1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Sáng kiến kinh nghiệm) rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5

20 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 64,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các em đã được làm quen với Toán có lời văn ngay từ lớp 1 các mạch kiến thức toán học từ lớp 1 đến lớp 5 được thống nhất chặt chẽ với nhau theo cấu trúc đồng tâm nên nó giúp cho học sinh

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài:

a) Cơ sở khoa học:

Như chúng ta đã biết, hiện nay nền khoa học thông tin của chúng ta đang phát triển mạnh mẽ Hơn nữa, đất nước ta đang ngày càng tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội về các môn học tự nhiên Chính

vì vậy, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục Gần đây, nhất là các Nghị quyết Trung ương luôn chú trọng bàn về vấn đề giáo dục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và học tập tiếp môn toán ở Trung học

và các bậc học tiếp theo Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về

số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động

có hiệu quả trong cuộc sống

Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề; nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo; nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp và tác phong khoa học

Qua thực tế giảng dạy ở các khối lớp tôi thấy giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc tiểu học Các em đã được làm quen với Toán có lời văn ngay từ lớp 1 các mạch kiến thức toán học từ lớp 1 đến lớp 5 được thống nhất chặt chẽ với nhau theo cấu trúc đồng tâm nên nó giúp cho học sinh không những được học mà còn được củng cố lại kiến thức ở các lớp trên Học tốt môn Toán là điều kiện để học tốt các môn học khác

b) Cơ sở thực tiễn.

Năm học 2018 – 2019 là năm học tiếp tục triển khai các cuộc vận động “

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, lồng ghép với cuộc vận động “ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”Trước

thực tế đó, là một giáo viên Tiểu học nên tôi luôn nghĩ đến trách nhiệm của mình

Trang 2

đối với học sinh Năm học này tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và dạy lớp 5B, bước vào năm học sau khi nhận học sinh được một vài tuần, song song tiến hành ôn tập Toán, tôi cho học sinh ôn luyện lại kiến thức đã học, nhanh chóng giúp các em củng cố sau hè Qua kiểm tra ôn tập hàng ngày, lớp tôi có một số học sinh chưa thực sự ham học môn Toán nhất là toán có lời văn Vào tiết học các em

thường thụ động, lười suy nghĩ, ít chú ý khiến tôi vô cùng lo lắng Trong quá trình dạy tôi đã đặt ra rất nhiều câu hỏi như: Làm như thế nào? Dạy làm sao? Dùng phương pháp nào để giảng dạy cho các em đạt hiệu quả cao?

Chính vì những lí do nêu trên mà tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm

“Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5” để nghiên cứu với mong

muốn đóng góp chút kinh nghiệm giúp cho việc dạy học giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học ngày càng tốt hơn

2 Mục đích nghiên cứu:

- Nghiên cứu SGK để nắm được nội dung chương trình, trên cơ sở lí luận thực tiễn, phân tích những ưu điểm tồn tại để đưa ra những biện pháp, giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy giải toán có lời văn

Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh đồng thời rèn kĩ năng giải toán có lời văn tốt hơn

3 Phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện đề tài:

- Phạm vi nghiên cứu: Môn Toán nói chung và đi sâu vào rèn kĩ năng

- Đối tượng: Học sinh lớp 5B

- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2018 – 2019

4 Tình hình thực tế khi chưa thực hiện đề tài:

+ Đối với giáo viên:

Khi dạy giải toán có lời văn cho học sinh giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc hướng dẫn kĩ năng đọc đề toán cho học sinh

Giáo viên chưa khắc sâu quy trình giải toán có lời văn cho học sinh, chưa rèn kĩ năng thực hành giải toán theo theo quy trình vì thực tế trong một tiết dạy 40 phút, vừa dạy bài mới, vừa làm bài tập và các bài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện, nêu câu trả lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, chưa nắm được mẹo để giải bài toán

Giáo viên còn lúng túng khi đặt câu hỏi khi hướng dẫn học sinh giải bài toán Truyền đạt của giáo viên khi hướng dẫn giải còn khó hiểu, không rõ ràng Chưa đúc kết được kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải bài toán mà cứ hướng dẫn bài bản

Trang 3

theo sách giáo viên làm cho học sinh trung bình, yếu không thể tiếp thu được để giải bài toán

+ Đối với học sinh:

Học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán đã tóm tắt hoặc không tóm tắt đã giải bài toán

Học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lõi ở bài toán có lời văn và nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như: trình bày bài giải, cách thể hiện bài giải, cách nhận ra phép tính cần làm để đáp ứng yêu cầu của bài, cách tìm ra đơn vị, đáp số của

bài Từ đó học sinh không giải được hoặc giải không hoàn chỉnh được bài toán có lời văn

Từ những vấn đề trên tôi thiết nghĩ cần phải có hướng dạy học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh, có biện pháp với từng đối tượng học sinh sao cho các em học tốt môn Toán nói chung và toán có lời văn nói riêng Để thực hiện điều này tôi đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân để giúp đỡ học sinh học tốt hơn

5 Số liệu điều tra trước khi thực hiện:

Qua tìm hiểu thực trạng học sinh lớp 5B khi dạy giải toán cho các em, tôi thấy khả năng giải toán có lời văn của các em còn kém, trong trình bày bài giải các câu lời giải chưa đúng, chưa phù hợp với câu hỏi của bài, với phép tính Học sinh còn lúng túng làm sai khi gặp những bài toán có cấu trúc giống nhau về nội dung nhưng câu hỏi khác nhau

Tôi cho kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm môn toán đối với 38 học sinh lớp 5B, kết quả như sau:

Sĩ số

Hoàn thành tốt Hoàn thành Học sinh chưa hoàn

thành

Nhìn vào bảng số liệu cho thấy: tỉ lệ học sinh ở mức hoàn thành tốt rất thấp,

số lượng học sinh chưa hoàn thành thì nhiều Phần lớn học sinh trình bày bài làm chưa khoa học, chưa sạch đẹp từ thực trạng và số liệu điều tra trên, từ những khó khăn mắc phải trong quá trình dạy học, tôi đã đúc rút ra một số kinh nghiệm và giải pháp khắc phục những khó khăn đó, giúp học sinh học tốt hơn nữa các dạng toán giải toán có lời văn

PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Trang 4

1.Tên đề tài:

“Rèn kĩ năng giải toán có lời văn lớp 5”

2 Những biện pháp thực hiện (Nội dung chủ yếu của đề tài).

Chương trình Toán lớp 5 có nhiều dạng toán hợp cơ bản có lời văn như: Tìm số trung bình cộng

Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số

Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số

Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số

Tìm chu vi và diện tích hình chữ nhật

Tìm chu vi và diện tích hình thang

Tính chu vi và diện tích hình tròn

Tính chu vi và diện tích hình tam giác

Giải toán về tỉ số phần trăm

Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình lập phương

Tính thể tích của hình hộp chữ nhật

Tính thể tích hình lập phương

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên giúp học sinh nắm được từng dạng toán (dạng toán đơn thuần, dạng toán hợp), giúp học sinh làm quen và biết cách giải một số dạng toán hợp khác nhau Điều chủ yếu là giáo viên phân tích kĩ từng mẫu bài toán, biết lập luận một cách lôgic để tìm ra cách giải nhanh và đúng Học sinh phải xác định được đâu là giả thiết, đâu là kết luận của đề toán, từ đó tìm được cách giải tương ứng của mỗi dạng toán

Từ cơ sở lý luận trên, tôi có phương hướng giải quyết vấn đề: Giúp học sinh hình thành kỹ năng, kỹ xảo, nắm được phương pháp chung “giải toán có lời văn” theo 5 bước như sau:

3.1 Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm vững 5 bước khi giải một bài toán có lời văn.

Bước 1: Thường xuyên cho học sinh đọc đề bài nhiều lần trước khi làm bài,

từ đó các em hình thành thói quen đọc kỹ bài trước khi giải

Bước 2: Trong quá trình giải, chữa bài tập toán ở nhà, vở bài tập in, khi giải

toán đố, tôi thường xuyên cho học sinh đọc đề rồi tóm tắt, lựa trọn cách tóm tắt cho phù hợp với nội dung bài toán Trước khi tóm tắt thường hướng dẫn cho các

em có cách tóm tắt bài bằng hệ thống các câu hỏi gợi mở, giúp học sinh nhận biết

Trang 5

dạng toán điển hình Ví dụ: toán hợp giải bằng hai phép tính nhân, chia, v.v… Từ

đó học sinh có hướng tóm tắt bài toán cho đúng với yêu cầu của từng loại bài

Bước 3: Phân tích bài toán Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp gợi

mở cho học sinh đi ngược từ câu hỏi của bài toán trở lại điều kiện của đầu bài đã cho Hoặc giáo viên tổ chức các hoạt động tập thể, các hoạt động nhóm (như nhóm đôi, nhóm lớn…) từ thảo luận các em dần hình thành kiến thức, chiếm lĩnh được kiến thức, làm chủ được kiến thức Từ đó các bạn giỏi hướng dẫn, hình thành, xây dựng, phát triển lượng kiến thức đã tiếp thu được cho các bạn yếu trong cùng một nhóm

Bước 4: Giải bài toán Từ ba bước trên, giúp học sinh hiểu kỹ đầu bài, từ đó

học sinh định hướng, tư duy và tìm ra cách giải bài toán đó

Bước 5: Thử lại kết quả Sau khi giải xong, cho các em thử lại kết quả Bước

này giúp học sinh có cơ sở lý luận, tin tưởng vào cách làm bài của mình

Để hình thành cho học sinh có kỹ năng, kỹ xảo “giải toán có lời văn” theo năm buớc trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên, liên tục

VD1: Một tổ sản xuất muối thu hoạch trong năm đợt như sau: 45 tạ; 60 tạ; 75 tạ;

72 tạ; 98 tạ Hỏi trung bình mỗi đợt thu hoạch bao nhiêu tấn muối?

Bài giảng (mẫu):

Bước 1: Cho học sinh đọc kỹ đầu bài Tìm hiểu khai thác đề.

Bước 2: Tóm tắt.

Thu 5 đợt: 45 tạ; 60 tạ; 75 tạ; 72 tạ; 98 tạ Trung bình mỗi đợt? tạ

Bước 3: Phân tích.

- Bài toán cho biết gì? (Số tạ muối mỗi đợt)

- Bài toán hỏi gì? (số tạ muối trung bình mỗi đợt)

- Muốn tìm số muối trung bình mỗi đợt ta phải làm gì? (Tìm tổng số muối)

Cách làm: Tìm tổng rồi chia cho số đợt

Bước 4: Giải.

Tổng số muối cả 5 đợt là:

45 + 60 +75 + 72 + 98 = 350 (tạ) Trung bình mỗi đợt thu hoạch được là:

350 : 5= 70 (tạ)

Đáp số: 70 tạ

Bước 5: Thử lại

70 x 5 = 350(tạ)

Trang 6

VD2 : Cho tổng hai số là a, hiệu hai số là b Tìm hai số đó?

* Giáo viên tổ choc cho học sinh thảo luận, làm bài theo các bước sau:

Bước 1: Cho học sinh đọc kỹ đầu bài Tìm hiểu khai thác đề.

Bước 2: Tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ toán học.

Số lớn + Số bé = a

Số lớn – Số bé = b

Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải :

Bài toán hỏi gì?

Muốn tìm mỗi số ta phải làm thế nào?

Bước 4: Giải toán.

Cách 1: Ta thấy nếu lấy tổng hai số (a) trừ đi hiệu hai số (b) thì ta được hai

lần số bé, chia cho 2 ta được số bé: Vậy số bé = (a – b) : 2

Từ đó ta có thể tìm được số lớn bằng một trong hai cách đã học

Cách 2: Nếu lấy tổng hai số (a) cộng với hiệu hai số (b) ta được hai lần số

lớn, chia cho 2 ta được số lớn: Vậy số lớn = (a + b) : 2

Từ đó ta có thể tìm được số bé bằng một trong hai cách đã học

Bước 5 Thử lại kết quả của bài toán:

a = Số lớn + Số bé

b = Số lớn – Số bé

VD3: An và Bình có 12 nhãn vở Số nhãn vở của An bằng 1/3 số nhãn vở của Bình.

Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu nhãn vở?

VD4: Bình có số nhãn vở gấp 3 lần số nhãn vở của An, số nhãn vở của Bình nhiều

hơn An là 12 nhãn vở Hỏi mỗi bạn có bao nhiêu nhãn vở?

* Với 2 dạng toán này, giáo viên nên hướng dẫn học sinh như sau

Bước 1: Đọc kĩ đề toán

Bước 2: Vẽ được sơ đồ bài toán

Bước 3: Xác định được tổng ( hiệu) và tỉ số của 2 số

Bước 4: Giải toán.

VD3: Tổng số phần bằng nhau là:

1 + 3 =4 (phần)

Số nhãn vở của An là:

12 : 4 = 3 (nhãn vở)

Số nhãn vở của Bình là:

3 x 3 = 9 (nhãn vở)

Trang 7

Đ/S: An: 3 nhãn vở Bình: 9 nhãn vở VD4: Hiệu số phần bằng nhau là:

3 – 1 = 2 (phần)

Số nhãn vở của An là

12 : 2 = 6 (nhãn vở)

Số nhãn vở của Bình là

6 x 3 = 18 (nhãn vở) Đ/S : An: 6 nhãn vở Bình: 18 nhãn vở

Bước 5: Thử lại kết quả 3 + 9 = 12 hoặc 18 – 6 = 12

VD 5: Cho hình thang ABCD có góc A và D vuông Cạnh: AB = 50cm ; CD =

60cm AM = 4dm ; DM = 10cm Tính diện tích hình thang ABMN biết MN song song với AB

Với những bài toán về hình học (hình chữ nhật, hình vuông, hình thang, hình hộp chữ nhật, … ), học sinh phải nhớ được công thức tính chu vi và diện tích mỗi hình Các số đo (chiều dài, chiều rộng….) Phải cùng một đơn vị đo Tên đơn vị phải viết chính xác

* Với các ví dụ trên giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức 1,2 học sinh có thể tổ chức cho cả lớp thảo luận, trả lời các câu hỏi theo hướng giải( Yêu cầu các bạn đọc đề bài - Tóm tắt đề bài( lựa trọn cách tóm tắt phù hợp với nội dung bài) - Thảo luận, tìm ra cách giải bài - Giải bài - Kiểm tra lại kết quả- Giáo viên nhận xét, chữa bài) Với cách tổ chức này giúp học sinh mạnh dạn,

tự tin, tự chủ lĩnh hội kiến thức Để tổ chức hình thức trên đạt hiệu quả thì học sinh phải chuẩn bị bài ở nhà một cách kĩ lưỡng

* Một số dạng bài mới giáo viên có thể tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức cũ để hình thành kiến thức mới ( VD: Phép trừ số đo thời gian với một số; Phép nhân số đo thời gian với một số; Thể tích hình lập phương….) Với những dạng bài này, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự phát hiện kiến thức, chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua kiến thức đã được học ( Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài - Tóm tắt đề, lựa trọn cách tóm tắt phù hợp với nội dụng bài toán- Tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm - Giải bài toán- Lựa trọn, tìm hiểu các cách giải bài toán- Báo cáo kết quả thảo luận, học sinh có thể lên bảng báo cáo hoặc đứng tại chỗ nêu miệng - Giáo viên nhận xét, kết luận, khắc sâu kiến thức của bài

Trang 8

* Trong lớp học mà có nhiều đối tượng học sinh( Giỏi, khá, trung bình, yếu) Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức bằng nhiều “hình thức

tổ chức” khác nhau như: Tổ chức nhóm học sinh “đồng dạng” (Giỏi, khá một

nhóm), (trung bình, yếu một nhóm) với cách tổ chức này học sinh có thể thảo luận, giải những bài toán phù hợp với khả năng của mình Giáo viên cũng có thể tổ chức nhóm “cộng tác” (Giỏi, khá, trung bình, yếu làm một nhóm) với cách tổ chức này

sẽ tạo cho học sinh tính tự tin, chủ động, tinh thần đoàn kết, những học sinh giỏi có thể giúp đỡ những bạn yếu dần hình thành kiến thức – làm chủ kiến thức- chiếm lĩnh kiến thức

* Toán tiểu học- Đặc biệt là Toán lớp 5 có rất nhiều dạng Toán giải khác nhau, để học sinh có thể giải được những bài toán khó, thích giải những bài toán khó Giáo viên phải tìm tòi, hướng dẫn, tổ chức sao cho phù hợp, sao cho các em yêu thích và muốn giải được bài toán đó- Để làm được điều đó giáo viên đưa những bài toán nâng cao vào trong các tiết dạy Toán ( bài toán phải phù hợp với nội dung của tiết đang dạy)

2.2 Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm vững các bài toán ở dạng cơ bản.

2.2.1.Dạy học giải toán về “quan hệ tỉ lệ”.

Trong Toán 5, các bài toán về quan hệ tỉ lệ được xây dựng từ những bài toán liên quan đến tỉ số mà cách giải chủ yếu dựa vào phương pháp “rút về đơn vị” (học ở lớp 3) và phương pháp “tìm tỉ số” (học ở lớp 4) Chẳng hạn:

Bài toán: Muốn đắp xong nền nhà trong 2 ngày, cần có 12 người Hỏi muốn đắp

xong nền nhà đó trong 4 ngày thì cần có bao nhiêu người ?

Cách 1:“ Rút về đơn vị”: Bài giải

Muốn đắp nền nhà xong trong 1 ngày, cần số người là:

12 x 2 = 24 (người) Muốn đắp nền nhà xong trong 4 ngày ,cần số người là:

24 : 4 = 6 (người)

Cách 2: “Tìm tỉ số”

Bài giải

4 ngày gấp 2 ngày số lần là :

4: 2 = 2 (lần)

Muốn đắp xong nền nhà trong 4 ngày ,cần số người là:

12: 2 = 6( người)

Trang 9

Đáp số : 6 người.

Trong Toán 5 có xây dựng hai dạng quan hệ tỉ lệ của 2 đại lượng (dạng quan hệ tỉ lệ thứ nhất : “Nếu đại lượng này tăng (giảm) bao nhiêu lần thì đại lượng kia cũng tăng (giảm) đi bấy nhiêu lần”; dạng quan hệ thứ hai :

“Nếu đại lượng này tăng (giảm) bao nhiêu lần thì đại lượng kia giảm (tăng) bấy nhiêu lần” Thực chất của dạng toán này chính là các bài toán mà các em sẽ được học ở bậc học sau, gọi tên là : bài toán về “tỉ lệ thuận”, “tỉ lệ nghịch” nhưng

ở Toán 5 không dùng thuật ngữ này để gọi tên

ở mỗi bài toán cụ thể đối với mỗi dạng quan hệ tỉ lệ, SGK Toán 5 đưa ra đồng thời cả hai cách giải Khi làm bài học sinh chọn 1 trong 2 cách giải để làm song phải tuỳ thuộc vào “tình huống” của bài toán đặt ra

Ví dụ : Bài 1 trang 21:

10 người làm xong một công việc phải hết 7 ngày Nay muốn làm xong công việc đó trong 5 ngày thì cần bao nhiêu người? (Mức làm của mỗi người như

nhau).

Đối với bài tập này , học sinh chỉ có thể làm bằng cách “rút về đơn vị” để tìm ra số người làm xong công việc trong 5ngày Bài giải được trình bày như sau:

Muốn làm xong công việc trong 1 ngày cần :

10 x 7 =70 (người)

Muốn làm xong công việc trong 5 ngày cần:

70 : 5 =14 (người)

Đáp sô: 14 người

2.2.2 Dạy học các bài toán về “tỉ số phần trăm”

Các bài toán về “tỉ số phần trăm” thực chất là các bài toán về “tỉ số” Do đó, trong Toán 5, các bài toán về tỉ số phần trăm được xây dựng theo ba bài toán cơ bản về tỉ số

Bài toán 1: Cho a và b Tìm tỉ số phần trăm của a và b

VD (SGK /175)

Trường Tiểu học Vạn Thọ có 600 HS, trong đó có 315 HS nữ Tính tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS toàn trường.

Bài giải

Tỉ số phần trăm số HS nữ và số HS toàn trường là :

315: 600 = 0,525 0,525 = 52,5 %

Trang 10

Đáp số: 52,5 %.

Bài toán 2: Cho b và tỉ số phần trăm của a và b Tìm a

VD (SGK / 76)

Một trường Tiểu học có 800 HS,trong đó số HS nữ chiếm 52,5 %.Tính số HS nữ của trường đó.

Bài giải

Số HS nữ của trường đó là :

800 : 100 x 52,5 = 420 ( học sinh)

Đáp số: 420 học sinh

Bài toán 3 : Cho a và tỉ số phần trăm của a và b Tìm b

VD ( SGK/78)

Số HS nữ của một trường là 420 em và chiếm 52,5 % số HS toàn trường Hỏi trường đó có bao nhiêu HS?

Bài giải

Số học sinh của trường đó là:

420 : 52,5 x 100 = 800 ( học sinh )

Đáp số: 800 học sinh

2.2.3 Dạy học giải toán về chuyển động đều.

a Trong Toán 5 có 3 bài cơ bản về chuyển động đều của một chuyển động.

a.1 Bài toán 1 : Biết quãng đường (s) và thời gian (t) Tìm vận tốc

HS sẽ thực hiện bài toán này theo công thức :

v = s : t

Ví dụ : một ô tô đi quãng đường dài 120 km hết 3 giờ Tìm vận tốc của ô tô

Bài giải Vận tốc của ô tô là :

120 : 3 = 40 ( km / giờ )

Đáp số: 40 km / giờ a.2 Bài toán 2 : biết vận tốc (v), thời gian (t) Tìm quãng đường (s)

s = v x t

Ví dụ : Một ô tô đi trong 3 giờ với vận tốc 40 km / giờ Tính quãng đường đi được của ô tô

Bài giải Quãng đường ô tô đi được là :

40 x 3 = 120 ( km ) Đáp số : 120 km

Ngày đăng: 15/06/2021, 13:50

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w