Ngành Y tế nước ta đã và đang có nhữngbiện pháp tích cực nhằm chặn đứng tình trạng trên và biện pháp tốt nhất hiệnnay đó chính là giáo dục kiến thức về sức khỏe răng miệng ngay tại các t
Trang 11 LỜI NÓI ĐẦU:
2 1 Lí do chọn đề tài:
Cuộc sống đang từng ngày đổi mới, mọi giao tiếp càng trở nên quan trọng thìgiá trị của tính thẩm mỹ đặc biệt là sức khỏe răng miệng vì vậy cũng được quantâm một cách rõ rệt Bệnh răng miệng có chiều hướng tăng cao và ảnh hưởngcực kì nghiêm trọng, không chỉ đơn thuần đối với trẻ em mà ngay cả người lớn,người già cũng rất dễ mắc bệnh Chi phí điều trị các bệnh về răng miệng rất tốnkém chiếm từ 6% đến 10% tổng chi phí cho điều trị các bệnh ung thư, timmạch, loãng xương ở các nước phát triển
Kết quả nghiên cứu của Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia cho thấy: 98-99% dân
số ViệtNam mắc các bệnh răng miệng Trong đó độ tuổi nhỏ hơn 20 là gần89% (với 2,64 chiếc răng sâu/người) Ngành Y tế nước ta đã và đang có nhữngbiện pháp tích cực nhằm chặn đứng tình trạng trên và biện pháp tốt nhất hiệnnay đó chính là giáo dục kiến thức về sức khỏe răng miệng ngay tại các trườnghọc, nơi mà các em học sinh có nguy cơ mắc bệnh cao nhất đặc biệt là mầm non
và tiểu học Nhu cầu trước mắt là cần phải có những nghiên cứu lượng giá kiếnthức, thái độ và thực hành về vệ sinh răng miệng của học sinh, làm cơ sở chocác chương trình của nha khoa phòng ngừa Tại trường Tiểu học An bình B nóiriêng, tình hình bệnh răng miệng vẫn đang diễn tiến, và hiện tại chưa có cuộcnghiên cứu nào về nó Hoàn thành đợt nghiên cứu này sẽ chỉ ra một số điểm hạnchế trong kiến thức, thực hành về vệ sinh răng miệng của học sinh tiểu học,đồng thời đưa ra ý kiến ,định hướng cho công tác giáo dục truyền thông chươngtrình chăm sóc răng miệng tại trường Tiểu học An Bình B, hướng tới mục tiêu “không còn bệnh sâu răng, nụ cười tương lai tươi sáng”
1 2 Mục tiêu sáng kiến:
Trang 2Xác định tỉ lệ học sinh có kiến thức, thực hành đúng và tỉ lệ tiếp cận các nguồnthông tin về vệ sinh răng miệng của học sinh trường tiểu học An Bình B, thị xã
Dĩ An, tỉnh Bình Dương năm 2013 – 2014
NỘI DUNG THỰC HIỆN:
2.1 Cơ sở lý luận:
Đi kèm với quá tình phát triển và hoàn thiện các hệ cơ quan trong cơ thể, lứatuổi tiểu học cũng là khoảng thời gian mà trẻ em hoàn thiện hàm răng của mình.Nhưng cũng chính trong thời gian này, có rất nhiều nguy cơ làm phát sinhnhững bệnh răng miệng ở trẻ như chế độ ăn uống, quá trình trao đổi chất… tuynhiên các bệnh này đều có thể phòng tránh và được ngăn chặn một cách dễ dàngnếu chúng ta hướng dẫn cho trẻ biết cách tự chăm sóc và bảo vệ hàm răng củachính mình
Hiện nay, trên thực tế kiểm chứng cho thấy bệnh răng miệng thường gặp nhất ởtuổi tiểu học là bệnh sâu răng sữa và viêm lợi Sâu răng sữa xuất hiện ở trẻ trongthời kì chưa hoặc là sắp sửa thay sang răng vĩnh viễn, đây là lứa tuổi bắt đầu đihọc, các em tiếp xúc nhiều với thức ăn thức uống bên ngoài Không những vậy,
nó có thể xuất hiện sớm hơn với biểu hiện nhiều răng bị “sún” hay “ố đen” Như
ta đã biết răng sữa của trẻ thường chỉ có 20 chiếc Đặc điểm của răng sữa là kếtcấu không bền vững, mềm và rất dễ bị tác động của những chất xấu, vi khuẩntrong miệng gây ra, do vậy răng sữa là một đối tượng thường mắc bệnh nhiềuhơn cả Nếu không được phát hiện điều trị tốt, răng sữa bị sâu sẽ lây lan nhanhsang các răng lành khác và là bàn đạp thuận lợi cho sâu răng tiếp tục tấn cônglàm cho các răng vĩnh viễn mọc sau đó tiếp tục mắc phải căn bệnh này
Trang 3Giai đoạn đầu, trên răng sữa của trẻ xuất hiện những đốm màu sậm như cà phêrồi dần dần chuyển qua đen Các vết đen này ngày một ăn sâu vào trong thânrăng làm mòn răng, khi tới tủy răng gây khó nhai ,đau nhức, có thể là bị nhiễmtrùng gây sốt, ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên của trẻ nói chung và củaxương quai hàm, tủy xương hàm ở trẻ nói riêng Bạn đồng hành cùng với bệnhsâu răng sữa là tình trạng viêm lợi, chúng liên quan tới nhau Khi lợi bị viêm sẽ
đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu, miệng có mùi hôi, có mủ do trẻ sợ đau nên nhiềutrẻ không chịu đánh răng thường xuyên làm cho tình trạng viêm tiếp tục nặnghơn và tạo điều kiện cho sâu răng phát triển, nếu đã có sâu răng rồi thì càngnặng hơn Viêm lợi còn là giai đoạn đầu của quá trình viêm quanh răng, khibệnh đã nặng thì lợi sẽ không còn kết dính chắc vào răng nữa mà hình thành cáctúi lợi, lúc này các dây chằng của răng và xương bị vi khuẩn tấn công, phá huỷ.Phía trong các túi lợi là vô số mảng bám cao răng và vi khuẩn Lung lay và rụngrăng chính là hệ quả của việc không được điều trị kịp thời
Bên cạnh đó thì tình trạng thay răng không được chăm sóc tốt, sâu răng, răng bị
“sún” làm cho hàm răng của trẻ mất tính thẩm mỹ, răng mọc không theo lốihàng, chệch lạc, hô, mọc thưa hoặc dày quá…gây cản trở ko ít tới việc đánhrăng, làm tăng them hậu quả của bệnh răng miệng, bóp méo nụ cười hồn nhiêncủa con trẻ và sau này lớn lến nó cùng ảnh hưởng xấu tới cuộc sống
Một điểm cần chú ý đó là có nhiều trẻ sinh ra kết cấu răng không đủ vững chắc
do trong quá trình mang thai, người mẹ không được cung cấp đầy đủ các dưỡngchất có lợi cho răng Vì thế khi sinh nở không chỉ chất lượng hàm răng củangười mẹ bị giảm sút mà chất lượng răng của trẻ cũng bị ảnh hưởng, làm chorăng của trẻ dễ bị vi khuẩn tấn công gây sâu răng Lời khuyên của tổ chức y tế
là lúc mang thai phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng canxi giúp cho cả mẹ vàcon có hàm răng chắc khỏe
Trang 4Nguyên nhân chính dẫn đến sâu răng và viêm lợi là vệ sinh răng miệng khôngsạch và không thường xuyên.Trong quá trình ăn uống, các mảng thức ăn dínhlại trên các kẽ răng nếu không được làm sạch sẽ lên men và tạo điều kiện chocác vi khuẩn có trong vòm miệng phát triển tấn công răng và lợi Các em họcsinh là lứa tuổi rất hay ăn quà vặt, các loại bánh kẹo, đồ ăn sẵn chứa nhiềuđường, tinh bột, các mảng thức ăn còn sót lại trên răng lên men trở thành mảnhđất màu mỡ cho vi khuẩn răng miệng phát triển Và khi thấy chảy máu, đau thìlúc đó đã quá muộn, bệnh sâu răng và viêm lợi đã phát triển nặng rồi Còn tìnhhuống khác, thói quen hay đưa tay vào miệng vô tình là con đường đưa vi khuẩnxâm nhập cơ thể gây ra bệnh tật trong đó có sâu răng.
2.2 Thực trạng sâu bệnh sâu răng hiện nay:
Sâu răng là một trong ba mối nguy hàng đầu cho sức khỏe sau ung thư và tim.Đây là mối lo bởi theo thống kê của WHO thì có đến 65-90% trẻ ở độ tuổi 5-18
bị sâu răng
Hiện nay trên thế giới, bệnh sâu răng trở thành vấn đề được tất cả mọi ngườiquan tâm Từ số liệu thống kê của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ở một số nướctrong khoảng thời gian từ năm 1995 đến 2010, tỷ lệ trẻ đến tuổi 10 mắc bệnhsâu răng rất cao Ở Việt Nam, kết quả cuộc “Điều tra sức khỏe răng miệng toànquốc” của Viện Răng Hàm Mặt TP HCM thực hiện cho ta thấy, tỷ lệ trẻ bị sâurăng trong nhóm tuổi 6-8 là 26,5% và tăng lên theo từng nhóm tuổi lần lượt là56,3% ở nhóm 9-11 tuổi; 64% ở nhóm 12-14 tuổi và 69,1% ở nhóm 15-18 tuổi
Cuộc khảo sát cũng cho thấy một kết quả “đáng phải suy nghĩ” là hơn hai phần
ba số trẻ 5-15 tuổi không khám răng miệng thường xuyên dẫn đến 80% học sinhtiểu học bị sâu răng và gần 99% học sinh không thực hiện đánh răng đầy đủ 3lần một ngày Các em này có chung một đặc điểm đó là lười đánh răng hoặcđánh răng lơ là, xong chuyện sau khi ăn hay trước khi đi ngủ Bên cạnh đó, liên
Trang 5đoàn Nha khoa quốc tế (FDI) khuyến cáo nước ta có tỷ lệ trẻ em mắc bệnh sâurăng đứng hàng đầu thế giới hiện nay.
Sâu răng đang là mối hiểm họa trong cuộc sống văn minh, hiện đại của chúng tahiện nay, vì vậy các bậc phụ huynh phải quan tâm hết sức trong công tác bảo vệchăm sóc sức khỏe răng miệng cho chính con cái chúng ta, không nên chủ quan,xem nhẹ loại bệnh
Là một cán bộ y tế học đường với ước mong giảm bớt được tác hại của bệnhrăng miệng cho học sinh và tất cả mọi người Từ điều kiện thực tế, tôi đã đềxuất các bước tiến hành cho cuộc nghiên cứu như sau
2.3 Các bước tiến hành:
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Bao gồm tất cả các em học sinh Trường tiểu học An Bình B năm học 2013 –2014
2.3.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Các em học sinh Trường tiểu học An Bình B năm học 2013 – 2014
- Chấp nhận tham gia quá trình nghiên cứu
- Đồng ý trả lời chính xác các câu hỏi trong bảng điều tra
2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không chấp nhận tham gia nghiên cứu
- Vắng mặt trong thời gian điều tra
- Đang bị bệnh không tham gia nghiên cứu
Trang 62.3.4 Các bước tiến hành:
2.3.4.1 Công tác tổ chức:
- Có bản báo cáo chi tiết về Trung tâm Y tế ngay đầu năm học
- Báo cáo và tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường biết về hình thức và nộidung đề tài sáng kiến tại trường mình
- Thành lập tổ thu thập số liệu kết quả, bao gồm 3 người (Trạm Y tế 1 người, 1thầy( cô giáo)tại trường và nhân viên y tế của trường)
2.3.4.2 Tiến hành thu thập số liệu:
Thông báo lịch thu thập số liệu trước 01 (một) tuần cho nhà trường sắp xếp vàtạo điều kiện thuận lợi cho tổ thu thập
1 III KẾT QUẢ
Dân số nghiên cứu 1385 học sinh, trong đó tỉ lệ nữ nhiều hơn tỉ lệ nam, baogồm 53% nữ và 47% nam Số lượng học sinh phân bố nơi ở chủ yếu là khu phốBình Đường II và Bình Đường III Về học lực, tỉ lệ học sinh có học lực cao(70%) nhiều hơn so với nhóm có học lực thấp (30%) Về trình độ học vấn củacha mẹ học sinh, đa số phụ huynh có trình độ ở mức cấp hai và cấp ba, chiếm85% ở cha và 83% ở mẹ
3.1 Kiến thức về vệ sinh răng miệng của học sinh:
3.1.1 Kiến thức về chải răng:
Đa số học sinh được khảo sát (90%) biết được từ hai lợi ích trở lên của việc chảirăng đúng cách nhưng trong đó chỉ có hơn 25% số này có kiến thức về phươngpháp chải răng hiệu quả nhất Một con số rất khiêm tốn cho phần này
Trang 73.1.2 Kiến thức về khám răng định kỳ:
Tỉ lệ học sinh cho rằng cần đi khám sức khỏe răng miệng 6 tháng/ lần là 20%,hầu như các em học sinh tiểu học chỉ đến nha sĩ tư vấn hay khám điều trị khigặp vấn đề về răng miệng, các em nay hoàn toàn cho rằng không cần thiết khikiểm tra răng định kì, đặc biệt có một số học sinh chưa đi khám răng lần nào vàcũng không biết thới gian qui định khám sức khỏe răng miệng là bao lâu(60%chủ yếu là học sinh lớp 1, 2,3)
3.1.3 Kiến thức về chất flour:
“ Flour” dường như còn hơi xa lạ đối với các em học sinh tiểu học, nhưng qualời dạy của giáo viên thì hầu hết các em biết chất flour có tác dụng làm răng chắc khỏe, phòng ngừa sâu răng Kiến thức của các em về flour chưa rõ ràng Tỉ
lệ học sinh phát biểu đúng về tác dụng Flour 70%, còn lại là các em chưa bít gì
về tác dụng của Flour Có hai biện pháp bổ sung Flour mà học sinh biết nhiềunhất đó là chải răng với kem đánh răng có chất flour ( 32%) trên thị trường hiệnnay như Cogate, P/S…và súc miệng với dung dịch Flour trên trường học( 50%)
3.1.4 Kiến thức về một số bệnh liên quan đến vệ sinh răng miệng:
Hầu hết các em học sinh của trường tiểu học An Bình B nhận thức được là phải
vệ sinh tốt răng miệng hang ngày sau khi ăn uống và ngủ dậy, ăn ít thực phẩm
có tinh bột,đường nhất là về ban đêm(86% và 75%) Các em còn biết được bổsung flour đầy đủ cho răng sẽ giảm thiểu bệnh sâu răng( 59%) Hai dấu hiệuđược biết nhiều nhất là nướu răng sưng to, đau và dễ chảy máu Đáng nói tới là
có đến 69% trong tổng số học sinh hoàn toàn không biết được thế nào là nướurăng có bệnh
3.2 Thực hành về vệ sinh răng miệng:
3.2.1 Thực hành về chải răng:
Trang 8Cách chải răng chủ yếu được sử dụng phổ biến nhất là chà ngang(86%) Tỉ lệhọc sinh thực hành phương pháp Bass còn rất hạn chế (3%) Kết quả nghiên cứu
còn cho thấy có khoảng 41% số học sinh không có cách chải răng cố định Về
số lần chải răng trong ngày, phần lớn sau khi ngủ dậy và trước khi đingủ( 58%), và số học sinh chỉ chải răng duy nhất một lần trong ngày ( sau khingủ dậy) chiếm 28% trong tổng số Tỉ lệ học sinh có thực hành chải răng trên balần trong một ngày chiếm tỉ lệ thấp nhất (13%) Nhìn chung qui thì các em họcsinh đã có ý thức tự đánh răng mà không cần sự can thiệp của người lớn( họcsinh lớp 2, 3,4,5), một số em lớp 1vẫn chưa tạo được thói quen đánh răngthường xuyên hàng ngày
3.2.3 Thực hành sử dụng thực phẩm có đường, axit giữa các bữa ăn chính
Do các em đang trong độ tuổi thiếu nhi nên thói quen ăn quà vặt, sử dụng thựcphẩm chứa đường giữa các bữa ăn chính khá phổ biến; 68% số học sinh đượckhảo sát dùng các thức ăn có đường từ một đến hai lần trong ngày và 85% sốnày dùng hơn hai lần Tần suất sử dụng thức uống có đường có thấp hơn so vớicác thức ăn ngọt, tỉ lệ học sinh dùng thức uống có đường dưới hai lần trongngày chiếm đa số (79%)
Trang 9IV BÀN LUẬN
Qua cuộc nghiên cứu với 100% học sinh tham gia và mẫu nghiên cứu trọn vẹnvới nữ nhiều hơn nam Tỉ lệ phân bố học sinh giữa các lớp là tương đối đồngđều Số học sinh ở mức khá và giỏi có ít hơn học sinh trung bình và yếu Đa sốhọc sinh được chọn làm nghiên cứu có cha và mẹ đều với mức học cấp hai và ba(85%, 83%) Tuy vẫn có sự chênh lệch giữa ba nhóm trình độ học vấn của phụhuynh học sinh nhưng kết quả này rất phù hợp với tình hình văn hóa - giáo dụccủa địa phương hiện nay
4.1 Kiến thức về vệ sinh răng miệng của học sinh:
4.1.1 Kiến thức về chải răng:
Tỉ lệ học sinh có kiến thức về cách biết chải răng đúng còn rất khiêm tốn (25%),
do các em vẫn còn quá nhỏ để có thể tự mình lĩnh hội được kiến thức một cáchtrọn vẹn nhất Không còn được hướng dẫn chăm sóc răng miệng vì thế mà kiếnthức về phương pháp chải răng cũng không còn được nhớ chính xác Về lợi íchcủa việc chải răng thường xuyên và đúng cách thì tỉ lệ học sinh vấn đề này kháchênh lệch so với kiến thức về phương pháp chải răng đúng cách( 90% so với25%) Nguyên nhân có của việc này có thể là do một số học sinh trả lời ngẫunhiên, hay bắt chước người khác, cũng có thể do phương pháp chải răng đã có
sự thiếu sót, trong quá trình nhớ lại trong khi lợi ích của chải răng có thể nắmbắt được nhờ tư duy óc sang tạo của bản than các em học sinh Vì lí do tỉ lệ họcsinh có kiến thức đúng nhất quá thấp nên khi đánh giá kiến thức chung về chảirăng, tỉ lệ học sinh đạt thấp, nó tỉ lệ thuận với nhau Đặc biệt chú ý đó là phươngpháp “Bass” của học sinh vẫn chưa được sử dụng nhiều, có thể nói là số lượnghọc sinh thực hành phương pháp “Bass” đang trong tình trạng đếm đầu ngóntay
4.1.2 Kiến thức về khám răng định kỳ:
Trang 10Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng về thời điểm cần đi khám răng định kỳ là 20%,một con số rất thấp để nói lên rằng các em học sinh tiểu học chưa được nhắcnhở vấn đề này Đáng chú ý trong nghiên cứu này là có đến 60% tổng số chorằng chỉ đi khám răng khi bản than gặp vấn đề về răng miệng Như ta đã biết thìkhám răng định kỳ giúp cho chúng ta phát hiện các vấn đề răng miệng tiềm ẩn
mà tự bản thân người bệnh không phát hiện được, khi chúng ta biết trước đượcnguy cơ mắc bệnh, chúng ta se dễ dàng làm chủ nó,nhằm điều trị kịp thời vàgiảm thiểu hậu quả của bệnh tật gây ra Vai trò của khám răng định kỳ là hết sứcquan trọng, chính vì lẽ đó mà nội dung này cần được nhận rộng trong quá trìnhgiáo dục các em học sinh, đây là nhiệm vụ hết sức cần thiết của nhà trường vàphụ huynh học sinh
4.1.3 Kiến thức về chất flour:
Số học sinh nhận biết tác dụng của flour như m ột chất bảo vệ men răng chiếm
70 % Hầu như các em chỉ nghe thầy cô giáo giảng dạy mà thôi Về mặt bổxung Flour cho cơ thể thì gần một nửa tổng số các em học sinh trường An Bình
B biết đó là dùng kem đánh răng có flour như Cogate, P/S…(chiếm 50% tổngsố), do trong quá trình học tập, kiến thức về chất Flour là không đủ để các em
có thể vận dụng vào cuộc sống, tìm ra phương pháp bổ sung thêm Flour cho cơthể mình
4.1.4 Kiến thức về phòng ngừa sâu răng:
Hầu hết các em học sinh đã nhận thức được rằng cần phải giữ gìn vệ sinh răngmiệng thường xuyên, đúng lúc, đúng cách và ăn hạn chế thực phẩm có đườngtrong thời gian phụ để phòng ngừa sâu răng Với tỉ lệ học sinh 86% cho rằng vệsinh răng miệng tốt và 75% học sinh biết được ăn ít thực phẩm có đường sẽtránh được bệnh sâu răng Đây được xem là nền tảng rất quan trọng trong việcgiáo dục hình thành kĩ năng vệ sinh cá nhân hàng ngày Phần lớn các em đã
Trang 11hiểu biết được làm thế nào để ngăn ngừa sâu răng, biết được điều này thì côngtác huấn luyện cho học sinh dễ dàng hơn, và công lớn thuộc về bậc cha mẹ quantâm con cái, nhà trường tịch cực truyền thông giáo dục cho các em.
4.1.5 Kiến thức về dấu hiệu viêm nướu:
Viêm nướu răng là giai đoạn đầu của bệnh nha chu Nha chu là bệnh của các tổchức xung quanh răng Nguyên nhân chính của bệnh là do tình trạng vệ sinhrăng miệng kém tạo điều kiện cho các mảng bám thức ăn dọc theo cổ xươngrăng, khe răng Vi khuẩn tích tụ sẽ gây ra viêm quanh chân răng,nướu răng, saumột thời gian phát triển bệnh chuyển qua viêm nha chu Do tiến triển của bệnhthầm lặng nên chúng ta phải cực kì chú ý tới khâu vệ sinh răng miệng hàngngày.Việc phát hiện bệnh sớm sẽ giúp cho công tác điều trị dễ dàng hơn, giảmthiểu được những hậu quả nặng nề khi bệnh chuyền sang giai đoạn viêm nhachu Nội dung mà chúng tôi khảo sát được chọn từ tài liệu giáo dục sức khỏecho lớp bốn của chương trình “Nha học đường” Thế nhưng, theo kết quảnghiên cứu, có đến 69% hoàn toàn không biết về dấu hiệu của nướu răng bịbệnh Cũng phải nói tới rằng, mạng nha khoa ở Việt Nam là chưa thực sự pháttriển, nếu như không có biện pháp khắc phục thì 69% học sinh trường An Bình
B có nguy cơ mắc bệnh răng miệng là rất lớn
4.2 Thực hành về vệ sinh răng miệng:
4.2.1 Thực hành về chải răng:
Theo như kết quả trong phần kiến thức, s ự hiểu biết quá giới hạn về phươngpháp Bass( 3%) Có lẽ như vậy mà tỉ lệ học sinh thực hành đúng về chảirăng vẫn còn thấp và thấp hơn so với một vài nghiên cứu đã tiến hành trước đó.Kết quả khảo sát của Vũ Thị Thúy Hồng cho thấy tỉ lệ này ở học sinh 12 tuổitại thành phố Hồ Chí Minh là 15% Nghiên cứu của Ling Zhu ở học sinh 12tuổi vùng nông thôn Trung Quốc cũng cho kết quả cao hơn (44%)( Trích trong
Trang 12nghiên cứu nha khoa học sinh) Phương pháp Bass không khó nhưng đòi hỏi tậptrung và khéo léo của người làm Bình thường chúng ta vẫn chải theo kiểungang, cách chải này bỏ qua rất nhiều vị trí tạo cơ hội cho vi khuẩn răng miệngsinh sống Theo phương pháp chải răng chuẩn Quốc tế “ Bass” có hai bước nhưsau:
Bước 1: Lông bàn chải nghiêng 45 độ về phía nướu răng, chải với động tác
rung nhẹ tại chỗ nhiều lần( để long bàn chải len sâu vào kẽ răng, massage nướutiết dịch nướu)
Bước 2: Xoay bàn chải để long bàn chải chạy dọc theo chiều của răng( chiều
trên dưới, tuyệt đối không theo chiều ngang) mỗi vùng lặp lại tứ 6-10 lần Đốivới mặt nhai nên chải động tác lui ngắn
Trong khi chải răng nên theo thứ tự tránh bỏ sót răng, chải hàm trên trước, hàmdưới sau và chú ý các mặt ngoài, mặt trong, mặt nhai Bàn chải phải có độ đànhồi tốt để len vào các kẽ răng Chải cận thận mỗi lần 2-3 răng thật cẩn thận Kếthợp với chỉ nha khoa thì chúng ta đã đạt được 90% yêu cầu vệ sinh răng miệng
Về số lần chải răng, số học sinh cho biết chải răng từ hai lần trở lên trong ngàychiếm 68%, do tính chất đời sống của nhân dân ở đây còn nghèo, hầu hết là con
em của lao động, công nhân xí nghiệp và khu công nghiệp Sóng Thần, Khu chếxuất Linh Trung…nên việc tiếp cận các thông tin chưa phát triển nhiều, điềunày đã ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức chăm sóc răng miệng của người dân Sovới thành phố lớn,bản thân học sinh ý thức được phải chải răng thường xuyênnhờ được học kiến thức ở trường cùng với sự nhắc nhở của mọi người xungquanh đã dần nâng tần suất chải răng của đại bộ phận học sinh tại thành phố caohơn so với nơi khác “theoVũ Thị Kiều Diễm: Đánh giá hiệu quả chải răng cótheo dõi trên tình trạng vệ sinh răng miệng của học sinh một trường tiểu học tạithành phố HCM” Về thời điểm chải răng trong ngày, đa số các em có thực
Trang 13hành chải răng vào buổi sáng sau khi thức dậy Với những học sinh chải răng từhai lần trở lên trong ngày thì có thực hành vào buổi tối trước khi đi ngủ và buổisáng sau khi thức dậy Bên cạnh mục tiêu mô tả về thời điểm chải răng chúngtôi còn sử dụng thông tin biến số này như một cách để kiểm tra độ chính xáccủa tỉ lệ đáp ứng với số lần chải răng trong ngày của học sinh.
4.2.2 Thực hành về khám răng định kỳ:
Khám răng định kì hết sức quan trọng đối với tất cả mọi người Ý nghĩa củaviệc khám răng là vô cùng to lớn, vì chúng giúp ta giữ gìn sức khỏe của nướurăng và răng
Mỗi buổi khám nha khoa định kỳ sẽ gồm 2 giai đoạn:
- Khám tổng quát
- Vệ sinh răng miệng
Trong quá trình khám tổng quát, bác sĩ nha khoa của sẽ tiến hành kiểm tra tìnhtrạng sức khỏe răng miệng nói chung để x ác định vùng có vấn đề
Trong quá trình vệ sinh răng miệng, bác sĩ nha khoa của sẽ loại bỏ bất kỳ mảngbám và cao răng nào tích tụ trên răng và có thể sẽ đánh bóng răng của chúng ta
Trở lại với cuộc nghiên cứu về sức khỏe răng miệng, kết quả điều tra cho
ta thấy,tỉ lệ học sinh có khám răng định kỳ hàng năm là 25%, đem kết quả này
so sánh thì thấy nó thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Ngô Đồng Khanh “Điều tra sức khỏe răng miệng Viện Răng Hàm Mặt TP Hồ Chí Minh, 1997:14-29” Sự khác biệt này có thể giải thích bởi đối với học sinh khi tiếp cận vớicác dịch vụ chăm sóc răng miệng phải chi trả hoàn toàn chi phí điều trị, trongkhi con em người dân nơi đây có cha mẹ đều là công nhân trong nhà máy xínghiệp tại địa bàn,thu nhập thấp hơn so với mức trung bình chung tại thành phố