thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học...Nam Cao là một trong chín nhà văn đượ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên - năm 2012
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
Chuyên ngành: LL&PPDH Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Gia Cầu
Thái Nguyên - năm 2012
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Gia Cầu Nội dung đề tài nghiên cứu của luận văn chưa được ai công bố trong công trình nào khác
Luận văn này đã chỉnh sửa theo yêu cầu của hội đồng bào vệ
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Gia Cầu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Phượng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới Tiến sĩ Nguyễn Gia Cầu Người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng đào tạo Nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu và học tập tại trường
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn trường THPT Định Hóa, trường THPT Bình Yên, THPT Phú Lương tỉnh Thái Nguyên; bè bạn, đồng nghiệp cùng những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Phƣợng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 9
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 9
1.2 Phương pháp dạy và học tích cực 11
1.3 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực 12
1.4 Phân biệt dạy học thụ động và dạy học tích cực 15
1.5 Điều kiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực 16
1.6 Một số phương pháp dạy học tích cực 17
1.6.1 Dạy học vấn đáp, đàm thoại 19
1.6.2 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề 20
1.6.3 Dạy học hợp tác 21
1.7 Phương pháp dạy học tích cực với các hình thức hoạt động trong dạy học tác phẩm văn chương (TPVC) 22
Tiểu kết 26
Chương 2 DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC 27
2.1 Việc dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 hiện nay 27
2.1.1 Về Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo trong chương trình Ngữ văn 11 27 2.1.2 Thực tế dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong trường THPT 29
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.3 Yêu cầu đổi mới dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao theo
PPDHTC 36
2.2 Vận dụng một số PPDHTC vào dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao 38 2.2.1 Sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề, tình huống có vấn đề trong trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao 38
2.2.2 Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động học tập theo nhóm 45
2.2.3 Hướng dẫn HS tự học 48
2.2.4 Tổ chức hoạt động ngoại khóa 52
Tiểu kết 54
Chương 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 56
3.1 Mục đích thử nghiệm 56
3.2 Thiết kế giáo án thử nghiệm 56
3.3 Tổ chức thử nghiệm 72
3.4 Kết quả thử nghiệm 72
Tiểu kết 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ thực tiễn nước ta đang trên con đường xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, phát triển và hội nhập với khu vực và thế giới, nhà trường phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho đất nước những chủ nhân năng động và sáng tạo, đủ bản lĩnh bước đi trên con đường tương lai mà dân tộc đã hoạch định Muốn thế, không thể không đổi mới chương trình, nội dung và các phương pháp dạy học (PPDH) Bên cạnh việc tiếp thu những giá trị tốt đẹp của PPDH truyền thống, nhà trường phải chú ý tới các xu thế dạy học hiện đại Các xu thế dạy học hiện đại nhìn chung đều tập trung nhằm tác động vào tính chủ động, tích cực, kích thích hứng thú tìm tòi, sáng tạo và tinh thần tự nguyện, tự giác; luôn tạo ra "cơ hội học tập" cho mọi người Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 quy định về phương pháp giáo dục cấp Trung học Phổ thông (THPT) là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh (HS); phù hợp với đặc điểm từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS Trong những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới về chương trình, sách giáo khoa (SGK) và PPDH
Tuy nhiên, cũng như nguyên tắc tích hợp, nguyên tắc tích cực hóa việc học
tập của HS không mới đối với GV, song do chưa được chương trình hóa,
chưa được tổ chức thực hiện đồng bộ nên nhìn chung chưa được GV thực hiện thường xuyên và triệt để trong mọi giờ lên lớp Do vậy, trong thực tế dạy học, PPDH vẫn chưa bứt phá khỏi ảnh hưởng của các PPDH truyền thống mang nhiều yếu tố thụ động, truyền đạt kiến thức một chiều; hoạt động giảng, ghi bảng, đọc cho HS chép của giáo viên (GV) vẫn chiếm vị trí chủ đạo mà chưa
Trang 9thực sự quan tâm đến việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho người học
Nam Cao là một trong chín nhà văn được lựa chọn để giảng dạy trong trong chương trình Ngữ văn phổ thông với tư cách tác gia lớn của nền văn học dân tộc Dù tuổi đời, tuổi nghề ngắn ngủi và số lượng sáng tác không nhiều nhưng hơn hẳn các tác gia khác, số tác phẩm của Nam Cao xuất hiện trong
SGK lại là con số đáng mơ ước đối với bất kỳ người cầm bút nào: Chí Phèo,
Lão Hạc, Đời thừa, Sống mòn, Một đám cưới, Một bữa no,… Qua nhiều lần
thay SGK, đến nay, Lão Hạc (chương trình Ngữ văn 8) và Chí Phèo, Đời
thừa (chương trình Ngữ văn 11) là ba tác phẩm khẳng định được vị trí không
thể vắng mặt trong nền tri thức Ngữ văn phổ thông của quốc gia, và tương lai cũng khó có sự thay thế Tuy nhiên, trong bối cảnh tình trạng chung với nhiều biểu hiện sa sút, trì trệ, phức tạp, nan giải của việc dạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay, chất lượng việc dạy và học tác phẩm của Nam Cao đã thực sự tương xứng với những giá trị sâu xa và tầm tư tưởng nghệ thuật to lớn nhà văn đã đóng góp cho nền văn học dân tộc hay chưa ? Có thể khẳng định
là chưa ! Vậy nguyên nhân nằm ở nội dung bài học hay phương pháp dạy – học ? Có thể khẳng định nguyên nhân chủ yếu thuộc về phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò Vậy, giải pháp nào để nâng cao hiệu quả
việc dạy - học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng và việc dạy học
Ngữ văn nói chung trong nhà trường phổ thông hiện nay ? Đó chính là
những vấn đề thực tế, những “câu hỏi khó” (tuy nhiên không phải là “không
có lời đáp”), đồng thời là lý do thôi thúc chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 theo phương pháp tích cực” với mong muốn tìm ra những biện pháp tối ưu để
nâng cao chất lượng việc dạy học tác phẩm Chí Phèo nói riêng và dạy học
Ngữ văn nói chung
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chân dung và sự nghiệp, tác phẩm và phong cách nghệ thuật, hồi ức và
kỷ niệm về Nam Cao luôn là đề tài mà các nhà phê bình, nghiên cứu, các nhà văn, các nhà giảng dạy văn học quan tâm khai thác trong suốt gần một thế
kỷ qua Ngoài cuốn sách Nam Cao về tác gia tác phẩm (Bích Thu tuyển chọn
và giới thiệu, NXB Giáo dục) tập hợp hơn 200 bài giới thiệu, phê bình, bình luận và nghiên cứu của các nhà phê bình, nghiên cứu, các nhà giảng dạy văn học, các nhà văn đã được công bố trên các sách, báo, tạp chí, còn phải kể đến rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ trong và ngòai nước về cuộc đời và văn nghiệp Nam Cao Đó là nguồn tài liệu phong phú, dồi dào và hữu ích cho thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu, giảng dạy và học tập về Nam Cao và tác phẩm của ông Tuy nhiên, vì hàm lượng nội dung kiến thức lớn, phong phú, nhiều tầng bậc nên khó khăn đặt ra cho GV là làm thế nào để chuyển tải tốt nhất nội dung ấy đến HS ? Đây là vấn
đề thuộc về phương pháp dạy, có ý nghĩa quan trọng quyết định hiệu quả của quá trình dạy - học
Phương pháp dạy học tích cực hóa hoạt động của HS đã được đề xướng
từ cuối thế kỷ XIX, sau đó được triển khai vào những năm 20 và phát triển rầm rộ từ những năm 70 của thế kỷ XX Vài chục năm trở lại đây, ta thấy xuất hiện nhiều hình thức mới của phương pháp tích cực Nhiều thế hệ sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, giáo viên ngành Sư phạm Ngữ văn và các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã và đang tích cực suy nghĩ, vận động, đổi mới, tìm ra hướng dạy và học văn đạt hiệu quả tối ưu Theo xu thế chung ấy,
việc dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao gắn với đặc trưng thi pháp thể
loại, theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS, phù hợp với đặc điểm HS vùng miền khác nhau, là những hướng đi đúng đắn, bước đầu góp phần làm
Trang 11thay đổi kết quả dạy học Tuy nhiên, chúng ta thấy những công trình nghiên
cứu chuyên biệt về phương pháp dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
chưa nhiều, và nghiên cứu dạy học tác phẩm theo phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC) mới chỉ xuất phát từ những luận điểm nhỏ, lẻ, chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng thể, khái quát
Sách giáo khoa là bản thiết kế nhằm cụ thể hóa tư tưởng chiến lược và nội dung cơ bản của chương trình, đã được Hội đồng thẩm định quốc gia thông qua và Bộ chủ quản cho lưu hành chính thức GV lên lớp phải tuân thủ, không được thoát ly SGK, đó là yêu cầu bắt buộc Tuy nhiên, GV cũng phải biết sử dụng linh hoạt SGK tùy theo từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể Cấu trúc hình thức SGK hiện nay đã thể hiện rõ sự bổ trợ cho đổi mới PPDH, tạo điều kiện cho HS được làm việc tích cực, chủ động; hạn chế việc cung cấp
sẵn các kiến thức, việc mô tả quá trình Cụ thể, với bài học Chí Phèo, điểm khác và cũng là điểm mới trong 10 câu hỏi ở phần Hướng dẫn học bài là được
sắp xếp theo hệ thống từ dễ đến khó, hạn chế tới mức tối đa loại câu hỏi tái hiện dạng “nêu”, “trình bày” một nội dung đã có sẵn trong văn bản; yêu cầu
HS trên cơ sở những phát hiện cụ thể về từ ngữ, câu, hình ảnh, biểu tượng, kết cấu, đến những khái quát tổng hợp về nội dung và nghệ thuật tác phẩm HS buộc phải tích cực liên tưởng, phân tích, lý giải, phát huy những suy nghĩ cá nhân vào việc cắt nghĩa tác phẩm Tuy nhiên, phần nhiều nội dung kiến thức bài học vẫn chỉ nằm trên trang sách mà chưa bám rễ sâu vào tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, nhận thức của HS bởi SGK chưa đặt ra những câu hỏi, tình huống có vấn đề để HS tìm ra mối liên hệ mang tính lịch sử - văn hóa - xã hội
giữa những số phận con người của Làng Vũ Đại ngày ấy với đời sống từng
ngóc ngách làng quê, phố phường của xã hội Việt Nam hiện đại mà các em
đang sống Một Chí Phèo con đang thai nghén trong cái bụng đã lùm lùm của
Trang 12Thị Nở và hình bóng cái lò gạch cũ thấp thoáng cuối truyện ấy liệu có đang hiện diện trong cuộc sống của chúng ta hay không ? Cần phải hiểu và ứng xử như thế nào trước “những hiện tượng Chí Phèo” trong đời sống ngày nay ? Thiết nghĩ, đây mới chính là những vấn đề của cuộc sống đặt ra trên trang văn
mà HS phải tự suy ngẫm một cách sâu sắc để có những trải nghiệm ý nghĩa cho chính các em
Sách giáo viên (SGV) là một tài liệu không tách rời SGK, có nhiệm vụ giúp GV hiểu được ý đồ biên soạn SGK nói chung cũng như nội dung và phương pháp dạy từng bài cụ thể trong SGK Tuy không phải là tài liệu bắt buộc nhưng SGV vẫn là tài liệu quan trọng, bổ ích cho GV trong quá trình soạn bài và dạy học theo SGK Khi hướng dẫn GV về PPDH phần Văn trong chương trình SGK Ngữ văn chuẩn, SGV đã lưu ý: GV không nên áp đặt kết luận trước rồi bắt HS tìm dẫn chứng sau; những câu hỏi trắc nghiệm cần được kết hợp với câu hỏi tự luận nhằm phát triển tư duy phân tích, tư duy lý luận ở HS; GV có thể gợi nhiều cách hiểu khác nhau để HS biện luận, tự mình rút ra cách hiểu phù hợp với sự biểu đạt của văn bản; GV không nên yêu cầu HS
đọc thuộc lòng Ghi nhớ một cách máy móc, thụ động mà phải cho các em ghi
nhớ trên cơ sở các em hiểu bài, nắm được trọng tâm cơ bản của bài; phần
Luyện tập cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng bài, từng đối tượng HS
và thực tế dạy học ; trong khâu kiểm tra đánh giá, GV cần chú ý nguyên tắc toàn diện, phát huy được năng lực sáng tạo của HS, khắc phục lối đánh giá phiến diện chỉ bằng một bài văn tự luận đóng khung trong một số tác phẩm phẩm đã học, dễ làm cho HS học tủ, sao chép; GV xem xét bài làm của HS cả
về ý lẫn diễn đạt, cả cảm xúc và tư duy, cả tri thức và kỹ năng, đặc biệt là phần suy nghĩ độc lập, sáng tạo, có màu sắc cá nhân của HS Đây là những định hướng cho GV thực hiện dạy học văn bản theo PPDHTC nói chung Tuy
Trang 13nhiên, khi đi vào PPDH bài Chí Phèo, SGV mới chỉ nhấn mạnh GV cần yêu
cầu HS đọc kỹ và tóm tắt cốt truyện ở nhà, và trên lớp cần tập trung phân tích nhân vật Chí Phèo vì khuôn khổ thời gian có hạn Do vậy, nếu không vận dụng tốt các biện pháp, kỹ thuật dạy học tích cực khác thì rất khó để HS có thể cảm, hiểu hết được ý nghĩa sâu xa và những thông điệp cuộc sống mà Nam Cao đã gửi gắm trong tác phẩm của mình
Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành với nội dung chính
là những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, về chương trình, SGK Ngữ văn lớp 11 (bộ chuẩn và nâng cao) đã chỉ ra những luận điểm cơ bản, khái quát về một số PPDHTC, chỉ cho GV cách thực hiện kế hoạch bài học theo PPDHTC, những vấn đề cụ thể vể phần văn học hiện đại Việt Nam, xác định yêu cầu trọng tâm cho các bài học trong SGK là những gợi ý cơ bản cho GV vận dụng PPDHTC vào triển khai chương trình Ngữ văn lớp 11 Tuy nhiên, kế hoạch thực hiện từng bài học cụ thể theo PPDHTC là nhiệm vụ của mỗi GV trực tiếp đứng lớp, sao cho phù hợp với đặc điểm bài học, lớp học và năng lực sở trường của GV
Một số sách thiết kế giáo án, thiết kế bài giảng của các tác giả Hoàng Hữu Bội, Nguyễn Văn Đường, Trần Đình Chung đã triển khai chương trình SGK, cung cấp kiến thức, tư liệu, gợi ý tiến trình các thao tác, hoạt động lên lớp, nhưng chưa chỉ ra cho người tham khảo cách dạy học theo PPDHTC như thế nào
Một số đề tài luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ chuyên ngành phương
pháp dạy học văn đã nghiên cứu về PPDH tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
theo các luận điểm khác nhau như: dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại; theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS; gắn với đặc điểm học sinh các
Trang 14vùng miền, tựu chung lại, mục đích nghiên đều nhằm đề xuất những biện pháp dạy học tích cực giúp nâng cao hiệu quả việc dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung Các công trình nghiên cứu nói trên tuy “cùng hướng” nhưng “không trùng lặp” với đề tài luận văn này
3 Mục đích nghiên cứu
dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, xác định và lựa chọn cơ sở lý luận của PPDHTC
- Khảo sát thực tế dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong
chương trình Ngữ văn 11
Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11
- Thử nghiệm sư phạm
5 Đối tượng nghiên cứu
- Việc dạy - học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình
Ngữ văn 11 theo PPDHTC
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 nói riêng chưa thực sự
Trang 15kích thích và phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo, tính tự giác, tích cực, chủ động trong học tập của HS Nếu vận dụng PPDHTC một cách triệt để, linh hoạt sẽ góp phần thay đổi kết quả dạy học theo hướng tích cực, nâng cao chất
lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
8 Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Nội dung
Chương I: Một số vấn đề về phương pháp dạy học tích cực
Chương II: Dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình
Ngữ văn 11 theo phương pháp tích cực
Chương III: Thử nghiệm sư phạm
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 16NỘI DUNG
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
Vấn đề dạy học tích cực, phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong những năm gần đây đang trở thành đề tài nóng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, lí luận phương pháp dạy học Chúng tôi tham khảo những công trình nghiên cứu
tương đối hệ thống đã được công bố như: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực
hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn (Bộ Giáo dục và Đào
tạo (2007), Nxb Giáo dục); Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong
nhà trường (Hoàng Hữu Bội, Nguyễn Huy Quát (2001), Nxb Giáo dục, Hà
Nội); Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT những vấn đề cập nhật (Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thị Diệu Hoa (2007), Nxb Đại học Sư phạm); Thiết kế bài
học theo phương pháp tích cực (Nguyễn Kỳ (1994), Nxb Trường cán bộ quản
lý giáo dục và đào tạo Hà Nội); đặc biệt là cuốn Dự án Việt - Bỉ, Dạy và học
tích cực, một số phương pháp và kỹ thuật dạy học (Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Nxb Đại học Sư phạm) để rút ra những luận điểm chính như sau:
1.1.1 Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo duc, nhằm đào tạo những những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của
sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục
Trang 171.1.2 Tính tích cực học tập
Thuật ngữ “tích cực học tập” đã nói lên ý nghĩa của nó: đó chính là những gì diễn ra bên trong người học Quá trình học tập tích cực nói đến những hoạt động chủ động của chủ thể - về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực học tập nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
Tính tích cực học tập liên quan trước hết tới động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực Tính tích cực học tập có quan hệ chặt chẽ với tư duy độc lập Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú
và nuôi dưỡng động cơ học tập
* Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của HS:
- Có hứng thú học tập
- Tập trung chú ý tới bài học, nhiệm vụ học tập
- Tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận, ghi chép
- Có sáng tạo trong quá trình học tập
- Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao
- Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
- Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết vấn đề thực tiễn
* Các biểu hiện của học tích cực:
- Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm
- So sánh, phân tích, kiểm tra
- Thực hành, xây dựng
Trang 18- Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn
- Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc
- Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại
- Tính toán
1.2 Phương pháp dạy và học tích cực
Thuật ngữ “Phương pháp dạy và học tích cực” được dùng để chỉ những phương pháp giáo dục hay dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi GV, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo
Trong dạy và học tích cực, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao Phương pháp dạy và học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối
đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy và học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của trẻ
em Việc học đối với HS khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vậy dạy và học tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực của người học và tính nhân văn của giáo dục
Trang 19Bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội
1.3 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
Mục đích của dạy và học tích cực là nhằm phát triển ở người học năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, do đó đề cao vai trò của người học: học bằng hoạt động, thông qua hoạt động của chính người học để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và những phẩm chất của người lao động GV giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho HS có thể thực hiện các hoạt động học tập hiệu quả Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp day và học tích cực là:
* Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của HS và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết Tham gia và các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của mỗi cá nhân Qua đó, người học không những chiếm lĩnh được kiến thức và kỹ năng mới mà còn làm chủ và sáng tạo, có cơ hội được bộc lộ, rèn luyện
Tổ chức các hoạt động học tập của HS phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục GV cần lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn HS phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, ở hiện tại cũng như trong tương lai
Trang 20Dạy học bám sát các vấn đề thực tiễn, áp dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề của thực tiễn thay cho việc nhồi nhét thông tin, đó chính là quá trình giúp HS nhận thức, thông hiểu và vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế Điều này sẽ làm cho HS hiểu, tự lý giải mình cần phải học những gì ? Và vì sao phải học chúng ? Khi xác định được nhu cầu và động cơ học tập đúng đắn, HS sẽ tích cực, tự giác tham gia các hoạt động học tập do GV tổ chức
Dạy và học tích cực tập trung trọng tâm vào hoạt động học, tạo ra chuyển biến từ học tập thụ động sang học tập chủ động Trong dạy học, cần rèn luyện và phát triển cho HS phương pháp tự học Nếu người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người và kết quả học tập sẽ tăng lên Theo PPDH truyền thống, các bài tập ở nhà thường chỉ đơn thuần khuyến khích HS ghi nhớ kiến thức Trong dạy học tích cực, cần khuyến khích HS vận dụng kiến thức đã học vào điều kiện thực tế của gia đình, tạo điều kiện để các em có thể rèn luyện các kỹ năng đã học là một hình thức có ý nghĩa, giúp các em liên hệ các kiến thức đã học vào thực tế, liên hệ giữa gia đình và nhà trường một cách chặt chẽ
* Tăng cường hoạt động học tập của cá nhân, phối hợp với học hợp tác
Trong dạy và học tích cực, GV cần quan tâm đến sự phân hóa về trình
độ nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi HS Trên cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ, bài tập, mức độ hỗ trợ phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân, đặt họ vào môi trường học tập hợp tác trong các mối quan hệ thầy – trò, trò – trò nhằm kích thích tính tích cực, chủ động của mỗi
cá nhân, đồng thời hình thành và phát triển ở người học năng lực tổ chức, điều khiển, lãnh đạo, các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề và tạo môi trường học tập thân thiện
Trang 21* Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của HS, nhu cầu và lợi ích của xã hội
Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Các chủ đề, nội dung tìm hiểu, nghiên cứu cần gắn với nhu cầu, lợi ích của HS cũng như của thực tiễn xã hội; có thể do HS tự đề xuất hoặc lựa chọn trong số chủ đề, nội dung do GV giới thiệu định hướng Điều này làm cho kiến thức có tính ứng dụng cao và người học hiểu được giá trị, tác dụng, sự cần thiết của những kiến thức đó trong cuộc sống
GV cần thiết kế tình huống học tập sao cho kích thích, lôi cuốn được sự tham gia tích cực, tự chủ của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học GV có thể gặp khó khăn trong tổ chức hoạt động, khó có thể làm cho tất cả HS đều hứng thú với chủ đề, nội dung bài học Điều này đòi hỏi sự linh hoạt và nghệ thuật sư phạm của GV để kịp thời động viên, khuyến khích, hỗ trợ cho HS, đảm bảo tất cả HS đều chủ động tham gia một cách tích cực
* Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
Việc coi trọng hướng dẫn tìm tòi là giúp HS phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng HS có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động; đòi hỏi người học phải học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt hiệu quả
* Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học thụ động, đánh giá là nhiệm vụ của GV, HS là đối tượng được đánh giá Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của HS thông qua điểm
số của các bài kiểm tra, thi cử Cách đánh giá như vậy dẫn đến cách học thụ động, học “vẹt”, học “tủ” đối phó với kiểm tra, thi cử, dẫn đến kết quả giáo
Trang 22dục yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu xã hội Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học tập của HS mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của GV
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS tự liên hệ phần nhiệm vụ
đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình
và kết quả, mức độ cao hơn là HS có thể phản hồi lại quá trình học của mình,
ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và cách học của mình để tiến bộ trong giai đoạn sau
Cùng với tự đánh giá, GV cần tổ chức cho HS đánh giá lẫn nhau hay còn gọi là đánh giá “đồng đẳng”, là quá trình các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc, kết quả học tập lẫn nhau dựa trên các tiêu chí được định sẵn do GV cung cấp Việc đánh giá lẫn nhau không chỉ giúp cho
HS đánh giá được kết quả học tập của bạn mà thông qua đó còn có sự so sánh nhìn nhận lại kết quả của chính mình, từ đó có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập tốt hơn
Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp cho
HS nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách học mà GV cũng có điều kiện nhìn nhận chính mình để điều chỉnh cách dạy
1.4 Phân biệt dạy học thụ động và dạy học tích cực
Dạy học thụ động là sự truyền thụ kiến thức một chiều mang tính thông báo đồng loạt; GV là chủ thể của hoạt động, là người truyền đạt, mang kiến thức đến nạp cho HS Phương tiện dạy học là bảng, phấn; cách dạy phổ biến
là “đọc” – “chép” Người học lĩnh hội kiến thức một cách thụ động và ít có phản hồi Phương pháp dạy học này kèm theo cách đánh giá với yêu cầu ghi
Trang 23nhớ, tái hiện, nhắc lại kiến thức đã thu nhận từ GV Điều đó dãn người học đến cách học phù hợp là học thuộc lòng, học “gạo”, học “vẹt” để đối phó với thi cử, kiểm tra GV giữ vai trò độc quyền trong đánh giá, do đó HS ít có cơ hội phát triển, thể hiện năng lực sáng tạo của mình
Dạy và học tích cực là sự tương tác đa chiều giữa người dạy và người học, giữa người học và người học trong môi trường học tập dân chủ, cởi mở Người học là chủ thể của hoạt động, được tạo điều kiện để chủ động khám phá, tìm kiếm kiến thức thông qua những tình huống, những nhiệm vụ thực tiễn, cụ thể, đa dạng, sinh động Thay cho việc học thiên về lý thuyết, người học được trải nghiệm, khám phá kiến thức qua hành động, học qua “làm”, kiến thức sẽ được khắc sâu và bền vững GV là người định hướng, tổ chức và
là trọng tài trong hoạt động thảo luận, đồng thời là người đưa ra các kết luận trên cơ sở tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau ở người học Mối quan hệ tương tác này là động lực cho sự tích cực chủ động, tích cực của người học, người học được phép sáng tạo, phát hiện cái mới, được thể hiện chính kiến và chia sẻ kinh nghiệm trong mối quan hệ hợp tác thân thiện Đồng thời cả người dạy và người học đều có cơ hội nhìn nhận lại chính mình để điều chỉnh cách dạy, cách học cho phù hợp, thúc đẩy kết quả dạy học ngày một tốt hơn
1.5 Điều kiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực đòi hỏi người dạy phải biết kế thừa, phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm của các PPDH truyền thống và cập nhật các PPDH hiện đại sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học của nhà trường địa phương Điều kiện để dạy học tích cực là:
- Nâng cao trình độ năng lực sư phạm của đội ngũ GV
- Điều chỉnh chương trình và SGK cho phù hợp với thực tế giáo dục theo quy trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo
- Đổi mới kiểm tra đánh giá
Trang 24- Nâng cao trình độ năng lực quản l ý của đội ngũ cán bộ quản l ý, đổi mới công tác chỉ đạo quản l ý các cấp
Như vậy, điều kiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực nhấn mạnh đến vai trò của GV GV là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Yêu cầu đối với
- Hiểu rõ bản chất của dạy và học tích cực
- Có năng lực chuyên môn vững vàng
- Có thái độ coi trọng sự khác biệt của người học và có khả năng tổ chức các hoạt động dạy học đáp ứng khả năng, năng lực của người học
1.6 Một số phương pháp dạy học tích cực
Về mặt lý luận, PPDH có thể được chia theo ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô - Quan điểm dạy học : là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh là mô hình lý thuyết của phương pháp dạy học
- Cấp độ trung gian - Phương pháp dạy học cụ thể: là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học
- Cấp độ vi mô - Kỹ thuật dạy học: là biện pháp, cách thức hoạt động của GV và HS trong các tình huống hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ, một nội dung cụ thể
Dự án Việt - Bỉ, Dạy và học tích cực, một số phương pháp và kỹ thuật dạy học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Đại học Sư phạm) nêu ra các phương
pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như sau:
* Các phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC):
1 - Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Trang 25Hệ thống l ý luận, cơ sở của phương pháp dạy học tích cực như đã nêu hiện đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực Chúng ta cũng có thể tiếp thu và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào việc đổi mới PPDH ở nhà trường Việt Nam Khi vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực cần chú ý đến sự phù hợp với đặc điểm từng cấp học, ngành học, môn học Riêng với môn Ngữ văn và phân môn Văn học,
Trang 26các kỹ thuật, phương pháp dạy học tích cực nói trên đều có thể vận dụng có hiệu quả ở những phương diện nhất định Tuy nhiên, không phải mọi phương pháp, kỹ thuật đều có thể vận dụng triệt để và cho hiệu quả cao Nếu vì mục đích tích cực hóa hoạt động của HS mà vận dụng một cách máy móc tất cả các phương pháp, kỹ thuật dạy học được coi là tích cực thì là quan điểm sai lầm, phản khoa học
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống Trong hệ thống PPDH quen thuộc được đào tạo trong các trường sư phạm ở nước ta mấy thập kỷ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực Các sách lý luận đã chỉ rõ về mặt hoạt động nhận thức thì phương pháp thực hành là tích cực hơn phương pháp trực quan, phương pháp trực quan thì sinh động hơn phương pháp thuyết trình Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển phương pháp thực hành, phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm Đổi mới PPDH cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của
hệ thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta Do vậy, trong
phạm vi nghiên cứu của đề tài Dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
trong chương trình Ngữ văn 11 theo phương pháp tích cực, chúng tôi lựa
chọn một số PPDHTC phù hợp như sau:
1.6.1 Dạy học vấn đáp, đàm thoại
Vấn đáp đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để
HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể Muốn thực hiện
Trang 27được điều đó, GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát với đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối câu hỏi, thứ tự hỏi GV cũng cần dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ, tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc, tạo hứng thú học tập của HS và tăng hấp dẫn của giờ học
Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa, vấn đáp tìm tòi
1.6.2 Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Nêu và giải quyết vấn đề, đặt và giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề… Là những thuật ngữ tuy có khác nhau đôi chút và được dùng trong lý luận dạy học các môn học khác nhau nhưng có đặc điểm chung là phương pháp đặt và giải quyết được vấn đề và kết luận vấn
đề để rút ra kiến thức cần lĩnh hội hoặc áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Cốt yếu của phương pháp này là thông qua quá trình gợi ý, dẫn dắt, nêu câu hỏi, giả định, GV tạo điều kiện cho HS tranh luận, tìm tòi, phát hiện vấn
đề thông qua các tình huống có vấn đề có thể do GV chủ động xây dựng, cũng
có thể do lôgic kiến thức bài học tạo nên… Qua đó, HS vừa nắm được tri thức mới vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống, kịp thời phát hiện và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
Ưu điểm của PPDH đặt và giải quyết vấn đề là tạo điều kiện cho HS phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề Kết quả của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là kiến thức được hình thành ở HS một cách sâu sắc, vững chắc Quan trọng hơn là HS biết cách chủ động chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả học tập của bản thân và của người khác Thông qua đó, các năng lực cơ bản đã được hình
Trang 28thành trong đó có năng lực vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo
Kiểu dạy học nêu vấn đề được vận dụng vào dạy học văn tuy còn mới mẻ nhưng đã có nhiều hứa hẹn để phát huy tính tích cực, sáng tạo của chủ thể HS trong quá trình học tập, góp phần đổi mới PPDH, nhất là dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tích cực hóa hoạt động học của HS Về cơ bản, trong giờ giảng văn, GV không nói thay HS Những gì HS có thể nghĩ được thì để
HS nói GV khuyến khích sự suy nghĩ độc lập, không áp đặt ý kiến của mình hay của người khác cho HS, chấp nhận những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Yêu cầu phát triển tư duy cho phép GV lướt qua những chỗ, những đoạn HS có thể hiểu được để dành thời gian cho những phần, những yếu tố có tầm quan trọng hơn, nặng chất tư duy hơn
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng hiện nay phương pháp đặt và giải quyết vấn đề vẫn chưa được nhiều GV sử dụng vì trong thực tế, để thực hiện đúng quy trình, GV phải đầu tư nhiều thời gian, công phu; HS phải có thói quen và khả năng tự học và học tập tự giác, tích cực thì mới đạt hiệu quả cao; trong một số trường hợp cần có thiết bị dạy học và các điều kiện cần thiết đi kèm thì phương pháp mới đạt hiệu quả
Ưu điểm của phương pháp này là tăng cường sự tham gia tích cực của HS; HS được chủ động tham gia, được bày tỏ quan điểm, được tôn trọng; kết
Trang 29quả học tập được nâng cao; phát triển năng lực lãnh đạo, tổ chức, năng lực hợp tác của HS; tăng cường đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá trong nhóm Ở Việt Nam, dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ đã được thực hiện tương đối phổ biến nhưng chưa thực sự hiệu quả do không gian lớp học hẹp, sỹ số lớp học đông nhưng không phải mọi HS đều có tinh thần tự giác học tập cao; thời gian thảo luận cần nhiều nhưng giới hạn tiết học chỉ có 45 phút…
1.7 Phương pháp dạy học tích cực với các hình thức hoạt động trong dạy học tác phẩm văn chương (TPVC)
Phương pháp dạy học tích cực tác động lên tất cả các khâu, cách hoạt động trong dạy học TPVC
* Hoạt động tái hiện hình tượng
Đây là hoạt động giúp HS bước vào thế giới nghệ thuật Tác phẩm được tái hiện trong tưởng tượng của HS không còn là tổng hợp kí hiệu chết,
mà là những tác phẩm đích thực đang tồn tại trong trí tưởng tượng HS, có nhiều biện pháp cho hoạt động này:
- Đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc to;
- Đọc phân vai;
- Sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả;
- Miêu tả nhân vật, phong cách;
- Minh họa những tác phẩm nghệ thuật khác;
- Tường thuật theo văn bản;
- Trực quan hóa nội dung tác phẩm bằng những tác phẩm nghệ thuật khác; Tất cả những công việc này đều nhằm mục đích tái hiện hình tượng, khắc họa nhân vật, nắm bắt tình tiết… thực hiện yêu cầu cao nhất của hoạt động này là thực sự xâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm
* Hoạt động tìm tòi, phát hiện
Tác phẩm văn chương là một cấu trúc phức tạp nhiều tầng lớp, là sự kết hợp hữu cơ giữa khách quan được phản ánh với chủ quan biểu hiện của tác
Trang 30giả Sự cảm thụ tác phẩm văn chương là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính cụ thể, từ cảm nhận trực tiếp lớp hình đến sự phân tích, khái quát được nghĩa của lớp hình của các yếu tố nghệ thuật và nội dung của tác phẩm Bước này không chỉ đòi hỏi tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, tưởng tượng mà còn cần biết phân tích, cắt nghĩa, so sánh, tổng hợp, khái quát để nắm bắt được tác phẩm như một chỉnh thể
Những biện pháp gợi mở, dẫn dắt, tìm tòi, khám phá, nâng dần lên giai đoạn nhận thức quan niệm tính về TPVC chủ yếu ở đây là hệ thống câu hỏi thích hợp Trong phần hoạt động nhận diện, yêu cầu HS nhận diện, tái hiện thế giới cuộc sống tác phẩm thì việc tái hiện ở đây không phải là mục đích Mục đích là chuẩn bị cho HS khám phá Bước dẫn dắt HS phát hiện phần ý nghĩa của tác phẩm mới biểu lộ rõ bản chất của câu hỏi Phạm vi câu hỏi dù rộng hay hẹp vẫn đòi hỏi sự hoạt động nhận thức sáng tạọ, hướng vào vấn đề trọng tâm
* Hoạt động phân tích, khái quát
Chiếm lĩnh TPVClà mức độ phát triển cao của cảm thụ tác phẩm, yêu cầu người đọc phải nắm bắt được chủ đề, linh hồn của tác phẩm, phân tích được ý nghĩa khái quát của mọi yếu tố cụ thể dưới ánh sáng của tư tưởng chủ
đề tác phẩm
Những hình thức hoạt động tái hiện sơ bộ đưa HS bước dần vào thế giới nghệ thuật tác phẩm, những hình thức phát hiện, tìm tòi nhằm dẫn dắt HS định hướng vào cấu tạo đặc thù và tư tưởng cơ bản của tác phẩm Một tiêu chuẩn quan trọng về khả năng cảm thụ của văn chương là kết hợp được cảm thụ chi tiết với sức khái quát sâu sắc khi chiếm lĩnh một TPVC Qua những hoạt động phân tích, khái quát, GV tập dượt cho HS những kĩ năng học văn quan trọng và hình thành thói quen phân tích chi tiết trong cảm thụ TPVC Hoạt động phân tích khái quát cực kỳ quan trọng để nâng người trình độ cảm thụ TPVC một cách sâu sắc
Trang 31* Hoạt động tự bộc lộ của HS
Dạy HS chiếm lĩnh là dạy cho HS có một sự vận động cảm xúc nội tâm
và giúp cho HS có được những rung động cảm xúc trước thế giới nghệ thuật của nhà văn Mục đích là đưa HS đi vào quỹ đạo tiếp nhận tác phẩm đúng quy luật và từ đó GV hướng dẫn điều chỉnh, bổ sung nâng cao những thu nhận cảm xúc của HS Như vậy vấn đề đặt ra là khơi dậy được hoạt động tâm lý của HS đã khó mà hướng dẫn HS tự bộc lộ được hoạt động tâm lý bên trong càng khó
Cho nên quá trình hướng dẫn HS chiếm lĩnh tpvc nhất thiết là quá trình
GV theo dõi diễn biến, tâm lý, tình cảm của HS Quan điểm mới về giảng dạy tác phẩm đòi hỏi GV phải nắm được diễn biến tình cảm của HS qua thông qua
sự tự bộc lộ của các em bằng những biện pháp sư phạm có tính toán, có sắp đặt rất công phu của GV
HS cần được bộc lộ tình cảm bản thân, việc làm này không chỉ có ý nghĩa về phương pháp giảng dạy văn học mà có ý nghĩa sâu xa đối với việc phát triển nhân cách, cá tính HS ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
* Hoạt động đánh giá
Trong quá trình chiếm lĩnh TPVC, những hoạt động tái hiện, tìm tòi khám phá, kể cả hoạt động tự bộc lộ của người đọc để đồng thể nghiệm, về cơ bản vẫn thuộc giai đoạn cảm thụ cảm tính Phải đến giai đoạn phân tích, khái quát, đánh giá trình độ nhận thức của tác phẩm mới được nhân lên một bước
về chất
Giảng dạy TPVC trong nhà trường GV phải tập cho HS phân tích, cắt nghĩa, đánh giá, nâng dần trình độ tiếp nhận tác phẩm lên một mức cần có ở một bạn đọc phát triển về văn học
Trong hệ thống câu hỏi giảng văn, loại câu hỏi có vấn đề, đòi hỏi suy ngẫm, phân tích, đánh giá còn quá hiếm hoi và tùy tiện Việc giảng dạy tác phẩm còn thiên về giai đoạn cảm thụ, cảm tính
Trang 32* Hoạt động tự nhận thức
Đích của văn chương là cuộc đời và con người Văn chương nhằm tác động đến con người, bạn đọc Dạy văn không phải vì văn chương mà vì cuộc đời và con người Dạy văn để dạy người Một bài văn, một TPVC với bao yêu cầu phức tạp, đa dạng, trải qua bao khám phá của thầy và trò cuối cùng phải tạo được một bước chuyển trong HS Cái quý nhất, cần nhất trong học văn, đọc văn là tự nâng mình lên thanh sạch hơn, cao thượng hơn
TPVC chưa đi sâu vào đời sống nội tâm HS thì tác phẩm chưa có tác dụng gì đáng kể Có tác động nào đó trong tâm tư tình cảm người đọc mà không dẫn đến sự tự nhận thức, tự nâng mình, tự phát triển thì công việc dạy văn, học văn cũng vẫn là công việc phù phiếm Có thể khẳng định đây là công đoạn yếu nhất trong quá trình giảng dạy TPVC cho HS trong nhà trường chúng ta
* Hoạt động ứng dụng
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin ngày nay và thời gian eo hẹp của nhà trường, chất lượng học tập phải giải quyết bằng con đường kiến thức cơ bản và kiến thức phương pháp Học một bài văn không chỉ để biết một bài văn mà phải biết thêm một chuỗi tác phẩm cùng loại thể Kiến thức về một bài văn chỉ có thể củng cố và nhân lên bằng kiến thức phương pháp Công việc dạy một TPVC cho HS chỉ được hoàn thành trong khâu ứng dụng kiến
thức vào hoạt động văn hóa công dân
Hệ thống bài tập lớn nhỏ, hình thức hoạt động thực hành và sáng tạo phải đa dạng, phong phú từ đơn giản đến phức tạp, từ trên lớp đến sinh hoạt ngoại khóa, từ hoạt động văn chương trong nhà trường đến sinh hoạt văn hóa địa phương GV phải dẫn dắt HS từng bước làm quen và thành thục dần với
kỹ năng và thao tác chiếm lĩnh tác phẩm, phải vận dụng tổng hợp nhiều loại phương pháp, biện pháp khác nhau, không thể có một phương pháp biện pháp nào độc tôn, biệt lập
Trang 33Tiểu kết
Mong muốn đạt tới của PPDHTC không chỉ là dạy học mà còn là đào tạo, với sự nhấn mạnh đào tạo về phương pháp HS được trang bị hệ thống những năng lực và những thao tác tư duy cho phép họ giải quyết thành công yêu cầu đề ra Từ phương pháp tích cực hóa dạy học, người HS được giáo dục
để trở thành người tự đào tạo bằng con đường tự học sáng tạo, tích cực chủ động có ý thức phát triển nhân cách cá nhân để đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống
Trong hệ thống các phương pháp dạy học, không có phương pháp nào là phương pháp hoàn toàn thụ động và phương pháp hoàn toàn tích cực Đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà vấn đề là ở chỗ GV sử dụng PPDH như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của
HS Điều đó đòi hỏi GV phải có năng lực chuyên môn, năng động, sáng tạo trong việc vận dụng linh hoạt các PPDH một cách phù hợp, có hiệu quả Tuy nhiên, cho dù lựa chọn PPDH nào thì vẫn cần phải tạo điều kiện cho người học khám phá, chủ động, sáng tạo trong việc tìm kếm kiến thức, giải quyết vấn đề, gắn kiến thức với thực tiễn
PPDHTC hình thành trên cơ sở nguyên tắc, quan điểm dạy học tích cực phù hợp với yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay, nhằm đào tạo lớp người lao động mới thực sự năng động, tích cực, tự chủ và tự tin trong mọi lĩnh vực của đời sống Cả về mặt lý luận và thực tế, PPDHTC đều chứng tỏ những ưu thế vượt trội, nếu được vận dụng và luyện tập thường xuyên sẽ dần khắc phục nhược điểm và thay thế lối dạy học thụ động đã tồn tại trong nền giáo dục từ rất lâu, hứa hẹn mở ra con đường tươi sáng cho chất lượng dạy học và giáo dục của nhân loại
Trang 34Chương 2 DẠY HỌC TÁC PHẨM CHÍ PHÈO CỦA NAM CAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍCH CỰC
2.1 Việc dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 hiện nay
2.1.1 Về Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo trong chương trình Ngữ văn 11
Chí Phèo là một kiệt tác có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc,
thể hiện sự cách tân nghệ thuật về nhiều phương diện của ngòi bút Nam Cao Tác phẩm đã được đưa vào chương trình SGK phổ thông từ mấy chục năm nay và SGV luôn là tài liệu đồng hành đáng tin cậy gợi ý cho GV thực hiện bài dạy Qua nhiều lần chỉnh lí hợp nhất, thay SGK, đến nay cấu trúc chương trình Ngữ Văn 11 bộ cơ bản không có bài học riêng về tác gia Nam Cao (SGK
Ngữ Văn 11 nâng cao có bài học riêng về tác gia Nam Cao) mà bài học Chí
Phèo - Nam Cao được chia làm hai phần theo phân phối thời gian: Phần 1:
Tác giả - 1 tiết; phần 2: Tác phẩm - 2 tiết
Về tác gia Nam Cao , SGK đã cung cấp những kiến thức văn học sử khái quát, cơ bản, tinh giản nhất về tiểu sử, con người, quan điểm nghệ thuật,
sự nghiệp sáng tác… mà theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng của Bộ giáo dục và đào tạo ban hành, mọi HS đều phải nắm chắc và hiểu rõ được về một tác gia lớn của văn học hiện đại Việt Nam như sau: Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, có đóng góp quan trọng đối với qua trình hiện đại hóa truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Ông có quan điểm nghệ thuật sâu sắc tiến bộ đạt được thành tựu xuất sắc về
đề tài: người trí thức nghèo và người nông dân cùng khổ Ông đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh sống mòn , bị xói mòn về nhân phẩm , thậm chí bị
Trang 35hủy hoại cả nhân tính Nam Cao là nhà văn có phong cách độc đáo : luôn hướng tới thế giới nội tâm con người ; có biệt tài trong việc miêu tả phân tích tâm lý, viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra vấn đề có nghĩa xã hội to lớn,
có tầm triết lý sâu sắc
Về tác phẩm Chí Phèo, văn bản Chí Phèo in trong SGK có dung lượng
gần 11 trang Với 6 câu hỏi hướng dẫn học bài và 2 bài luyện tập, chuẩn kiến
thức kỹ năng đặt ra với HS sau khi học bài này là phải ghi nhớ được: Chí
Phèo là một kiệt tác của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Qua truyện ngắn
này, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước Cách Mạng là một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo, tàn sát cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình,
nhân tính Chí Phèo là một tác phẩm có giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo sâu
sắc mới mẻ Chí Phèo thể hiện tài năng truyện ngắn bậc thầy của Nam Cao: xây dựng thành công những nhân vật điển hình bất hủ, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tự nhiên mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc…
Theo cấu trúc chương trình và phân phối thời gian như trên, SGV xác định trọng tâm bài học gồm:
- Những đóng góp chủ yếu của Nam Cao trong sáng tác về đề tài người nông dân nghèo và đề tài người trí thức nghèo, phong cách nghệ thuật của nhà văn
- Hình tượng nhân vật Chí Phèo, giá trị về nội dung tư tưởng và đặc sắc
về nghệ thuật của truyện ngắn Chí Phèo
Về phương pháp dạy học, SGV cũng lưu ý GV cần dựa vào bài viết trong SGK để hướng dẫn cho HS nắm được những nét chính về cuộc đời và
sự nghiệp văn học của nhà văn Tác phẩm Chí Phèo tuy là truyện ngắn nhưng
Trang 36không những có số trang in lớn mà còn có nội dung khá phong phú gần như một tiểu thuyết thu nhỏ Trong thời gian 2 tiết, chỉ có thể tập trung vào một số vấn đề nhất định như phân tích nhân vật Chí Phèo, nhất là vào đoạn cuối khi nhân vật này gặp Thị Nở cho đến hết truyện GV cần yêu cầu HS đọc kỹ và tóm tắt cốt truyện Chí Phèo ở nhà Trên lớp không có thời gian đọc lại tác phẩm, khi cần chỉ đọc một vài đoạn đặc sắc Như vậy, khó khăn đặt ra cho
GV là phải biết lựa chọn những vấn đề cơ bản để hướng dẫn HS tìm hiểu về tác gia và tác phẩm, tránh áp đặt ghi nhớ máy móc, tối giản bài học đến sơ sài qua loa để đảm bảo vừa thời gian hoặc vì ham kiến thức mà dạy ôm đồm tràn lan, khó làm đọng lại trong HS kiến thức trọng tâm
2.1.2 Thực tế dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong trường THPT
Qua nghiên cứu chương trình SGK, các tư liệu tham khảo; thực tế dự giờ, nghiên cứu giáo án và trò chuyện với nhiều GV và HS về việc dạy - học
tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11, chúng tôi
ghi nhận một số vấn đề sau:
Nhìn chung, việc dạy – học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong chương trình ngữ văn 11 với đối tượng HS theo bộ cơ bản có nhiều yếu tố thuận lợi như:
- Đây là truyện ngắn xuất sắc của một tác gia lớn thuộc giai đoạn văn học hiện đại đã quen thuộc với HS từ cấp THCS, bản thân tác phẩm đã có sức hút và gây hứng thú đối với người dạy và người học
- Chí Phèo của Nam Cao là tác phẩm văn học đã được chuyển thể thành
kịch bản phim từ rất sớm, là đề tài để chế tác thành các tiểu phẩm… hình tượng nhân vật Chí Phèo đã không còn xa lạ trong đời sống nhân dân; HS có thể tiếp xúc và cắt nghĩa tác phẩm qua nhiều kênh thông tin với góc nhìn đa chiều
- Theo cấu trúc chương trình SGK, việc tìm hiểu truyện ngắn Chí Phèo
thuận lợi hơn vì trước đó HS đã được trang bị kiến thức khái quát văn học
Trang 37Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945; về trào lưu văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán với các tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng; kiến thức về thể loại văn học truyện ngắn; kiến thức văn học sử về tác giả Nam Cao…
- Nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc học của HS và việc dạy của GV rất dồi dào, phong phú
Tuy nhiên, những khó khăn tồn tại trong việc dạy học văn nói chung và dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nói riêng cũng không phải là ít:
* Về phía giáo viên
Trước thực trạng giáo dục và dạy học hiện nay, hầu hết GV đều ý thức được sự cần thiết phải tích cực hóa hoạt động dạy và học của cả GV và HS Quan điểm, nguyên tắc dạy học tích cực đã được phổ biến tới GV thông qua học tập chuyên đề, bồi dưỡng GV hàng năm nhưng tỷ lệ GV được trang bị một cách đầy đủ về hệ thống cơ sở lý luận của PPDHTC chưa nhiều, nhất là
GV môn Ngữ văn Nhiều GV đã cố gắng tạo điều kiện để HS tích cực học tập, được nói nhiều hơn, được làm việc nhiều hơn Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách nghiêm túc thì phần lớn mới chỉ là những biểu hiện tích cực mang tính hình thức bên ngoài HS đã tích cực thực hiện nhiệm vụ theo sự điều khiển của GV nhưng chưa chủ động và thiếu sáng tạo Ở một bộ phận không nhỏ
GV Ngữ văn có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm thấp, tinh thần và
ý thức tích cực hóa hoạt động dạy của chính mình chưa cao, coi việc dạy học văn thuần túy là nghề kiếm sống nên không trở thành tấm gương lao động tích cực cho HS học tập
Để có được một giờ dạy văn thực sự chất lượng và hiệu quả, công tác chuẩn bị của GV rất quan trọng Việc nghiên cứu chương trình, tài liệu, soạn giáo án, thiết kế mô hình hoạt động dạy học, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học cần được đầu tư công phu, tỉ mỉ Tuy nhiên, không ít GV coi
Trang 38việc soạn giáo án hay thiết kế kế hoạch bài học chỉ là hình thức để đối phó với kiểm tra, duyệt chương trình Bên cạnh đó, thói quen soạn bài chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS học bài đó như thế nào vẫn đang phổ biến và trở thành nhược điểm về mặt phương pháp ở số đông GV Khi chuẩn bị giáo án, nhiều GV còn quá lệ thuộc vào SGK, truyền đạt nguyên xi nội dung, bám sát từng ý kiến lớn nhỏ, từng dẫn chứng cụ thể trong SGK cũng như sách hướng dẫn GV, chưa dám chủ động vận dụng linh hoạt nội dung dạy học cho phù hợp với đặc điểm địa phương và khả năng nhận thức của những đối tượng HS cụ thể trong mỗi lớp học Với bài học Chí Phèo, phần hướng dẫn học bài trong SGK có nêu
câu hỏi: Việc gặp gỡ Thị Nở đã có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc đời Chí
Phèo ? Những gì đã diễn ra trong tâm hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ đó ?
Đây là câu hỏi hay, đặt ra tình huống có vấn đề, xoáy vào trọng tâm bài học Tuy nhiên cả GV và HS đều khó tìm được câu trả lời thỏa đáng bởi SGK đã lược bớt đoạn Chí Phèo gặp Thị Nở mà trong nguyên tác Nam Cao viết khá
chi tiết, đặc biệt là sự kiện “họ ăn nằm với nhau rồi cùng ngủ say dưới trăng”
(SGK trang 149, chữ nhỏ, in nghiêng) khiến cho người học thiếu dữ liệu cần thiết để có thể trả lời câu hỏi Đã từng có ý kiến cho rằng ngòi bút Nam Cao
“tự nhiên chủ nghĩa” vì những đoản cảnh như vậy xuất hiện trong trang văn của ông thời bấy giờ khiến nhiều người e ngại, và người làm chương trình SGK tất nhiên có lý do chính đáng để lược bớt đoạn “nhạy cảm” này Tuy nhiên, người làm chương trình SGK vô hình trung đã làm khuyết đi tính toàn vẹn thẩm mỹ của một truyện ngắn hiện thực xuất sắc của Nam Cao Đặt tác phẩm trong bối cảnh văn hóa xã hội ngày nay thì đó không phải là vấn đề cần
phải lảng tránh Hiểu một cách sâu xa thì sự kiện “họ ăn nằm với nhau rồi
cùng ngủ say dưới trăng” đã tác động lên phần xác thịt, phần con bản năng
của Chí Phèo rồi mới gây ra những diễn biến trong tâm hồn Chí Phèo và
Trang 39đánh thức thiên lương, nhân tính đã ngủ quên trong cái thân xác bị đọa đày, vùi dập, tha hóa của anh canh điền bảy, tám năm về trước Diễn biến
đó cũng tương tự với Thị Nở, và số phận hai nhân vật gắn kết với nhau để đi đến chung cục bi thương nhưng ẩn sâu trong tấn bi kịch đó là tấm lòng nhân đạo, tinh thần nhân văn sâu sắc và cảm động của Nam Cao đối với lớp người dưới đáy xã hội… Vì HS có thể tiếp cận với truyện ngắn này qua nhiều kênh thông tin, với nguyên văn tác phẩm và các nguồn tư liệu tham khảo khác nên khi đến lớp thường có tâm lý thờ ơ nếu lời giảng của GV chỉ là nhắc lại những điều các em đã biết HS có thể thắc mắc tại sao SGK lại lược bỏ chi tiết truyện như vậy mà GV không có sự chuẩn bị và lường đón trước những tình huống mới có thể phát sinh thì sẽ lúng túng, không đưa ra câu trả lời thỏa đáng, khiến các em cảm thấy hụt hẫng Do vậy, thay vì thái độ né tránh bằng cách lược bớt như SGK đã làm, GV nên khuyến khích các em sưu tầm nguyên tác để đọc và định hướng cho các em cách tiếp nhận phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, quan trọng hơn là đặt các em vào tâm thế của một người trưởng thành, có khả năng, bản lĩnh, tự tin, chủ động tiếp thu, xử lý thông tin
và những vấn đề nhạy cảm đặt ra trong văn học nhà trường
Khi thực hiện giờ dạy trên lớp, GV thường tuần tự thực hiện theo 5 bước: ổn định trật tự, kiểm tra bài cũ, học bài mới, củng cố, bài tập về nhà Hình thức tổ chức chủ yếu là dạy học đồng loạt, toàn lớp Nội dung kiến thức tuân thủ chặt chẽ nội dung và trình tự của SGK Phương pháp giảng bình, thuyết trình vẫn được GV áp dụng thường xuyên theo lối truyền thụ một chiều, áp đặt Trong một tiết dành cho phần tác giả, GV thường làm việc thông báo, truyền thụ hầu hết những nội dung kiến thức đã có trong SGK HS chủ yếu nghe và ghi chép Thời lượng hai tiết dành cho phần văn bản truyện không đủ để khai thác hết các bình diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nên nhiều vấn đề quan trọng như hình tượng nhân vật Bá Kiến, hình ảnh làng
Trang 40Vũ Đại… mặc dù GV rất muốn cùng HS phân tích, cắt nghĩa nhưng không thể tiến hành trong tiết học được Các hoạt động tranh luận, thảo luận nhóm chưa được GV tổ chức một cách bài bản và hiệu quả Những câu hỏi về nghệ thuật điển hình hóa của Nam Cao (Câu 4 – hướng dẫn học bài), tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao qua truyện ngắn (Câu 6 – hướng dẫn học bài) được GV đặt ra nhưng HS không trả lời được, hoặc trả lời không đúng trọng tâm khiến GV phải tự trả lời Cá biệt có những giờ học còn tồn tại hiện tượng đọc – chép hoặc nhờ áp dụng công nghệ trình chiếu
mà chuyển sang “nhìn – chép” GV phải dành những khoảng thời gian khá lớn để chốt kiến thức, đọc cho HS ghi chép những ý cơ bản vì các em dù chú
ý nghe giảng vẫn không tự ghi chép được, đến khi làm bài kiểm tra, các em gặp rất nhiều lúng túng…
Do ảnh hưởng của lối dạy học thụ động đã tồn tại rất lâu trong nhà trường nên hầu hết GV mới chỉ quan tâm đến việc giao và hướng dẫn HS làm bài tập về nhà, thường là những bài luyện tập trong SGK, ít khi mở rộng, giao thêm các bài tập khác mang tính phân hóa để phù hợp với năng lực, hứng thú, phát huy tính tích cực sáng tạo của HS Đặc biệt, “dặn dò” là thao tác cuối cùng trong năm bước lên lớp của GV và thường chung chung là “các em về đọc trước bài học của tiết sau”, rất ít GV quan tâm đến việc hướng dẫn HS chuẩn bị bài, làm việc với SGK trước khi đến lớp Khi bắt đầu bài học mới,
GV thường kiểm tra việc HS ghi nhớ và tái hiện kiến thức bài cũ mà ít chú ý kiểm tra việc chuẩn bị bài mới ở nhà của HS như thế nào Nhìn bề ngoài, năm bước lên lớp của GV được tiến hành rất thuần thục nhưng thực chất chỉ là kiểu vận hành công thức máy móc, khiến việc dạy học trở thành một chu trình khép kín trong một bài, một tiết học chứ không trở hành hệ thống hoạt động liên hoàn mang tính logic mở, dễ gây tâm lý nhàm chán, không kích thích tính tích cực phát triển ở HS