Một trong những cách thức thựchiện là tổ chức hoạt động học tập cho học sinh theo các phương pháp và kĩ thuật dạyhọc tích cực, phát triển năng lực của người học.. Để minh họa cho hiệu qu
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Nhà văn Nam Cao khi bàn về vai trò và trách nhiệm của người nghệ sĩ đã viết
rằng: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Hiểu theo nghĩa rộng,
người thầy giáo cũng là người nghệ sĩ, và cũng không thể đi ngoài quy luật của ấycủa nghệ thuật Để mang đến cho học sinh những bài học hữu ích, để tạo được sự mới
mẻ, hấp dẫn cho bài giảng và đặc biệt để có thể phát huy được một cách tốt nhất nănglực của học sinh, người thầy luôn cần trau dồi cần đổi mới phương pháp giảng dạycho phù hợp
Có thể nói, các tác phẩm văn học hiện đại thuộc thể loại tự sự luôn là sự chờđợi của các thế hệ học sinh Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, các
tác phẩm thuộc thể loại này được giới thiệu ngay từ khi học Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 Cùng với Hai đứa trẻ của Thạch Lam, Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân là tác phẩm tiêu biểu cho dòng văn
học lãng mạn được giới thiệu cho học sinh Tác phẩm này đem đến thú vị cho họcsinh không chỉ ở cốt truyện hấp dẫn mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa cổtruyền của dân tộc Tuy nhiên, để học sinh hiểu được và trân quý những con người đã
có công với đất nước và những giá trị văn hóa tinh thần đang dần bị mai một là điềukhông dễ dàng Nguyên nhân chính dẫn đến điều này là học sinh ít hiểu biết về lịch
sử, về những nét đẹp văn hóa xưa kia Hơn thế, thời đại công nghệ sôi nổi, hiện đạikhiến các em có quá nhiều những những thu hút mà ít quan tâm đến những giá trịthuộc về quá khứ Vì thế, người thầy phải có trách nhiệm khơi gợi hứng thú cho họcsinh về những điều mà lâu nay học sinh ít quan tâm, từ đó giáo dục được tinh thầnyêu nước và gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc Để làm được điều
đó, người thầy cần đổi mới trong phương pháp dạy học để những giá trị ấy thấm vàohiểu biết, nhận thức của học sinh một cách tự nhiên Một trong những cách thức thựchiện là tổ chức hoạt động học tập cho học sinh theo các phương pháp và kĩ thuật dạyhọc tích cực, phát triển năng lực của người học
Để minh họa cho hiệu quả của việc đổi mới phương pháp dạy học theo địnhhướng triển năng lực học sinh đối với môn Ngữ văn, người viết thực hiện tổ chức dạy
học bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân- một truyện ngắn tiêu biểu cho dòng văn
học lãng mạn 1930- 1945 Với lựa chọn này, người viết hi vọng ứng dụng thực tiễncủa mình sẽ đóng góp cho con đường đổi mới phương pháp dạy học văn còn nhiềutranh biện trong nhà trường hiện nay
Trang 22 Tên sáng kiến: Ứng dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực theo định
hướng phát triển năng lực học sinh vào dạy học truyện ngắn Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Phạm Thị Toàn
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Khu 2- Thị trấn Vĩnh Tường- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0335533681 Email: phamtoanvt81@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả sáng kiến
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn 11
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 06/11/2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Về nội dung sáng kiến:
7.1.1 Thực trạng của việc tổ chức dạy học theo kiểu truyền thống nói chung và thực trạng của việc dạy học Ngữ văn hiện nay
Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộcđược truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ Phương pháp dạyhọc này lấy người thầy là trung tâm, thầy là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho trithức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo Giáo án dạy theophương pháp truyền thống được thiết kế theo chiều dọc từ trên xuống Với phươngpháp này, kiến thức chuyển tải đến học sinh có tính hệ thống và lôgic cao Tuy nhiên,học sinh là người thụ động tiếp thu kiến thức, giờ học dễ trở nên đơn điệu, buồn tẻ,không phát huy được tính sáng tạo và khả năng thực hành của học sinh
Có thể nhận thấy, dưới sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, niềm yêuthích dành cho môn Văn của học sinh hiện nay ngày càng có chiều hướng suy giảm.Học sinh học tập với tâm lý khá thực dụng học gì thì nấy phần nào chưa nhận thấyđược một chức năng vô cùng quan trọng của văn chương là bồi đắp tâm hồn, rèn kĩnăng giao tiếp, để tạo lập văn bản, trau dồi vốn sống và nhân cách con người Hơnthế, tất cả các môn đều thi theo hình thức trắc nghiệm, riêng môn Văn thi theo hìnhthức tự luận vừa không có điều kiện hỗ trợ rèn kĩ năng viết bài vừa rất dễ gây tâm lí
“áp lực” cho học sinh Vì thế, cách dạy thụ động, truyền tải theo hướng một chiềukhông phù hợp với sự nhạy bén của học sinh và yêu cầu của xã hội
7.1.2 Phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Phương pháp dạy học hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ởPháp ) từ đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnhhưởng sâu rộng tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đó là cách thức dạyhọc theo lối phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế thường gọi phươngpháp này được gọi là phương pháp dạy học tích cực Với phương pháp này, giáo viên
là người giữ vài trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám
Trang 3phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, thảo luận theo nhóm “Người thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn điều khiển tiến trình giờ dạy Phương pháp dạy học này rất đáng chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao quyền năng cho người học Giáo viên là người nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các
ý kiến đối lập của học sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững (Tiến sĩ Võ Hoàng Ngọc) Giáo án dạy học theo
phương pháp này được thiết kế kiểu chiều ngang theo hai hướng song hành giữa hoạtđộng dạy của thầy và học của trò Phương pháp dạy học tích cực rất chú trọng kỹnăng thực hành, vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tựhọc cho học sinh, giảm bớt thuyết trình, diễn giải của người thầy
Một số phương pháp dạy học tích cực:
(1) Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự thamgia tích cực của học sinh trong học tập Trong thảo luận nhóm, học sinh được thamgia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một nhóm vấn đề cả nhóm cùng quan tâm.Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được
tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểmbất đồng, hình thành quan điểm cá nhân, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải quyếtvấn đề khó khăn Thảo luận nhóm được tiến hành theo các hình thức: nhóm nhỏ (cặpđôi, cặp ba), nhóm trung bình (4 đến 6 người) hoặc nhóm lớn (8 đến 10 người trởlên) Trong lớp học sinh được chia làm từng nhóm từ 4 đến 6 người Tùy mục đích,yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định,được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học được giao cùng mộtnhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Khi thực hiện nhiệm vụ trong thảo luận nhóm, nhóm tự bầu nhóm trưởng nếuthấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm mỗithành viên đều phải làm việc tích cực, không ỉ nại vào một vài thành viên hiểu biết,năng động hơn… Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau hiểu vấn đề, nêu ra trongkhông khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm đóng góp vàokết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toànlớp, nhóm có thể cử ra một đại diện học phân công mỗi thành viên trình bày mộtphần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Để tổ chức một hoạt động dạy học theo hình thức thảo luận nhóm, giáo viêncần tiến hành các bước sau:
- Chuẩn bị (giao nhiệm vụ):
+ Chuẩn bị đề tài, mục tiêu hay bài học thông qua thảo luận nhóm, câu hỏi,hình thức trình bày, vận dụng, thời gian
Trang 4+ Nội dung thảo luận nhóm: thướng là những câu hỏi/ bài tập gắn với nhữngtình huống dạy học mang tính phức hợp và có tính vấn đề cần huy động sự suy nghĩchia se của nhiều học sinh để tìm được giải pháp, phương pháp giải quyết.
+ Phương tiện hỗ trợ: giấy A0, bút dạ, thẻ màu… tùy theo yêu cầu của nhiệm
+ Các nhóm khác nhận xét, bổ sung, hỏi thêm…
+ Giáo viên đúc kết, bổ sung ý kiến, nhấn mạnh nội dung quan trọng, tóm tắt…(kết luận)
(2) Đóng vai
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày nhữngsuy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “giả định” Đây là phương pháp giảng dạynhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, gócnhìn của người trong cuộc tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được
từ vai của mình
Trong môn học Ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một sốnội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học, chuyển thể mộtvăn bản văn học thành kịch bản sân khấu, xử lí một tình huống giao tiếp giả định,trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau…
Phương pháp đóng vai có một ưu điểm như sau:
- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh
- Học sinh hình thành kĩ năng giao tiếp, có cơ hội bộc lộ cảm xúc
- Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực
Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói và việc làm của các vai diễn.Bên cạnh đó có thể có một số học sinh nhút nhát, thiếu tự tin khi đứng trước tập thể,vốn từ ít, khó thực hiện vai của mình, giáo viên cần động viên, khuyến khích, tạo cơhội cho đối tượng học sinh này tham gia bắt đầu từ những tình huống đơn giản Giáoviên tiến hành tổ chức cho học sinh đóng vai theo các bước cơ bản sau:
Trang 5- Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ, chia nhóm, giao tình huống vàyêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thờigian đóng vai của mỗi nhóm.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai, phân vai, dàn cảnh, cách thể hiệnnhân vật, diễn thử
- Các nhóm lên đóng vai
- Thảo luận, nhận xét
- Giáo viên kết luận giúp học sinh rút ra bài học cho bản thân
(3) Nghiên cứu tình huống
Phương pháp nghiên cứu tình huống là một phương pháp dạy học trong đótrọng tâm của quá trình dạy học là làm việc phân tích và giải quyết các vấn đề củamột trường hợp (tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn Với phương pháp này,học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết một vấn đề của tìnhhuống đặt ra Hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Các tình huống đưa ra lànhững tình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, tình huống đó đã gặp hoặc có thểgặp hàng ngày Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết Để giải quyếtcác vấn đề đó đòi hỏi phải có những quyết định dựa trên cơ sở những giải pháp đượcđưa ra để giải quyết Trong nghiên cứu trường hợp, học sinh phải ghi nhớ lí thuyết
mà quan trọng là vận dụng kiến thức đã được học vào một tình huống cụ thể
Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiện ở một
số nội dung sau: phân tích tình huống giao tiếp, tìm hiểu một số văn bản văn học tiêubiểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống để tạo lập một vănbản nói/ viết…
Phương pháp nghiên cứu tình huống được thực hiện theo các bước sau:
- Nhận biết tình huống: giáo viên nêu tình huống, yêu cầu học sinh nhận diệnvấn đề trong tâm được nêu ra trong tình huống
- Thu thập các thông tin liên quan đến tình huống, yêu cầu học sinh huy độngcác nguồn thông tin liên quan đến tình huống chọn lọc, hệ thống hóa và sắp xếp cácthông tin phù hợp và sắp xếp các thông tin phù hợp
- Tìm phương án giải quyết: đưa ra các phương án, trao đổi, thảo luận để tìmphương án tối ưu Đây là bước thể hiện tư duy sáng tạo theo nhiều hướng của họcsinh, huy động khả năng làm việc của nhóm
Trang 6Dạy học theo dự án là một phương pháp hay, một hình thức dạy học trong đóngười học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lí thuyết vàthực tiễn Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lập cao trong toàn bộquá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kết hoạch đến việc thực hiện dự án,kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
Qúa trình thực hiện một dự án học tập diễn ra theo các bước cơ bản sau:
- Chọn đề tài và mục đích của dự án: giáo viên và học sinh lựa chọn Cần tạo ramột tình huống xuất phát chứa đựng một vấn đề hoặc đặt một nhiệm vụ cần giảiquyết Cần chú ý đến hứng thú của người học với ý nghĩa xã hội của đề tài Giáo viên
có thể giới thiệu một số đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hóa
- Xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện: Cần xác định những công việc cầnlàm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công côngviệc trong nhóm
- Thực hiện dự án: Học sinh thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thựctiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức
lí thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quátrình đó, sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: Kết quả thực hiện dự án có thể đượcviết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm của
dự án có thể là hành động phi vật chất (biểu diễn một vở kịch, tổ chứa một hoạt động
xã hội) Sản phẩm có thể được trình bày giữa các nhóm hoặc giới thiệu trong nhàtrường, ngoài xã hội
- Đánh giá dự án: giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quảcũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho những dự ántiếp theo
Một số kĩ thuật dạy học tích cực:
(1) Kĩ thuật chia nhóm
Khi tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm, giáo viên nên sử dụng nhiềucách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho học sinh, đồng thời tạo cơ hội chocác em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một sốcách chia nhóm:
*Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm, :
- Giáo viên yêu cầu học sinh điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm giáo viênmuốn có là 4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím,vàng, ); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danhtheo các mùa (xuân, hạ, thu, đông, )
- Yêu cầu các học sinh có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loàihoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm
*Chia nhóm theo hình ghép
Trang 7- Giáo viên cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số họcsinh muốn có là 3/4/5 Học sinh trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tươngứng với số nhóm mà giáo viên muốn có.
- Học sinh bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt
- Học sinh phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hìnhhoàn chỉnh
- Những học sinh có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm
*Chia nhóm theo sở thích
Giáo viên có thể chia học sinh thành các nhóm có cùng sở thích để các em cóthể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhómdưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, NhómNhà thơ, Nhóm Hùng biện,
*Chia nhóm theo tháng sinh: Các học sinh có cùng tháng sinh sẽ làm thành một
Quy tắc của động não
- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên;
- Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;
- Khuyến khích số lượng các ý tưởng;
- Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng
Các bước tiến hành
- Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
- Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không đánhgiá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
- Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
Trang 8giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượtnêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặctình trạng vấn đề.
Quy tắc thực hiện:
- Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;
- Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ:Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
- Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
- Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến
- Mỗi người cần viết ra: - 3 điều tốt; - 3 điều chưa tốt; - 3 đề nghị cải tiến
- Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi
(5) Lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trìnhbày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cánhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bảntrong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính
Cách làm
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm,phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viếttrên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trungtâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánhchính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
(6) Kĩ thuật khăn trải bàn
Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cánhân và hoạt động nhóm nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh
Cách tiến hành
- Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)
- Mỗi người ngồi vào vị trí xung quanh tờ giấy A0 có chia các phần tương ứng với sốngười, ở giữa là phần để cả nhóm ghi ý kiến chung nhất
Trang 9- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề, )
- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi cánhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhấtcác câu trả lời
- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)
(7) Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa cácnhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh:
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm
vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ởVòng 2)
- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả
7.1.3 Một số năng lực cần phát triển cho học sinh
Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ vàvận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặcgiải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúcchung Chúng có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thànhphần năng lực cũng khác nhau
Trang 10Cách tiếp cận thứ nhất: Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kếthợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, nănglực xã hội, năng lực cá thể Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốntrụ cột giáo dục theo UNESCO là học để biết, học để làm, học để cùng chung sống,học để tự khẳng định.
Cách tiếp cận thứ hai: Năng lực bao gồm năng lực chung và năng lực chuyênmôn Năng lực chung bao gồm năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợptác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Năng lực chuyên môn cần hình thành chohọc sinh là năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xãhội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Những năng lực được nêu ở cách tiếp cận thứ hai cũng là những năng lực đượcxác định trong mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới được thông quangày 27/7/2017 Khi tổ chức hoạt động dạy học bài Chữ người tử tù, người viết cũnghướng vào các năng lực này để hình thành cho học sinh
7.1.4 Biện pháp để giải quyết vấn đề
7.1.4.1 Xác định phương pháp và các kiến thức chung về tác phẩm
Trên cơ sở khảo sát thực trạng trên, người viết đề xuất biện pháp giải quyết vấn
đề bằng việc áp dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh vào việc soạn giảng và tổ chức hoạt động học tại lớp cho học sinh
Để tổ chức tốt một giờ dạy theo định hướng nói trên, trước hết giáo viên cần xác địnhngười học đóng vai trò trung tâm, định hướng những năng lực mà học sinh cần pháthuy Sau đó, hình dung các nhiệm vụ mà học sinh có thể thực hiện, phân công côngviệc cụ thể cho các nhóm và cá nhân Cuối cùng là kiểm tra, đánh giá kết quả
Văn xuôi lãng mạn ra đời vào những năm 30 của thế kỉ XX, mang đặc trưngcủa chủ nghĩa lãng mạn phương Tây đầu thế kỉ XIX Văn xuôi lãng mạn là tiếng nóicủa giai cấp tư sản khẳng định cái tôi cá nhân trong cái nghĩa tuyệt đối của nó Ở đó,con người là trung tâm của vũ trụ, con người được đề cao là con người thế tục vớinhững số phận cá nhân và quan hệ riêng tư Trong hoàn cảnh bất hòa nhưng bất lựctrước thực tại, các nhà thơ luôn tìm đến các đề tài tình yêu, thiên nhiên, quá khứ đểvượt lên cuộc sống hiện tại chật chội, tù túng, dung tục, tầm thường Thủ pháp nghệthuật nổi bật được sử dụng là tương phản, đối lập, cách xây dựng kiểu nhân vậthướng nội, phi thường với những ước mơ và khát vọng cao đẹp Nghệ thuật trần thuật
đa dạng, linh hoạt Ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm giàu chất thơ, giàu hình ảnh
Chữ người tử tù là một truyện ngắn xuất sắc nhất trong tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân Những nhân vật chính diện trong tập truyện này thường
là những con người tài hoa bất đắc chí, tuy bất lực nhưng bất hòa sâu sắc với xã hộiViệt Nam đương thời Trong thế giới của những con người tài hoa, tài tử ấy nổi bậtlên hình tượng nhân vật Huấn Cao (có nguyên mẫu ngoài đời là Cao Bá Quát- người
đã khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình nhà Nguyễn để đem lại cuộc sống bìnhyên cho nhân dân), một người vừa có tài, vừa có tâm, vừa có khí phách
Trang 11Khi hướng dẫn tìm hiểu truyện ngắn Chữ người tử tù, giáo viên cần chú trọng
hướng học sinh vào hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục và cảnhcho chữ Qua đó làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật tiến bộ của Nguyễn Tuân Mặtkhác, cũng cần chú ý đến đặc điểm và sức mạnh của bút pháp lãng mạn
7.1.4.2 Các bước tiến hành
Quy trình tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đòi hỏiphải có sự đầu tư công phu của cả người dạy và người học Trong đó giáo viên vừanhư người biên kịch, vừa lên kế hoạch xây dựng kịch bản, vừa là đạo diễn Học sinhchính là các diễn viên, là kĩ thuật âm thanh, ánh sáng, đạo cụ, hóa trang…Có điều vaitrò của đạo diễn là phải biết “phân vai”, phải nắm bắt được năng lực của từng người
để giao việc cho phù hợp Quy trình dạy học theo hướng phát triển năng lực trên lớpđược tôi triển khai theo quy trình sau:
7.1.4.2.1 Chuẩn bị giáo án dạy học trên lớp
Tiết 40 (Đọc văn): CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ (Nguyễn Tuân)
Hoạt động của giáo viên
I Khởi động
- Giáo viên cho học sinh
xem video nghệ sĩ Quốc
Anh ngâm bài thơ Ông đồ
của Vũ Đình Liên
- Giáo viên đặt câu hỏi:
+ Em có nhận ra bài thơ này
không? Đó là bài thơ nào,
của ai?
+ Bài thơ đó nói về điều gì?
- Giáo viên dẫn vào bài mới:
Từ đầu thế kỉ XX, Tây học
du nhập vào Việt Nam, nền
văn hóa Hán học ngày càng
suy vi, những thú vui tao
- Học sinh trả lời được:
+ Đó là bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên
+ Bài thơ khắc họa hình ảnh ông đồ đã bị xã hội bỏquên và dần vắng bóng với niềm ngậm ngùi, day dứtcủa tác giả Vũ Đình Liên về cảnh cũ, người xưa
- Học sinh nhận diện được nội dung trọng tâm của bàihọc
Trang 12Thực hiện một cuộc trao đổi
giữa phóng viên và tác giả
trong chương trình Nhà văn
và độc giả.
Trước khi thực hiện, giáo
viên viết các yêu cầu lên
bảng, yêu cầu HS hoàn thiện
các nội dung đó trong khi
theo dõi cuộc đối thoại Một
HS khác lên hoàn thiện trên
là nho sĩ cuối mùa - những
con người tài hoa, bất đắc
chí, dùng cái tôi tài hoa
ngông nghênh và thiên
lương để đối lập với xã hội
phàm tục
Trong tác phẩm, Nguyễn
Tuân đã xây dựng được tình
huống nào? Tình huống đó
- Quan điểm sáng tác: Nguyễn Tuân là người suốt đời
đi tìm và khám phá cái đẹp
- Thành công:
+ Thể loại: Truyện ngắn
Tùy bút, bút ký- ông vua của thể tùy bút.
+ Ngôn ngữ: làm giàu vốn ngôn ngữ dân tộc –
người thợ kim hoàn của chữ.
- Phong cách tài hoa, độc đáo
- Những tác phẩm chính: SGK Tr 107
2 Văn bản
- Vị trí: Rút trong tập Vang bóng một thời (1940)- tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân, là một văn phẩm đạt tới sự toàn thiện, toàn mĩ (Vũ Ngọc Phan).
- Tên ban đầu: Dòng chữ cuối cùng, in 1938 trên tạp chí Tao đàn.
=> Tác phẩm xuất sắc nhất trong Vang bóng một thời.
Trang 13có gì đặc biệt (thời gian,
không gian và đặc điểm của
thứ chữ khối vuông, được
viết bằng bút lông, vừa có
tính chất tạo hình vừa ít
nhiều mang dấu ấn cá tính,
nhân cách người viết.
Người viết chữ đẹp được coi
là nghệ sĩ và viết chữ được
xem là một hành vi sáng tạo
nghệ thuật, một hoạt động
sản sinh cái đẹp Bộ môn
nghệ thuật ấy được gọi là
thư pháp.
=> Thú chơi đài các, thanh
tao, lịch sự của những người
có văn hoá và khiếu thẩm
mĩ, thường diễn ra ở thư
luận theo nội dung:
- Huấn Cao có tài nào?
- Tài đó được giới thiệu như
thế nào?
- Tìm những chi tiết trong
tác phẩm nói về thái độ của
thầy thơ lại và viên quản
- Của hai con người khác thường+ Viên quản ngục đại diện cho triều đình phong kiến Yêu cái đẹp
+ Huấn Cao tử tù- chống lại triều đình phong kiến
- Người khắp vùng tỉnh Sơn khen Huấn Cao là người
có tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp- nghệ sĩ trong
nghệ thuật thư pháp
- Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm.
Nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người
=> Đẹp cả ở hình thức và nội dung của con chữ
- Thái độ của thầy thơ lại và viên quản ngục (vị thếXH- kẻ thù) trước cái tài của Huấn Cao:
+ Thán phục: Thế ra y văn võ chà, chà!
+ Tiếc: giả thử tôi là đao phủ tiêng tiếc => đánh
thức lương tri của những người vốn làm nghề tànnhẫn
+ Kiêng nể: trái với phong tục lòng kiêng nể quá rồi => Khi Huấn Cao xuất hiện, trật tự nhà tù phong
Trang 14ngục trước cái tài của Huấn
Cao
- Em nhận xét gì về tài năng
của Huấn Cao? Qua đây em
hiểu gì về quan niệm và tư
tưởng nghệ thuật của
- Quan niệm và tư tưởng nghệ thuật:
+ Ngưỡng vọng người tài, tìm đến cái đẹp tuyệt vời.
+ Trân trọng nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dântộc
Tiết 41 (Đọc văn): CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ (Nguyễn Tuân)
Hoạt động của giáo viên và học
sinh
Nội dung cần đạt
II Hình thành kiến thức mới
Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm.
Các nhóm thảo luận theo nội dung:
Tìm những chi tiết trong tác phẩm
và phân tích để chứng minh vẻ đẹp
khí phách của Huấn Cao?
Gợi ý:
- Vì sao ông phải chịu án tử hình?
- Thái độ của ông khi đặt chân vào
nhà ngục?
- Cách cư xử đối với quản ngục?
Đại diện một nhóm trình bày
- Ngay khi đặt chân vào nhà ngục + Trước câu nói của tên lính áp giải:không thèm để ý
+ Thản nhiên rũ rệp trên thang gông: Huấn Cao lạnh lùng … nâu đen.
=> Đó là khí phách, tiết tháo của nhà Nho uy
vũ bất năng khuất (không chịu khuất phục
trước quyền lực)
- Khi được viên quản ngục biệt đãi: Thản nhiên nhận rượu thịt như việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh => phong thái tự do, ung
dung, xem nhẹ cái chết
- Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt
đến điều Ngươi hỏi ta muốn gì vào đây => Không quy luỵ trước cường quyền đến cái
Trang 15Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm.
Các nhóm thảo luận theo nội dung:
Tìm những chi tiết trong tác phẩm
chứng tỏ vẻ đẹp thiên lương của
Huấn Cao?
(Sử dụng phiếu học tập)
Gợi ý:
? Là người có tài viết chữ đẹp
nhưng Huấn Cao chỉ mới cho chữ
cho những ai? Vì sao như vậy?
? Tại sao Huấn Cao lại nhận lời cho
chữ quản ngục? Điều đó nói lên vẻ
đẹp nào trong con người ông?
? Nêu cảm nhận về câu nói của
Huấn Cao với quản ngục Thiếu chút
nữa ta đã phụ mất một tấm long
trong thiên hạ?
? Trong cảnh cho chữ, việc Huấn
Cao cảm nhận được mùi thơm của
thoi mực cho em hiểu gì về con
- Chỉ mới cho chữ ba người bạn thân.
=> Trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữnhững người tri kỉ
* Cách ứng xử với viên quản ngục
- Khi chưa biết tấm lòng của quản ngục: xem
y là kẻ tiểu nhân => đối xử coi thường, caongạo
- Khi biết tấm lòng biệt nhỡn liên tài và hiểu
ra Sở thích cao quý của quản ngục, Huấn Cao
nhận lời cho chữ => Chỉ cho chữ nhữngngười biết trân trọng cái tài và quý cái đẹp
- Lời trách mình của Huấn Cao: Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên
hạ => Sự trân trọng đối với những người có
sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp
* Trong cảnh cho chữ
- Vào cái giây phút mà cái chết đang đón đợi,Huấn Cao vẫn cảm nhận được mùi thơm củathoi mực, của tâm hồn con người
- Ông luôn hướng về người đang sống đểcảm hóa và giáo dục Ông khuyên viên quảnngục:
+ Thay đổi chỗ ở để giữ thiên lương cholành vững => cái đẹp, cái xấu không thể cùngtồn tại
+ Thay đổi nghề nghiệp rồi hãy nghĩ đếnchuyện chơi chữ => yêu cái đẹp thì khôngthể làm điều xấu, điều ác
=> Huấn Cao là một anh hùng - nghệ sĩ, mộtthiên lương trong sáng
Trang 16? Em hãy rút ra quan điểm thẩm mĩ
của Nguyễn Tuân?
Học sinh làm việc theo cặp:
? Tại sao tác giả lại đặt tên nhân vật
là viên quản ngục?
? Môi trường sống của ông ở nơi
như thế nào?
- Quan điểm của Nguyễn Tuân: Cái tài phải
đi đôi với cái tâm, cái đẹp và cái thiện khôngthể tách rời nhau
=> Quan niệm thẩm mỹ tiến bộ
3 Nhân vật viên quản ngục
a Nghề nghiệp và hoàn cảnh sống
- Sống chốn ngục tù, nơi người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc => có thể làm người
ta nhem nhuốc cả đời lương thiện.
- Là người đứng đầu ngục tù- công cụ đểthực thi tội ác cho triều đình phong kiến
=> Bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ.
Tiết 42 (Đọc văn): CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ (Nguyễn Tuân)
Hoạt động của giáo viên và học
sinh
Nội dung cần đạt
II Hình thành kiến thức mới
Sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm, kĩ thuật mảnh ghép
Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm
Giáo viên giao cho mỗi nhóm một
bộ câu hỏi, mỗi câu hỏi được ghi
chỉnh câu trả lời của cả nhóm mình
Đại diện một nhóm trình bày
Các nhóm khác bổ sung, phản biện
hoàn thiện sản phẩm
b Vẻ đẹp tâm hồn
* Tấm lòng biệt nhỡn liên tài- yêu quý cái
đẹp, trân trọng người tài
- Hướng về cái đẹp ở ngoài đời để biết đượcHuấn Cao là người viết chữ đẹp nổi tiếng
- Có sở nguyện cao quý một ngày kia được treo
ở nhà riêng mình một đôi câu đối do ông Huấn Cao viết.
- Tiêu chí nhìn người (thầy thơ lại): yêu tài hoa,
trân trọng cái đẹp, kính mến khí phách, biết tiếc, biết trọng người có tài.
- Thái độ, tâm trạng của viên quản ngục:
+ Đăm chiêu nghĩ ngợi thao thức giữa đêm
khuya, kín đáo nghĩ về một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ=> ngậm ngùi nuối tiếc + Nhìn Huấn Cao bằng ánh mắt “kiêng nể”
khiến lính và ngay tử tù cũng ngạc nhiên
+ Chân thành, cung kính khi biệt đãi Huấn
Cao để xin chữ và để cho ông Huấn đỡ cực (mến khí phách).