- Trên cơ sở làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước, luận án rút ra bài học kinh nghiệm giúp cho các nhà quản lí tôn giáo có cái nhìn l
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
VŨ THỊ THU HÀ
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
(Từ khởi đầu đến đổi mới – cải cách mở cửa)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
VŨ THỊ THU HÀ
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
(Từ khởi đầu đến đổi mới – cải cách mở cửa)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.90.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Hồng Dương
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Vũ Thị Thu Hà
Trang 41.1.Những công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử truyền giáo của
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử truyền giáo của
1.4 Khái quát quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin Lành 19 1.5 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung
Quốc từ khi du nhập đến thời kì đổi mới – cải cách mở cửa
25
Chương 2: HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO VÀ QUAN HỆ CỦA ĐẠO TIN
LÀNH VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ KHI DU
NHẬP ĐẾN KHI ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1911 - 1986)
33
2.5 Thái độ ứng xử của các chính quyền ở Việt Nam đối với đạo Tin Lành 64
Chương 3: HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO VÀ QUAN HỆ CỦA ĐẠO TIN LÀNH
VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở TRUNG QUỐC TỪ KHI DU NHẬP
ĐẾN KHI ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KÌ CẢI CÁCH MỞ CỬA (1807 - 1979)
69
3.5 Thái độ ứng xử của các chính quyền ở Trung Quốc đối với đạo Tin Lành 103
Chương 4: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH
TRUYỀN GIÁO CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
Trang 5Tiểu kết chương 4 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ
163
Trang 6CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Đối với lịch sử phát triển của một tôn giáo, hoạt động truyền giáo là cơ sở quyết định việc tôn giáo đó có tạo được chỗ đứng vững chắc tại một miền đất mới hay không Truyền giáo là phương pháp bảo vệ sự sinh tồn vững mạnh của một tôn giáo Đặc biệt đối với đạo Tin Lành, hoạt động truyền giáo luôn được đặt lên hàng đầu vì đó là nhiệm vụ, trách nhiệm và sứ mệnh vinh quang (theo lời Chúa) của từng cá nhân tín đồ Sứ mệnh truyền giáo được đề cao bởi mệnh lệnh của Chúa Giêsu ghi trong Kinh Thánh: “Nhưng khi Thánh-Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền năng, rồi làm chứng nhân cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả Giu-đê, Sa-ma-ri, và cho đến cùng trái đất” (Công vụ các sứ đồ 1:8); “Hãy đi khắp thế gian, giảng tin lành cho mọi người” (Mac 16:15); và “Hãy
đi khiến muôn dân trở nên môn-đồ ta, làm báp-têm cho họ nhơn danh Cha, Con,
và Thánh-Linh” (Ma-thi-ơ 28: 19-20)[57] Do vậy, tìm hiểu về hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành là tìm hiểu về toàn bộ những hoạt động chủ yếu của tôn giáo này Trong bối cảnh đạo Tin Lành đang phát triển đột biến tại Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về truyền giáo của đạo Tin Lành mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Đạo Tin Lành là một tôn giáo lớn trên thế giới, đứng hàng thứ 3 về số lượng tín đồ và phạm vi hoạt động chỉ sau Islam giáo và Công giáo Đạo Tin Lành có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị - xã hội, trong tâm lí, lối sống, phong tục tập quán của nhiều nước Đặc biệt đạo Tin Lành là tôn giáo hoạt động khá năng động, nghi lễ, lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, đề cao vai trò cá nhân, tinh thần dân chủ nên nó không chỉ phù hợp với tâm lí, lối sống của xã hội công nghiệp mà còn thích ứng với các cộng đồng dân tộc thiểu số Vì vậy, mặc dù ra đời muộn hơn so với các tôn giáo lớn khác nhưng đạo Tin Lành đã phát triển rất nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt ở những nước công nghiệp phát triển
Ở Việt Nam đạo Tin Lành bắt đầu du nhập và phát triển từ đầu thế kỉ XX Thời kì đầu do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là do bị chính quyền thực dân Pháp ngăn cấm nên đạo Tin Lành phát triển chậm Chỉ đến
Trang 8thời kì đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam (1954 – 1975), đạo Tin Lành mới có môi trường thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ở các khu vực tại miền Nam Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Việt Nam thống nhất, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đạo Tin Lành ở miền Nam bị hạn chế Thời gian gần đây, đạo Tin Lành đã phát triển trở lại với tốc độ nhanh đột biến, đặc biệt trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Hiện nay có những địa phương số người theo đạo Tin Lành tăng gấp vài ba lần, thậm chí có nơi tăng gấp cả chục lần so với năm 1975 Việc đạo Tin Lành phát triển nhanh đột biến trong thời gian qua đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải quyết, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các cấp, các ngành có liên quan
Trung Quốc là quốc gia láng giềng với Việt Nam và là nước có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá, xã hội nước ta, có cùng thể chế chính trị là chế độ xã hội chủ nghĩa Hơn nữa Trung Quốc là một trong những con đường đạo Tin Lành đi qua khi truyền giáo vào Việt Nam
So với Việt Nam, đạo Tin Lành được du nhập vào Trung Quốc sớm hơn khoảng một trăm năm Mốc thời gian đánh dấu đạo Tin Lành du nhập vào Trung Quốc là năm 1807 Giai đoạn đầu do triều đình nhà Thanh thực thi chính sách đóng cửa tự thủ, cấm người nước ngoài truyền giáo cùng với sự khác biệt về lối sống văn hóa nên đạo Tin Lành phát triển rất chậm Sau hai cuộc chiến tranh nha phiến năm 1840 và 1860 các hệ phái Tin Lành Phương Tây đã phái hàng ngàn giáo sĩ đến Trung Quốc truyền giáo, xây dựng các cơ sở y tế, giáo dục, từ thiện
xã hội Tuy nhiên, kết quả phát triển đạo cũng chưa được như mong muốn của các giáo sĩ Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện việc dẫn dắt các tôn giáo đi theo chủ nghĩa
xã hội, đạo Tin Lành đã dần đi vào ổn định và phát triển nhanh chóng Điều đáng chú ý là vào thời kì này đạo Tin Lành ở Trung Quốc phát triển theo mô hình riêng, đặc biệt chỉ có ở Trung Quốc, đó là sự hình thành Phong trào Tin Lành Yêu nước Tam tự (tự trị, tự dưỡng, tự truyền) Nhưng điều này hiện nay đang đặt Chính phủ Trung Quốc đứng trước thách thức không nhỏ, vì trên thực tế ngoài
bộ phận tín đồ đạo Tin Lành nằm trong Phong trào Tam Tự vẫn còn một bộ phận Hội Thánh tư gia không đăng kí với chính quyền đang phát triển một cách rất phức tạp và không kiểm soát nổi
Trang 9Trong điều kiện hội nhập quốc tế, việc tìm hiểu, so sánh đạo Tin Lành ở nước ta với đạo Tin Lành ở nước láng giềng Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn
từ buổi đầu truyền giáo đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách mở cửa, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc ứng
xử với tôn giáo này là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lí luận và thực tiễn Đây là giai đoạn hai nước có những bối cảnh biến động chính trị khá giống nhau, cùng
từ chế độ nửa phong kiến nửa thuộc địa, trải qua cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, cho đến nay vấn đề này vẫn còn
bỏ trống, chưa được quan tâm nghiên cứu Từ lí do trên, tôi chọn đề tài: Hoạt
động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc ( từ khởi đầu đến đổi mới – cải cách mở cửa) làm đề tài luận án tiến sĩ Tôn giáo học
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai quốc gia này giai đoạn từ buổi đầu đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách mở cửa Từ đó thấy được hệ luận của việc truyền giáo đối với sự phát triển của đạo Tin Lành và mức
độ ảnh hưởng qua lại giữa đạo Tin Lành với xã hội bản địa nơi nó đến truyền giáo
2.2 Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra nhiệm vụ:
- Tìm hiểu bối cảnh chính trị, văn hoá, xã hội, tôn giáo ở mỗi nước khi đạo Tin Lành bắt đầu du nhập
- Trình bày quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam cũng như
ở Trung Quốc giai đoạn từ khi du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách mở cửa
- Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước
- Chỉ ra được những hệ luận của truyền giáo đối với sự phát triển của đạo Tin Lành
Trang 103 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành tại hai nước Việt Nam và Trung Quốc, bao gồm những vấn đề như: chủ thể truyền giáo, đối tượng truyền giáo, phương pháp truyền giáo và mức độ ảnh hưởng qua lại giữa đạo Tin Lành và chính trị, xã hội của hai nước
- Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào giai đoạn từ khi đạo Tin Lành du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách
và hưng suy của văn hóa tinh thần nhân loại Xét từ góc độ bảo tồn văn hóa dân tộc và hoằng dương giá trị văn hóa dân tộc, tôn giáo chính là yếu tố chuyển tải linh hồn của dân tộc và là chất môi giới của giao lưu văn hóa
Ngành tôn giáo học hiện nay sử dụng nhiều lí thuyết trong quá trình nghiên cứu tôn giáo Trong luận án này tác giả chủ yếu sử dụng những lí thuyết sau:
- Lí thuyết sử học tôn giáo: Sử học tôn giáo là xuất phát từ lịch sử phát
triển mà tôn giáo đã trải qua để nhận thức về bản thân tôn giáo Nhiệm vụ của nó
là nghiên cứu sự thực lịch sử của các loại tôn giáo, vạch ra con đường phát triển lịch sử của nó Sử học tôn giáo là cơ sở cho các chuyên ngành khác của tôn giáo học, có mối liên hệ mật thiết với sử học, khảo cổ học Nó nghiên cứu tôn giáo thông qua mô tả lịch sử, khảo sát ngôn ngữ, thực tiễn khảo cổ Tác giả sử dụng lí thuyết này để chiếu rọi những sự kiện lịch sử đã diễn ra trên khía cạnh nó tác động như thế nào đến vấn đề truyền giáo
- Lí thuyết xã hội học tôn giáo: xã hội học tôn giáo hình thành vào đầu
thế kỉ XX Học giả người Pháp Emile Durkheim (1858 - 1917) khi nghiên cứu
Trang 11vấn đề tôn giáo xã hội nguyên thủy và học giả người Đức Max Weber (1864 – 1920) khi nghiên cứu vấn đề tôn giáo xã hội công nghiệp đã có những cống hiến độc đáo, từ đó sáng lập nên hệ thống xã hội học tôn giáo Xã hội học tôn giáo lí giải tôn giáo là sự tồn tại khách quan của xã hội Bộ môn này quan tâm đến tôn giáo vì tôn giáo là một hiện tượng xã hội Tôn giáo vừa chịu sự chế ước của sự phát triển xã hội, vừa có liên quan nhất định với đoàn thể xã hội Xã hội học tôn giáo nghiên cứu tác dụng và quan hệ tương hỗ của tôn giáo với xã hội, tìm hiểu ý nghĩa tôn giáo của đoàn thể xã hội con người, nhu cầu và bài xích của xã hội đối với tôn giáo và sự phân bố tôn giáo trong các giai tầng xã hội, ý nghĩa của tôn giáo truyền bá trong xã hội Lí thuyết về xã hội học tôn giáo cho rằng tôn giáo chính là nhân tố kết cấu của xã hội loài người có nội dung hết sức hiện thực Tôn giáo là một loại hiện tượng xã hội, thần thánh chính là biểu trưng của thể thống nhất xã hội Biểu trưng tôn giáo chính là biểu hiện của sự đoàn kết hợp nhất trong xã hội, cũng giống như biểu trưng của dân tộc, chính trị trong xã hội hiện đại có ý nghĩa to lớn đối với sự sinh tồn của xã hội Xã hội học tôn giáo khi lí giải “tôn giáo” thường sử dụng khái niệm chức năng, tức là “thuyết chức năng”, nhấn mạnh chức năng, tác dụng của tôn giáo trong đoàn thể xã hội Sử dụng lí thuyết này tác giả chủ yếu quan tâm đến chức năng xã hội của đạo Tin Lành
- Lí thuyết địa - tôn giáo: địa - tôn giáo ra đời ở nước Đức với các học giả
đại diện như Immanuel Kant (1724-1804), Alexander Von Humboldt 1859) và Carl Ritter (1779-1859) Đây là bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan
(1769-hệ tương hỗ giữa tôn giáo với không gian địa lí, nó nằm giữa tôn giáo học và địa
lí học nhân văn, chuyên nghiên cứu những vấn đề có tính hỗ trợ lẫn nhau giữa tôn giáo và khu vực địa lí Địa - tôn giáo là sự kết hợp nghiên cứu tôn giáo với nghiên cứu vị trí địa lí và mối quan hệ qua lại của các khu vực khác nhau trên trái đất Những vấn đề bộ môn địa - tôn giáo nghiên cứu bao gồm: sự phân bố và biến hóa của tôn giáo trong các thời kì lịch sử khác nhau trên các khu vực địa lí thế giới; ý nghĩa tôn giáo chứa đựng trong cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân văn; sự phản ảnh và khúc xạ diện mạo địa lí đặc thù trong tôn giáo; hướng khu vực địa lí mà tôn giáo truyền bá; tình trạng di chuyển của các quần thể tôn giáo; đặc điểm địa lí của các tôn giáo và thánh địa của các tôn giáo trên khắp thế giới
Trang 12Tôi sử dụng lí thuyết này để thấy được tính chất vùng miền ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của đạo Tin Lành tại Việt Nam và Trung Quốc
- Lí thuyết văn hóa học tôn giáo: đại diện khai phá lí thuyết này là các
nhà khoa học như Max Weber, Malinowski, Christopher Dawson, Arnold Joseph Toynbee và Ernst Cassier
Lí thuyết này đứng chân trên văn hóa thế tục để giải thích, trình bày những đặc tính, địa vị công năng, bản chất và ý nghĩa nhân văn của tín ngưỡng, tôn giáo Nhấn mạnh mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa
Tác giả áp dụng những lí thuyết này để tìm hiểu mối liên hệ giữa đạo Tin Lành với văn hóa, xã hội, chính trị ở Việt Nam và Trung Quốc, từ đó tìm ra đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước này
- Lí thuyết tôn giáo học so sánh: Nhà khoa học Friedrich Max Muller
(1823 – 1900) được coi là người đầu tiên sáng lập ra lí thuyết này với câu nói nổi tiếng: “Người chỉ hiểu một tôn giáo, kì thực không hiểu một tôn giáo nào cả”
Tôn giáo học so sánh lấy lịch sử tôn giáo làm cở sở, sử dụng một cách không có phê phán thành quả nghiên cứu của sử học tôn giáo, nhưng không phát triển theo “chiều dọc” của nghiên cứu lịch sử tôn giáo, mà chỉ nhấn mạnh sự so sánh theo “chiều ngang” giữa các tôn giáo
Tác giả áp dụng lí thuyết này để triển khai nghiên cứu về đạo Tin Lành ở hai nước Việt Nam và Trung Quốc, tìm ra nét đặc thù, hiểu được sự tương đồng
và khác biệt trong quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước trên
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngành tôn giáo học, đó là phương pháp nghiên cứu lịch sử tôn giáo Từ góc độ phát triển lịch sử
mà tôn giáo đã từng trải qua để nghiên cứu tôn giáo Kết hợp với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp phân tích văn bản lưu trữ và phương pháp thống kê so sánh Những phương pháp này cho tác giả nắm bắt được thời gian du nhập, nhìn rõ được lịch sử truyền giáo và sự phát triển của đạo Tin Lành tại Việt Nam và Trung Quốc; Phương pháp nghiên cứu khu vực được
sử dụng nhằm nhấn mạnh tính địa phương, tính đặc thù của khu vực nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu so sánh giữa các tôn giáo Phương pháp này chú ý sự
đa dạng về hình thức, chủng loại và sự khác nhau về không gian khu vực địa lí
Trang 13của tôn giáo Nó xuất phát từ so sánh các tôn giáo khác nhau để tìm bản chất và
ý nghĩa chung của tôn giáo, quy nạp các hình thức và đặc trưng điển hình của tôn giáo Phương pháp này được tác giả áp dụng để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước Việt Nam và Trung Quốc
Dựa trên các cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu trên, tác giả sẽ tiến hành so sánh hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành hai nước và hệ luận của nó thông qua ba chiều kích gồm: môi trường chính trị, phương diện xã hội và một phần chiều kích về văn hóa
5 Đóng góp về mặt khoa học của luận án
- Đây là công trình khoa học đầu tiên phục dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình truyền giáo và phát triển đạo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn từ khi du nhập đến khi hai nước bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới - cải cách mở cửa
- Trên cơ sở làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở hai nước, luận án rút ra bài học kinh nghiệm giúp cho các nhà quản lí tôn giáo có cái nhìn lịch sử cụ thể để thực hiện một cách có hiệu quả công tác quản lí nhà nước đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam trong điều kiện đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn trong quá trình hoạch định chính sách tôn giáo và quản lí nhà nước về tôn giáo nói chung và đối với đạo Tin Lành nói riêng
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy về đạo Tin Lành tại các viện nghiên cứu, các học viện và các trường đại học có bộ môn tôn giáo học
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần lời cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình của tác giả có liên quan đến luận án đã công
bố, luận án gồm 4 chương với 19 tiết:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trang 14Chương 2: Hoạt động truyền giáo và quan hệ của đạo Tin Lành với đời sống chính trị - xã hội ở Việt Nam từ khi du nhập đến khi đất nước bước vào thời
kì đổi mới (1911 - 1986)
Chương 3: Hoạt động truyền giáo và quan hệ của đạo Tin Lành với đời sống chính trị - xã hội ở Trung Quốc từ khi du nhập đến khi đất nước bước vào thời kì cải cách mở cửa (1807 -1979)
Chương 4: Những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam
Đạo Tin Lành là một tôn giáo lớn trên thế giới và có ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống văn hóa, xã hội của con người Nghiên cứu về lịch sử truyền giáo nói riêng và đạo Tin Lành nói chung đã được một số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam, so với các tôn giáo khác như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Công giáo, đạo Tin Lành du nhập muộn hơn rất nhiều, cho đến nay mới có lịch sử hơn 100 năm Những công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành hiện nay còn rất khiêm tốn
Về phía giới chức Tin Lành có các tác giả tiêu biểu như: Lê Hoàng phu,
Đỗ Hữu Nghiêm, Jean Baubérot Ngoài ra, còn có một số tác phẩm là hồi kí của các mục sư, giáo sĩ truyền giáo đạo Tin Lành tại Việt Nam như mục sư Lê Văn Thái, Đoàn Văn Miêng, I R stebbins, Phạm Văn Năm, v.v…
Những tác phẩm liên quan đến lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành nói chung gồm có:
Tác phẩm “Lịch sử truyền giáo” của tác giả Lê Hoàng Phu (bản in romeo
không có năm xuất bản, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo) đã trình bày một cách khá đầy đủ những sự kiện quan trọng trong công cuộc truyền giáo của đạo Tin Lành suốt hai mươi thế kỷ kể từ khi chưa tách ra khỏi Công giáo và trình bày một cách khái quát sự tăng trưởng của các Hội Thánh Tin Lành khắp thế giới
Tác phẩm “Lịch sử đạo Tin Lành” của tác giả Jean Baubérot (Trần Sa
dịch, Nxb Thế giới, 2006) trình bày một cách khái quát quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin Lành Theo ông, đạo Tin Lành được hình thành từ các cuộc cải cách tôn giáo ở Châu Âu thế kỉ XVI với 3 đặc trưng cơ bản: “chỉ có Chúa Trời”,
“chỉ có Kinh Thánh”, “Chỉ có ân điển” Những điều khẳng định mang tính thần học nền tảng này của cuộc cải cách tôn giáo là những nhân tố thuyết giáo căn bản luôn luôn thường trực trong suốt lịch sử của đạo Tin Lành Tác giả cũng
Trang 16trình bày rõ tính đa dạng của đạo Tin Lành, những phong trào nhằm truyền bá và phát triển đạo Tin Lành ra khắp thế giới
Trong luận án tiến sĩ “Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 1965)” (Trung tâm nghiên cứu Phúc Âm Sài Gòn, 1968 và được Nhà xuất bản
(1911-Tôn giáo cấp giấy phép xuất bản năm 2010) mục sư Lê Hoàng Phu đã khái quát lịch sử du nhập và phát triển của đạo Tin Lành Việt Nam đến năm 1965 Trong tác phẩm này tác giả đề cập đầy đủ và khá chi tiết về các sự kiện, giai đoạn lịch
sử của đạo Tin Lành ở Việt Nam, bao gồm từ sự khởi đầu của Hội Thánh qua cố gắng của Hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp với sự thiết lập các hội thánh địa phương đầu tiên, sự tổ chức chính thức của “Hội Thánh bản xứ” đến cuộc đấu tranh sinh tồn, những thăng trầm trong quá trình truyền giáo và những kết quả
mà Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đạt được Tuy nhiên, tác giả chỉ giới hạn đối tượng nghiên cứu là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, còn các hội thánh, hệ phái Tin Lành khác không được đề cập tới và thời gian cũng chỉ giới hạn đến năm
1965
Tác giả Đỗ Hữu Nghiêm, trong luận văn thạc sĩ tại trường Đại học Văn
khoa Sài Gòn năm 1968 với nhan đề “Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam” đã phân tích khá sâu sắc hệ thống những phương pháp truyền
giáo mà các nhà truyền giáo áp dụng trong quá trình truyền giáo và phát triển đạo Tin Lành ở Việt Nam Qua hệ thống những phương pháp này người ta có thể thấy những chuyển biến của các phương pháp theo thời gian và biến cố lịch sử, đồng thời tác giả cũng trình bày những khó khăn về chính trị, luật pháp, văn hóa truyền thống mà các nhà truyền giáo gặp phải trong quá trình truyền giáo Tuy nhiên, tác giả chỉ giới hạn thời gian nghiên cứu từ khi đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam đến thời điểm tác giả làm luận văn năm 1968, trong đó, giai đoạn từ sau khi hiệp định Genève được kí kết năm 1954 tác giả chỉ khảo cứu trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam Các phương pháp truyền giáo mà tác giả Đỗ Hữu Nghiêm thống kê bao gồm: phương pháp truyền giáo trực tiếp tại một địa điểm
cố định hoặc lưu động và phương pháp truyền giáo gián tiếp qua văn hóa, giáo dục, y tế, hoạt động từ thiện xã hội
Trang 17Những tác phẩm là hồi kí của các mục sư, giáo sĩ truyền giáo Tin Lành cũng là mảng tài liệu phong phú giúp chúng ta hình dung được những hoạt động của đạo Tin Lành trong quá trình du nhập và phát triển tại Việt Nam
Mục sư Lê Văn Thái, một nhân chứng có mặt trong Hội Thánh Tin Lành Việt Nam từ những ngày đầu tiên, người được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng
trong Hội Thánh, trong cuốn hồi kí “Bốn mươi sáu năm trong chức vụ” (Cơ
quan xuất bản Tin Lành, 1971) của mình đã ghi chép lại rất chi tiết từ quá trình ông tiếp xúc, tin nhận đạo Tin Lành cho đến khi trở thành một mục sư và tham gia hoạt động truyền giáo Cùng với hoạt động truyền giáo của tác giả là những dấu ấn của các giai đoạn hình thành và phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam
từ khi du nhập đến năm 1968, khi ông nghỉ hưu
Cuốn “41 năm hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam” của
giáo sĩ I R Stebbins là tư liệu lịch sử quan trọng Đây là hồi kí của một trong những vị giáo sĩ tiên phong đem đạo Tin Lành đến truyền bá tại Việt Nam Trong cuốn hồi kí này giáo sĩ Stebbins đã ghi lại những tháng năm đầu tiên gây dựng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, những khó khăn, thách thức Hội Thánh đã trải qua trong thời gian gần nửa thế kỉ ông sinh sống và truyền giáo tại Việt Nam
Cuốn hồi kí “Dâng chọn cuộc đời” của mục sư Phạm Văn Năm và cuốn
tự truyện “Ân điển diệu kì” của mục sư Đoàn Văn Miêng là những câu chuyện,
những trải nghiệm và những kinh nghiệm của các tác giả trong những năm làm mục sư tại Việt Nam trước năm 1975 Các tác giả này đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về hoạt động truyền giáo và niềm tin của họ với đạo Tin Lành trong bối cảnh Việt Nam đương thời
Nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam còn một mảng tài liệu là những tạp chí do Hội Thánh Tin Lành phát hành, bao gồm:
“Thánh Kinh báo” với nội dung chủ yếu là tìm hiểu Kinh Thánh, hướng dẫn
sinh hoạt tôn giáo của tín đồ và bày tỏ lập trường chính thức của Hội Thánh Tin
Lành Việt Nam đối với những lĩnh vực thuộc xã hội trần thế; Nguyệt san “Hừng đông” (năm 1965 đổi tên là “Rạng đông”) với chủ trương giới thiệu tín ngưỡng
đạo Tin Lành cho các độc giả ngoài đạo, tuy nhiên nội dung và kỹ thuật trình bày thiên về hình thức dùng những đề tài có màu sắc thuần túy tôn giáo và Kinh
Thánh; “Bộ hồ sơ đăng ký hoạt động tôn giáo của các hệ phái Tin Lành tại Việt
Trang 18Nam”, trong đó bao gồm các nội dung: tóm tắt quá trình du nhập, hiến chương,
điều lệ của Hội Thánh, lí lịch những người đứng đầu Hội Thánh Đây là những tài liệu gốc từ các Hội Thánh Tin Lành được tác giả luận án khảo cứu, đối chiếu,
so sánh trong quá trình làm luận án
Về phía các nhà nghiên cứu ngoài Tin Lành có một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Thanh Xuân, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Xuân Hùng
Nguyễn Thanh Xuân trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam” (Nxb Tôn giáo, 2002) đã dành toàn bộ chương V để
trình bày về đạo Tin Lành ở Việt Nam Trong chương này tác giả đề cập đầy đủ
và đưa ra những số liệu cụ thể về các hệ phái Tin Lành ở Việt Nam trước năm
1975, bao gồm: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc), Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), Tin Lành Cơ đốc Phục lâm, Hội Cơ đốc truyền giáo, Tin Lành Baptist, Tin Lành Ngũ Tuần, Tin Lành Mennonite, Chứng nhân Giê-hô-va, Tin Lành Môn đệ đấng Christ, Hoàn cầu khải tượng, Thánh kinh hội và Viện Ngôn ngữ mùa hè
Đỗ Quang Hưng trong bài “Hồ Chí Minh và đạo Tin Lành” (Tạp chí Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, số 5/2013) và bài “Nguyễn Ái Quốc và đạo Tin Lành” (Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 5/2013) đã chỉ ra: vai trò đặt nền
móng của Tin Lành Pháp trong quá trình truyền giáo vào Việt Nam; Phân tích nguyên nhân Tin Lành Pháp thất bại khi truyền giáo vào Việt Nam; Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tin Lành Pháp; Tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo Tin Lành và vấn đề truyền giáo Tin Lành ở Việt Nam Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, có ba vấn đề đạo Tin Lành cần lưu ý: thứ nhất, truyền giáo Tin Lành ở Việt Nam không thể tách rời vấn đề dân tộc; thứ hai, truyền giáo Tin Lành ở Việt Nam không thể tách rời truyền thống văn hóa, tôn giáo của người Việt; thứ ba, “làm người An Nam tốt không ngăn cản họ làm người tín hữu tốt” Những tài liệu mà tác giả đưa ra cho thấy rằng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã có được một “chính sách Tin Lành vận” chính xác, phù hợp với điều kiện lịch sử và yêu cầu của Cách mạng Việt Nam
Trong bài “Đạo Tin Lành ở Đông Bắc Á: những kịch bản giải quyết xung đột với văn hóa bản địa” (Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5/2013) Đỗ
Trang 19Quang Hưng đã đưa ra cái nhìn tổng quát về truyền giáo của đạo Tin Lành: Trung tâm truyền giáo Tin Lành đã có sự thay đổi từ Châu Âu vào cuối thế kỉ XVII chuyển dần sang Mỹ vào thế kỉ XX, từ đó kéo theo những thay đổi về đặc tính truyền giáo, về cơ cấu và sự phân bố tín đồ; những xung đột của đạo Tin Lành với văn hóa các nước Đông Bắc Á và những kịch bản giải quyết xung đột này
Trong tác phẩm “Đời sống Tôn giáo Tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội”
(Nxb Hà Nội, 2010), Đỗ Quang Hưng đã trình bày một cách đầy đủ và khúc triết
về sự hình thành cộng đồng tín đồ Tin Lành Hà Nội và những đặc điểm của cộng đồng này Từ đó tác giả cho thấy bối cảnh chính trị, xã hội, đời sống sinh hoạt và nếp sống đạo của tín đồ Tin Lành miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng
Nguyễn Xuân Hùng trong một số chuyên đề nghiên cứu thực hiện tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo cũng đã đề cập đến lịch sử phát triển của đạo Tin Lành, các hệ phái Tin Lành, phương thức truyền giáo của đạo Tin Lành, v.v…
Đặc biệt, trong mấy năm gần đây có ba cuộc hội thảo liên tiếp nghiên cứu
về đạo Tin Lành ở Việt Nam được Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hội Việt – Mỹ và Viện Liên kết toàn cầu (Hoa Kỳ) kết hợp tổ chức tại Hà Nội Hội thảo thứ nhất
với chủ đề “Quá trình truyền giáo và phát triển đạo Tin Lành ở Việt Nam từ năm 1911 đến năm 1975” được tổ chức vào năm 2010 với 16 bài tham luận của
các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến rất nhiều khía cạnh của đạo Tin Lành trong quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam từ khi du nhập đến năm 1975 như: Tổng quan quá trình phát triển đạo Tin Lành miền Bắc Việt Nam; Huấn luyện mục sư và lãnh đạo tại Việt Nam (khái quát về giáo dục của hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp (C&MA) và Hội Thánh Tin Lành Việt Nam giai đoạn
1911 – 1975); Đạo Tin Lành ở Việt Nam: nguồn gốc những đặc điểm thần học
và đời sống tôn giáo; Phương thức truyền giáo của đạo Tin Lành Việt Nam đến năm 1975; Vai trò của các giáo sĩ truyền giáo C&MA trong buổi đầu truyền đạo Tin Lành ở Việt Nam; Các tổ chức hệ phái Tin Lành ở Việt Nam trước năm 1975; Đạo Tin Lành vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 1975; Đạo Tin Lành ở Việt Nam giai đoạn 1911-1975: Những đóng góp và thử thách; Đạo Tin Lành với văn hóa xã hội Việt Nam; Tính đa dạng, những hệ phái Tin Lành, v.v…
Trang 20Hội thảo thứ hai với chủ đề “Đạo Tin Lành ở Việt Nam giai đoạn 1976 – 2011” được tổ chức vào tháng 6 năm 2011 với các tham luận như: Khái quát sự
phát triển của các Hội Thánh Tin Lành ở Việt Nam trong ba thập niên qua; Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin Lành; Về thành phần tổ chức, hệ phái trong đạo Tin Lành tại Việt Nam hiện nay; Công tác thiện nguyện của các Hội Thánh Tin Lành hiện tại và tương lai; Mấy vấn đề thần học Tin Lành ở Việt Nam hiện nay; Sơ lược về phát triển niềm tin Tin Lành trong đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 2011; Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1975 đến nay – số liệu và một số đánh giá ban đầu, v.v… Với những tư liệu phong phú của nhiều nhà nghiên cứu, hai cuộc hội thảo trên đã đề cập đến nhiều vấn đề của đạo Tin Lành trong tiến trình
100 năm tồn tại và phát triển ở Việt Nam
Hội thảo thứ ba được tổ chức vào ngày 28 tháng 11 năm 2012 với chủ đề
“đạo Tin Lành với văn hóa Việt Nam” Nội dung của 15 bài tham luận tại hội
thảo đề cập đến các vấn đề như: sự xung đột văn hóa khi đạo Tin Lành truyền giáo tại Việt Nam; đạo Tin Lành ở Việt Nam với vấn đề hội nhập văn hóa; các quan điểm thần học của đạo Tin Lành và việc xây dựng một nền thần học phù hợp với bối cảnh Việt Nam, v.v…
Ngoài ra, trong những năm gần đây còn có một số đề tài cấp nhà nước, cấp
bộ nghiên cứu về đạo Tin Lành những năm gần đây như: “Những vấn đề lí luận
và thực tiễn liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam” (đề tài cấp nhà nước KHXH – 04 – 06); “Về tình hình phát triển đạo Tin Lành ở miền núi phía Bắc – Trường Sơn – Tây Nguyên” (đề tài cấp bộ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2000); “Tin Lành: vấn đề hôm nay và những năm sắp tới trên địa bàn Tây Nguyên” (đề tài cấp bộ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2007); “Sự phát triển của đạo Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” (đề tài cấp bộ, Trung tâm Khoa học và Tín ngưỡng
Tôn giáo – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999), v.v… Trong các
đề tài này các tác giả cũng ít nhiều đề cập đến lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam, tuy nhiên số liệu chủ yếu căn cứ vào các nghiên cứu của các
Trang 21tác giả đi trước như Lê Hoàng Phu, Đỗ Hữu Nghiêm và các bài viết trên tạp chí của Hội Thánh
Những công trình nêu trên đã đưa ra một bức tranh tổng quan về đạo Tin Lành ở Việt Nam, tuy nhiên chúng chủ yếu được nghiên cứu theo chiều dọc qua từng giai đoạn lịch sử truyền giáo hoặc chỉ đề cập đến từng vấn đề nhỏ mà chưa chỉ ra được toàn bộ những đặc điểm trong quá trình truyền giáo của tôn giáo này
ở Việt Nam Những công trình trên đây sẽ là nguồn tư liệu chủ yếu để tác giả tìm hiểu về lịch sử truyền giáo và trên cơ sở đó rút ra những đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam
Ngoài các công trình nêu trên, trong các tác phẩm trình bày về các tôn giáo trên thế giới cũng có giới thiệu khái quát về đạo Tin Lành như: tác phẩm
“Tôn giáo thế giới và Việt Nam” của tác giả Mai Thanh Hải (Nxb Công an Nhân dân, 1988), tác phẩm “Mười Tôn giáo lớn trên thế giới” của tác giả Hoàng Tâm Xuyên (Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1999), tác phẩm “Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2004),v.v…
Gần đây có khá nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu về đạo Tin Lành, tuy nhiên đây là những công trình chủ yếu đề cập tới tôn giáo này trong giai đoạn hiện nay, không liên quan trực tiếp đến phạm vi nghiên cứu của luận án nên tác giả không đề cập tới ở phần này
1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc
Tại Trung Quốc đạo Tin Lành đã có lịch sử hơn 200 năm Cuối thế kỉ XX, nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành tại Trung Quốc đại lục trở thành điểm nóng của giới học thuậtnước này Các nhà nghiên cứu Trung Quốc
đã đi sâu nghiên cứu các chủ đề như: Phong trào Thái bình Thiên quốc, các vụ án tôn giáo, vấn đề giáo sĩ truyền giáo, vấn đề đạo Tin Lành tại các địa phương, vấn
đề đạo Tin Lành với văn hóa, giáo dục ở Trung Quốc thời cận đại
La Vĩ Hồng trong tác phẩm “Kitô giáo Trung Quốc” (Nxb Truyền giáo
năm châu, 2004) đã trình bày một cách khái quát về đạo Tin Lành tại Trung Quốc từ khi giáo sĩ người Anh Robert Morrison đưa đạo Tin Lành du nhập vào nước này năm 1807, khởi đầu cho lịch sử truyền giáo của đạo Tin Lành tại đây Thời kỳ đầu du nhập, đạo Tin Lành nhận được “đặc quyền” truyền giáo ở Trung
Trang 22Quốc nhờ vào vũ lực và điều ước bất bình đẳng Những xung đột về văn hóa, chính trị khiến cho đạo Tin Lành không ngừng vấp phải sự phản kháng của thân
sĩ quan lại và nhân dân dẫn đến các sự vụ tôn giáo, khiến cho việc truyền giáo phát triển chậm Sang thế kỉ XX các giáo sĩ Tin Lành truyền bá văn hóa Phương Tây thông qua các lĩnh vực giáo dục, y tế, xuất bản, ảnh hưởng của đạo Tin Lành dần được mở rộng Nhưng mối quan hệ của các giáo sĩ truyền giáo với chủ nghĩa
đế quốc, thái độ coi thường văn hóa bản địa và đề cao văn hóa Phương Tây đã luôn tạo ra cuộc xung đột giữa đạo Tin Lành với cuộc đấu tranh chống đế quốc của nhân dân Trung Quốc Điều này đã khiến cho những tín đồ Tin Lành yêu nước ở Trung Quốc phải suy nghĩ về hoàn cảnh của đạo Tin Lành trong xã hội nước này và bắt đầu vận động tự lập, thăm dò con đường bản sắc hóa hội thánh Năm 1949, sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, đạo Tin Lành
đã thay đổi với Phong trào Yêu nước Tam tự, đoạn tuyệt quan hệ với chủ nghĩa
đế quốc, thực hiện tự trị, tự dưỡng, tự truyền, đoàn kết quần chúng tín đồ trở thành tổ chức tôn giáo yêu nước Sau khi cải cách mở cửa từ năm 1979 đến nay đạo Tin Lành ở Trung Quốc phát triển rất nhanh Trong tác phẩm của mình La
Vĩ Hồng đã hệ thống toàn bộ con đường mà đạo Tin Lành đã đi qua ở Trung Quốc, chỉ ra sự phát triển và ảnh hưởng của đạo Tin Lành ở nước này trong giai đoạn hiện nay
Trong tác phẩm “Kitô giáo Trung Quốc sử cương” (Nxb Cổ tịch Thượng
Hải, 2007) Vương Trị Tâm đề cập đến lịch sử Kitô giáo bao gồm Công giáo, Chính Thống giáo và đạo Tin Lành Đối với đạo Tin Lành, tác giả nhấn mạnh các vấn đề như: đạo Tin Lành với Phong trào Thái bình Thiên quốc; những xu hướng của đạo Tin Lành sau Phong trào Nghĩa hòa đoàn năm 1900; đạo Tin Lành với Cách mạng Quốc dân; các cuộc vận động bản sắc riêng và những đóng góp của đạo Tin Lành trong quá trình truyền giáo và phát triển, tìm cách thích nghi với xã hội Trung Quốc
Ở tác phẩm “Lược sử Kitô giáo Trung Quốc” (Nxb Văn hóa Tôn giáo,
2001) hai tác giả Diêu Dân Quyền và La Vĩ Hồng phân tích khá kĩ từng giai đoạn lịch sử trong quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc Đó là: những khó khăn mà các giáo sĩ ngoại quốc đầu tiên gặp phải khi bước chân vào Trung Quốc trong buổi đầu trầm lắng cho đến lúc cánh cửa vào nước này mở
Trang 23rộng khi các điều ước bất bình đẳng được kí kết, các hệ phái Tin Lành từ rất nhiều quốc gia, đặc biệt là Anh và Mỹ cử giáo sĩ đến Trung Quốc truyền giáo; cao trào truyền giáo ở thế kỉ XX; những xung đột giữa đạo Tin Lành với văn hóa,
xã hội truyền thống Trung Quốc; cuộc vận động bản địa hóa; sự chuyển biến, thích nghi với xã hội mới của đạo Tin Lành ở Trung Quốc với Phong trào Yêu nước Tam tự
Tác phẩm “Kitô giáo và văn hóa Trung – Tây cận đại” (Nxb Đại học Bắc
Kinh, 2000) do La Bỉnh Tường và Triệu Đội Hoa chủ biên, lại nghiên cứu Kitô giáo dưới góc độ tác động qua lại giữa tôn giáo và văn hóa Theo La Bỉnh Tường, giữa văn hóa và tôn giáo có những tác động qua lại với nhau vì: một mặt, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa, là sản phẩm của văn hóa; mặt khác, tôn giáo lại
là hạt nhân của văn hóa, là lực thúc đẩy của văn hóa Một mặt, sự phát triển của văn hóa sẽ ấp ủ và cho ra đời một số phong trào tôn giáo; mặt khác, những tư tưởng và kinh nghiệm tôn giáo của con người cũng sẽ dẫn đến sự nảy sinh phong trào tôn giáo, mà phong trào tôn giáo lại có thể quay lại thay đổi và lật đổ văn hóa Sự tác động qua lại giữa Kitô giáo và văn hóa Phương Tây cận đại là một minh chứng rõ ràng nhất Nội dung chủ yếu của tác phẩm này xoay quanh các vấn đề giữa Kitô giáo và khoa học, đạo đức, luân lí, lịch sử xã hội và triết học, tôn giáo Trung Quốc Tác phẩm cũng chỉ ra những mâu thuẫn, sự dung hợp với văn hóa, xã hội bản địa trong quá trình đạo Tin Lành du nhập vào Trung Quốc
Tác phẩm “Kitô giáo, Do Thái giáo chí” (Nxb Nhân dân Thượng Hải,
1998) do Trác Tân Bình chủ biên, trên cở sở tận dụng thành quả nghiên cứu của những người đi trước, mô tả sự phát triển của Kitô giáo ở Trung Quốc dưới nhiều tầng diện khác nhau, bao gồm: Lịch sử du nhập và phát triển; tổ chức hệ phái và giáo lí lễ nghi; giới thiệu về Kinh Thánh, các giáo sĩ truyền giáo nổi tiếng và các nhân vật tiêu biểu của Hội Thánh Tin Lành ở Trung Quốc
Tác phẩm “Từ Robert Morrison đến John Leighton Start – Chuyện về các giáo sĩ truyền giáo Tin Lành ở Trung Quốc” (Nxb Thư điếm Thượng Hải, 2005)
của Cố Trường Thanh là tập hợp các bài viết về cuộc đời và quá trình hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ ngoại quốc nổi tiểng ở Trung Quốc như: Robert Morrison, Elijah Coleman Bridgman, Charles Gutzlaff, Peter Parker, v.v… Từ những hoạt động của các giáo sĩ truyền giáo cho thấy một bức tranh chung về
Trang 24hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc; về những sự kiện lịch sử, những xung đột với văn hóa, xã hội bản địa; về những thành tựu mà đạo Tin Lành đạt được và những ảnh hưởng nhất định của nó đối với xã hội Trung Quốc trong quá trình truyền giáo
Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm khác đề cập đến các vấn đề liên quan tới lịch
sử truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc như: Kitô giáo và văn hóa Trung Quốc; Lịch sử giao lưu tôn giáo của Trung Quốc với nước ngoài; Giáo sĩ truyền giáo và Trung Quốc cận đại; Kitô giáo và văn hóa đế quốc; Chính sách tôn giáo
và những vấn đề tôn giáo của Trung Quốc; Tôn giáo Trung Quốc và Kitô giáo; Kitô giáo và điểm tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc; v.v…
Nhìn chung, các tác phẩm nghiên cứu về đạo Tin Lành ở Trung Quốc hiện nay đã đưa ra được cái nhìn toàn diện về lịch sử truyền giáo và quá trình phát triển của tôn giáo này tại Trung Quốc Tuy nhiên, cũng như ở Việt Nam, các tác phẩm này chủ yếu nghiên cứu các sự kiện lịch sử theo lịch đại, chưa có tác phẩm nào tập trung nghiên cứu đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành khi du nhập và phát triển đạo tại Trung Quốc Tác giả luận án sẽ căn cứ vào các tài liệu trên để tìm ra những đặc điểm truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc và so sánh chúng với những đặc điểm truyền giáo của tôn giáo này ở Việt Nam nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình đạo Tin Lành truyền giáo vào hai nước
1.3 Một số thuật ngữ sử dụng trong luận án
Trang 25Evangclicon) Cách gọi Phúc âm Evangelical là Tin Lành được sử dụng để phân biệt đạo Tin Lành với Công giáo và trở thành quen thuộc cho đến ngày nay Ở Trung Quốc đạo Tin Lành được gọi là 新教 (Tân giáo) hoặc 基督新教 (Kitô tân giáo)
2 Kitô giáo
Thuật ngữ Kitô giáo được dùng để chỉ Công giáo (Catholism), Chính thống giáo (Orthodoxism), Anh giáo (Anglicalism) và Tin Lành (Protestantism)
3 Truyền giáo là từ dùng để chỉ công việc mà các giáo sĩ, chức sắc, tín đồ
đạo Tin Lành dùng phương pháp trực tiếp thuyết giảng và phương pháp gián tiếp
bổ trợ khác như thông qua y tế, giáo dục, từ thiện xã hội để thuyết phục người ngoại đạo tin theo đạo Tin Lành
4 Hội Thánh Tin Lành là từ để chỉ một tổ chức hệ phái hoặc đoàn truyền
giáo Tin Lành sau khi du nhập đã thiết lập được hệ thống cơ cấu tổ chức riêng
5 Liên hiệp Hội Thánh Tin Lành là một tổ chức bao gồm nhiều Hội Thánh
Tin Lành
6 Đoàn truyền giáo hay Hội truyền giáo là một tổ chức tập hợp các nhà
truyền giáo thuộc một hệ phái, nhiều hệ phái hoặc không hệ phái Tin Lành cùng tiến hành công việc truyền giáo
7 Chi hội là đơn vị cơ sở của tổ chức hệ phái Tin Lành bao gồm một số
lượng tín đồ nhất định do tổ chức hệ phái đó quy định
8 Địa hạt là đơn vị bao gồm nhiều chi hội trong cùng một vùng lãnh thổ
9 Điểm nhóm truyền giáo là nơi tập hợp một số tín đồ đạo Tin Lành cùng
sinh hoạt tôn giáo nhưng chưa đủ điều kiện lập thành chi hội
1.4 Khái quát quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin Lành
Tên gọi chính thức của đạo Tin Lành là “Phái Kháng nghị” (Protestantism) cũng được dịch là “Phái Thệ phản” hay “Phái chống Rôma” Thuật ngữ này có nguồn gốc từ danh từ Protestanten trong tiếng Đức (có nghĩa là người kháng nghị) Năm 1529, sau khi đế quốc Đức đưa ra nghị quyết khôi phục lại đặc quyền Công giáo, Luther và một số đại biểu tham dự cuộc họp đã kháng nghị lại quyết định đó, bởi vậy, những người theo phái Luther được gọi là “Phái kháng nghị” Đạo Tin Lành còn được gọi là “Tân giáo” để phân biệt với “Cựu giáo” dùng để chỉ Công giáo Ngoài ra, tôn giáo này còn có tên gọi khác là “Cách
Trang 26chính giáo” hoặc “Giáo hội cải cách” Ở Châu Âu người ta còn gọi đạo Tin Lành
là “Giáo hội Phúc Âm”
Thế kỉ XVI, Ở Châu Âu xuất hiện Phong trào Cải cách Tôn giáo Đầu tiên
nó nổ ra ở nước Đức, sau đó lan ra toàn Châu Âu Năm 1517, Giáo hoàng Leo X lấy danh nghĩa kiến thiết đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma, đã phái linh mục dòng
Đa Minh có tên là John Tetzel làm Đặc sứ Tòa Thánh đến nước Đức thu nhận khoản tiền quyên góp bằng cách bán “phiếu chuộc tội” John Tetzel thổi phồng công hiệu của “phiếu chuộc tội” là rất thần kì Ông ta tuyên bố rằng, chỉ cần đồng tiền của người mua “phiếu chuộc tội” leng keng rơi vào trong ống quyên góp của Tòa Thánh, thì linh hồn người thân đã mất lập tức từ lò luyện ngục bay thẳng lên Thiên Đường Cách làm này của Đặc sứ Tòa Thánh đã nảy sinh mâu thuẫn với lợi ích của giới chức sắc giáo hội địa phương như Martin Luther ở Đức lúc bấy giờ Vì vậy, ngày 31 tháng 10 năm 1517, Martin Luther dán lên tường
trước cửa nhà thờ một bản “Luận cương 95 điều” với nhan đề là “Luận bàn về
phiếu chuộc tội” Đây là màn mở đầu cho Phong trào Cải cách Tôn giáo
Martin Luther (1484-1546) xuất thân từ một gia đình nông dân giàu có ở Eisleben Năm 1501, ông thi vào trường đại học Erfurt và trở thành tu sĩ dòng Augustine Năm 1508, ông được phái đến tu viện Wittenberg học Kinh Thánh và làm việc tại trường đại học Wittenberg mới xây dựng, đỗ học vị tiến sĩ năm 1512
và đến năm 1515 làm giáo sư thần học tại đại học này Martin Luther chịu nhiều ảnh hưởng của thần học Augustine và chủ nghĩa thần bí trung thế kỉ Sau khi nổ
ra cuộc tranh luận về tiền xá tội, do Giáo hoàng không để ý đến những nhượng
bộ của Luther, nên khiến cho mâu thuẫn giữa ông và Giáo hoàng ngày càng trở lên gay gắt Luther dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức, lấy quyền uy của Kinh Thánh thay thế cho quyền uy của Giáo hoàng, dùng “công chính hóa đức tin” để thủ tiêu những can thiệp hành chính của các chức sắc và chủ trương xây dựng một
“Giáo hội liêm chính, tiết kiệm” mang tính dân tộc không bị Giáo hoàng khống chế
Cùng với sự mở rộng của Phong trào Cải cách tôn giáo, ở nước Đức nổi lên cuộc đấu tranh của nông dân mà người đứng đầu là Mentzel Sau khi bị Giáo hội Rôma rút phép thông công, Luther cùng với những người ủng hộ ông tách ra khỏi Giáo hội Công giáo để bắt đầu tổ chức và phát triển đạo Tin Lành Ngày 13
Trang 27tháng 6 năm 1525, Luther kết hôn với Cathrina Von Bora - một nữ tu dòng Xitô hồi tục theo thuyết của ông, từ đó mở ra tiền lệ cho việc các chức sắc đạo Tin Lành được lấy vợ Theo truyền thống này các chức sắc đạo Tin Lành có thể lập gia đình, tạo nên một sự khác biệt với các chức sắc Công giáo vẫn thực hành chế
độ độc thân Ngày 6 tháng 4 năm 1529, những người theo đạo Tin Lành trình lên hoàng đế Đức một bản “thệ ước phản đối” (Protestation) chống lại quyết định khôi phục lại đặc quyền Công giáo Từ đó, trong ngôn ngữ Phương Tây xuất hiện một thuật ngữ mới là “Phái Thệ phản” hay “Phái Kháng nghị” (Protestantism) để chỉ một tôn giáo mới phái sinh từ Kitô giáo, đó là đạo Tin Lành, như đã trình bày ở trên
Phong trào Cải cách Tôn giáo không lâu đã lan rộng ra các nước Pháp, Thụy Sĩ, Anh, v.v… Năm 1536, một người Pháp tên là Jean Calvin (1509-1564) chịu ảnh hưởng của Luther, đã công bố một tác phẩm đồ sộ về cải cách thần học
với nhan đề “Nguyên lí Kitô giáo”, sau đó lần lượt lập nên các hệ phái Calvin ở
Thụy Sĩ, Pháp và các nước khác Chủ trương của Calvin còn cấp tiến hơn Luther, ông đưa ra tư tưởng thần học tiền định luận “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, cho rằng thành công và thất bại của con người trong cuộc sống hiện thực là tiêu chí của dân được chọn và dân bị vứt bỏ Theo ông, những người chí phú phát tài trong sản xuất xã hội đều là dân được Thiên Chúa chọn Ông còn ca ngợi phẩm chất “liêm khiết, tiết kiệm”, “kìm chế bản thân” và “thanh bần” trong cuộc sống của Cơ đốc nhân Ông còn cho rằng, để mọi người hăng hái theo đuổi thành công thì phải ra sức làm việc và đồng thời phải lấy việc khắc chế như cấm dục để tích
tụ tài sản Điều này đã phản ánh trạng thái kinh tế - xã hội thời kì tích lũy tư bản nguyên thủy của Châu Âu đương thời, phù hợp với nhu cầu của bộ phận cấp tiến nhất trong giai cấp tư sản Vì vậy, phái Calvin đã được giai cấp tư sản mới nổi lên chấp nhận, do đó phát triển rất nhanh Chính Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII đã được tiến hành dưới ngọn cờ “thanh bần” (Puritans) của phái Calvin Quan điểm luân lí này của đạo Tin Lành được các nhà xã hội học Phương Tây như Max Weber và R.H Tawney xem là nguồn gốc tinh thần của chủ nghĩa tư bản và cho rằng chính nó đã hình thành một cách khách quan mô thức sản xuất công nghiệp Phương Tây và sự phát triển của xã hội tư bản
Trang 28Ở nước Anh, cải cách tôn giáo do quốc vương Henry VIII phát động Năm
1532, Quốc hội Anh thông qua “pháp lệnh chí tôn” trao cho Quốc vương danh hiệu Giáo chủ Giáo hội Anh giáo, hay còn gọi là Thánh công hội Pháp lệnh này chỉ có một điểm khác là không chịu phục tùng sự quản lí của Giáo hoàng Rôma, còn các giáo lí chủ yếu, các nghi lễ và chế độ Giám mục của Công giáo vẫn được giữ lại
Các nhà thần học cải cách đặt nền móng cho Thần học Tin Lành dựa trên
ba điều khẳng định: “Chỉ có Thiên Chúa”, “Chỉ có Kinh Thánh” và “Chỉ có Ân huệ” Những điều khẳng định mang tính thần học nền tảng đó có thể coi như những trục tư tưởng chính, quy tụ những đặc trưng lớn, luôn luôn thường trực trong suốt lịch sử của đạo Tin Lành
Chỉ có Thiên Chúa: Thần học Tin Lành cho rằng, Thiên Chúa không ủy
thác ân huệ của Ngài cho một tổ chức hay một thể chế tôn giáo nào cả Tín đồ đạo Tin Lành tin vào quyền năng tối cao của Thượng Đế Ngài đã tự mặc khải linh động trong bản thân con của Ngài là Giêsu Đó là cuộc mặc khải đích thực
mà chỉ có lời Chúa mới đảm bảo cho niềm tin của tín đồ Sự khẳng định tuyệt đối siêu nghiệm đó phủ nhận vai trò trung gian giữa con người và Thiên Chúa của Giáo hội, cho rằng Giáo hội không có uy quyền thiêng liêng và tính không thể sai lầm trong lĩnh vực đức tin
Chỉ có Kinh Thánh: Điều khẳng định thứ nhất “chỉ có Thiên Chúa” dẫn
đến điều khẳng định tiếp theo Đó là, Thiên Chúa được mọi người biết đến chỉ qua Kinh Thánh mà thôi Đối với tín đồ đạo Tin Lành, suối nguồn của đức tin Kitô giáo được biểu lộ qua Kinh Thánh Thần học Tin Lành khẳng định “Uy quyền tối thượng trong lĩnh vực đức tin là Kinh Thánh” Duy chỉ có Kinh Thánh
là có thẩm quyền tối thượng chứ không phải là truyền thống Giáo hội hay quyền bính Giáo hoàng; Chân lí của Kinh Thánh là chân lí sống động cá biệt cho mỗi tín đồ được Thượng Đế bày tỏ trong khi họ đọc Kinh Thánh
Chỉ có Ân huệ: Theo giáo lí đạo Tin Lành, Cơ đốc nhân vừa là người cứu
độ vừa là kẻ có tội Những khuyết tật không thể xóa bỏ được của con người đã khiến cho con người không xứng đáng có được tình thương của Chúa Trời Duy nhất chỉ có đức tin vào Thượng Đế mới có thể nhận được sự ban ơn cứu thoát
Trang 29khỏi tội lỗi Được cứu độ vì Chúa Giêsu đã lãnh lấy tội lỗi và cái chết để giải thoát con người
Đạo Tin Lành chủ trương đa dạng hóa chế độ giáo hội, có nhiều hệ phái dưới các hình thức như: chế độ giám mục, chế độ trưởng lão, chế độ giáo đoàn, v.v… Trong đó chủ yếu là 3 hệ phái: hệ phái Luther (còn gọi là phái Tín nghĩa, bắt nguồn từ cải cách tôn giáo của Martin Luther; hệ phái Calvin (còn gọi là phái Quy chính, bắt nguồn từ cải cách tôn giáo của Calvin) và Anh giáo (còn gọi là Thánh công hội, có nguồn gốc từ cải cách tôn giáo của Quốc vương Anh Henry VIII) Trong lịch sử phát triển của mình, đạo Tin Lành đã hình thành nên rất nhiều hệ phái khác nhau như: hệ phái Anh em Moravian, hệ phái Thanh giáo, hệ phái Baptist, hệ phái Quây-cơ, hệ phái Wesley (tức Methodist) Nhiều hệ phái khác mới nảy sinh sau này ngày càng xa rời quan niệm của giáo hội truyền thống như: hệ phái Cơ đốc Phục lâm, hệ phái Cơ Đốc Phục lâm ngày thứ bảy, hệ phái Chứng nhân Giêhôva, hệ phái Quân cứu thế, hệ phái Khoa học Cơ Đốc, hệ phái Ngũ Tuần, v.v…
Về cơ cấu giáo hội, các hệ phái Tin Lành tự hình thành những giáo hội độc lập, riêng biệt không có một cơ cấu quyền lực giáo hội thống nhất trên toàn thế giới Các chức sắc của đạo Tin Lành gồm có: Mục sư, Trưởng lão, Chấp sự, Truyền đạo Từ “Mục sư” có nguồn gốc trong Kinh Thánh, Giêsu tự ví mình là người chăn đàn chiên, ví đàn chiên như là những tín đồ Mục sư phụ trách chủ trì nghi thức tôn giáo trong một nhà thờ, làm các công việc tôn giáo, thực hành truyền giáo, v.v…; Trưởng lão là người được chọn ra từ trong tín đồ, tham gia công tác quản lí giáo hội nhưng không được các mục sư truyền chức; Chấp sự là người được chọn từ trong các tín đồ để giúp mục sư và trưởng lão quản lí công việc trong giáo hội; Truyền đạo là nhân viên cộng tác trong tầng lớp dưới của giáo hội, chưa được thụ phong chức thánh song dưới sự chỉ đạo của mục sư được thực hành truyền đạo hoặc giảng giải giáo lí kinh văn Những tín đồ đảm nhiệm các công việc này đều là phần tử cốt cán của giáo hội, họ phụ trách mọi công việc hành chính thường nhật của giáo hội Ngoài ra trong hệ phái Tin Lành Luther và Thánh công hội cũng có chức giám mục, người phụ trách các công việc liên quan đến giáo phận Một số hệ phái Tin Lành gọi giám mục của họ là
“Hội đốc” Trong Thánh công hội cũng có chức hội lại và tổng hội lại, hai chức
Trang 30này tương tự với chức phó tế và phó tế trưởng trong Công giáo và chức chấp sự, chấp sự trưởng
Năm 1925, các hệ phái Tin Lành đã thành lập “Hiệp hội truyền giáo quốc tế” Sau đó, vào năm 1948, các hệ phái Tin Lành, Thánh công hội và Chính Thống giáo lại thành lập “Hội Hiệp tiến Kitô giáo thế giới” hay còn gọi là “Hội liên hợp Giáo hội Kitô giáo thế giới” ở Amsterdams, Hà Lan, để thúc đẩy Phong trào Giáo hội phổ thế thống nhất Năm 1961, Hiệp hội truyền giáo quốc tế sáp nhập vào Hội Hiệp tiến Kitô giáo thế giới thành “Ủy ban Truyền giáo và Bố đạo thế giới” Song Hội Hiệp tiến Kitô giáo thế giới chỉ là một loại tổ chức có tính liên hợp, hiệp thương kêu gọi giáo hội hợp nhất, không có quyền lãnh đạo, quản
lí các hệ phái Kitô giáo về mặt hành chính và công việc giáo hội
Hiện nay sự phát triển đa nguyên đa hệ phái của đạo Tin Lành đã hình thành nên một cục diện vô cùng phức tạp, thần học Tin Lành cũng tỏ ra vô cùng phong phú và đa dạng Từ sau cải cách tôn giáo của Martin Luther và Jean Calvin, lịch sử của đạo Tin Lành gắn bó chặt chẽ và không thể tách rời sự phát triển, thay đổi, lúc phân hóa, lúc sáp nhập của các hệ phái Các hệ phái Tin Lành
có ảnh hưởng mạnh bao gồm 6 hệ phái lớn là: hệ phái Luther, hệ phái Calvin, Anh giáo, hệ phái Công lí, hệ phái Baptist, hệ phái Wesley Từ 6 hệ phái này lại phân hóa, sáp nhập để tạo nên hàng trăm hệ phái lớn nhỏ và hàng ngàn giáo đoàn độc lập Thậm chí trong đó một số hệ phái mới được lập ra đã phát triển thành tôn giáo mới, về cơ bản khác xa hoặc thoát li với truyền thống Kitô giáo Sáu hệ phái lớn kể trên được người ta coi là các hệ phái chủ lưu hoặc hệ phái truyền thống của đạo Tin Lành Cùng với sự nổi lên của Phong trào Phục hưng thức tỉnh đức tin ở khu vực Trung Mỹ và Bắc Mỹ đã hình thành nên một số giáo hội phái Phúc Âm, từ đó tạo nên sự khác biệt, bất đồng giữa các hệ phái chủ lưu với các giáo hội phái Phúc Âm
Ngoài 6 hệ phái chủ lưu kể trên, đạo Tin Lành còn có nhiều hệ phái và đoàn thể giáo hội nhỏ lẻ khác Theo thống kê, đạo Tin Lành toàn thế giới có hàng trăm hệ phái, còn đoàn thể giáo hội độc lập thì có đến vài chục ngàn Giữa các hệ phái, giáo lí có điểm khác biệt, tư tưởng thần học đủ mọi màu sắc, quan điểm chính trị xã hội không thống nhất, v.v… Tất cả những điều đó tạo nên đặc điểm quan trọng và xu thế phát triển của đạo Tin Lành Hiện nay, đạo Tin Lành
Trang 31phân bố ở 230 quốc gia và khu vực trên toàn thế giới, chủ yếu là ở khu vực Bắc
Mỹ, Bắc Âu, Australia, New Zealand và các nước Á – Phi, trong đó có Việt Nam
và Trung Quốc
Do đặc điểm địa lí, văn hóa, chính trị mỗi vùng đất khác nhau, nên phương pháp truyền giáo của đạo Tin Lành áp dụng tại mỗi quốc gia có những đặc điểm khác nhau, từ đó dẫn đến các kết quả truyền giáo cũng khác nhau
1.5 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam và Trung Quốc từ khi du nhập đến thời kì đổi mới - cải cách mở cửa
1.5.1 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam từ khi du nhập đến năm 1986
1.5.1.1 Bối cảnh chính trị, xã hội, tôn giáo Việt Nam thời kì đạo Tin Lành bắt đầu du nhập
Có thể nói suốt thế kỉ XX, thế kỉ đạo Tin Lành du nhập và phát triển ở Việt Nam, tình hình chính trị, xã hội ở Việt Nam có nhiều biến động với những
sự kiện lớn diễn ra dồn dập
Năm 1884, khi kiểm soát được Việt Nam, người Pháp đã cải tổ lại nền hành chính địa phương theo quy chế riêng biệt Nam Kỳ và các thành phố như Hải Phòng , Hà Nội, Đà Nẵng là những thuộc địa của Pháp nên phải tuân theo những quy chế, luật lệ giống như tại Pháp Trong khi đó Bắc Kỳ bị đặt dưới chế
độ bảo hộ, còn Trung Kỳ tuy được tự trị trên nguyên tắc nhưng thực tế đã bị chính quyền Pháp chi phối
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, do tình hình quốc tế diễn ra phức tạp, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càng gia tăng, thuộc địa Đông Dương của Pháp bị nhiều nước, trước hết là Anh, Đức, Nhật nhòm ngó nên thực dân Pháp ra sức tăng cường lực lượng vũ trang tại Việt Nam
Trong khi đó, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, tuy đã bị dập tắt vào năm 1897 nhưng lại chuẩn bị bùng lên trong những năm đầu thế kỉ XX dưới tác động của trào lưu “Châu Á thức tỉnh”
Tháng 9 năm 1940 Nhật cho quân tiến vào Việt Nam Pháp nhanh chóng đầu hàng Nhật Quân đội phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương trong khi thực dân Pháp vẫn nắm quyền cai trị Nhân dân Việt Nam phải chịu hai tầng áp bức là Pháp và Nhật
Trang 32Năm 1945, sau 15 năm ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vùng lên tổng khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật giành độc lập dân tộc, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngay sau đó, Pháp quay lại chiếm đóng, rồi đế quốc Mỹ thay thế Pháp vào xâm lược Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo nhân dân liên tiếp giành chiến thắng to lớn trong hai cuộc kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975), thống nhất đất nước, đưa Việt Nam bước sang giai đoạn độc lập dân tộc và xây dựng xã hội chủ nghĩa
Về tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Trước khi đạo Tin Lành du nhập Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Islam giáo, Công giáo
Phật giáo vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng đầu công nguyên Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, góp phần quan trọng trong việc hình thành phong tục tập quán, tâm lí, đạo đức, lối sống của người dân Việt Nam
Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên và nhanh chóng hòa nhập với văn hóa nông nghiệp lúa nước và tín ngưỡng thờ thần linh của người dân Việt Nam
Nho giáo là hệ tư tưởng chủ đạo ở Việt Nam trong suốt thời kì phong kiến
từ nhà Lê đến nhà Nguyễn (từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX) Ba tôn giáo Nho - Phật
- Đạo hòa quyện vào nhau hình thành tư tưởng tam giáo đồng nguyên
Công giáo vào Việt Nam từ thế kỉ XVI, thời kì đầu phát triển rất chậm, đến khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (năm 1858) đạo Công giáo được chính quyền Pháp tạo điều kiện mở rộng lực lượng Đến thế kỉ XX đạo Công giáo đã có chỗ đứng tương đối ổn định tại Việt Nam Sau khi xâm chiếm Việt Nam, theo tinh thần của các bản hòa ước kí năm 1874, 1884, Giáo hội Công giáo nhận được mọi sự ủng hộ của thực dân Pháp Thời kì từ năm 1897 đến 1945 đạo Công giáo được hưởng mọi đặc quyền để hoạt động tại Việt Nam
Islam giáo bắt đầu du nhập vào một bộ phận cư dân người Chăm từ thế kỉ
XV Những năm cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, vùng Sài Gòn – Gia Định mở rộng giao lưu buôn bán với một số quốc gia trong khu vực và Phương Tây, từ đó
Trang 33hình thành trung tâm buôn bán ở Nam Bộ Người Malaysia, Indonesia, Ấn Độ theo Islam giáo nhập cư ngày càng đông, dần dần hình thành cộng đồng cư dân ngoại lai theo Islam giáo
Trong nửa đầu thế kỉ XX, ở miền Nam Việt Nam còn xuất hiện hai tôn giáo nội sinh là đạo Cao Đài (năm 1926) và Phật giáo Hòa Hảo (năm 1939) Cả hai tôn giáo này đều ra đời trong hoàn cảnh người nông dân Nam Bộ gặp bế tắc trong cuộc sống và trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có các loại hình tín ngưỡng dân gian như tín ngưỡng thờ mẫu, tục thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ những người có công với dân, với nước, thờ các vị thần theo quan niệm vạn vật hữu linh, v.v…
1.5.1.2 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Việt Nam
- Giai đoạn đặt nền móng
So với các tôn giáo khác, đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam muộn hơn
cả Theo một số tài liệu, vào giữa thế kỉ XIX Hội Truyền giáo Tin Lành Phúc âm thuộc Giáo hội Tin Lành cải cách Pháp (Église Réformée de France) đã gửi một
số mục sư đến Việt Nam
Năm 1894 nhà thờ đầu tiên được xây dựng ở Hải Phòng, tiếp theo đó là ở
- Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1954
Song song với hoạt động truyền giáo của Giáo hội Tin Lành cải cách Pháp,
từ cuối thế kỉ XIX dòng truyền giáo Tin Lành từ nước Mỹ, chủ yếu thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (C&MA) cũng bắt đầu cử giáo sĩ đến Việt Nam truyền giáo
Năm 1911, mục sư R.A Jaffray cùng với hai cộng sự là Paul M Hosler và
G L Hughes đã đến xây dựng cơ sở truyền giáo tại Đà Nẵng (lúc đó người Pháp gọi là Tuorane) Giai đoạn đầu hoạt động truyền giáo gặp rất nhiều khó khăn do chính quyền Pháp ở Việt Nam thực thi các chính sách hạn chế sự phát triển của
Trang 34đạo Tin Lành và do chiến tranh liên miên, khủng hoảng kinh tế, xung đột với văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống, v.v… nên việc truyền giáo không đem lại kết quả như mong muốn của các giáo sĩ truyền giáo
Năm 1927, đạo Tin Lành ở Việt Nam bắt đầu giai đoạn tự lập với sự ra đời của Hội Thánh Tin Lành Đông Pháp gồm 74 chi hội với gần 5.000 tín hữu Trong quá trình phát triển từ năm 1911 đến năm 1954 Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau: Hội Thánh Tin Lành Đông Pháp năm
1927, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Đông Pháp năm 1936, Hội Thánh Tin Lành Đông Dương năm 1945 và từ năm 1950 trở đi mang tên Hội Thánh Tin Lành Việt Nam
Trải qua hơn 40 năm truyền giáo, đến năm 1954 đạo Tin Lành ở Việt Nam
có khoảng 60.000 tín đồ với hơn 100 mục sư truyền đạo
- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Sau năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam cũng theo đó bị tách làm đôi là Tổng hội Tin Lành miền Bắc và Tổng liên hội Tin Lành miền Nam
Ở miền Bắc, một số lượng lớn tín đồ, chức sắc Tin Lành di cư vào Nam, chỉ còn lại gần một ngàn tín đồ với gần 20 mục sư, truyền đạo Năm 1955, đạo Tin Lành tại miền Bắc lập ra một tổ chức riêng gọi là Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) Cho đến năm 1975, số lượng tín đồ, mục sư truyền đạo của đạo Tin Lành ở miền Bắc hầu như không thay đổi
Ở miền Nam, đạo Tin Lành được các tổ chức Tin Lành quốc tế hỗ trợ, nâng đỡ về vật chất và tinh thần nên phát triển nhanh về số lượng tín đồ, giáo sĩ truyền giáo, quy mô về tổ chức và phạm vi hoạt động Lực lượng truyền giáo cũng trở nên đa dạng với sự xuất hiện thêm nhiều tổ chức, hệ phái Tin Lành Đến năm 1975, ở miền Nam đạo Tin Lành có khoảng 200.000 tín đồ với hơn 500 mục sư, truyền đạo
- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986
Sau ngày Việt Nam hoàn toàn thống nhất 30/4/1975, cùng với việc chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng hòa và sự ra đi của đế quốc Mỹ, đạo Tin Lành ở miền Nam mất đi các điều kiện ưu đãi của chính quyền cũ, các nguồn viện trợ tài chính từ Tin Lành Mỹ và thế giới bị cắt đứt Cùng với sự ra đi của các giáo sĩ
Trang 35truyền giáo nước ngoài, một bộ phận khá lớn tín đồ, chức sắc cũng di tản ra nước ngoài
Từ tháng 5 năm 1975 đến cuối thập kỉ 80, tổ chức phản động Fulro nổi dậy gây bạo loạn, trong đó có sự tham gia của nhiều chức sắc Tin Lành dân tộc thiểu số thuộc khu vực Tây Nguyên Đứng trước tình hình phức tạp như vậy, chính quyền cách mạng đương thời đã thực hiện chính sách cứng rắn đối với đạo Tin Lành tại miền Nam Đó là đình chỉ toàn bộ các hoạt động tôn giáo và hoạt động của bộ máy hành chính đạo, giải tán các chi hội, đóng cửa nhà thờ, trưng dụng các cơ sở văn hóa, y tế, giáo dục của Hội Thánh Tin Lành, tập trung cải tạo các chức sắc, tín đồ có liên quan đến chế độ cũ và Fulro
Trước những diễn biến đó cộng thêm những khó khăn về kinh tế sau chiến tranh, đạo Tin Lành tại miền Nam rơi vào thời kì khủng hoảng trầm trọng Nhiều mục sư, truyền đạo vượt biên, di tản, số tín đồ giảm mạnh
Tại miền Bắc, do những khó khăn chung của thời kì sau chiến tranh, cộng đồng Tin Lành cũng phát triển rất chậm
1.5.2 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc từ khi du nhập đến năm 1979
1.5.2.1 Bối cảnh chính trị, xã hội, tôn giáo Trung Quốc thời kì đạo Tin Lành bắt đầu du nhập
Thế kỉ XIX, khi đạo Tin Lành truyền vào Trung Quốc, cũng là lúc các đế quốc thực dân Âu - Mỹ tăng cường hoạt động xâm lược các nước Đông Nam Á
và là lúc triều đại phong kiến Mãn Thanh lún sâu vào cuộc khủng hoảng trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự
Về kinh tế, chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, tình trạng tô cao thuế nặng, làm cho nền kinh tế nông thôn tiêu điều và đời sống cư dân nông nghiệp trở nên cơ cực hơn bao giờ hết Tầng lớp hoàng thất, quý tộc, quan lại, địa chủ cường hào không từ một thủ đoạn nào để vơ vét, tước đoạt ruộng đất Nông dân ngoài việc phải nộp tô trên 50% thu hoạch, còn chịu sưu cao thuế nặng
và đủ loại phục dịch
Về chính trị, nền thống trị phong kiến đã mục nát, suy đồi từ trên xuống dưới Trong triều đình, bọn tham quan ô lại chỉ lo vơ vét của cải, tranh đoạt
Trang 36quyền chức, chẳng đoái hoài đến quốc kế dân sinh Nạn hối lộ diễn ra một cách
lộ liễu
Về quân sự, tổ chức và trang bị của quân đội hết sức lạc hậu, thiếu thốn Đời vua Quang Đạo nhà Thanh tuy có 22 vạn “Bát kì quân” (quân chính quy trung ương) và 66 vạn “Lục doanh quân” (quân địa phương), nhưng vũ khí thô
sơ và sức chiến đấu rất kém Tướng lĩnh sa đoạ, tham nhũng Quân lính đói khổ,
vô kỉ luật Vũ khí chủ yếu vẫn là cung tên, đao kiếm, súng ống không có nhiều
Về văn hoá, tư tưởng, triều đình Mãn Thanh tăng cường những chính sách văn hoá nhằm duy trì nền thống trị chuyên chế phong kiến Đạo Khổng Mạnh được đề cao Chế độ thi cử được quy định rất khắt khe, bắt sĩ tử phải thuộc “Tứ thư tập chú” của Chu Hy, tập làm văn Bát cổ, không quan tâm nhiều đến các vấn
đề xã hội, không biết đến vận nước đang suy tàn
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Trung Quốc bị các nước đế quốc đua nhau xâu xé, dựng nên rất nhiều các khu tô giới Cuộc đấu tranh chống đế quốc
và phong kiến của nhân dân Trung Quốc diễn ra rất quyết liệt Cách mạng Tân Hợi bùng nổ đã chấm dứt chế độ phong kiến lâu đời Tuy nhiên cuộc Cách mạng này chỉ dừng lại ở trọng tâm là đánh đổ tập đoàn thống trị Mãn, chưa nhận ra kẻ thù chủ yếu của cách mạng là chủ nghĩa đế quốc và toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến
Năm 1921 Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời đã làm cho phong trào giải phóng dân tộc có một bước chuyển biến căn bản Năm 1949 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân Trung Quốc giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và xây dựng đất nước Trung Quốc đi theo con đường Xã hội Chủ nghĩa
Về tôn giáo, tín ngưỡng, Trung Quốc là một quốc gia đa tôn giáo Các tôn giáo ở Trung Quốc được truyền bá và phát triển bên trong các nền văn hóa truyền thống, chủ yếu là văn hóa Hán tộc với truyền thống thờ cúng tổ tiên và tin vào số mệnh Các triều đại phong kiến Trung Quốc nhìn chung có thái độ khoan dung đối với tất cả mọi tôn giáo nên các tín đồ tôn giáo có thể đồng hóa tất cả những gì mà họ cho là tốt đẹp từ các tôn giáo khác Nho giáo có địa vị chi phối, tạo điều kiện cho việc trị vì đất nước thông qua các quy chuẩn đạo đức và chỉ dựa vào chữ tín Phật giáo xuất hiện ở Trung Quốc khoảng thế kỉ I Sau khi du
Trang 37nhập, Phật giáo Trung Quốc đã hình thành nên 3 dòng lớn là Phật giáo Hán (ngữ
hệ Hán), Phật giáo Tây Tạng (ngữ hệ Tạng) và Phật giáo Thượng Tọa vùng Vân Nam (ngữ hệ Pali) Đạo giáo là tôn giáo truyền thống của Trung Quốc, lấy “đạo” làm tín ngưỡng tối cao Nó hình thành vào khoảng thế kỉ II trên cơ sở tín ngưỡng tôn giáo cổ đại của Trung Quốc Islam giáo được truyền bá tại Trung Quốc vào thế kỉ VII, chủ yếu phát triển trong khoảng 10 dân tộc thiểu số như Hồi, Duy Ngô Nhĩ, v.v… Công giáo xuất hiện ở Trung Quốc vào thế kỉ XIII và được truyền bá với quy mô lớn vào năm 1840, khi có cuộc chiến tranh thuốc phiện
1.5.2.2 Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở Trung Quốc
So với Công giáo, đạo Tin Lành truyền vào Trung Quốc muộn hơn rất nhiều Mốc thời gian đánh dấu đạo Tin Lành bắt đầu truyền vào Trung Quốc là năm 1807 khi mục sư Robert Morrison (1782 - 1834), giáo sĩ truyền giáo của Hội Truyền giáo Luân Đôn của nước Anh đặt chân đến Trung Quốc Kể từ đó đến nay đạo Tin Lành Trung Quốc đã trải qua hơn 200 năm tồn tại và phát triển, với 3 giai đoạn sau:
Thời kì xã hội phong kiến (1807 – 1840)
Giai đoạn này ngoài Hội Truyền giáo Luân Đôn của nước Anh còn có các
hệ phái Tin Lành khác truyền vào Trung Quốc như: Tin Lành Luther của Đức (1830), Tin Lành Foreign Mossions của Mỹ (1834), Hội Thánh kinh của Mỹ (1835), Tin Lành Baptist của Mỹ (1836), Tin Lành Trưởng Lão của Mỹ (1837) Lúc đó, Trung Quốc đang ở vào thời kì cuối của xã hội phong kiến, triều đình nhà Thanh thực thi chính sách đóng cửa tự thủ, cấm người nước ngoài truyền giáo Đồng thời vào thế kỉ XIX ở Trung Quốc tư tưởng Phật, Đạo, Nho đã lưu truyền rộng rãi và có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân gian và giới trí thức nên đạo Tin Lành thời kì này phát triển rất chậm, đến trước chiến tranh Nha phiến năm 1840 số tín đồ mới chưa tới 100 người [135, tr.128]
Thời kì nửa phong kiến nửa thuộc địa (1840 – 1949)
Năm 1840 đế quốc Anh dùng pháo hạm mở cánh cửa vào Trung Quốc, chính phủ nhà Thanh buộc phải kí điều ước bất bình đẳng, từ đó lịch sử Trung Quốc bước vào thời kì nửa phong kiến nửa thuộc địa Trong các điều ước bất bình đẳng có điều khoản quy định về xây dựng nhà thờ và bảo hộ Kitô giáo Do
đó, các hệ phái Tin Lành Phương Tây dựa vào thế mạnh và đặc quyền để truyền
Trang 38giáo vào Trung Quốc Hàng ngàn giáo sĩ truyền giáo từ các nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp… đã đến Trung Quốc vào thời kì này Kinh tế của Hội Thánh Tin Lành Trung Quốc là do các đoàn truyền giáo Tin Lành Phương Tây tài trợ nên họ nắm quyền quản lí và chi phối Từ nội dung đến hình thức truyền giáo đều mang đặc trưng của Phương Tây, thậm chí rất nhiều nhà thờ còn treo cờ nước ngoài [124, tr.291]
Từ năm 1840 đến năm 1949 các hệ phái Tin Lành Phương Tây đã phái hàng ngàn giáo sĩ truyền giáo đến Trung Quốc, xây dựng 426 nhà thờ, 13 viện thần học, 240 trường trung học, 6.812 trường tiểu học, 174 trường mầm non, 28 trường sư phạm, 10 học viện y học, 58 trường đào tạo hộ lí, 69 cơ sở từ thiện,
332 bệnh viện, 39 nhà xuất bản [137, tr.218] Tiêu hao nhiều nhân lực vật lực như vậy nhưng đến năm 1949 Trung Quốc mới chỉ có 700.000 tín đồ đạo Tin Lành [116, tr.329]
Thời kì sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập (từ 1949 đến nay)
Năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, lịch sử đạo Tin Lành Trung Quốc cũng bước sang một giai đoạn mới, dần đi vào ổn định và phát triển nhanh chóng Từ con số 700.000 tín đồ năm 1949 đến nay con số tín đồ đạo Tin Lành Trung Quốc đã lên đến 10.000.000 người với hơn 18.000 mục sư, hơn 12.000 nhà thờ và hơn 250.000 điểm sinh hoạt tôn giáo [126, tr.494]
Trang 39Chương 2 HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO VÀ QUAN HỆ CỦA ĐẠO TIN LÀNH VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TỪ KHI DU NHẬP ĐẾN KHI ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1911-1986)
2.1 Lực lượng truyền giáo
Nhiều tư liệu lịch sử đã khẳng định sự hiện diện của các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin Lành tại Việt Nam từ các thế kỉ XVIII, XIX với tư cách là thương gia hay quân nhân
Cuối thế kỉ XIX, Hội Truyền giáo Tin Lành Phúc Âm thuộc Giáo hội Tin Lành Cải cách Pháp (Église Réformée de France) đã gửi một số mục sư tuyên úy đến Việt Nam phục vụ cho binh lính và nhân viên quân đội viễn chinh Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn Các giáo sĩ người Pháp cũng đã chú ý đến việc truyền giáo cho người Việt Nam
Năm 1894 nhà thờ Tin Lành đầu tiên ở Đông Dương do các mục sư người Pháp xây dựng đã xuất hiện ở Hải Phòng Năm 1902, nhà thờ Tin Lành Pháp cũng đã xuất hiện ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Lạt Chủ đích truyền giáo của giới Tin Lành Pháp được triển khai khá bài bản Năm 1918, họ thành lập Phái bộ
nghiên cứu Tin Lành Pháp (La Mission Francaise d‟études) để thực hiện kế hoạch truyền giáo ở Đông Dương Năm 1922, tổ chức này đã thành lập Hội sinh viên An Nam – một trung tâm hoạt động của sinh viên do Tin Lành bảo trợ tại số
5 phố Vọng Đức – Hà Nội, đặc biệt cho xuất bản Tạp chí song ngữ Pháp – Việt
để lôi cuốn giới trí thức trẻ ở Hà Nội Tuy nhiên, các mục sư của Giáo hội Tin Lành Cải cách Pháp không chủ trương truyền giáo trực tiếp cho dân chúng mà thường truyền giáo bằng cách hướng vào các hoạt động văn hóa như đề cao chữ quốc ngữ, báo chí, văn minh và lối sống Phương Tây Đến tháng 7/1925 những hoạt động truyền giáo chủ yếu của Giáo hội Tin Lành Cải cách Pháp về cơ bản
đã chấm dứt, chỉ duy trì hoạt động mục vụ hạn chế tại Hà Nội, Hải Phòng (trước Hiệp định Giơnevơ) và Sài Gòn, Đà Lạt (sau Hiệp định Giơnevơ) và đến năm
1955 hoạt động này đã hoàn toàn chấm dứt
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của Giáo hội Tin Lành Cải cách Pháp ở Việt Nam
Trang 40Thứ nhất, về nguyên nhân tư tưởng, triết học, thần học Đỗ Quang Hưng
dẫn lời phân tích của giáo sĩ G Bois, một trong những nhân vật chủ chốt của Hội Truyền giáo Tin Lành Phúc âm, cho rằng: các giáo sĩ Tin Lành Pháp lúc đó đã không ý thức hết được những đặc điểm của truyền thống văn hóa và tôn giáo Phương Đông, đặc biệt là “minh triết Khổng giáo” (Sagesse cònucéenne), yếu tố đạo đức, lối sống và gia đình Những yếu điểm về thần học của Tin Lành Phúc
âm Pháp trong truyền giáo cũng như trong việc xây dựng và phát triển Hội Thánh là tách rời việc truyền giảng Tin Lành với những hoạt động thực tiễn của Hội Thánh Ông còn cho rằng: “Thần khí “xuyên qua bão tố” của Thiên Chúa đã không đủ sức để “giết chết” các tôn giáo bản địa ấy, nên mặc dù đã xâm nhập vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, trải qua nhiều lần xâm nhập, đạo Công giáo mới có thể có chỗ đứng chân được Với đạo Tin Lành, những khó khăn còn gấp bội Hiện tại, một tôn giáo mới nữa, đó là chủ nghĩa Max, tư tưởng tập thể và kinh tế công hữu đã trở nên những thách đố không chỉ với hệ tư tưởng nhân văn Phương Tây nói chung mà còn với tâm linh của lí tưởng Kitô hữu” [G.Bois, histoire des Missions Protestantes en Indochinem, tr 86 Dẫn theo 53]
Thứ hai, về phương pháp truyền giáo Việc Tin Lành Pháp chỉ chú trọng
hướng vào giới trí thức qua các hoạt động văn hóa khiến cho việc phát triển tín
đồ rất hạn chế Hơn nữa, “thị phần truyền giáo” của họ đã nhỏ, lại phải cạnh tranh gay gắt với Công giáo Họ chưa chú trọng đúng mức đến việc đào tạo nhân
sự trong khi dốc mọi sức lực vào công cuộc giáo dục, hoạt động báo chí, hoạt động xã hội chủ yếu trong giới học sinh, sinh viên Tài liệu tuyên truyền của họ còn ít ỏi chưa làm rõ được tính chất của thần học Tin Lành
Thứ ba, về môi trường chính trị, xã hội Đạo Tin Lành thời điểm này vẫn
đang là một vấn đề chính trị - xã hội gay gắt ở Pháp, nơi mà Giáo hội Công giáo
là một thế lực trần thế lớn nhất Tin Lành Pháp hầu như không có vị thế ở chính quốc và thiếu đi phần tài trợ từ chính quốc Thêm nữa, Tin Lành Pháp xâm nhập vào Việt Nam trong điều kiện chính trị và pháp lí ở Đông Dương khá ngặt nghèo Trong Hiệp ước 1862, Hiệp ước 1874 và Hiệp ước 1884 chỉ cho phép Giáo hội Công giáo được hưởng quyền tự do truyền giáo Phải đến năm 1937 đạo Tin Lành mới được chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương công nhận tư cách pháp nhân theo sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương