1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Sáng kiến kinh nghiệm) rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II việt nam từ năm 1930 đến năm 1945 trong chương trình lịch sử lớp 12 ban cơ bản

94 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Luyện Kĩ Năng Tự Học Của Học Sinh Khi Dạy Chương II: Việt Nam Từ Năm 1930 Đến Năm 1945
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Sau khi dạy Tiết 23 - Bài 15: Phong trào dân chủ 1936-1939, học sinh làm bài kiểm tra 15 phút và kết quả thu được như sau:

  • PHỤ LỤC

  • Tiết 23 - Bài 15: PHONG TRÀO DÂN CHỦ 1936 - 1939

  • I. MỤC TIÊU BÀI HỌC.

  • II. THIẾT BỊ, TÀI LIỆU DẠY HỌC.

  • III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY- HỌC.

  • 4. Củng cố :

  • 5. Dặn dò:

    • Câu 1. Đại hội VII Quốc tế cộng sản đã xác định nhiệm vụ trước mặt của cách mạng thế giới là gì?

Nội dung

Lời giới thiệu

Trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, tự học của học sinh đóng vai trò quan trọng Để điều khiển quá trình tự học hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn một cách khéo léo và đa dạng, từ đó góp phần tích cực vào sự chuyển biến trong tự học của học sinh Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy việc áp dụng phương pháp dạy học này, đặc biệt trong môn lịch sử, vẫn gặp nhiều lúng túng và khó khăn.

Cách học của học sinh thường chỉ tập trung vào việc hoàn thành bài tập và ghi nhớ nội dung, trong khi giáo viên chủ yếu thực hiện kiểm tra bài cũ để đánh giá học sinh mà không chú trọng đến việc phát triển tư duy sáng tạo Nhiều giáo viên coi kiến thức là mục tiêu chính của quá trình giảng dạy, dẫn đến việc chỉ quan tâm đến việc truyền đạt nội dung theo sách giáo khoa mà không khuyến khích sự tham gia tích cực của học sinh.

Nhiều giáo viên hiện nay vẫn thiếu kỹ năng soạn bài, dẫn đến việc áp dụng phương pháp dạy học truyền thống một cách máy móc, chủ yếu tập trung vào việc giải thích và liệt kê kiến thức theo sách giáo khoa Họ ít sử dụng câu hỏi tìm tòi hay tình huống có vấn đề, đồng thời coi nhẹ việc rèn luyện tư duy và năng lực thực hành của học sinh Việc sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là các công cụ trực quan, cũng chưa được chú trọng, khiến cho việc tổ chức nghiên cứu và thảo luận của học sinh chưa đạt hiệu quả cao trong việc chiếm lĩnh kiến thức.

Các phương pháp dạy học tích cực không chỉ nâng cao hiệu quả giáo dục mà còn đặt ra mục tiêu rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh Trong đó, phương pháp tự học là cốt lõi, giúp học sinh phát triển kỹ năng, thói quen và ý chí tự học Khi học sinh được trang bị những yếu tố này, lòng ham học sẽ được khơi dậy, từ đó nâng cao kết quả học tập Do đó, cần chú trọng vào hoạt động học trong quá trình dạy học, khuyến khích học sinh tự học không chỉ ở nhà mà còn ngay trong lớp học dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

Chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” nằm trong chương trình lịch sử lớp 12- Ban cơ bản gồm 3 bài: Bài 14: Phong trào cách mạng 1930-

Chương học về phong trào dân chủ 1936-1939 và phong trào giải phóng dân tộc giai đoạn 1939-1945 là một phần quan trọng giúp học sinh hiểu biết về lịch sử Việt Nam sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ba phong trào đấu tranh diễn ra trong các năm 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945 đã chuẩn bị cho thành công của cách mạng tháng Tám, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chương học này không chỉ bồi dưỡng niềm tự hào về cuộc đấu tranh vẻ vang mà còn khơi dậy niềm tin vào sức sống của Đảng, từ đó khuyến khích thế hệ trẻ tham gia cách mạng với tinh thần hăng hái và sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp đất nước Nội dung chương học thường xuyên xuất hiện trong các đề thi khảo sát và thi học sinh giỏi, vì vậy việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh là cần thiết để nâng cao chất lượng môn học.

Nghiên cứu về việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh đã được thực hiện nhiều, nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở lý thuyết và ví dụ minh họa mà chưa áp dụng vào chương hay bài học cụ thể Đề tài này sẽ tập trung vào việc phát triển kỹ năng tự học của học sinh trong chương II: “Việt”.

Nội dung "Nam từ năm 1930 đến năm 1945" trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản sẽ giải quyết những hạn chế của các đề tài khác, trình bày rõ ràng các lý thuyết và ứng dụng của chúng vào việc rèn luyện kỹ năng tự học Điều này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả bài học và tạo sự hứng thú cho học sinh đối với môn học.

Tên sáng kiến

“Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản.

Tác giả sáng kiến

- Họ và tên: Nguyễn Thúy Mai

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học – Thành phố Vĩnh Yên-Tỉnh Vĩnh Phúc.

- Số điện thoại: 0964034756 E-mail: nguyenthuymai18121981@gmail.com

Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến

- Họ và tên: Nguyễn Thúy Mai

- Địa chỉ: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học - Thành phố Vĩnh Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc.

- Số điện thoại: 0964034756 E-mail: nguyenthuymai18121981@gmail.com

Lĩnh vực áp dụng sáng kiến

- Sáng kiến được áp dụng vào việc giảng dạy bộ môn lịch sử: chương trình lịch sử lớp 12

Để nâng cao kỹ năng tự học của học sinh trong chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” của chương trình lịch sử lớp, cần áp dụng các sáng kiến giải quyết hiệu quả Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu về bối cảnh lịch sử mà còn phát triển khả năng tư duy phản biện và tự nghiên cứu Thông qua các hoạt động học tập đa dạng, giáo viên có thể khuyến khích học sinh chủ động tìm kiếm thông tin và liên hệ kiến thức lịch sử với thực tiễn, từ đó hình thành thói quen tự học bền vững.

12 - Ban cơ bản Qua đó, nâng cao hiệu quả bài học và bồi dưỡng niềm yêu thích môn học cho học sinh.

Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử

Ngày áp dụng lần đầu: Tháng 10 năm 2018

Mô tả bản chất của sáng kiến

Về nội dung của sáng kiến

7.1.1 Xác định mục tiêu bài học để hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng tự học cho học sinh Để hình thành kĩ năng tự học cho học sinh cần phải xác định được các mục tiêu mà bài học hướng tới:

- Phong trào cách mạng đầu tiên do Đảng ta lãnh đạo (1930-1931): nguyên nhân bùng nổ, những cuộc đấu tranh tiêu biểu, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.

- Hiểu rõ thời kì thứ hai trong cuộc đấu tranh giành chính quyền do Đảng Cộng sản lãnh đạo (1936-1939) Đây là phong trào đấu tranh khác hẳn thời kì 1930-

1931 về mục tiêu, khẩu hiệu, hình thức và phương pháp đấu tranh.

- Đường lối, công cuộc chuẩn bị, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng.

Bồi dưỡng tinh thần hăng hái và nhiệt tình cách mạng là yếu tố quan trọng, khuyến khích mỗi cá nhân không ngại khó khăn, hy sinh vì sự nghiệp phát triển đất nước Noi gương ông cha, chúng ta cần trân trọng và phát huy những thành quả của cách mạng tháng Tám, góp phần xây dựng tương lai tươi sáng cho dân tộc.

- Rèn luyện kĩ năng tự học với sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, giúp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức.

Rèn luyện kỹ năng tự học thông qua các đồ dùng trực quan như hình vẽ, tranh ảnh lịch sử, lược đồ lịch sử, niên biểu lịch sử và sơ đồ tư duy, giúp học sinh hình dung sinh động các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại xâm.

- Rèn luyện kĩ năng tự học với phương tiện kĩ thuật hiện đại.

Rèn luyện kỹ năng tư duy lịch sử giúp người học hiểu rõ bản chất của các sự việc và hiện tượng lịch sử, từ đó kích thích niềm say mê và hứng thú trong việc học tập.

* Định hướng các năng lực được hình thành:

Năng lực chung bao gồm khả năng giao tiếp và hợp tác hiệu quả, kỹ năng đánh giá và phản biện, khả năng tự học để nâng cao kiến thức, năng lực sáng tạo trong giải quyết vấn đề, cùng với việc sử dụng công nghệ thông tin một cách thành thạo.

+ Năng lực thực hành bộ môn: khai thác, sử dụng lược đồ lịch sử; tranh ảnh về các nhân vật lịch sử, các sự kiện lịch sử.

+ Phân tích được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện lịch sử.

+ Năng lực trình bày suy nghĩ cá nhân, khả năng đánh giá của cá nhân về một sự kiện, hiện tượng lịch sử

Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập lịch sử bao gồm khả năng tra cứu và xử lý thông tin, đề xuất các giải pháp cho những vấn đề gặp phải, tổ chức thực hiện các dự kiến và áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống Việc này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về lịch sử mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và khả năng ứng dụng kiến thức trong các tình huống thực tế.

7.1.2 Xác định các phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh khi dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945”

7.1.2.1 Hình thành và phát triển kĩ năng tự học với sách giáo khoa

Hình thành kỹ năng tự học cho học sinh thông qua sách giáo khoa diễn ra ở cả hai giai đoạn: tự học trên lớp và tự học tại nhà, với sự hướng dẫn chi tiết từ giáo viên Việc phát triển kỹ năng đọc và khả năng tự phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa là rất quan trọng, giúp học sinh nắm bắt thông tin và nâng cao khả năng tự học.

Học sinh cần tự đọc sách giáo khoa để tìm ra những ý quan trọng và cốt lõi, từ đó chiếm lĩnh kiến thức cơ bản và trả lời câu hỏi của giáo viên Điều này không chỉ giúp tạo hứng thú học tập mà còn kích thích tư duy của học sinh phát triển.

Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:

- Đọc lướt nội dung bài viết trong sách giáo khoa để tìm ý chính.

- Xác định các mục, phân đoạn trong từng mục.

- Tự tìm tư tưởng chính qua các từ khóa.

- Sắp xếp các ý thành một nội dung hoàn chỉnh.

* Vận dụng vào bài học:

Vận dụng vào bài 14: Phong trào cách mạng 1930-1935:

Khi dạy về Xô viết Nghệ Tĩnh, giáo viên yêu cầu học sinh đọc lướt để xác định nội dung chính, bao gồm sự ra đời, các chính sách và ý nghĩa của Xô viết này Học sinh cần chú ý đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời gạch chân những từ khóa quan trọng như “Tự do tham gia các hoạt động đoàn thể”, “Chia ruộng đất công” và “Bãi bỏ”.

Cuối cùng, học sinh sắp xếp lại nội dung đã phân tích.

Nội dung tóm tắt mục 2 (II)- Bài 14 (Lịch sử 12): “Xô viết Nghệ Tĩnh”

Xô viết ra đời tại Nghệ An vào tháng 9/1930 và hình thành ở Hà Tĩnh vào cuối năm 1930 đến đầu năm 1931, thực hiện quyền làm chủ của quần chúng và điều hành mọi mặt đời sống xã hội Về chính trị, Xô viết đã thực hiện các quyền tự do dân chủ cho nhân dân và thành lập các đội tự vệ.

- Về kinh tế: chia ruộng đất công cho dân cày nghèo, bãi bỏ thuế thân, thuế chợ…

Văn hóa và xã hội tại Xô viết Nghệ Tĩnh đã được cải thiện thông qua việc mở các lớp dạy chữ Quốc ngữ cho mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời xóa bỏ các tệ nạn mê tín dị đoan Sự kiện này đánh dấu đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930, góp phần nâng cao nhận thức và tinh thần cách mạng trong quần chúng.

Việc rèn luyện kỹ năng đọc và tự phát hiện kiến thức từ sách giáo khoa một cách thường xuyên sẽ giúp học sinh hình thành thói quen tốt, góp phần xây dựng "văn hóa đọc" khoa học Đồng thời, việc phát triển kỹ năng tự lập dàn ý bài viết trong sách giáo khoa cũng rất quan trọng, giúp học sinh tổ chức suy nghĩ và trình bày ý tưởng một cách rõ ràng và mạch lạc.

* Bản chất: Đây là kĩ năng quan trọng khi học sinh tự học với sách giáo khoa.

Dàn ý là công cụ thể hiện hệ thống nội dung kiến thức cốt lõi của bài viết Khi học sinh tự lập dàn ý từ sách giáo khoa, điều đó chứng tỏ các em đã nắm vững kiến thức cơ bản và có khả năng áp dụng linh hoạt trong học tập.

Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:

- Đọc kĩ một mục hay toàn bài viết của sách giáo khoa.

- Xác định cấu trúc của bài học (có bao nhiêu mục? nội dung cơ bản của mỗi mục).

- Khai thác nội dung cơ bản theo từng ý.

- Sắp xếp ý chính, ý phụ thành một thể thống nhất, hoàn thiện dàn ý.

* Vận dụng vào bài học:

Để lập dàn ý cho bài 15 về phong trào dân chủ 1936-1939, học sinh cần đọc kỹ sách giáo khoa để xác định các nội dung cơ bản như bối cảnh thế giới và trong nước, chủ trương của Đảng, các phong trào đấu tranh tiêu biểu, cũng như ý nghĩa và bài học kinh nghiệm từ phong trào này Sau đó, triển khai ý phụ cho từng ý chính và hoàn thiện dàn ý của bài.

Dàn ý bài 15 (Lịch sử lớp 12) Phong trào dân chủ 1936-1939

+ Sự xuất hiệt và hoạt động của chủ nghĩa phát xít Đức, Italia, Nhật Bản

+ 7/1935, Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản: xác định nhiệm vụ chống chủ nghĩa phát xít.

+ 6/1936: Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền, ban hành nhiều chính sách tiến bộ ở thuộc địa.

+ Chính trị: nhiều Đảng phái chính trị hoạt động, mạnh nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương.

+ Kinh tế: Pháp tăng cường khai thác, bóc lột thuộc địa Kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển nhưng vẫn phụ thuộc vào Pháp

+ Xã hội: Đời sống các tầng lớp nhân dân khó khăn.

* Chủ trương của Đảng: 7/1936: họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Thượng Hải (Trung Quốc), xác định:

- Nhiệm vụ chiến lược: chống đế quốc và phong kiến.

- Nhiệm vụ trước mắt: chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.

- Phương pháp: kết hợp công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp.

- Thành lập mặt trận nhân dân phản đến Đông Dương (1938: mặt trận dân

- Đấu tranh đòi các quyền tự do dân sinh dân chủ:

+ Phong trào Đông Dương đại hội (1936).

+ Phong trào đón Gô-đa và Brê-vi-ê (1937).

+ Phong trào dân sinh dân chủ trong những năm 1937-1939.

* Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

+ Là phong trào quần chúng rộng lớn, có tổ chứcdưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Chính quyền thực dân đã phải nhượng bộ một số quyền lợi về dân sinh và dân chủ, qua đó quần chúng được giác ngộ về chính trị Cán bộ được tập hợp và trưởng thành, đồng thời Đảng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong cuộc đấu tranh.

+ Xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất.

+ Tổ chức lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp tác.

+ Thấy được hạn chế trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc.

=> Là cuộc tập dượt chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám.

Vận dụng vào bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945) Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời.

Mục 1 (II) Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 - 1939

Về khả năng áp dụng của sáng kiến

Sáng kiến này được triển khai trong chương trình giảng dạy chính khóa, đặc biệt là trong chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” thuộc chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản, nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy cho học sinh khối 12 tại các trường trung học phổ thông.

Nguyễn Thái Học, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2018.

Sáng kiến này áp dụng cho học sinh lớp 12 trên toàn tỉnh và quốc gia, nhằm giảng dạy chương II: “Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945” trong chương trình lịch sử lớp 12 - Ban cơ bản.

Ngày đăng: 15/06/2021, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD - ĐT, sách giáo khoa lịch sử lớp 12, NXB GD HÀ Nội, 2009 2. Bộ GD – ĐT, sách giáo viên lịch sử lớp 12, NXB GD Hà Nội, 2009 Khác
3. Phan Ngọc Liên, phương pháp dạy học lịch sử tập 2, NXB ĐHSP Hà Nội, 2002 Khác
4. Trần Bá Đệ (chủ biên), Lịch sử Việt Nam 1930-1945, NXB Đại học quốc giaHà Nội, 1995 Khác
5. Trần Bá Đệ, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
6. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông (Một số chuyên đề), Nxb Đại học Sư phạm, 2005 Khác
7. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lược sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất trong cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 1995 Khác
8. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Một só vấn đề về lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Khác
9. Nguyễn Thị Côi, Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Khác
10. Nguyễn Thị Thế Bình, Phát triển kĩ năng tự học lịch sử cho học sinh, NXB Đại học Sư phạm, 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w