợp, hình thức tổ chức phong phú sẽ thu hút HS, làmcho HS có hứng thú trong học tập thì chắc chắn công tác giáo dục KNS đạt được kếtquả cao Quản lý phương pháp, hình thức giáo dục KNS trong trường phổ thông baogồm quản lý các hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp, phương pháp vàhình thức tổ chức giáo dục KNS của các tổ chức đoàn thể, của đội ngũ giáo viên…Cónhiều phương pháp giáo dục KNS cho HS, trong đó phương pháp điển hình mà cáctrường THPT áp dụng là: Phương pháp động não, thảo luận nhóm và liên hệ thựctế Trên cơ sở nội dung giáo dục nhà quản lý phải quản lý được phương pháp và hìnhthức giáo dục KNS cho HS
* Quản lý phương tiện, công cụ hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống
“Cơ sở vật chất trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên và
HS sử dụng nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục, giảng dạy” [6, tr.285]
Giáo dục KNS không chỉ qua kênh nghe mà HS cần được trải nghiệm qua cáctình huống cụ thể, được thể hiện chính kiến của mình Giáo dục KNS có thể thông quagiờ học trên lớp, qua giờ học thể dục thể thao ngoài sân chơi, bãi tập, các phong tràovăn hóa văn nghệ, hoạt động ngoại khóa, tham quan thực tế, …
Những phương tiện để phục vụ cho giáo viên và HS gồm: trường sở, sân chơi,bãi tập, phòng bộ môn,…Các công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục có thể kể đến như: loađài, video, máy chiếu, công cụ sửa chữa, máy móc gia công cơ khí, công cụ sản xuất,
Trang 11vật tư sản xuất, mô hình cụ thể như tài liệu, tranh ảnh, sách báo, tạp chí,…để giáo dụcKNS hiệu quả, người GV cần có những phương tiện hiện đại khác như đĩa CD-Rom,
đồ dùng đa phương tiện…và các đồ dùng biểu đạt khác như chương trình truyền hình,truyền thanh…
Nhà trường cần trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, quản lý việc sử dụng các công cụ,thiết bị giáo dục KNS trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục KNS, đồng thờinâng cao nhận thức của giáo viên và HS trong quá trình sử dụng những phương tiện,công cụ hỗ trợ giáo dục KNS, sao cho cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ giáo dụcKNS phát huy hết tiềm năng, phục vụ tốt nhất việc thực hiện mục tiêu giáo dục đã đềra
* Quản lý việc đánh giá kết quả giáo dục KNS
Kết quả giáo dục KNS thể hiện ở việc đánh giá xem kế hoạch giáo dục KNS
có đạt được mục tiêu tác động đến hành vi người học hay không? UNESCO đưa nộidung đánh giá KNS theo bốn trụ cột là:
Học để biết (kỹ năng nhận thức); Học để làm (kỹ năng thực hành, làm việc);Học để cùng chung sống (kỹ năng xã hội); Học để khẳng định mình (kỹ năng xác đinhgiá trị) Do KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội, giáo dục KNS là giúp
HS hình thành cách sống tích cực, có hành vi lành mạnh nên việc kiểm tra hiệu quảgiáo dục KNS cần kết hợp nhiều phương thức khác nhau như: xây dựng tiêu chí, thôngqua quan sát, xây dựng phiếu hỏi, phiếu điều tra, các bài tập tình huống, phỏng vấn,…
Kiểm tra đánh giá thực hiện theo quá trình từ khâu xây dựng kế hoạch của cán
bộ, giáo viên đến cách thức thực hiện Đồng thời với kiểm tra giám sát là sự tư vấn,chỉnh lý, bổ sung nội dung, phương pháp giáo dục KNS cho đội ngũ giáo viên; uốnnắn những hành vi lệch lạc của HS sao cho kết quả giáo dục KNS cho HS đạt đượcmục tiêu đã đề ra
1.2.3 Các yếu tố tác động đến quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, những nội dung, phươngpháp, mục tiêu giáo dục xây dựng trên cơ sở thực tiễn theo mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh Giáo dục trong nhà trường được tiến hành có tổ chức, tác động trực tiếp đếnngười học, quá trình học tập trong nhà trường người học được bồi dưỡng về phẩm chấtđạo đức, tiếp thu tri thức khoa học, năng lực thực hành, hình thành và phát triển nhân
Trang 12cách Quản lý công tác giáo dục KNS cho HS góp phần lớn trong mục tiêu giáo dụccon người phát triển toàn diện, các yếu tố tác động tới quản lý giáo dục KNS là:
* Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
Giáo dục KNS cho HS trung học phổ thông đòi hỏi GV phải có hiểu biết về nộidung, phương pháp, cách thức thực hiện giáo dục KNS, nhưng thực tế giáo viên giảngdạy các trường THPT là những giáo viên được đào tạo theo chuyên môn như: Toánhọc, Vật lý, Hóa học, nếu mỗi giáo viên không được bồi dưỡng kiến thức, nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ, không học hỏi để có kiến thức về KNS sẽ ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng giáo dục KNS cho HS
Hơn nữa, HS phải được thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập cácmôn học, giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức sinh hoạt, hội thảo, mới là điều kiện tốtnhất trong nhận thức của HS về KNS, không phải mọi giáo viên đều có khả năng tổchức tốt các hoạt động này
Đội ngũ cán bộ giáo viên là lực lượng nòng cốt trong quản lý giáo dục KNScho HS Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động này, CBQL và giáo viên cần phải cónhững phẩm chất nhân cách cần thiết, có trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đáp ứngyêu cầu của hoạt động quản lý giáo dục KNS cho HS Tuy nhiên, hiện nay, CBQL vàđội ngũ giáo viên mới được tiếp cận nội dung giáo dục KNS, cần trang bị đầy đủ cho
họ phương tiện, nội dung, phương pháp giáo dục KNS, chắc chắn công tác giáo dục kỹnăng sống cho HS có hiệu quả
* Mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục
Nhà trường nước ta nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, những nội dung,phương pháp, mục tiêu giáo dục xây dựng trên cơ sở thực tiễn theo mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định Giáo dục trong nhà trường được tiến hành có tổ chức, tác động trực tiếpđến người học, quá trình học tập trong nhà trường người học được bồi dưỡng về phẩmchất đạo đức, tiếp thu tri thức khoa học, năng lực thực hành, hình thành và phát triểnnhân cách Nội dung giáo dục KNS đã đưa vào trong trường THPT nhưng hiện naychưa có tài liệu chuẩn về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT, dẫn đến tìnhtrạng mỗi trường lại có những cách thức giáo dục khác nhau điều này ảnh hưởng lớntới công tác quản lý giáo dục KNS cho HS
* Phương tiện vật chất, trang thiết bị phục vụ giáo dục kỹ năng sống
Trang 13Trong mỗi trường học để thực hiện tốt nội dung, chương trình giáo dục khôngnhững cần đội ngũ giáo viên có kiến thức, có nghiệp vụ sư phạm mà còn có một cơ sởvật chất đầy đủ như: Trường sở, sân chơi, bãi tập, công cụ hỗ trợ giáo dục KNS,…Nếu không có sân chơi, bãi tập không thể tổ chức các hoạt động hoạt động tập thể nhưhoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể, hoạt động thể dục thể thao,… Không có đầy
đủ phòng học bộ môn, thiết bị hỗ trợ cho công tác giáo dục KNS, HS không phát huyđược tính chủ động, tích cực, sáng tạo, không thể hiện bộc lộ tính cách của bản thân,hạn chế trong giao tiếp ứng xử,… Cán bộ quản lý khó tìm ra được những ưu, nhượcđiểm trong phát triển nhân cách của HS, điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáodục KNS trong mỗi nhà trường
* Tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng sống
Kết quả giáo dục kỹ năng sống là kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội, nên quátrình kiểm tra đánh giá gặp không ít khó khăn, chưa có một bộ tiêu chí cụ thể nào đểđánh giá chất lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT Khi học tập ở nhà trường các
em học lý thuyết nhiều hơn, nội dung bài học, bài kiểm tra được thực hiện theo kiếnthức chuẩn sách giáo khoa không có nội dung kiểm tra để đánh giá KNS
Trong thực tế, HS cần phải thực hành, phải trải nghiệm mới đánh giá được hành
vi, nhận thức của mỗi cá nhân
Sự thay đổi về hành vi bao giờ cũng khó khăn hơn thay đổi về nhận thức, do đócần phải chú ý đến khâu giám sát và đánh giá kết quả học tập KNS của HS Chức năngkiểm tra đánh giá của nhà quản lý được thực hiện trong suốt quá trình năm học, theotừng giai đoạn, theo từng tháng, từng tuần, theo từng công việc Kiểm tra giám sát càngchặt chẽ, sát sao, tỉ mỉ cả số lượng, chất lượng và tiến độ công việc để rút kinh nghiệmkịp thời càng làm cho chương trình tiến hành có chất lượng Đổi mới kiểm tra, đánhgiá, coi trọng việc phân tích kết quả kiểm tra giáo dục KNS, qua đó giúp giáo viên điềuchỉnh hoạt động giảng dạy, giúp HS phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong họctập một cách kịp thời Thực hiện đồng bộ công tác kiểm tra việc giáo dục KNS là yếu tốquan trọng trong hoạt động giáo dục KNS cho HS
* Môi trường học tập và môi trường xã hội
Gia đình, cộng đồng nơi cư trú là nơi sinh sống của mỗi con người Gia đình làmôi trường đầu tiên của đứa trẻ, cha mẹ là những người giáo dục đầu tiên Nếp sống
Trang 14gia đình, môi trường lành mạnh ở khu dân cư ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, trítuệ, tình cảm của từng cá nhân
Ở tuổi đi học, môi trường học tập và môi trường xã hội ảnh hưởng rất lớn tới
HS theo đó, có tác động ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động quản lý giáo dục KNScho HS Khi đến trường HS có tập thể lớp, tổ chức Đoàn thanh niên, Trong sinh hoạttập thể, HS lựa chọn những gì phù hợp với xu hướng năng lực của mình để tham gia
và tiếp thu Hơn nữa nhóm bạn bè có ảnh hưởng hàng ngày, hàng giờ tới mỗi HS Sinhhoạt, học tập, giao lưu trong nhóm bạn bè tốt, họ cùng giúp đỡ nhau, cùng thi đua họctập, rèn luyện để trở thành người tốt Sống trong nhóm bạn bè xấu, lười biếng, cónhiều hành vi không tốt ảnh hưởng rất lớn tới ý thức, thái độ và hành vi của mỗi cánhân
* Ý thức tự giáo dục của học sinh
Muốn giáo dục KNS có hiệu quả hơn hết HS phải nhận thức rằng KNS rất cầntrong xã hội hiện đại, các em tự ý thức được những kỹ năng hữu ích trong cuộc sống,
từ đó hình thành năng lực tự học Quản lý tốt việc học tập của HS theo quy chế của BộGiáo dục đào tạo Quản lý HS bao hàm cả quản lý thời gian, chất lượng học tập, quản
lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập Quản lý HS về ý thức tự giáo dục giúpcác em rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, nhận thức được giá trị bản thân, có kỹnăng làm việc, kỹ năng tâm lý xã hội,…chắc chắn rằng các em có cuộc sống tốt đẹphơn
Trang 15CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG
THÔNG QUA MÔN HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HAI BÀ TRƯNG HIỆN NAY
2.1 Thực trạng việc quản lý nội dung giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học ở trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay
2.1.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên
* Về đội ngũ cán bộ quản lý
Về đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường hiện nay gồm 03 đồng chí trongBGH, trong đó 01 đồng chí hiệu trưởng, 02 đồng chí phó hiệu trưởng Trình độ chuyênmôn có 01 đồng chí được đào tạo chuyên ngành Ngữ văn, 01 đồng chí môn TiếngAnh, 01 đồng chí chuyên ngành Toán, đây cũng là điểm thuận lợi trong công tác quản
lý đổi mới kiểm tra đánh giá HS hiện nay Ngay từ đầu năm học BGH đã xây dựng đầy
đủ kế hoạch trong đó có kế hoạch chuyên môn đã chỉ đạo rõ tổ chuyên môn phải thựchiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, trong đóđánh giá học sinh một cách toàn diện, đánh giá cả kiến thức và kỹ năng đến từng bàihọc cụ thể…Tuy nhiên, trong công tác quản lý chỉ đạo tổ chuyên vẫn còn khó khăn đó
là đội ngũ cán bộ tổ chuyên môn có đủ về số lượng (04 đồng chí tổ trưởng), các đồngchí đều là những cán bộ trẻ, nhiệt tình nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong công tácquản lý, cả 04 đồng chí chưa được học bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý tổ bộ môn
* Về đội ngũ giáo viên
Nhà trường có 73 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trình độ thạc sĩ: 30/73 cán bộ,giáo viên (Chiếm 41,1 %.), GV trong nhà trường có đủ và dư trong tất cả các môn học,trình độ chuyên môn trên chuẩn cao đáp ứng đủ cho yêu cầu giảng dạy chuyên môncũng như đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục cho HS được thể hiện trong bảngsau:
Trang 16Tiếng Anh
Vật Lý
Hóa Học
Sinh Học
Lịch Sử
Địa Lý
Số lượng giáo viên dạy các môn học trong nhà trường
2.1.2 Thực trạng chất lượng giáo dục hai mặt và giáo dục mũi nhọn
Thực trạng chất lượng giáo dục hai mặt
Trường THPT Hai Bà Trưng được thành lập trên cơ sở sắp xếp tổ chức lạitrường THCS&THPT Hai Bà Trưng, trường THPT Phúc Yên, do đặc điểm học tập củacác em có thế mạnh riêng trong các môn học, các em trường THCS&THPT Hai Bàtrưng có xu thế mạnh học các môn tự nhiên, các em trường THPT Phúc Yên có thếmạnh ở các môn khoa học xã hội,
Phát huy những điểm mạnh của hai nhà trường, thực hiện sự nghiệp đổi mớigiáo dục được bắt đầu từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về “ Phát triển giáo dục” từ năm
1986 đến nay đó là giáo dục toàn diện, trò ra trò, học ra học, thầy ra thầy, dạy ra dạy,trường ra trường, lớp ra lớp, đổi mới quản lý giáo dục
Thực hiện quan điểm chỉ đạo đó, các cơ sở giáo dục nói chung, trường THPTHai Bà Trưng nói riêng đã đổi mới phương pháp quản lý về mọi mặt, chất lượng giáodục những năm gần đây đạt được một số kết quả sau:
Trang 17phương để giáo dục đạo đức cho học sinh Đặc biệt nhà trường phối hợp với Đoàn thanh niênchú trọng đến việc giáo dục truyền thống của nhà trường cũng như của địa phương Một sốviệc làm cụ thể như: Tổ chức giáo dục kỹ năng sống an toàn lành mạnh; Tố chức lao độngdọn vệ sinh, trồng cây chăm sóc di tích lịch sử Do làm tốt công tác giáo dục đạo đức chohọc sinh nhiều năm liên tục nhà trường không có học sinh vi phạm pháp luật hay mắc các tệnạn xã hội Cụ thể:
Năm học Số
lớp
Tổng số HS
Kết quả xếp loại hạnh kiểm
* Về chất lượng giáo dục văn hoá
Nhà trường thực hiện nghiêm túc chương trình giảng dạy theo quy định của Bộgiáo dục Ban giám hiệu nhà trường luôn có biện pháp chỉ đạo sát sao chất lượng giáodục đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn bằng việc tổ chức bồi dưỡng chuyên đề, bồidưỡng các đội tuyển học sinh giỏi, bồi dưỡng học sinh yếu, tổ chức tốt công tác kiểmtra đánh giá, phấn đấu đạt kết quả cao và ổn định trong nhiều năm Tỷ lệ học sinh xếploại học lực giỏi khá ngày càng tăng; tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông hàng nămluôn đạt tỷ lệ 99,8% trở lên, tỷ lệ học sinh đỗ đại học, cao đẳng đạt tỷ lệ từ 94% trởlên Các chỉ số về học lực, học sinh giỏi như sau:
Trang 18Tiêu chí
Năm học
HS đạt giải
Cấp Quốc giaCấp Trường Cấp Tỉnh
Kết quả thi học sinh giỏi cấp trường, cấpTỉnh, cấp Quốc Gia
Có thể nói, từ sự đổi mới của công tác quản lý, tạo động lực cho giáo viên nhiệt tìnhgiảng dạy, tích cực tìm tòi sáng tạo, phát huy khả năng tư duy của học sinh, giúp họcsinh tiếp cận tri thức mới, có đạo đức, có tri thức, có lối sống lành mạnh
Số lượng học sinh ổn định, không có học sinh bỏ học Số đông học sinh sau khitốt nghiệp trung học phổ thông có hoài bão lập thân, lập nghiệp, đi học đại học, caođẳng, các trường dạy nghề, chất lượng giáo dục của nhà trường ngày càng phát triển,trong những năm qua thành tích của nhà trường góp phần quan trọng trong việc nângcao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế - xã hội,giữ vững an ninh chính trị cho địa phương
2.1.3.Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Hai Bà Trưng
* Thực trạng nhận thức của cán bộ, giáo viên về công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Giáo dục KNS có được quan tâm hay không phụ thuộc vào chủ thể giáo dụcnhận thức có đầy đủ về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS Quátrình điều tra nhận thức về công tác giáo dục KNS cho HS qua 50 phiếu đối vớiCBQL, cán bộ công đoàn, đoàn thanh niên GV và phụ huynh trường THPT Hai BàTrưng thu được kết quả:
Trang 19Bảng 1: Tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS cho học sinh THPT
Về mức độ đánh giá tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS qua kết quảđiều tra ở bảng 1 cho thấy: 100% những người được điều tra đều khẳng định công tácgiáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường THPT là rất quan trọng và quan trọng,không có ý kiến nào trả lời công tác giáo dục KNS ít quan trọng và không quan trọng.Điều này cho thấy CBQL, giáo viên, phụ huynh nhà trường đã nhận thức đầy đủ, đúngđắn về tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh THPT trong giai đoạn hiệnnay
Để tìm hiểu sâu hơn về nhận thức của cán bộ GV trong công tác giáo dục KNScho HS, chúng tôi tìm hiểu những đánh giá của 100 HS về những yếu tố ảnh hưởng tớigiáo dục KNS cho HS, đây là vấn đề mà các nhà quản lý giáo dục cần quan tâm Kếtquả thu được
TT Những yếu tố ảnh hưởng
Rất ảnh hưởng
Ảnh hưởng
Ít ảnh hưởng
K ảnh hưởng
3 Một số bộ phận giáo viên chưa
quan tâm đến giáo dục KNS
4 Nội dung giáo dục KNS
chưa thiết thực
5 Hiểu biết của HS về nội
dung KNS chưa đầy đủ
8 Nhiều đoàn thể xã hội chưa
quan tâm đến giáo dục KNS,
Trang 20coi đó là trách nhiệm của
nhà trường
9 Sự phối hợp giữa các lực lượng
giáo dục chưa thường xuyên
Bảng 2: Những yếu tố ảnh hưởng tới việc giáo dục KNS cho học sinh THPT
Kết quả thu được từ bảng 2 ta thấy, có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới công tác giáo dụcKNS Tuy nhiên, những yếu tố được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất đó là sự nhận thứcchưa đầy đủ về tầm quan trọng của KNS ở các nhà trường và xã hội, có tới 85% ý kiếnđánh giá rất ảnh hưởng; mức đánh giá 84% rất ảnh hưởng là đội ngũ GV chưa quantâm đến giáo dục KNS; tiếp theo đó là ảnh hưởng từ phía gia đình; việc kiểm tra đánhgiá các hoạt động giáo dục KNS chưa thường xuyên ảnh hưởng thứ ba HS chỉ quantâm đến học văn hóa, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, nội dung, hình thứcgiáo dục cũng đóng vai trò quan trọng, yếu tố điều tra cho thấy mức độ rất ảnh hưởngtới 62%, được đánh giá mức độ ảnh hưởng thứ tư Cơ sở vật chất thiếu thốn, đoàn thểđịa phương không quan tâm tới giáo dục KNS sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả giáo dụcKNS trong các nhà trường
KNS cần thiết cho học sinh, nhưng học sinh THPT thì những KN nào là cần vàrất cần giáo dục trong giai đoạn hiện nay? Đó là câu hỏi phỏng vấn sâu cho các lựclượng giáo dục, kết hợp cùng 100 phiếu điều tra về vấn đề này với nhóm KN nhậnthức, quản lý bản thân, nhóm KN xã hội Kết quả thu được:
Trang 21Bảng 3: Mức độ cần thiết của các KNS đối với học sinh THPT
Từ kết quả ở bảng 3 cho thấy nhóm kỹ năng giúp HS nhận thức, quản lý bản thân
và nhóm kỹ năng xã hội đều được đánh giá rất cần thiết và cần thiết được giáo dụctrong các nhà trường hiện nay 100% số người được hỏi đều trả lời rất cần và cần phảigiáo dục cho học sinh THPT Từ kết quả điều tra trên có thể nói, công tác giáo dụcKNS trong nhà trường đã được cán bộ quản lý quan tâm chỉ đạo sát sao đến cán bộ
GV, để họ thấy rằng nhiệm vụ giáo dục KNS cho học sinh THPT hiện nay là rất quantrọng Từ mức độ nhận thức về tầm quan trọng trong công tác giáo dục KNS, cán bộ
GV trong các nhà trường đã quan tâm tới những KNS rất cần thiết phải giáo dục cho
HS, họ đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng tới công tác giáo dục KNS một cáchđầy đủ, khách quan Điều này giúp cho các nhà quản lý nhà trường có những biệnpháp quản lý phù hợp, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS
trong giai đoạn hiện nay
*Thực trạng nhận thức của học sinh về kỹ năng sống
Để kiểm tra mức độ nhận thức và hiểu biết của HS về KNS, tác giả đã tiến hànhkhảo sát 300 em HS từ những tình huống kỹ năng cụ thể đến những kiến thức hiểu biếtsâu về KNS thông qua 10 câu hỏi (phụ lục 01), kết quả thu được:
Trang 22Từ bảng 4 ta thấy KNS của hầu hết HS đều đạt ở mức trung bình hoặc chưa tốt.
Cụ thể trong kỹ năng giao tiếp có 51% thể hiện là chưa biết cách cư xử trong giaotiếp; kỹ năng kiên định trước khó khăn của cuộc sống được thể hiện mức cao hơn 75%đánh giá mức khá và tốt nhưng trong khả năng kiên định, HS chưa thể hiện được sựkhéo léo để từ chối (có 55% kiên quyết từ chối, 20% HS biết thương lượng để từ chối -câu 2); khả năng bình tĩnh biết kiềm chế đối với những khó khăn trong cuộc sống vàbiết tư duy tích cực chỉ đạt được 30% là mức độ tốt, số HS còn lại đều lúng túng trongcách lựa chọn phương án trả lời khi gặp khó khăn với người lớn tuổi thì phương án lựachọn chủ yếu là “khóc”, gặp những tình huống khó khăn với bạn bè có 45% thể hiệnmức độ “không thèm nói gì”; kỹ năng nhận thức về bản thân thể hiện chưa rõ nét vớinhững HS được hỏi, trong câu hỏi cụ thể như “sự lựa chọn nghề trong tương lai?” có62% HS trả lời “theo khả năng của bản thân”, nhưng ở câu hỏi 10 HS lại không biết
“điểm mạnh và điểm yếu của bản thân là gì?” Cuộc sống hiện tại, khả năng hoạt độngnhóm, hoạt động tập thể rất cần thiết, qua điều tra các em đều muốn tham gia vào cáchoạt động tập thể nhưng còn e ngại và rụt rè, chưa có khả năng tự tin để thể hiện mìnhtrước tập thể, chỉ có 22% HS tham gia tích cực vào các phong trào tập thể Mặc dù HScòn yếu nhiều kỹ năng trong giao tiếp ứng xử, khó khăn trong học tập, khó khăn trongcuộc sống nhưng sự chia sẻ, sự cảm thông của các em với những người thân lại rất ít,các em thường giữ kín trong lòng, ngại nói cho mọi người xung quanh, chỉ đôi khimuốn thổ lộ, chia sẻ (35%), mức độ thường xuyên chia sẻ là 16% Đặc biệt sự hiểu sâu
về khái niệm KNS trong 300 HS đều trả lời chưa hiểu rõ thế nào là khái niệm KNS
Trang 23Từ những kết quả phân tích ở trên, chúng ta thấy học sinh trong nhà trường đã cónhững kỹ năng cần thiết trong những tình huống cụ thể Nhưng cuộc sống còn muônvàn những khó khăn khác nhau, học sinh chưa có đầy đủ những kiến thức cơ bản vềKNS thì rất khó để vượt qua những khó khăn thách thức của cuộc sống hiện tại cũngnhư trong tương lai Tuy nhiên trong kết quả điều tra, điều rất đáng mừng là hầu hếtcác em được hỏi đều nhận thấy KNS rất cần (198 HS - 66%) và cần (102 HS - 34%)trong cuộc sống (câu 8 phụ lục 1)
Như vậy, có thể thấy nguyên nhân của những khó khăn mà học sinh THPT chính là
do sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển nhanh về nền công nghiệp của thị xã Khi sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đi vào đến từng phố nhỏ, ngõ nhỏ trên địa bàndân cư, cha mẹ đòi hỏi và kỳ vọng nhiều ở các con, dẫn đến những áp lực cho các controng học tập, áp lực cho việc lựa chọn nghề Hơn nữa thời gian mà cha mẹ, thầy cô dànhcho các em quá ít, dẫn đến tình trạng các em gặp những khó khăn về bản thân, về quan hệvới bạn bè người thân, những khó khăn trong học tập mà chưa tìm được cách tháo gỡ Với
hệ thống câu hỏi phỏng vấn sâu các em đều mong muốn nguyện vọng của mình là đượcgia đình và nhà trường quan tâm nhiều hơn nữa trong giáo dục toàn diện để các em cókhả năng tự tin trong cuộc sống
* Thực trạng nội dung chương trình giáo dục kỹ năng sống
Nội dung chương trình giáo dục KNS trong các nhà trường THPT cho đến naychưa thống nhất giữa các trường Nội dung giáo dục chủ yếu đưa ra trong các cuộc hộithảo, chuyên đề như: giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; giáo dục giới tính; giáodục phòng chống HIV/ AIDS,…Nội dung giáo dục KNS trong trường THPT đượcquan tâm nhiều hơn năm 2010, nhưng vẫn chưa có giáo trình cụ thể mà Bộ GD&ĐTđịnh hướng một số nội dung cần giáo dục cho HS thông qua một số mộn học tiềmnăng, chúng tôi tiến hành trao đổi 50 GV với câu hỏi “đồng chí đánh giá thế nào về
việc thực hiện nội dung giáo dục KNS cho HS thông qua các môn học?”, kết quả cho
thấy giáo dục KNS của GV thông qua các môn học có tỷ lệ chưa tốt là cao nhất 50%,mức độ thực hiện trung bình là 50%, không có ý kiến nào đánh giá là khá và tốt Chúngtôi tiếp tục phỏng vấn 25 GV giảng dạy môn khoa học tự nhiên, 25 GV giảng dạy cácmôn khoa học xã hội với câu hỏi “Đồng chí có thực hiện giáo dục KNS cho HS quamôn học của mình không?” Với GV giảng dạy các môn khoa học xã hội có 11 GV(44%) trả lời có thực hiện giáo dục KNS cho HS nhưng tùy thuộc vào từng bài cụ thể,
Trang 2414 GV (56%) chưa thực hiện giáo dục KNS qua bài học với lý do nội dung bài học quádài không có thời gian để giáo dục KNS Với GV giảng dạy các môn khoa học tự nhiênchỉ có 6 GV (24%) trả lời có thực hiện giáo dục KNS ở một số bài cụ thể, 19 GV (76%)trả lời chưa thực hiện giáo dục KNS vì thời gian giảng dạy không đủ với nội dung bàihọc trên lớp và họ chưa nghiên cứu về vấn đề này
* Thực trạng việc xây dựng kế hoạch và chỉ đạo giáo dục KNS cho học sinh
Giáo dục KNS muốn có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào khâu lập kế hoạch, xâydựng chương trình, nội dung, chỉ đạo các hoạt động giáo dục Đánh giá đúng mức việcxây dựng kế hoạch và chỉ đạo giáo dục KNS, chúng tôi tiến hành điều tra mức độ thựchiện công tác xây dựng kế hoạch giáo dục KNS của 50 cán bộ GV, cán bộ quản lý Kếtquả thu được:
Việc xây dựng kế hoạch quản lý
công tác giáo dục KNS cho học sinh
Chương trình, nội dung giáo dục
KNS phù hợp với từng khối lớp
Công tác tổ chức chỉ đạo việc thực
hiện kế hoạch, nội dung giáo dục KNS
Phát huy tốt vai trò của các tổ
chức đoàn thể
Việc chỉ đạo dạy KNS thông qua
các môn học khoa học xã hội
Việc chỉ đạo dạy KNS qua tất cả
các môn học
Phối hợp tốt giữa nhà trường, gia
đình, xã hội trong công tác giáo
dục KNS
Xây dựng môi trường lành mạnh
và tạo điều kiện thuận lợi cho
Trang 25Những ý kiến đánh giá của GV, cán bộ quản lý thu được ở bảng 5 cho thấy, cácnhà trường đã xây dựng kế hoạch, xác định nội dung chương trình và chỉ đạo việc thựchiện kế hoạch, nội dung giáo dục KNS một cách đầy đủ không có ý kiến nào mức độthực hiện yếu;cán bộ, GV của nhà trường đều chú trọng việc xây dựng môi trường sưphạm lành mạnh tạo thuận lợi cho công tác giáo dục KNS, việc nâng cao nhận thức vềvai trò KNS cho HS đã được quan tâm Tuy nhiên, nội dung giáo dục KNS phù hợpvới từng khối lớp chưa được đánh giá cao, mức độ trung bình đạt tới 54% Việc chỉđạo dạy KNS thông qua tất cả các môn học thực sự chưa tốt tới 50% đánh giá yếu.Nhà trường mới quan tâm nhiều tới chỉ đạo giáo dục KNS thông qua các môn khoahọc xã hội, đây là mặt yếu trong công tác quản lý, chỉ đạo giáo dục KNS của nhàtrường
* Thực trạng quản lý các lực lượng giáo dục KNS cho học sinh THPT ở trường THPT Hai Bà Trưng
Dưới sự chỉ đạo sát sao của BGH, các thầy cô giáo trong nhà trường đã có nhiều
cố gắng trong công tác giáo dục toàn diện cho HS như rèn luyện khả năng học tập, giáodục đạo đức, tham gia các hoạt động xã hội…Tuy nhiên mức độ thực hiện về giáo dụcKNS cho HS của các tổ chức đoàn thể, cán bộ quản lý, của GV chủ nhiệm và GV bộmôn trong nhà trường cũng khác nhau
Chúng tôi tiến hành điều tra 50 cán bộ GV về mức độ thực hiện giáo dục KNS.Kết quả thu được:
Giáo viên giảng dạy bộ môn
thông qua các môn học
Trang 26lớp cũng được các nhà trường giao trách nhiệm cao nhất trong công tác giáo dục KNScho HS GV chủ nhiệm thực hiện giáo dục KNS thông qua giờ sinh hoạt lớp, hoạtđộng văn hóa văn nghệ, lao động tập thể
Về quản lý phương pháp giáo dục KNS cho HS trong nhà trường chúng tôiphỏng vấn 50 GV với câu hỏi: “đồng chí cho biết khi giáo dục KNS cho HS ở trườngbạn thường áp dụng phương pháp nào?” Với câu hỏi này chúng tôi nhận được 100% ýkiến cho rằng chủ yếu sử dụng các phương pháp: Thuyết trình, nêu gương thực hiệntrong giờ chào cờ (thứ 2), các phương pháp thảo luận nhóm, động não, xử lý tìnhhuống… ít được áp dụng vì chỉ có hoạt động chủ điểm mới có điều kiện thực hiện
Về cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thể dục thể thao,văn hóa văn nghệ; sân chơi dành cho hoạt động ngoại khóa nhà trường đều có đầy đủ.Các phương tiện khác như âm li, loa đài, máy chiếu đều được trang bị đầy đủ trên hầuhết các phòng học
Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT Hai
Bà Trưng
Ưu điểm:
Đội ngũ giáo viên và HS của nhà trường đã nhận thức đầy đủ về vai trò của giáodục KNS, tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS cho học sinh THPT hiện nay.Hơn nữa đội ngũ giáo viên xác định rõ những KNS cần và rất cần phải giáo dục cho
HS đó là nhóm kỹ năng xã hội, nhóm kỹ năng nhận thức và quản lý bản thân Trang bịđầy đủ cho các em những kỹ năng này khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường để các
em có thể phát triển nhân cách một cách toàn diện, đáp ứng được yêu cầu nguồn nhânlực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một số giáo viên bộ môn, đặc biệt là giáo viên bộ môn khoa học xã hội đã quantâm tới công tác giáo dục KNS thông qua môn học của mình
Nhà trường đã quan tâm đến phương tiện vật chất, có sân chơi bãi tập, có phònghọc bộ môn, các công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục KNS như loa đài, máy chiếu tươngđối là đầy đủ Môi trường sư phạm được quan tâm ở các nhà trường như việc xây dựng
“trường học thân thiện, HS tích cực”, các phong trào thi đua như phong trào “mỗi thầy
cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” luôn được phát động ở các nhàtrường Phong trào hoạt động tập thể như văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao trong cácngày lễ lớn 20/11, 22/12, 3/2, 26/3 được tổ chức nhân rộng trong tập thể HS Đó là
Trang 27những điều kiện để cho HS học tập, giao lưu, bộc lộ được những tính cách, hành vitrong cuộc sống giúp giáo viên nhìn nhận và điều chỉnh, uốn nắn HS phát triển đúnghướng.
Hạn chế:
Nhận thức của một số cán bộ giáo viên ở nhà trường chưa đồng đều, một số giáoviên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của KNS đối với học sinh THPT do đó tráchnhiệm của họ chưa cao, chưa đổi mới phương pháp giáo dục, họ chưa tạo được phongcách học tập mới cho HS dẫn đến chất lượng giáo dục KNS chưa cao
Việc xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung giáo dục KNS chưa thống nhấtgiữa các nhóm bộ môn, nội dung giáo dục KNS chưa đầy đủ, HS còn yếu kém nhiều ởnhóm kỹ năng nhận thức bản thân, kỹ năng giao tiếp trong nhóm kỹ năng xã hội Nộidung giáo dục KNS ở các môn học chưa có sự thống nhất, nhiều giáo viên chỉ quantâm đến nội dung kiến thức chưa quan tâm tới nội dung giáo dục KNS cho HS
Cơ sở vật chất, công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục KNS tuy là có đầy đủ nhưngnhiều thiết bị chưa đồng bộ, chất lượng không tốt, đặc biệt là các thiết bị phục vụ chocông tác thực hành còn thiếu, khu dành cho hoạt động lao động hướng nghiệp không
có, trong khi đó kinh phí dành cho các hoạt động tham quan dã ngoại chưa được đầu
tư
Môi trường giáo dục KNS của HS còn phụ thuộc vào yếu tố gia đình, phong tụctập quán của cộng đồng Hiện nay còn nhiều mặt trái của xã hội luôn tác động đến HShàng ngày hàng giờ Việc xây dựng môi trường giáo dục nhà trường đôi khi còn chưaquan tâm đúng mức tới từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng HS Mỗi nhà trường
tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động dã ngoại thực tế chưa được quantâm nhiều Phần này cũng ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục KNS cho HS
Nguyên nhân hạn chế:
Nhận thức của một số giáo viên về công tác giáo dục KNS cho HS chưa đồngđều, một số giáo viên chưa xác định rõ trách nhiệm của mình trong công tác giáo dụcKNS
Trang 28Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về KNS, vị trí vai trò, ý nghĩa củaKNS tới GV còn mang tính hình thức, chủ yếu dưới dạng triển khai công việc, chưaxác định rõ tầm quan trọng của công tác giáo dục KNS trong nhà trường hiện nay.
Nội dung giáo dục KNS chưa đầy đủ, chưa có một tài liệu hướng dẫn thốngnhất từ Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo về nội dung, phương pháp,cách thức tiến hành giáo dục KNS cho học sinh
Hình thức giáo dục KNS trong nhà trường chưa thật sự hấp dẫn, hình thức giáodục KNS chưa phong phú, chưa được làm thường xuyên liên lục mà chỉ làm trong cáchoạt động phong trào chủ điểm như ngày 20/11, ngày 22/12, ngày 26/3, v.v
Kỹ năng của giáo viên về công tác giáo dục KNS còn nhiều hạn chế chưa đápứng được yêu cầu của việc giáo dục KNS hiện nay Nội dung giáo dục KNS mới đượcđưa vào trường THPT, đội ngũ giáo viên không được đào tạo cơ bản mà chỉ thông quahình thức tập huấn, hội thảo do Sở Giáo dục & Đào tạo tổ chức
Cán bộ quản lý nhà trường lãnh đạo - chỉ đạo giáo dục KNS chưa thường xuyên,chưa có biện pháp kích thích đội ngũ giáo viên nhiệt tình tham gia các hoạt động giáodục KNS, dẫn đến các hoạt động giáo dục KNS chỉ làm cho đủ, chưa có tính hiệu quả.Công tác chỉ đạo giáo dục KNS thông qua các môn học chưa có sự thống nhấttới tất cả giáo viên, giáo dục KNS chủ yếu ở các nhà trường là thông qua số ít bài củacác môn học khoa học xã hội
Hoạt động giáo dục trong nhà trường tập trung chủ yếu vào công tác chuyênmôn, quan tâm nhiều đến việc dạy các môn văn hóa, thiếu sự đầu tư cho các hoạt độnggiáo dục KNS Cơ sở vật chất còn thiếu thốn và chưa đồng bộ, kinh phí phục vụ chocác hoạt động tham quan thực tế,
Công tác kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục KNS cho HS của GV thông qua cácmôn học của nhà trường gần như bỏ ngỏ, chủ yếu kết quả giáo dục KNS chỉ được đánhgiá qua các hoạt động phong trào chủ điểm Các nhà trường chưa có hội nghị tổng kết,đánh giá rút kinh nghiệm về giáo dục KNS hàng năm
Để khắc phục tình trạng này đòi hỏi chúng ta phải tìm ra những biện pháp mangtính đồng bộ, khoa học và khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho họcsinh thông qua môn học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinhtrong nhà trường hiện nay
2.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống thông qua các môn học
Trang 292.2.1 Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, trong công tác giáo dục KNS cho học sinh
* Mục tiêu của biện pháp: Làm cho cán bộ, GV hiểu được thực chất, vai trò của
KNS, những KNS cần được giáo dục cho HS, tầm quan trọng của việc giáo dục KNStrong xã hội hiện tại; từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ GV trong côngtác giáo dục KNS cho HS, cũng như phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức củaHS
* Nội dung của biện pháp:
Nâng cao nhận thức về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhànước, của bộ ngành và địa phương cho cán bộ quản lý, GV và HS
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên về vai trò, tầm quan trọng của giáodục KNS cho HS ở nhà trường hiện nay
Đánh giá đúng mức những ưu điểm, hạn chế trong thực trạng KNS, giáo dụcKNS, quản lý giáo dục KNS của nhà trường, những thuận lợi, khó khăn trong hoạtđộng giáo dục KNS, từ đó tìm ra phương hướng khắc phục những khó khăn đó đểcông tác giáo dục KNS của nhà trường đạt được mục tiêu đề ra
Tổ chức tập huấn cho đội ngũ GV các nội dung, cách thức tổ chức giáo dụcKNS Nội dung, cách thức tổ chức giáo dục KNS mà đội ngũ GV cốt cán của nhàtrường đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo tập huấn hàng năm Tuyên truyền cho GV hiểu rõ trách nhiệm, phạm vi, quyền hạn của họ trongcông tác giáo dục KNS, đó là trách nhiệm của cấp Ủy, tổ chức Đảng, trách nhiệm củahiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, tổ trưởng bộ môn, tổ chức đoàn thanh niên, tổ chứccông đoàn, đội ngũ GV
Từ đó tuyên truyền nâng cao nhận thức của HS về vai trò, tầm quan trọng củaKNS, từ đó phát huy ý thức tự giáo dục cho mỗi HS
* Ý nghĩa của biện pháp:
Đội ngũ cán bộ GV là lực lượng nòng cốt trong hoạt động quản lý giáo dục, nângcao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ GV sẽ phát huy tốt vai trò chủ động, sáng tạo,đổi mới phương pháp giáo dục phát huy được ý thức tự giáo dục của HS, nâng cao đượcchất lượng giáo dục KNS cho HS
* Cách thức thực hiện:
Trang 30Nhà trường cần cụ thể hóa các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng vànhà nước, các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo vàcác ban ngành địa phương về công tác giáo dục KNS cho HS bằng những kế hoạch cụthể tới từng cán bộ GV trong nhà trường
Công tác tuyên truyền phải thực hiện thường xuyên ở các cuộc họp hội đồng,sinh hoạt tổ chuyên môn, sinh hoạt của tổ chức công đoàn, hoạt động của tổ chứcĐoàn thanh niên
Nhà trường cung cấp tài liệu học tập, đáp ứng đầy đủ cơ sở vật chất, phươngtiện phục vụ để tổ chức các hoạt động giáo dục KNS cho HS phù hợp với điều kiệncủa mỗi nhà trường
2.2.2 Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phù hợp với các khối lớp THPT thông qua môn học
* Mục tiêu của biện pháp: Xây dựng kế hoạch một cách đồng bộ, thống nhất từ
cán bộ quản lý tới GV, xác định nội dung giáo dục KNS theo từng bài học, từng khốilớp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS
* Nội dung của biện pháp:
Xây dựng kế hoạch của nhà trường gồm kế hoạch năm học, kế hoạch học kỳ, kếhoạch tháng, cụ thể hóa kế hoạch đến từng tuần, kế hoạch quản lý các hoạt động giảngdạy của GV bộ môn, quản lý các hoạt động giáo dục trong giờ chính khóa, hoạt độngngoài giờ lên lớp, kế hoạch quản lý hoạt động tự bồi dưỡng của GV, hoạt động tự học,
* Ý nghĩa của biện pháp:
Giáo dục KNS cho HS đòi hỏi GV nhà trường đồng bộ tham gia Nội dunggiáo dục KNS phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của HS Do đó đòi hỏinhà quản lý giáo dục phải xây dựng kế hoạch một cách cụ thể khoa học, quản lý
Trang 31thống nhất từ cán bộ quản lý tới GV và HS Có kế hoạch đầy đủ, thực hiện tốt kếhoạch góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục KNS.
* Cách thức thực hiện:
Nhà trường nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước, của BộGiáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục & Đào tạo, chủ trương giáo dục toàn diện cho HS,những nội dung giáo dục KNS đưa vào chương trình phổ thông
Phân tích đặc điểm tình hình cụ thể về sự phát triển kinh tế xã hội của địaphương, những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển tâm sinh lý của HS Phân tích nhữngthuận lợi khó khăn, điều kiện về đội ngũ GV, cơ sở vật chất… từ đó xây dựng kếhoạch, xác định nội dung giáo dục KNS phù hợp với từng môn học, với từng khối lớp
cụ thể
Cần có sự thống nhất kế hoạch, nội dung giáo dục KNS cho HS giữa nhàtrường, gia đình và các tổ chức đoàn thể để có sự phối hợp, ủng hộ về nhân lực, vật lựccủa các lực lượng giáo dục
2.2.3 Chỉ đạo giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học
* Mục tiêu của biện pháp: Thống nhất những nội dung giáo dục KNS cơ bản của
từng môn học, từng bài học cụ thể tới GV, mỗi GV xây dựng kế hoạch, xác định nộidung dạy tích hợp hoạt động giáo dục KNS cho HS có hiệu quả nhưng không làm quátải môn học
* Nội dung của biện pháp:
Giáo viên bộ môn là lực lượng đông đảo nhất trong nhà trường Các môn họcđều có thể tham gia giáo dục KNS tùy theo từng bài học cụ thể Nhiều năm nay khigiáo dục KNS đưa vào chương trình phổ thông, những môn khoa học xã hội được xem
là có tiềm năng như môn: Giáo dục công dân, Văn học… Trên thực tế, các môn khoahọc tự nhiên lại có những ưu thế riêng như môn Toán học có khối lượng kiến thức rấtlớn, thời lượng lên lớp của mỗi GV toán trên một lớp cũng nhiều nhất so với GV dạy
bộ môn học khác Mục tiêu môn Toán phần yêu cầu kiến thức kỹ năng HS phải biết
“giải toán và vận dụng kiến thức toán học trong học tập và đời sống” Nội dung,chương trình môn Toán biên soạn với mục tiêu như trên tạo điều kiện cho GV dạy toán
dễ dàng tiếp cận trong giáo dục KNS Mặt khác khi tiếp cận giáo dục KNS cho HS ở
Trang 32môn Toán sẽ làm cho HS dễ tiếp thu hơn và có hứng thú hơn khi học toán Tương tựnhư môn toán, các môn: Vật lý, Hóa học… cũng có nhiều những tình huống thực tế.Vấn đề đặt ra là mỗi GV tiếp cận phương pháp giảng dạy KNS thông qua môn học củamình như thế nào để đáp ứng được yêu cầu giáo dục toàn diện cho HS mà không làmnặng nề hơn cho môn học của mình.
Để làm tốt công tác giáo dục KNS qua môn học thì các tổ bộ môn, nhóm chuyênmôn thực hiện rà soát từng bài học cụ thể, trong mỗi bài học đưa nội dung giáo dụcKNS phù hợp với đối tượng HS
Tổ chức xây dựng kế hoạch, thiết kế bài dạy đưa nội dung giáo dục KNS cho
HS thể hiện trên mục tiêu, phương pháp giáo dục, cách thức thực hiện,… trong mỗibài học cụ thể
Cần chú trọng xây dựng các bài tập tình huống cho HS thảo luận nhóm, để đưa
ra chính kiến của mình Kết thúc bài học, HS phải trả lời câu hỏi chúng ta được họcnhững gì trong bài học hôm nay và những nội dung học được giúp ích gì cho ta trongcuộc sống
* Ý nghĩa của biện pháp:
Giáo viên bộ môn là lực lượng đông đảo nhất trong các nhà trường, làm tốt công tácchỉ đạo giáo dục KNS qua các môn học, tức là nhà quản lý đã huy động được lực lượnggiáo dục đầy đủ nhất để làm công tác giáo dục KNS cho HS
Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đầu tư nguồn tài chính thíchhợp giúp cho GV phát huy tốt được năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp giáodục, đồng thời cần động viên khuyến khích kịp thời các GV chủ động hoàn thành suấtxắc nhiệm vụ giáo dục KNS cho HS
2.2.4 Khai thác sử dụng có hiệu quả phương tiện, công cụ hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống
Trang 33* Mục tiêu của biện pháp: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, các công cụ thiết bị hỗ
trợ cho GV và HS trong công tác giáo dục KNS Chỉ đạo GV khai thác hiệu quả công
cụ hỗ trợ trong mỗi giờ học và các hoạt động giáo dục
* Nội dung của biện pháp:
Cơ sở vật chất trường học là tất cả các phương tiện vật chất được GV và HS sửdụng, nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình giáo dục Quản lý cơ sở vật chất,tăng cường nguồn vốn đầu tư để trang bị và tái trang bị các công cụ, thiết bị hỗ trợ GV
và HS trong công tác giáo dục KNS phù hợp với sự phát triển của nhà trường
Các công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục KNS như âm li, loa đài, máy chiếu, đồ dùngtrực quan, thiết bị thí nghiệm,…không phải tồn tại vĩnh cửu theo thời gian, hơn nữa xãhội luôn vận động và phát triển, những mô hình, đồ dùng thiết bị giáo dục cũ và lạchậu, không đồng bộ sẽ ảnh hưởng lớn tới chất lượng giáo dục Do đó, nhà trường phảithường xuyên kiểm tra, sửa chữa, mua sắm công cụ, thiết bị hỗ trợ giáo dục KNS cho
HS hàng năm để GV và HS có thể sử dụng một cách tốt nhất phục vụ trong các hoạtđộng giáo dục và học tập
* Ý nghĩa của biện pháp:
Nhà trường đáp ứng đầy đủ cơ sở vật chất, các công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dụcKNS cho HS là điều kiện cơ bản tạo nên sự thành công trong công tác giáo dục KNS,bởi vì công cụ thiết bị giáo dục có mỗi liên hệ chặt chẽ giữa GV và HS, giữa nội dung,phương pháp và mục tiêu giáo dục góp phần tham gia vào thúc đẩy hiện thực hóa mụctiêu giáo dục, làm cho quá trình giáo dục có chất lượng và hiệu quả
* Cách thức thực hiện:
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV, HS về vai trò của việc sử dụng cơ sở vậtchất, công cụ thiết bị giáo dục Thông qua đó, giúp họ ý thức được công cụ thiết bịgiáo dục cần thiết trong giáo dục KNS cho HS, từ đó họ có nhu cầu sử dụng thườngxuyên các thiết bị này
Tập huấn cho GV các phương pháp giáo dục KNS, hướng dẫn GV và HS sửdụng các thiết bị, công cụ hỗ trợ giáo dục KNS như âm li, loa đài, máy chiếu, phònghọc bộ môn, phòng học chức năng,…
Trang 34Thường xuyên rà soát kiểm tra công cụ thiết bị hỗ trợ giáo dục KNS, có kếhoạch cung ứng kịp thời thiết bị giáo dục và các nguồn vốn đầu tư cho công tác giáodục KNS theo nội dung, kế hoạch giáo dục KNS đã đề ra.
2.2.5 Kiểm tra đánh giá hiệu quả giáo dục kỹ năng sống thông qua môn học trong nhà trường
* Mục tiêu của biện pháp: Đổi mới kiểm tra đánh giá HS cả kiến thức và kỹ năng
để nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS, đồng thời tạo điều kiệnnhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy KNS của thầy, thông qua kiểm trađánh giá sẽ khắc phục mặt còn yếu trong giáo dục KNS cho HS
* Nội dung của biện pháp:
Kiểm tra để có được thông tin về tiến trình giáo dục KNS của GV, đánh giáđược khả năng nhận thức của HS về nhóm KN nhận thức và quản lý bản thân, KN xãhội, thể hiện ở KN giao tiếp, KN kiên định, KN làm việc nhóm…
Kiểm tra đánh giá đúng đắn điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn trongcông tác giáo dục KNS thông qua môn học, từ đó xây dựng điều chỉnh kế hoạch giáodục KNS cho HS phù hợp với sự phát triển của nhà trường
Kiểm tra đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu của cán bộ GV trong giáodục KNS cho học sinh, qua đó có biện pháp kịp thời uốn nắn giúp GV làm công tácgiáo dục tốt hơn… Đồng thời qua kiểm tra sẽ phát huy được các nhân tố tích cực tronghoạt động giáo dục KNS cho HS
Quá trình kiểm tra phải bao quát toàn diện từ vấn đề xây dựng kế hoạch, nộidung, phương pháp và cách thức giáo dục của GV đến kết quả nhận thức của HS
* Ý nghĩa của biện pháp:
Kiểm tra đánh giá kết quả KNS là một khâu trong quy trình quản lý của nhàtrường, giúp cho nhà trường bảo đảm sự toàn vẹn của quá trình quản lý và đạt chấtlượng trong công tác giáo dục KNS cho HS Kiểm tra đánh giá đúng mức được chấtlượng giáo dục thực của nhà trường, từ đó tìm ra biện pháp phù hợp trong việc quản lýgiáo dục KNS sẽ thúc đẩy sự phát triển của nhà trường
* Cách thức thực hiện:
Trang 35Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, nội dung, phương pháp, cách thức thực hiệngiáo dục KNS của cán bộ, GV trong nhà trường Tổ chức dự giờ của GV trong các bàidạy có nội dung giáo dục KNS Thiết kế các buổi hoạt động chuyên đề, hoạt động ngoạikhóa,…cho HS có điều kiện thuyết trình, giao lưu học hỏi, hội thảo, biểu hiện hành vicách sống với mọi người…qua đó đánh giá được mức độ nhận thức của HS về KNS.
Tổ chức bảng hỏi kiểm tra nhận thức của HS về các kỹ năng xây dựng kếhoạch, kỹ năng kiên định, kỹ năng quan sát,…
Thông qua phụ huynh và đoàn thể địa phương để có thể đánh giá mức độ tiến bộ,trưởng thành của các em trong cuộc sống với gia đình và cộng đồng
- Hình thức thực nghiệm: Tại trường THPT Hai Bà Trưng, môn toán dạy thựcnghiệm trên hai lớp 11A2, 11A3 với 74 HS, lớp đối chứng 11A1, 11A4 với 75 HS;môn Hóa dạy thực nghiệm trên hai lớp 11A1, 11A3 với 70 học sinh; lớp đối chứng11A2, 11A4 68 học sinh, sau giảng dạy tiến hành hội thảo
Giáo án lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, đề kiểm tra được thiết kế và thể hiện
ở phụ lục 2 Các tiêu chí về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên vàkết quả học tập của HS lớp thực nghiệm, lớp đối chứng là tương đương Tiết dạy thựcnghiệm môn Toán là tiết 44 - Luyện tập cấp số nhân; môn Hóa học tiết dạy thựcnghiệm là tiết 24- Hợp chất của cacbon
Phương pháp giảng dạy theo hướng giáo dục KNS qua bài học và từ tìnhhuống trải nghiệm thực tế sẽ tăng cường hứng thú cho HS khi tiếp thu kiến thức bộmôn
Trang 36Thành phần tham dự gồm: Ban giám hiệu, giáo viên dạy toán, lý, hóa, tổ trưởng, tổphó, cán bộ công đoàn, đoàn thanh niên trong nhà trường (26 giáo viên).
- Sau khi dạy thực nghiệm kết hợp hội thảo, chúng tôi tiến hành kiểm tra sự tiếp thu kiến thức của học sinh (đề kiểm tra trong phụ lục 3 đính kèm) và bảng hỏi với giáo viên và HS về: Những KNS HS nhận thức sau bài học; sự hứng thú của HS trong học tập khi tiếp cận phương pháp dạy như trên; tiềm năng giáo dục KNS cho HS trong môn toán, môn hóa Kết quả:
Học sinh nhận thức được qua bài học
Các lớp thực nghiệm
Bảng 7: Những kỹ năng học sinh nhận thức được qua môn Toán
Hứng thú Chưa hứng
thú
Bảng 9: Sự hứng thú tiếp thu bài của học sinh (môn Toán, Hóa học)
Căn cứ kết quả trên ta thấy phương pháp giảng dạy ở lớp thực nghiệm đã giáodục cho HS những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống, chẳng hạn như trong môn toán kỹnăng giải quyết vấn đề cao hơn lớp đối chứng là 79,9%; kỹ năng kiểm soát cuộc sốngcao hơn 89.2%; bảo vệ sức khỏe môn Hóa lớp thực nghiệm đạt tới 100% và với cách
Trang 37tiếp cận giảng dạy như thế HS lớp thực nghiệm có hứng thú học tập hơn hẳn lớp đốichứng.
Qua dự giờ giáo viên giảng dạy thực tế trên các lớp thực nghiệm và lớp đốichứng, giáo viên đánh giá cao tiềm năng của việc giáo dục KNS qua môn Toán, mônHóa học vì tính ứng dụng thực tiễn của các bộ môn này Chúng tôi tiến hành phiếu hỏi
về tiềm năng của môn toán, môn Hóa trong giáo dục KNS, kết quả tất cả giáo viêntham gia thảo luận đều đánh giá môn Toán, môn Hóa rất có tiềm năng (92,3%), cótiềm năng (7,7%) trong giáo dục KNS cho HS
Rất có tiềm năng Có tiềm năng Không có tiềm năng
Bảng 10: Tiềm năng của môn toán, môn hóa trong giáo dục KNS
Về kết quả kiểm tra sự tiếp thu kiến thức của học sinh ở lớp thực nghiệm caohơn hẳn lớp đối chứng, lớp thực nghiệm 100% đạt yêu cầu, 65% đạt điểm khá, giỏi trởlên, lớp đối chứng còn nhiều học sinh có điểm dưới 5 và chỉ có ít điểm khá, không cóhọc sinh đạt điểm giỏi ( bảng thống kê trong phụ lục 3 đính kèm) Như vậy 100% giáoviên đánh giá môn toán, môn hóa có tiềm năng lớn trong giáo dục KNS cho HS và cần
triển khai giáo dục KNS thông qua tất cả các môn học
*
* *Thực hiện quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đó là nâng caochất lượng giáo dục toàn diện cho HS giai đoạn hiện nay, trong đó có giáo dục KNS
Để công tác giáo dục KNS cho học sinh THPT Hai Bà Trưng đạt được mục tiêu đề ra,thì CBQL nhà trường cần quan tâm tới các biện pháp mà đề tài nghiên cứu đề xuất.Mỗi biện pháp có vị trí, vai trò nhất định, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết gắn bóvới nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau, biện pháp này là cơ sở, là tiền đề cho biện pháp kia.Thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý giáo dục KNS thông qua môn học trong nhàtrường chắc chắn rằng hoạt động giáo dục KNS của nhà trường đạt kết quả cao, gópphần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng công cuộcđổi mới của đất nước
Những biện pháp đề xuất ở trên có thể là tài liệu tham khảo cho công tác quản
lý giáo dục KNS của các nhà trường THPT trên tỉnh Vĩnh Phúc và các trường THPTđịa phương khác
Trang 38KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Giáo dục KNS cho học sinh THPT là rất cần thiết trong xã hội hiện đại; quản lýcông tác giáo dục KNS trong nhà trường góp phần quan trọng trong mục tiêu giáo dụccủa Đảng Đó là đào tạo những người lao động mới phát triển toàn diện đồng thời cũng
là thực hiện đúng định hướng việc học của UNESCO trong thế kỷ XXI: Học để biết,học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống
Giáo dục KNS đưa vào chương trình phổ thông, đòi hỏi CBQL mỗi nhà trườngphải quản lý để hoạt động giáo dục KNS đạt được hiệu quả cao, góp phần nâng caochất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh THPT hiện nay
Đề tài cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận của KNS; quản
lý giáo dục KNS; nội dung quản lý giáo dục KNS cũng như các yếu tố ảnh hưởng đếnviệc quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT
Đề tài thực hiện khảo sát thực trạng về nhận thức KNS của HS; việc tổ chức cáchoạt động giáo dục KNS và quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua mônhọc; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, tìm ra nguyên nhân yếu kém việc quản lýgiáo dục KNS
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý giáo dụcKNS sống cho HS thông qua môn học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncho học sinh THPT Hai Bà Trưng Nếu được thực hiện đầy đủ, đồng bộ các biện pháptrên trong nhà trường sẽ góp phần quan trọng trong việc giáo dục, đào tạo thế hệ trẻphát triển nhân cách một cách toàn diện Các biện pháp quản lý mà đề tài nghiên cứu
có thể áp dụng cho các trường THPT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc cũng như các địaphương khác tuỳ theo đặc điểm, điều kiện của mỗi nhà trường mà có thể vận dụng cácbiện pháp trên cho phù hợp
2 Kiến nghị
Qua các biện pháp đã đề xuất, tác giả xin nêu một số kiến nghị như sau:
2.1 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành giáo trình, phân phối chương trình giáo dụcKNS cho học sinh THPT để định hướng chung, tránh tình trạng như hiện nay mỗitrường thực hiện giáo dục KNS cho học sinh một kiểu
Trang 39- Cần xây dựng tiêu chí đánh giá giờ dạy theo hướng đánh giá kiến thức vàđánh giá kỹ năng, hiện nay tiêu chí đánh giá giờ dạy của GV chỉ chú trọng nhiều vềnội dung kiến thức mà thiếu sự đánh giá việc giáo dục học sinh cách làm người
2.2 Với Sở Giáo dục và Đào tạo
- Tăng cường các lớp tập huấn về giáo dục KNS cho CBQL, cán bộ Đoàn thanhniên, cán bộ công đoàn, GV bộ môn, GV chủ nhiệm, bởi thực tế hiện nay CBQL và GVcòn thiếu kinh nghiệm về vấn đề này
- Trong kinh phí hàng năm của các đơn vị nên có nguồn kinh phí dành riêng cho cáchoạt động giáo dục KNS, để hoạt động giáo dục KNS có hiệu quả
2.3 Với Ban Giám hiệu nhà trường
- Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, của hoạt động giáo dục KNS trongnhà trường; phân tích thực trạng công tác quản lý, từ đó có những biện pháp quản lýphù hợp với điều kiện thực tế của từng trường
- Tăng cường bồi dưỡng năng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ
GV, đặc biệt là nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục KNS cho HS
- Chú trọng khâu chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện giáo dục KNS cho HS thôngqua môn học, kiểm tra đánh giá sẽ phát hiện điểm mạnh, điểm yếu của công tác giáodục KNS, cán bộ quản lý điều chỉnh kế hoạch, xây dựng nội dung giáo dục HS phùhợp với sự phát triển của nhà trường
Trang 40DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Thanh Bình (2011), Giáo trình chuyên đề Giáo dục KNS, NXB Đại học
Sư phạm, Hà Nội
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Giáo dục KNS trong môn sinh học, NXB Giáo
dục Việt Nam
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo
dục giá trị sống, KNS và giao tiếp ứng xử trong quản lý, NXB Đại học Sư
phạm, Hà Nội
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ II, ban chấp hành
TW Đảng Cộng sản khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
[6] Bùi Minh Hiền và cộng sự (2011) Quản lý giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội [7] Trần Kiểm (2012), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục, NXB Đại
học Sư phạm, Hà Nội
[8] Luật Giáo Dục Việt Nam 2005, Sửa đổi bổ sung 2009
[9] Từ điển Tiếng Việt (2005), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội
[10] Từ điển Tiếng Việt,Trung tâm từ điển học - Hà Nội (2009), NXB Đà Nẵng