1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp việt nam phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến

90 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Trong Doanh Nghiệp Việt Nam: Phân Tích Dựa Trên Lý Thuyết Quyền Biến
Tác giả Trang Tuyết Vân
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Mai Hồng Chi
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế Toán - Kiểm Toán
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này xem xét các đặc điểm thuộc lý thuyết quyền biến mà doanh nghiệp lựa chọn để điều chỉnh cấu trúc kiểm soát nội bộ của mình và liệu nó có dẫn đến việc đánh giá thuận lợi hơn

Trang 1

-

-TRANG TUYẾT VÂN

CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: PHÂN TÍCH DỰA

TRÊN LÝ THUYẾT QUYỀN BIẾN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH KÊ TOÁN - KIỂM TOÁN

MÃ SỐ: 7340301

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

-

-TRANG TUYẾT VÂN

CÁC NHÂN TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI

BỘ TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: PHÂN TÍCH DỰA

TRÊN LÝ THUYẾT QUYỀN BIẾN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH KÊ TOÁN - KIỂM TOÁN

MÃ SỐ: 7340301

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

THẠC SĨ MAI HỒNG CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 3

TÓM TẮT

Các doanh nghiệp yêu cầu kiểm soát nội bộ đầy đủ để đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động, khả năng tin cậy của thông tin và tuân thủ luật pháp hiện hành Tuy nhiên, một số khuôn khổ (COSO, CoCo, …) giả định rằng nhu cầu kiểm soát nội bộ thay đổi tùy theo đặc điểm của công ty Điều này lại phù hợp với đặc điểm của

lý thuyết quyền biến, trong đó tuyên bố rằng mỗi tổ chức phải lựa chọn hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp nhất bằng cách tính đến các đặc điểm thuộc lý thuyết quyền biến Nghiên cứu này xem xét các đặc điểm thuộc lý thuyết quyền biến mà doanh nghiệp lựa chọn để điều chỉnh cấu trúc kiểm soát nội bộ của mình và liệu nó có dẫn đến việc đánh giá thuận lợi hơn về hiệu quả kiểm soát của Ban Giám đốc hay không Mặc dù các thành phần của kiểm soát nội bộ đã được xem xét riêng lẻ, nhưng bài báo này cố gắng làm sáng tỏ kiểm soát nội bộ và đặt nó trong bối cảnh rộng hơn Kết quả hợp lệ thu được từ một cuộc khảo sát online của 144 công ty Việt Nam chỉ ra rằng, các công

ty điều chỉnh cấu trúc kiểm soát nội bộ của mình để đối phó với sự không chắc chắn của môi trường và đạt được hiệu quả kiểm soát Ngoài ra, chiến lược cũng có những ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đối với cấu trúc kiểm soát nội bộ.

Trang 4

In the trend of globalization, businesses in Vietnam need to put in place a quality management and monitoring system in accordance with the current situation The pressure on all sides and the fierce competition require businesses to pay more attention to building and operating their own internal control system to achieve efficiency in operations economy.

Despite the fact that internal control is an essential factor in an enterprise, so far the amount of research on internal control is limited The increased emphasis on the role of internal control in business, and the lack of existing research, creates demand and opportunities for new research With the aim of contributing to the understanding of the internal control system and its effectiveness in enterprises, the author decided to choose the topic "Factors affecting internal control system

in Vietnamese enterprises: analysis based on contigency theory”.

Quantitative research method: Quantitative research is done by the technique of

"question-answer" technique Information collected from this quantitative study is used to evaluate the reliability and value of the scales that were designed and adjusted

to suit the conditions in Vietnam Using the SPSS software model in the data analysis process gives results on the reliability of the scale through Cronbach's Alpha coefficient, exploratory factor analysis and one-factor variance analysis.

Along with the development of the aviation industry, many domestic and foreign studies and dissertations have been formed and put into application However, up

to now, there has not been any study directly going into the analysis of factors affecting internal control system based on contigency theory.

The references are the premise for the author to do research on the effects of internal control systems based on contigency theory and in addition, the author inherits the author's model and online survey questionnaire fake Jokipii (2009) Survey

12 variables: (1) Control environment (COEN), (2) Risk assessment (RISK), (3)

Operational control (COAC), (4) Information and communication (INFO), ( 5)

Monitoring (MONI), (6) Effectiveness of internal control operations (EFFI), (7)

Trang 5

Reliability (RELI), (8) Compliance with laws and regulations (LAW), ( 9) Business strategy (STRA), (10) Size (SIZE), (11) Organizational structure (MECH), (12) Transformation of the business environment (PEU) This will be the premise for finding benefits and difficulties and proposing more complete solutions for the internal control system of Vietnamese enterprises.

In chapter 2, the author outlines the theoretical concepts of the factors affecting the internal control system, the theories of contigency theory to clarify the research problems that the author outlined in Posts In addition, chapter 2 also has a summary of domestic and foreign research papers related to this topic in order to create a basis for this research paper.

Chapter 3 of the author mentioned research methods and research hypotheses About the research process, the research will be done in a certain order, including:

(1) Select research topic

(2) Determine the research question, hypothesis and method

(3) Formulate research protocol and plan

(4) Data collection and data processing

(5) Writing research report Make a research map and present a research process table This is one of the important steps to guide this study Identify research problems and objectives, then collect database and find research model, then conduct a trial survey Through the screening and adjustment steps, conclusions and appropriate recommendations will be made After collecting data, conducting research to assess the reliability of the scale through Cronbach 'Alpha tools, EFA analysis, CFA analysis, intermediate variable structure analysis CONTROL, EFFE and structural model analysis SEM linear architecture through SPSS software The author proceeds to set up the proposed scale and observed variables Based

on the theoretical basis presented in Chapter 2 and proposed research models and hypotheses, the complete questionnaire is designed with 2 main parts:

Part 1: To collect general information about the survey participants including: Name of the company that is working, Position, Time of work.

Trang 6

Part 2: The content of the survey, for the purpose of reviewing and evaluating factors affecting the internal control system in Vietnamese enterprises: analysis based on the theory of variables and design of survey questions, including 12 Factor: STRA, SIZE, MECH, PEU, COEN, COAC, INFO, RISK, RELI, MONI, LAW, EFFI.

In chapter 4, the author used Cronbach 'Alpha, software to perform the data analysis

of the study With 178 surveys conducted and only 144 valid surveys, the observed sample statistics have obtained the results: the percentage of answers that are CEO, Chief Financial Officer and Manager/Supervisor is very low, accounting for only 20.6%

of the total number of respondents mostly under 5 years with 69.0% and a relative proportion having worked from 5 years to 7 years accounting for 19.3%; the rest of working time over 7 years only accounts for 12.6% Results of analysis of the structure

of the intermediate variable CONTROL model:

The COEN factor has a positive influence on the CONTROL factor with the standardized coefficient 0.543.

The RISK factor has a positive influence on the CONTROL factor with a normalized coefficient of 1.

The COAC factor has a positive influence on the CONTROL factor with a standardized coefficient of 0.216.

The INFO factor has a positive influence on the CONTROL factor with a standardized coefficient of 0.278.

The MONI factor has a positive influence on the CONTROL factor with the standardized coefficient of 0.32.

Results of analysis of the EFFE intermediate variable structure model: The EFFI factor has a positive effect on the EFFE factor with a standardized coefficient of 0.718.

The RELI factor has a positive effect on the EFFE factor with a standardized coefficient of 0.369.

The LAW factor has a positive effect on the EFFE factor with a standardized coefficient of 0.631.

Trang 7

According to the results of this study, it can be said that a good strategy and perceived environmental uncertainty play a more important role in internal control than other controlled preventive traits investigation The suggested relationships between the variables in the main model are not correct for small firms (ie firms with less than 50 employees) These results should be viewed from the perspective of the following shortcomings First, while taking great care in collecting reliable data, the measures to its internal control structure and its observed effectiveness are new and require refinement and validation them in further studies It would be interesting to check that studies of other reference groups, such as evaluators, show similar results Second, the checked relationships are tested using cross-sectional data However, if the assessed effectiveness of internal control is low at the time of measurement, it may have some impact on internal control in the future Without vertical data, this possibility cannot be ruled out with certainty, and this study thus supports the premise that any vertical study done is likely to have a result Third, in SEM technique

it is not considered that relationships between variables may not be linear or relationships that manifest only linearly in a limited relevance range Despite the aforementioned limitations, this research contributes to our understanding of internal controls in a corporate setting Experiment has shown that the redundant features affect the internal control structure and its observed effectiveness More empirical evidence is needed to fully understand the effect of context on internal control Therefore, future studies may supplement our understanding of the research problem

by looking at the role of additional preventive traits.

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan khóa luận này là do bản thân thực hiện, là kết quả nỗ lực của bản thân dựa trên nền tảng kiến thức học tập được sau gần bốn năm đại học cũng như những kinh nghiệm thực tiễn có được sau thời gian thực tập, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thông tin trình bày trong khóa luận này là có nguồn gốc

và được trích dẫn rõ ràng, trung thực Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của khóa luận tốt nghiệp này.

TÁC GIẢ TRANG TUYẾT VÂN

Trang 9

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tác giả xin chân thành cảm ơn Quý thầy

cô Trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và cung cấp kiến thức để tác giả thực hiện khóa luận này Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS Mai Hồng Chi

- Cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ về nhiều mặt để tác giả có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất, song do kiến thức và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những nhận xét, góp ý của Quý thầy, cô giáo để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.

Trang 10

MỤC LỤC TÓM TẮT I ABSTRACT II LỜI CAM ĐOAN VI LỜI CẢM ƠN VII MỤC LỤC VIII DANH MỤC BẢNG BIỂU XI DANH MỤC HÌNH ẢNH XII

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

Mục tiêu nghiên cứu 1

Câu hỏi nghiên cứu 2

Phạm vi nghiên cứu 2

Phương pháp nghiên cứu 2

Nội dung nghiên cứu 3

Đóng góp của đề tài 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4

1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ 4

1.2 Khái niệm về lý thuyết quyền biến 5

1.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 7

1.3.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam 7

1.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài 8

1.4 Tính mới của đề tài nghiên cứu 11

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 13

2.1 Quy trình nghiên cứu 13

2.2 Mô hình nghiên cứu 14

2.2.1 Mô hình đề xuất 14

2.2.1.1 Chiến lược kinh doanh (STRA) 15

Trang 11

2.2.1.2 Quy mô hoạt động (SIZE) 16

2.2.1.3 Cơ cấu tổ chức (MECH) 16

2.2.1.4 Sự biến động của môi trường 17

2.2.1.5 Cấu trúc kiểm soát nội bộ và hiệu quả quan sát 18

2.2.2 Đo lường các biến trong mô hình 18

2.2.2.1 Cấu trúc kiểm soát nội bộ (CONTROL) 18

2.2.2.2 Hiệu quả quan sát (EFFE) 18

2.2.2.3 Chiến lược kinh doanh (STRA) 22

2.2.2.4 Quy mô hoạt động (SIZE) 22

2.2.2.5 Cơ cấu tổ chức (MECH) 23

2.2.2.6 Sự biến động của môi trường (PEU) 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Thiết kế bảng hỏi khảo sát 25

2.3.2 Chọn mẫu 25

2.3.3 Thu thập dữ liệu 26

2.4 Công cụ xử lí dữ liệu 26

2.4.1 Kiểm định độ tin cậy với thang đo Cronbach’s Alpha 26

2.4.2 Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA 27

2.4.3 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định CFA 28

2.4.4 Mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL và EFFE 29

2.4.5 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 29

2.4.5.1 Đánh giá sự phụ hợp 29

2.4.5.2 Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi qui trong mô hình 29

2.4.5.3 Đánh giá quan hệ giữa các biến trong mô hình 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Mô tả mẫu quan sát 30

3.2 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 30

3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 35

3.3.1 Kiểm định KMO và Bartlett 35

Trang 12

3.3.2 Ma trận xoay các nhân tố, hệ số Eigenvalua và tiêu chuẩn phương sai

trích 36

3.3.3 Kiểm định KMO và Bartlett lần 2 37

3.4 Đánh giá lại thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 40

3.5 Phân tích nhân tố khẳng định CFA 43

3.5.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 43

3.5.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 43

3.6 Mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL và EFFE 46

3.6.1 Mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL 46

3.6.2 Mô hình cấu trúc 4 biến độc lập lên CONTROL 48

3.6.3 Mô hình cấu trúc biến trung gian EFFE 49

3.7 Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 51

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ 54

4.1 Đánh giá 54

4.2 Kiến nghị 56

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 1 68

Trang 13

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thang đo CONTROL, EFFE đề xuất 19

Bảng 4.1 Thống kê mẫu khảo sát 30

Bảng 4.2 Kết quả phân tích thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha .33

Bảng 4.3 Kết quả phân tích thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha .35

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 36

Bảng 4.5 Kết quả EFA cho các biến 36

Bảng 4.6 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 38

Bảng 4.7 Kết quả EFA cho các biến lần 2 38

Bảng 4.8 Kết quả phân tích lại thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha .40

Bảng 4.9 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu nghiên cứu .43

Bảng 4.10 Độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai rút trích các nhân tố .44

Bảng 4.11 Ma trận tương quan giữa các khái niệm 44

Bảng 4.12 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL với dữ liệu nghiên cứu 46

Bảng 4.13 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL.47 Bảng 4.14 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL với dữ liệu nghiên cứu 48

Bảng 4.15 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL.49 Bảng 4.16 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc biến trung gian EFFE với dữ liệu nghiên cứu 50

Bảng 4.17 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc biến trung gian EFFE 50 Bảng 4.18 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình cấu trúc tuyến tính SEM với

Trang 15

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 14Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 15Hình 3.3 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA 45Hình 3.4 Kết qủa phân tích mô hình cấu trúc biến trung gian CONTROL

46

Hình 3.5 Kết quả phân tích mô hình tác động 4 biến độc lập lên cấu trúc biến trunggian CONTROL 48Hình 3.6 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc biến trung gian EFFE 49

Hình 3.7 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 51

Trang 16

PHẦN MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kinh tế Việt Nam đang từng bước đi trên con đường hội nhập vào kinh

tế thế giới, những chuyển biến quan trọng trong vài năm gần đây đã đưa nước ta đến với nhiều cơ hội và thách thức mới Trong xu thế toàn cầu hoá

đó, các doanh nghiệp tại Việt Nam cần phải đưa ra một hệ thống quản lý và giám sát chất lượng hoạt động phù hợp với tình hình hiện tại Các áp lực về mọi phía và sự cạnh tranh khốc liệt càng đòi hỏi các doanh nghiệp tại phải quan tâm hơn đến việc xây dựng và vận hành một hệ thống kiểm soát nội bộ riêng cho mình để đạt được được hiệu quả trong các hoạt động kinh tế Mặc dù thực tế rằng kiểm soát nội bộ là nhân tố thiết yếu trong một doanh nghiệp, nhưng cho đến nay số lượng nghiên cứu về kiểm soát nội bộ vẫn còn hạn chế Việc tăng cường nhấn mạnh đến vai trò của kiểm soát nội bộ trong kinh doanh,

và việc thiếu các nghiên cứu hiện có, tạo ra các nhu cầu và cơ hội cho các bài nghiên cứu mới Với mục đích đóng góp vào sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội

bộ và hiệu quả của nó trong các doanh nghiệp, tác giả quyết định chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam: phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến” Mặc dù trong hệ thống kiểm soát nội bộ đã được nghiên cứu sẵn về các nhân tố tác động đến hệ thống kiểm soát nội bộ, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn khuyến cáo rằng nhu cầu kiểm soát nội bộ hiệu quả thay đổi tùy theo đặc điểm của doanh nghiệp Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây đều không cung cấp bức tranh đầy đủ về mối quan hệ giữa các đặc điểm và hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp Do đó, nghiên cứu này sẽ sử dụng một cách tiếp cận khác để xem xét thiết kế của cấu trúc hệ thống kiểm soát nội bộ và tính hiệu quả của nó trong các bối cảnh khác nhau.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu là nghiên cứu những yếu tố quyết định và kết quả của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua các phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến,

Trang 17

để nghiên cứu thêm về mối quan hệ giữa đặc điểm của các doanh nghiệp với hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đưa ra một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp và tổ chức vận hành thành công hệ thống kiểm soát nội bộ.

Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài thực hiện nghiên cứu với các câu hỏi trọng tâm như sau: Cấu trúc hệ thống kiểm soát nội bộ có phụ thuộc các yếu tố chiến lược kinh doanh, cấu trúc doanh nghiệp, nhận thức của doanh nghiệp về sự bất ổn của môi trường bên ngoài của doanh nghiệp ?

Từ kết quả nghiên cứu cần thực hiện cần các giải pháp gì để hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp Việt Nam được tổ chức và vận hành thành công?Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu:

Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam Thực hiện khảo sát các nhân viên kế toán – kiểm toán, chuyên viên, nhân viên kiểm toán nội bộ, chủ doanh nghiệp bằng các câu hỏi khảo sát tại thời điểm từ 01/11/2020 đến 30/11/2020 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật “bảng câu hỏi – trả lời” Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này được dùng để đánh giá về độ tin cậy và giá trị của các thang đo

đã thiết kế và hiệu chỉnh để phù hợp với điều kiện ở Việt Nam Sử dụng mô hình phần mềm SPSS trong quá trình phân tích dữ liệu cho kết quả về độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và kiểm định bằng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố.

Nội dung nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được chia ra làm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước

Trang 18

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Đóng góp của đề tài

Kết quả của nghiên cứu đã xây dựng được mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam theo một hướng phân tích khác Tuy nhiên, nghiên cứu này ở trong nước rất

ít được thực hiện Do đó, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp nói riêng.

Về mặt thực tiễn, hướng đến gợi ý các chính sách có tính khả thi đối với các doanh nghiệp trong nước Giúp doanh nghiệp có thể xây dựng

hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với các tính chất của doanh nghiệp.

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ

Theo quan điểm rộng rãi của kiểm soát nội bộ, nó bao gồm tất cả các khía cạnh của một tổ chức và có nhu cầu rõ ràng về một phương pháp kết hợp các khái niệm kiểm soát với nhau để tạo thành một khuôn khổ kiểm soát nội bộ tích hợp Các khuôn khổ nổi tiếng (COSO, CoCo, …) bao gồm định nghĩa về kiểm soát nội

bộ hiệu quả và trình bày các thành phần của cấu trúc kiểm soát nội bộ Ví dụ COSO (1994) tuyên bố rằng kiểm soát nội bộ có thể được đánh giá là có hiệu quả khi ban giám đốc và ban giám đốc có những đảm bảo hợp lý rằng họ hiểu được mức độ đạt được các mục tiêu hoạt động của đơn vị, các báo cáo tài chính đã công bố được lập một cách đáng tin cậy và các luật và quy định hiện hành đang được tuân thủ Cấu trúc kiểm soát nội bộ thích hợp được mô tả theo các thuật ngữ khác nhau, nhưng có năm yếu tố xác định như sau:

1 Môi trường kiểm soát (COEN): xác định các đặc tính của một tổ chức và cách nó hoạt động Thành phần này tạo ra một bầu không khí chung trong đó mọi người có thể tiến hành các hoạt động của họ và thực hiện trách nhiệm kiểm soát của họ Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của kiểm soát nội bộ Những yếu tố chính của môi trường kiểm soát gồm tính chính trực và giá trị đạo đức, cam kết về năng lực, sự tham gia của ban quản trị, triết lý quản lý và phong cách điều hành, cơ cấu tổ chức, phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách và thông lệ nhân sự.

2 Đánh giá rủi ro (RISK): Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa

lý Bất kỳ doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng đều phải đối mặt với rủi ro Những rủi ro này có thể do bản thân DN hay từ môi trường kinh tế, chính trị, xã hội bên ngoài tác động, do vậy mỗi đơn vị phải ý thức được và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải Tiền đề cho việc đánh giá rủi ro là việc đặt ra mục tiêu (bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của doanh nghiệp) Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng và phân tích các rủi ro đe dọa đến các mục

Trang 20

tiêu của mình Trên cơ sở nhận dạng và phân tích các rủi ro, nhà quản

lý sẽ xác định rủi ro nên được xử lý như thế nào

3 Hoạt động kiểm soát (COAC): đề cập đến các chính sách, thủ tục và thông lệ đảm bảo cho Ban quản trị rằng các mục tiêu đạt được và các chiến lược giảm thiểu rủi ro được thực hiện một cách hiệu quả Hoạt động kiểm soát gồm những hoạt động như: phê chuẩn, ủy quyền, xác minh, đối chiếu, đánh giá hiệu quả, bảo vệ tài sản và phân công nhiệm vụ Hoạt động kiểm soát diễn ra chủ yếu trong DN gồm: Soát xét của nhà quản lý (bao gồm cả cấp cao và cấp trung gian); Phân chia trách nhiệm theo nguyên tắc bất kiêm nhiệm; Ủy quyền cho người có thẩm quyền phê chuẩn các nghiệp vụ một cách thích hợp; Kiểm soát quá trình xử lý thông tin gồm kiểm soát chung và kiểm soát ứng dụng; Kiểm soát vật chất; Phân tích rà soát.

4 Thông tin và truyền thông (INFO): Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý

và kiểm soát đơn vị Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: Từ cấp trên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau.

5 Giám sát (MONI): đề cập đến một quá trình đánh giá chất lượng của việc kiểm soát Nó bao gồm các đánh giá liên tục và định kỳ về việc giám sát bên ngoài đối với các kiểm soát nội bộ của Ban quản trị hoặc các bên khác.

1.2 Khái niệm về lý thuyết quyền biến

Lý thuyết quyền biến là một lý thuyết về tổ chức tuyên bố rằng không

có cách tốt nhất để tổ chức, lãnh đạo một công ty hoặc đưa ra quyết định Thay vào đó, quá trình hành động tối ưu tùy thuộc vào tình hình bên trong và bên ngoài công ty Một nhà lãnh đạo đội ngũ áp dụng hiệu quả phong cách lãnh đạo của riêng họ vào các tình huống phù hợp.Theo sách Images of Organization (Hình ảnh của tổ chức) của Gareth Morgan

đã tóm tắt những ý tưởng chính ẩn dưới những tình huống ngẫu nhiên:

Trang 21

o Các tổ chức là các hệ thống mở cần quản lý cẩn thận để đáp ứng và cân bằng các nhu cầu nội bộ cũng như thích ứng với hoàn cảnh môi trường

o Không có cách tổ chức nào là tốt nhất Hình thức tổ chức phù hợp phụ thuộc vào loại công việc hoặc môi trường mà tổ chức đang giải quyết

o Quản lý phải được quan tâm trên hết, với việc đạt được sự liên kết và hòa hợp

o Các loại môi trường khác nhau cần các loại tổ chức khác nhau

Theo Scott (1981) mô tả Lý thuyết quyền biến: “Cách tổ chức tốt nhất phụ thuộc vào bản chất của môi trường liên quan tới tổ chức” Ủng hộ ý kiến này có các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác bao gồm Lawrence, Lorsch J (1967) và Thompson J D (1967) Các tác giả quan tâm nhiều hơn đến tác động của các tình huống ngẫu nhiên đối với cơ cấu tổ chức Lý thuyết quyền biến theo cấu trúc là mô hình chi phối các lý thuyết cấu trúc tổ chức trong những năm 1970, Pennings J H., người đã kiểm tra sự tương tác giữa sự bất ổn của môi trường, cấu trúc tổ chức và các khía cạnh khác nhau của hiệu suất, đã thực hiện một thử nghiệm thực nghiệm quan trọng Nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu của các văn phòng môi giới bán lẻ, trong đó các khía cạnh của môi trường thị trường như sự cạnh tranh, những thay đổi và các nguồn lực với các thỏa thuận về tổ chức như các khuôn mẫu ra quyết định, phân bổ quyền lực được đặt cạnh nhau để xem xét về mặt hiệu suất Trong khi các thuộc tính cấu trúc của các văn phòng ảnh hưởng mạnh đến hiệu suất, bằng chứng cho sự ảnh hưởng của "các tình huống ngẫu nhiên" lại ít rõ ràng hơn.

Có thể kết luận rằng không có cách nào là tốt nhất để quản lý hoặc thực hiện mọi thứ Tình huống khác nhau đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau để xử lý, quản lý và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan Quản lý và tổ chức là một “Hệ thống mở”, trong đó luôn luôn phải đối mặt với những bất thường hoặc thách thức, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp theo từng tình huống để khắc phục hoặc giải quyết một vấn đề hoặc các sự cố liên quan Các yếu tố thuộc về tình huống hoặc mang tính ngẫu nhiên khác

là “sự thay đổi nhu cầu của khách hàng đối với hàng hóa và dịch vụ, thay đổi chính sách hoặc luật pháp của chính phủ, thay đổi môi trường hoặc biến đổi khí hậu, …”

Trang 22

Các nghiên cứu trước đây (Fisher 1995; Gerdin 2005) đã lưu ý rằng một hệ thống kiểm soát có thể phải được điều chỉnh cho phù hợp với nhiều đặc điểm bối cảnh

và đôi khi mâu thuẫn nhau Có bằng chứng trong các nghiên cứu trước đó cho thấy những đặc điểm này có một số tác động đến việc thiết kế cấu trúc điều khiển

và đến hiệu suất như Chenhall 2003; Donaldson 2001; Hoque và James 2000; Macintosh 1994; Simons 1987; Drazin và Van de Ven 1985; Otley 1980 Tuy nhiên, việc lựa chọn các đặc điểm có thể không phải là tập hợp các biến duy nhất có thể ảnh hưởng đến cấu trúc kiểm soát nội bộ nhưng các đặc điểm được coi là có liên quan và được kiểm tra rộng rãi trong các tài liệu về kiểm soát (Chenhall 2003) 1.3 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ

1.3.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Đề tài “Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam” của Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004) tập trung nghiên cứu, thiết kế và vận hành HTKSNB phù hợp với đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Phạm Bính Ngọ (2011) về “Tổ chức HTKSNB trong các đơn vị

dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng” đã nêu được tổ chức KSNB theo đặc điểm của các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời đã chỉ ra được kinh nghiệm của các nước quốc tế như: Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Ba Lan, Hàn Quốc về tổ chức kiểm soát ngân sách trong các đơn vị quân đội Tác giả cũng nêu rõ một số hạn chế trong KSNB tại các đơn vị như: nhận thức về HTKSNB của một số lãnh đạo chưa đầy đủ, phân cấp quản lý chưa đi đôi với quyền hạn và trách nhiệm, đội ngũ cán bộ có trình độ không đồng đều, hoạt động kiểm soát thiếu sự đồng bộ, hệ thống định mức không đầy đủ Xác định nguyên nhân của hạn chế về HTKSNB như: cơ sở pháp lý về

tổ chức hoạt động của HTKSNB chưa hình thành đồng bộ, trình độ hiểu biết HTKSNB còn hạn chế, công tác chỉ đạo và kiểm tra còn thiếu cụ thể và chưa rõ ràng Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện như: xác định mô hình tổ chức HTKSNB, tạo dựng môi trường kiểm soát khoa học và có hiệu lực, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra tài chính, hoàn thiện hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát.

Trang 23

Tuy nhiên, đề tài còn chưa xác định được mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến HTKSNB, chưa xây dựng được mô hình các nhân tố tác động đến hay các thang đo để đo lường các yếu tố trong HTKSNB.

Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài (2011) về “Hoàn thiện HTKSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam” đề cập tới HTKSNB trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời chỉ ra đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Xi măng, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện HTKSNB như: ứng dụng hệ thống ERP, hoàn thiện hệ thống đánh giá rủi ro, tăng cường môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát Hạn chế của đề tài này là chưa nghiên cứu HTKSNB trong toàn ngành, chưa đánh giá được HTKSNB trên quan điểm định lượng để đề xuất các biện pháp hoàn thiện.

Hà Xuân Thạch & Nguyễn Thị Mai Sang (2016) trong nghiên cứu về

“Xác định ảnh hưởng của các thành phần trong HTKSNB tới chất lượng kiểm soát rủi ro trong các công ty xây dựng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh” đã xây dựng một mô hình tác động gồm các yếu tố: (1) Môi trường nội bộ; (2) Thiết lập mục tiêu; (3) Nhận dạng rủi ro; (4) Đánh giá rủi ro; (5) Tiếp nhận rủi ro; (6) Các hoạt động kiểm soát; (7) Thông tin và truyền thông; (8) Giám sát.

1.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài

Trong nghiên cứu Các yếu tố quyết định và kết quả của kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp: phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến của tác giả Jokipii (2009) nghiên cứu tại Phần Lan đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động, khả năng tin cậy của thông tin và tuân thủ luật pháp hiện hành, các doanh nghiệp yêu cầu kiểm soát nội bộ đầy đủ Kết quả thu được từ một cuộc khảo sát dựa trên web đối với 741 công ty Phần Lan, chỉ ra rằng các công ty điều chỉnh cấu trúc kiểm soát nội bộ của mình để đối phó với sự không chắc chắn của môi trường và đạt được hiệu quả kiểm soát được quan sát Ngoài ra, chiến lược cũng có những ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.

Trang 24

Trong nghiên cứu Kiểm soát ngân sách và cơ cấu tổ chức (Bruns và Waterhouse 1975) cũng đề xuất rằng khi quy mô của một tổ chức tăng lên, các quy trình kiểm soát của tổ chức trở nên chuyên biệt và phức tạp hơn Kiểm tra các tổ chức phi lợi nhuận có quy mô khác nhau và thấy rằng tổ chức càng lớn thì càng sử dụng nhiều kiểm soát nội bộ Quy mô của một tổ chức liên quan đến sự sẵn có của các nguồn lực và sự khác biệt nội bộ, do đó, nhu cầu về một hệ thống kiểm soát phức tạp hơn xuất hiện Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện cụ thể về kiểm soát nội bộ trong các tổ chức nhỏ.

Theo nghiên cứu Mối quan hệ của rủi ro vốn có và rủi ro kiểm soát đối với việc điều chỉnh kiểm toán (Wallace và Kreutzfeldt 1995) đã từng là vấn đề cấp hai hoặc cấp ba và những nghiên cứu này cho thấy rằng các tổ chức nhỏ hơn có hệ thống kiểm soát yếu hơn các tổ chức lớn hơn Hơn nữa, trong các tổ chức nhỏ, ban giám đốc đã bày tỏ lo ngại rằng các khuôn khổ kiểm soát nội bộ không được điều chỉnh phù hợp với môi trường kiểm soát doanh nghiệp nhỏ Kiểm soát nội bộ cũng quan trọng trong các tổ chức nhỏ cũng như các tổ chức lớn hơn, mặc dù đã lưu ý rằng việc kiểm soát

có thể khác nhau đáng kể Sự tham gia trực tiếp của lãnh đạo cao nhất được coi là sự đền bù thỏa đáng cho một hệ thống kiểm soát ít phức tạp hơn.

Báo cáo nghiên cứu về Khả năng thay thế cho nhau của các thang đo quy mô (Naresh C Agarwal 2007) trình bày một nghiên cứu xem xét mối tương quan giữa quy

mô tổ chức và cơ cấu trong trường hợp của một số công ty bảo hiểm nhân thọ ở Hoa

Kỳ Theo tác giả, sự tăng trưởng trong tổ chức có thể tạo ra những áp lực dẫn đến sự gia tăng sự khác biệt hóa trong cơ cấu tổ chức Tác giả lưu ý rằng những áp lực này

có thể do các yếu tố bao gồm kiểm soát, giao tiếp và giám sát mà các tổ chức lớn phải đối mặt Theo kết quả của nghiên cứu, mối quan hệ quy mô - cấu trúc không thay đổi tùy theo phép đo được sử dụng để xác định quy mô tổ chức.

Nghiên cứu Tác động của sự không chắc chắn về môi trường, quyền tự chủ quản lý và quy mô đối với đặc điểm ngân sách (Mahmoud Ezzamel 1990) cung cấp kết quả của một cuộc điều tra thực nghiệm về tác động của các biến số ngữ cảnh khác nhau đối với việc thiết kế hệ thống ngân sách của công ty Các kết quả hỗ trợ các phát

Trang 25

hiện trước đó liên kết các biến theo ngữ cảnh với các đặc điểm ngân sách Hơn nữa, kết quả chỉ ra rằng so với các biến bối cảnh của công ty được đo lường bằng quyền tự chủ và quy mô của người quản lý, biến bên ngoài được đại diện bởi sự không chắc chắn về môi trường (PEU) có tác động lớn hơn đến việc thiết

kế các đặc điểm ngân sách Kết quả cũng cho thấy tác động của PEU đối với các công ty có quy mô lớn hơn nhiều so với các công ty có quy mô nhỏ hơn.

Bài báo Khuôn khổ lý thuyết quyền biến cho nghiên cứu hệ thống kế toán quản trị (J.H.Waterhouse, P.Tiessen 1978) sử dụng Lý thuyết Lý thuyết quyền biến để phát triển một mô hình phân tích so sánh các tổ chức cho phép chúng tôi xác định các yêu cầu kiểm soát có thể có của các loại hình tổ chức khác nhau và để giải quyết một số vấn đề liên quan đến thiết kế hệ thống kế toán quản lý Mô hình gợi ý rằng cấu trúc của một tổ chức phần lớn phụ thuộc vào bối cảnh của nó và các cấu trúc thay thế tạo

ra nhu cầu về các cơ chế kiểm soát khác nhau Bằng cách tập trung vào các yêu cầu kiểm soát của các cơ cấu thay thế, các mối quan hệ có thể có giữa cơ cấu tổ chức và thiết kế hiệu quả của hệ thống kế toán quản trị được đưa ra giả thuyết.

Bài báo Thiết kế hệ thống kế toán quản trị trong các bộ phận sản xuất: một cuộc điều tra thực nghiệm sử dụng cách tiếp cận nhiều trường hợp lý thuyết quyền biến (Jonas Gerdin 2005) đề xuất một mô hình nhiều trường hợp lý thuyết quyền biến

để xem xét ảnh hưởng tổng hợp của sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận và cấu trúc tổ chức đối với thiết kế hệ thống kế toán quản trị Mô hình được thử nghiệm bằng

dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ bảng câu hỏi gửi tới 160 giám đốc sản xuất Tỷ

lệ phản hồi là 82,5% Các phát hiện cung cấp một số hỗ trợ cho quan điểm rằng các tổ chức điều chỉnh thiết kế hệ thống kế toán quản trị của họ cho phù hợp với các yêu cầu kiểm soát của tình huống Hơn nữa, nghiên cứu cung cấp một số hỗ trợ thực nghiệm cho sự tồn tại của tính tương đương dưới mức tối ưu Đó là, trong các tình huống thiếu một mệnh lệnh chi phối duy nhất, có thể phát sinh một số thiết kế hệ thống kiểm soát quản lý thay thế và tương đương về chức năng.

Theo nghiên cứu Thực hành kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ (Faudziah Hanim Fadzil, Hasnah Haron, Muhamad Jantan 2005) hai mục tiêu chính

Trang 26

trong bài là: xác định xem bộ phận kiểm toán nội bộ của các công ty niêm yết tại Bursa Malaysia có tuân thủ các Chuẩn mực về Thực hành nghề nghiệp của Kiểm toán viên nội bộ IIA (2000) hay không; và để xác định liệu việc tuân thủ SPPIA có ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty hay không Người

ta thấy rằng quản lý của bộ phận kiểm toán nội bộ, trình độ chuyên môn, tính khách quan và xem xét ảnh hưởng đáng kể đến khía cạnh giám sát của hệ thống kiểm soát nội bộ Phạm vi công việc và kết quả thực hiện công việc kiểm toán ảnh hưởng đáng

kể đến khía cạnh thông tin và truyền thông của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khi hiệu quả công việc kiểm toán, trình độ chuyên môn và tính khách quan ảnh hưởng đáng kể đến khía cạnh môi trường kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quản lý của bộ phận kiểm toán nội bộ, việc thực hiện công việc kiểm toán, chương trình kiểm toán và báo cáo kiểm toán ảnh hưởng đáng kể đến khía cạnh đánh giá rủi ro của hệ thống kiểm soát nội bộ Cuối cùng, việc thực hiện công việc kiểm toán và báo cáo kiểm toán ảnh hưởng đáng kể đến khía cạnh hoạt động kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ Nghiên cứu đã đóng góp vào lý thuyết cơ quan liên quan đến chi phí liên kết mà ban giám đốc phải trả cho kiểm toán viên nội bộ

vì lợi ích tốt nhất của người đứng đầu công ty Một hàm ý quan trọng khác liên quan đến mức độ thực hành kiểm toán nội bộ giữa các kiểm toán viên nội bộ trong các công ty niêm yết đại chúng của Malaysia Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tuân thủ các thông lệ kiểm toán nội bộ ảnh hưởng một phần đến chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Đây là nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên liên hệ giữa việc tuân thủ chức năng kiểm toán nội bộ với SPPIA và ảnh hưởng của nó đối với hệ thống kiểm soát nội bộ.

1.4 Tính mới của đề tài

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện dựa trên các công ty tại Việt Nam, theo bối cảnh và môi trường kinh doanh cũng như nên kinh tế Việt Nam Với mục đích nghiên cứu về các yếu tố ngẫu nhiên khác theo lý thuyết quyền biến liệu có ảnh hưởng như thế nào đến cấu trúc hệ thống kiểm soát nội bộ, đây là điểm khác với các nghiên cứu trước đây chỉ đơn thuần là xét về các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống

Trang 27

kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp ở Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp xây dựng các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với đặc điểm từng doanh nghiệp nhằm phát huy hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Trang 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam vào tháng 12/2020 bằng phương pháp định lượng được thực hiện thông qua bảng khảo sát online các lãnh đạo và nhân viên của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam (từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 01 năm 2021) Bảng câu hỏi khảo sát (Phụ lục 1), bao gồm hai phần: phần đầu tiên thông tin chung, phần tiếp theo là khảo sát về đặc điểm của lý thuyết quyền biến

và các biến kiểm soát Các biến này đã được điều chỉnh từ nghiên cứu trước đó để nâng cao hiệu lực và độ tin cậy của các thang đo Theo Jokipii (2009), lý thuyết quyền biến về đặc điểm doanh nghiệp được đo lường bởi chiến lược kinh doanh (STRA), quy mô hoạt động (SIZE), cơ cấu tổ chức (MECH) và sự biến động của môi trường (PEU) Bên cạnh đó, cấu trúc kiểm soát nội bộ (CONTROL) và các câu hỏi về các thành phần của kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát (COEN), rủi ro (RISK), hoạt động kiểm soát (COAC), thông tin và truyền thông (INFO) và giám sát (MONI) Cũng theo tác giả này để đánh giá hiệu quả kiểm soát nội bộ bao gồm các câu hỏi về hiệu quả và hiệu lực của các hoạt động (EFFI), độ tin cậy và kịp thời của thông tin tài chính (RELI)

và quản lý cũng như việc tuân thủ các luật và quy định hiện hành (LAW) Đa số các câu hỏi đều thực hiện bằng thang đo Likert 5 của Rensis Likert để đo lường các câu hỏi khảo sát theo các mức độ từ 1 - rất thấp, 2 - thấp, 3 – trung bình, 4 – cao và 5 – rất cao Bên cạnh các câu hỏi khảo sát với thang đo Likert, bảng khảo sát còn có những câu hỏi mở làm cơ sở cho đánh giá và kiến nghị giải pháp.

Quy trình nghiên cứu được chia ra thành nhiều bước khác nhau tùy thuộc vào mức độ chi tiết và quan điểm của mỗi người Tuy nhiên, mỗi một công trình nghiên cứu sẽ được thực hiện theo một trình tự nhất định, bao gồm:

(1) Lựa chọn đề tài nghiên cứu

(2) Xác định câu hỏi, giả thuyết và phương pháp nghiên cứu

(3) Xây dựng đề cương và lập kế hoạch nghiên cứu

(4) Thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu

Trang 29

(5) Viết báo cáo kết quả nghiên cứu Lập sơ đồ nghiên cứu và đưa

ra bảng quy trình thực hiện nghiên cứu

Đây là một trong những bước quan trọng để định hướng bài nghiên cứu này.

Vì vậy, việc xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, sau đó thu thập cơ sở dữ liệu và tìm ra mô hình nghiên cứu, tiếp đó sẽ tiến hành khảo sát thử Thông qua các bước sàng lọc và điều chỉnh sẽ đưa ra được kết luận và những khuyến nghị phù hợp.

Cronback'

Phân tích cấu trúc biến trung gian

CONTROL, EFFE và phân tích mô Kết luận hình cấu trúc tuyến tính SEM

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu Sau khi thu thập dữ liệu, nghiên cứu tiền hành đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua công cụ Cronbach’ Alpha, phân tích EFA, phân tích CFA, phân tích cấu trúc biến trung gian CONTROL, EFFE và phân tích

mô hình cấu trúc tuyến tính SEM thông qua phần mềm SPSS.

2.2 Mô hình nghiên cứu

2.1.1 Mô hình đề xuất

Trên cơ sở tổng quan các lý thuyết liên quan, dựa trên những nghiên cứu trước, điều kiện nghiên cứu cùng với đặc điểm của lĩnh vực đang nghiên cứu, và chọn lọc các yếu tố thang đo để phù hợp với đề tài nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dựa trên sự kế thừa kết quả nghiên cứu của Jokipii (2009) Do đó, mô hình nghiên

Trang 30

cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam: phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến và các giả thiết được đưa ra như sau:

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 2.1.1.1 Chiến lược kinh doanh (STRA)

Otley (1980) và Dermer (1977) cho rằng chiến lược kinh doanh phải là một trong những đặc điểm chính trong thiết kế hệ thống kiểm soát Tùy thuộc vào chiến lược của công ty, như nghiên cứu của Miller và cộng sự (1986), Miles and Snow (1978)

và Porter (1980), xây dựng các hệ thống kiểm soát khác nhau Simons (1990) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các công ty sử dụng hệ thống kiểm soát theo những phương pháp khác nhau nếu sử dụng các chiến lược khác nhau Trong khi các nghiên cứu trước đây của Bruns và Waterhouse (1975), Wallace và Kreutzfeldt (1995), Ezzamel (1990) cho thấy rằng công ty có các chiến lược khác nhau có xu hướng tạo ra các cấu hình hệ thống kiểm soát khác nhau, sự khác biệt trong chiến lược cũng có thể gây ra một số khác biệt trong kiểm soát nội bộ.

Miles và Snow (1978) nhận thấy rằng các hệ thống kiểm soát kiểu người khai thác có thể tập trung nhiều hơn vào việc tìm kiếm vấn đề và việc xác định các cấu trúc và quy trình linh hoạt có thể hỗ trợ một tổ chức phản ứng nhanh chóng với sự thay đổi môi trường Theo ghi nhận của Langfield-Smith (1997), việc kiểm soát trong các tổ chức người phát triển có thể được phân cấp và định hướng kết quả Điều này có nghĩa là người phát triển đòi hỏi một môi trường kiểm soát mạnh mẽ, có thể đảm bảo ý thức kiểm soát mạnh mẽ Dựa trên các nghiên cứu về kiểm soát quản lý trước đây

Trang 31

Langfield-Smith (1997), Chenhall (2003), có thể đề xuất rằng một số loại hệ thống kiểm soát nhất định sẽ phù hợp với các chiến lược cụ thể; những người thăm dò có nhiều khả năng có các biện pháp kiểm soát linh hoạt để có thể thích ứng nhanh với môi trường thay đổi nhanh, trong khi các hậu vệ có nhiều khả năng tập trung vào việc giảm thiểu sự không chắc chắn và tối đa hóa hiệu quả So với những người bảo vệ, người tìm kiếm linh hoạt hơn trong việc sửa đổi hệ thống quản lý của họ theo nhu cầu của người dùng Theo đó, giả thuyết được phát biểu như sau:

H1: Chiến lược của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến cấu trúc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đó.

2.1.1.2 Quy mô hoạt động (SIZE)

Nghiên cứu lý thuyết quyền biến ban đầu cho thấy rằng quy mô của tổ chức có thể ảnh hưởng đến phương pháp thiết kế và sử dụng hệ thống quản lý của tổ chức (Hoque và James, 2000) Quan điểm về lý thuyết quyền biến này được sử dụng bởi Merchant, người cho rằng sự phát triển quy mô hoạt động của tổ chức làm tăng các vấn đề về giao tiếp và kiểm soát Điều này là do sự không phù hợp của kiểm soát quản

lý theo định hướng hành vi, vốn hữu ích ở các doanh nghiệp nhỏ nhưng không phù hợp với các doanh nghiệp lớn hơn Duncan và cộng sự (1999) kiểm tra các tổ chức phi lợi nhuận có quy mô khác nhau và thấy rằng tổ chiều càng lớn thì càng sử dụng nhiều kiểm soát nội bộ Quy mô của một tổ chức liên quan đến sự sẵn có của các nguồn lực và sự khác biệt trong nội bộ, do đó, nhu cầu về một hệ thống kiểm soát phức tạp hơn xuất hiện Ngoài ra, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện cụ thể về kiểm soát nội bộ trong các tổ chức nhỏ Do đó, giả thuyết được phát biểu như sau:

H2: Quy mô hoạt động của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến cấu trúc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đó.

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức (MECH)

Cơ cấu tổ chức đề cập đến một mô hình nội bộ về vai trò, giao tiếp, quyền hạn

và các mối quan hệ Chenhall (2003) lưu ý rằng cơ cấu tổ chức vẫn là một yếu tố quan trọng trong việc hiểu rõ thiết kế của kiểm soát nội bộ Otley (1980) cho rằng các hình thức cơ cấu tổ chức khác nhau sẽ yêu cầu cung cấp các loại thông tin kế toán khác

Trang 32

nhau để chúng hoạt động hiệu quả Ví dụ, một cấu trúc cơ học (tập trung hơn, phân biệt theo chiều dọc và chính thức hóa hơn cấu trúc hữu cơ) có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát nội bộ bằng cách giảm sự biến động và tăng khả năng dự đoán của hành vi công việc Tuy nhiên, một cấu trúc cơ học cũng có thể làm giảm hiệu quả của kiểm soát nội bộ do mất kiểm soát trong nhiều hệ thống phân cấp (Evans, 1975) hoặc sự khác biệt do tập trung hóa (Morris và cộng sự, 1979) Trong một tổ chức tập trung, cơ quan ra quyết định nằm ở vị trí cao nhất trong cấu trúc: nhu cầu giám sát và kiểm soát các hoạt động trong quá trình ra quyết định được giảm bớt Các tổ chức khác biệt theo chiều dọc có thể gặp vấn đề với thành phần thông tin và truyền thông

vì thông tin phải chảy qua các cấp khác nhau của tổ chức (Gosselin, 1997) Một tổ chức được phân hóa cao có các hoạt động kiểm soát, nhưng lại áp dụng các quy tắc

và thủ tục ít hơn, có nghĩa là có quyền quyết định cá nhân lớn hơn và có xu hướng tính đến nhiều tính năng hơn khi giám sát và kiểm soát (Whitley, 1999) Do vậy, giả thuyết được phát biểu như sau:

H3: Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến cấu trúc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đó.

2.1.1.4 Sự biến động của môi trường (PEU)

Chenhall (2003) lưu ý rằng sự không chắc chắn của môi trường là một biến cơ bản trong nghiên cứu Hệ thống kiểm soát quản lý (Management Control System) dựa trên tình huống lý thuyết quyền biến Tác giả cho rằng môi trường bên ngoài càng nhiều đối thủ cạnh tranh và phức tạp, thì sự phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát chính thức và sự chú trọng vào ngân sách truyền thống càng lớn Gordon và Miller (1976) dự đoán rằng tính năng động của môi trường tăng lên sẽ dẫn đến hệ thống kiểm soát chất lượng cao hơn: hệ thống kiểm soát trở nên quan trọng hơn khi mức độ không chắc chắn càng lớn Hơn nữa, Evans và cộng sự (1986) cũng ủng hộ ý kiến trên: một tổ chức sẽ thường sửa đổi hệ thống nội bộ để thích ứng với hoàn cảnh thay đổi Từ các nghiên cứu trước, giả thuyết được hình thành như sau:

H4: Sự biến động của môi trường của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến cấu trúc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp đó.

Trang 33

2.1.1.5 Cấu trúc kiểm soát nội bộ và hiệu quả quan sát

Mối quan hệ lý thuyết giữa cấu trúc kiểm soát nội bộ và tính hiệu quả của nó dựa trên khuôn khổ COSO (1994) quy định rằng năm thành phần kiểm soát nội bộ hoạt động đúng cách sẽ dẫn đến kiểm soát nội bộ hiệu quả COSO (1994) cho biết thêm rằng có sự khác biệt về hiệu quả kiểm soát nội bộ ở các doanh nghiệp khác nhau, nhưng không đưa ra bất kỳ giải thích chính xác nào về lý do tồn tại những khác biệt này Do đó, lý thuyết quyền biến cung cấp một cách tiếp cận nghiên cứu áp dụng trong kiểm soát nội bộ bằng cách nêu rõ rằng việc điều chỉnh thành công hệ thống kiểm soát phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp sẽ dẫn đến hiệu quả kiểm soát tốt hơn (Fisher, 1998) Simons (1987) nhận thấy rằng các công ty với các chiến lược khác nhau sử dụng hệ thống kiểm soát của họ một cách khác nhau và điều này gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của công ty Vì vậy, bằng cách đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ được quan sát là một biến phụ thuộc trong mô hình, có thể đánh giá tính đầy đủ của cấu trúc kiểm soát trong thực tế (Langfield Smith, 1997).

Theo đó, giả thuyết được phát biểu như sau:

H5: Cấu trúc kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến hiệu quả của kiểm soát nội bộ của của doanh nghiệp đó 2.1.2 Đo lường các biến trong mô hình

Thang đo được hình thành từ việc tổng hợp và kế thừa có chọn lọc thang đo trong nghiên cứu của Jokipii (2009), cụ thể:

2.1.2.1 Cấu trúc kiểm soát nội bộ

Cấu trúc của kiểm soát nội bộ (CONTROL) được xác định như sau các chỉ số phỏng theo tài liệu về kiểm soát nội bộ: môi trường kiểm soát (COEN), đánh giá rủi ro (RISK), hoạt động kiểm soát (COAC), thông tin và truyền thông (INFO) và giám sát (MONI) Nghiên cứu đo lường các chỉ số sử dụng 5 mục câu hỏi và sau đó sử dụng các thước đo như các yếu tố trong biến trung gian.

2.1.2.2 Hiệu quả quan sát

Hiệu quả kiểm soát nội bộ (EFFE) được xác định dựa trên cơ sở ba mục tiêu các công ty phải đáp ứng kiểm soát nội bộ được xác định trong các khuôn khổ Sau

Trang 34

các chỉ số xác định cấu trúc của hiệu quả kiểm soát nội bộ (EFFE): hiệu quả của các hoạt động (EFFI), độ tin cậy, tính đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản lý (RELI), và tuân thủ với luật và quy định (LAW) Nghiên cứu này đo lường các chỉ số bằng cách sử dụng 4 mục câu hỏi và sau đó sử dụng điểm trung bình như một yếu tố trong biến trung gian.

Bảng 3.1 Thang đo CONTROL, EFFE đề xuất

1 Ban quản trị đưa ra các quyết định thông qua việc đặt câu hỏi

cho các quản lý (COEN1)

2 Các nhà quản trị và bộ phận quản lý không phải làm việc quá

5 Các nhân viên đã thể hiện cam kết về sự trung thực và các giá

trị đạo đức của công ty thông qua hành vi của họ (COEN5)

6 Các mục tiêu hoạt động của công ty đã có các biện pháp ngăn

ngừa rủi ro hợp lý và đáng tin cậy (RISK1)

Ban quản trị tích cực đánh giá rủi ro bên trong và bên ngoài

7 nhằm hạn chế các rủi ro xảy ra ảnh hưởng đến các mục tiêu Đánh giá rủi trong tương lai của doanh nghiệp, (RISK2)

8 Doanh nghiệp đã thực hiện phân tích rủi ro trong năm vừa rồi

biện pháp ngăn chặn rủi ro (RISK5)

Trang 35

TT Biến Biến quan sát

Doanh nghiệp có các biện pháp kiểm soát quy trình hoạt động

11 giúp đưa ra cảnh báo ngay khi có điều bất thường xảy ra

(COAC1)

12 Doanh nghiệp xử lí nhanh chóng và kịp thời khi xảy ra các Hoạt động điều bất thường (COAC2)

13 kiểm soát Trong nhiệm vụ, đặc biệt chú ý đến sự ủy quyền và những yêu

cầu đặc biệt của nhiệm vụ (COAC3)

14 Các biện pháp kiểm soát nội bộ lẽ phải được đẩy mạnh hơn

nữa (COAC4)

15 Toàn bộ nhân sự đã cập nhật mô tả công việc (COAC5)

16 Nhân viên không gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin

liên quan đến công việc của họ (INFO1)

17 Các báo cáo được chuyển đến ban quản trị phải rõ ràng và

chứa thông tin liên quan từ quan điểm nhà quản lý (INFO2)

Thông tin và Thông tin giữa các bộ phận khác nhau được truyền tải đầy đủ

18 đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn (ví dụ: từ bán hàng đến truyền thông sản xuất) (INFO3)

19 Công việc được điều phối hiệu quả không chỉ ở phòng ban

mình mà còn với các phòng ban khác (INFO4)

20 Hệ thống thông tin và liên lạc của doanh nghiệp không hoàn

toàn cập nhật liên quan đến các chức năng (INFO5)

21 Các nhà quản lý thực hiện rất tốt việc kiểm soát hàng ngày.

(MONI1)

22 Doanh nghiệp có kiểm soát về cách nhân viên tuân theo quy Giám sát định nội bộ (MONI2)

Doanh nghiệp đã tiến hành phân tích những thay đổi dựa trên

23 sự hài lòng của khách hàng, sự hài lòng trong công việc, hiệu

quả trong năm qua (MONI3)

Trang 36

TT Biến Biến quan sát

24 Trong năm qua, ban quản trị đã không yêu cầu các báo cáo về

việc hoàn thành các biện pháp kiểm soát (MONI4)

25 Với một nỗ lực hợp lí, hiệu quả của hoạt động có thể được cải

thiện trong tương lai (EFFI1)

26 Hiệu quả Có thể có các vấn đề trong hoạt động, nếu được loại bỏ, sẽ cải

thiện đầu vào - đầu ra tốt hơn (EFFI2) của các

Tất cả các bước trong quy trình đều mang lại tính hiệu quả.

27 hoạt động

(EFFI3)

28 Trong một số chức năng, nguồn lực có thể được triển khai hiệu

quả hơn (EFFI4)

29 Tôi không hoàn toàn tin tưởng vào các báo cáo của bộ phận

quản lý tài chính và đôi khi phải kiểm tra lại thông tin (RELI1)

Độ tin cậy,

30 Đôi khi, phải sữa chữa lỗi trong các báo cáo đã được ban quản tính đầy đủ trị xác nhận (RELI2)

và kịp thời

Đôi khi, doanh nghiệp nhận được thông tin về lỗi trong các

31 của thông tin

tài chính báo cáo dùng cho bên ngoài (RELI3)

32 Nhà quản lý bộ phận tài chính nhận thấy phần mềm kế toán có

vấn đề (RELI4)

33 Trên thực tế, rất khó để áp dụng các quy định mới điều chỉnh

công ty (LAW1)

34 Tuân thủ với Những thay đổi trong luật pháp thường xuyên xảy ra đột ngột

khiến doanh nghiệp không cập nhật kịp thời (LAW2) luật và quy

35 Theo quan sát, nhân viên có những bất cập với luật và các quy định định hiện hành (LAW3)

Không có bộ phận nào trong công ty có trách nhiệm theo dõi36

các thay đổi lập pháp và các quy định mới sắp tới (LAW4)

Trang 37

2.1.2.3 Chiến lược kinh doanh

Để đo lường chiến lược, theo nghiên cứu của Miles and Snow (1978) về chiến lược tổ chức, cấu trúc và quy trình xem xét sự khó khăn để thích ứng tổ chức vì quy trình thì phức tạp cao và nhiều thay đổi Phương pháp đo lường được sử dụng theo câu hỏi nghiên cứu của Guilding (1999) và Shortell và Zajac (1990) Những người khảo sát sẽ nhận được một mô tả ngắn gọn về các chiến lược và sau đó họ được yêu cầu chọn một trong các chiến lược cho tổ chức của họ Theo nghiên cứu của Jokkipii (2009) biến định lương đo lường chiến lược kinh doanh là biến nhị phân (binary variable) nhận giá trị 1 cho chiến lược cải tiến đổi mới sản phẩm và dịch vụ và các chiến lược còn lại là 0.[STRA] Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bạn là gì?

A) Doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hoặc sản phẩm thông thường Doanh nghiệp không tìm kiếm bất kỳ điều gì mới cho sản phẩm/dịch vụ của mình, nhưng vẫn hoạt động hiệu quả.

B) Doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ hoặc sản phẩm đạt tiêu chuẩn Doanh nghiệp không phải là người tiên phong trong một lĩnh vực nào nhưng vẫn cố gắng theo sát sự phát triển của thị trường với các sản phẩm/dịch vụ có giá thành hợp lí hơn.

C) Doanh nghiệp luôn cải tiến các sản phẩm/dịch vụ của mình Doanh nghiệp cố gắng trở thành người tiên phong và mong muốn đáp ứng nhu cầu thị trường một cách nhanh chóng.

D) Khác…

2.1.2.4 Quy mô hoạt động

Theo Chenhall 2003, Agarwal 1979 và Ezzamel 1990, quy mô tổ chức được

đo lường bằng số lượng nhân viên Trong bối cảnh kiểm soát hữu ích khi sử dụng

số lượng nhân viên làm thang đo (Jokipii 2009): kiểm soát nội bộ được định nghĩa

là một quá trình chịu ảnh hưởng của nhân sự Do đó, nghiên cứu này đo lường quy mô của một công ty theo số lượng nhân viên toàn thời gian của nó.

Trang 38

[SIZE] Số lượng nhân viên tại doanh nghiệp của bạn:

2.1.2.5 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức được đo lường bằng cách sử dụng các cơ cấu hữu cơ và cơ học (Gordon và Naryanan, 1984) Trong nghiên cứu này, trọng tâm là chung và xem xét cơ cấu là ở cấp độ tổ chức Ba chiều: tập trung hóa, phân biệt theo chiều dọc và chính thức hóa, được sử dụng để xây dựng cơ cấu tổ chức (MECH) Sự tập trung được đo lường bằng cách sử dụng cùng một công cụ như Miller và Droge (1986) làm; một loạt quyết định tiêu chuẩn và xác định cấp độ tổ chức nơi các quyết định được đưa ra bằng cách sử dụng các cấp có thể có từ tuyến quản lý đến Giám đốc điều hành (thang 1–5) Đo lường sự khác biệt theo chiều dọc, nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận được sử dụng bởi Gosselin (1997) và đo lường tổng số cấp độ phân cấp giữa Giám đốc điều hành và giám sát tiền tuyến Tổng số cấp độ được chuyển đổi sang thang điểm 1–5 Việc chính thức hóa (Formalization) được vận hành theo cách tiếp cận của Schminke et al (2002): đo lường chính thức hóa trên thang điểm Likert năm điểm với năm mức độ mà các quy tắc, thủ tục và chính sách được tiêu chuẩn hóa Các câu hỏi nghiên cứu được đo lường theo nghiên cứu của Jokipii (2009)

[MECH] Doanh nghiệp đã có các chính sách và quy trình chưa? Vui lòng đánh giá theo mức độ phù hợp với tổ chức của bạn

Hoàn toàn Không Trung lập Đồng ý Hoàn

Doanh nghiệp có bản mô

tả công việc hoàn chỉnh

cho từng bộ phận

Trang 39

Doanh nghiệp lưu giữ hồ

sơ về hiệu suất làm việc

của tất cả nhân viên

Doanh nghiệp có chương

trình giới thiệu và định

hướng công việc cho

nhân viên mới

2.1.2.6 Sự biến động của môi trường

Bài nghiên cứu này sử dụng các câu hỏi theo nghiên cứu của Hoque (2001), Govindarajan (1984) và Jokipii (2009) Trong bảng câu hỏi, người trả lời chỉ ra nhận thức của họ về người thân khả năng dự đoán của môi trường bên ngoài trên thang điểm năm (1 – Hoàn toàn không thể dự đoán được đến 5 – Hoàn tóc có thể dự đoán được) Một biến tỷ lệ duy nhất được xây dựng bởi lấy điểm trung bình của người trả lời cho từng mục của yếu tố.

[PEU] Bạn có thể đưa ra những dự đoán về các thay đổi sắp tới trong môi trường hoạt động của doanh nghiệp bạn hay không?

không thể dự Không dự toàn có

thể dự thể dự đoán ý kiến đoán

đoán

được được

Hoạt động của nhà cung cấp

Nhu cầu, thị hiếu và sở thích của khách

hàng

Bãi bỏ quy định và toàn cầu hóa

Hoạt động thị trường của đối thủ cạnh

tranh

Trang 40

Công nghệ sản xuất

Quy định và chính sách của nhà nước

Nền kinh tế

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế bảng hỏi khảo sát

Dựa vào cơ sở lý thuyết đã được trình bày ở Chương 2 và mô hình, giả thuyết nghiên cứu đề xuất, bảng câu hỏi hoàn chỉnh được thiết kế gồm 2 phần chính:

Phần 1: Nhằm thu thập các thông tin chung về đối tượng tham gia khảo sátgồm: Tên công ty đang công tác , Chức vụ, Thời gian công tác.

Phần 2: Nội dung khảo sát, nhằm mục đích xem xét, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Việt Nam: phân tích dựa trên lý thuyết quyền biến và thiết kế câu hỏi khảo sát gồm 12 yếu tố: STRA, SIZE, MECH, PEU, COEN, COAC, INFO, RISK, RELI, MONI, LAW, EFFI (chi tiết tại Phụ lục 1 – Phiếu khảo nhà quản trị doanh nghiệp).

Tiêu chuẩn mẫu: là các nhà quản trị trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.

Ngày đăng: 15/06/2021, 10:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Đoan Trang, Mai Hồng Chi, Vũ Thị Tuyết Nhung (2016), Tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại các NHTM Việt Nam, Nghiên cứu khoa học cấp cơ sở tại Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM Khác
2. Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004), Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tang cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam Khác
3. Phạm Bính Ngọ (2011), \Tổ chức HTKSNB trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Quốc phòng Khác
4. Nguyễn Thu Hoài (2011), Hoàn thiện HTKSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam 5. Hà Xuân Thạch; Nguyễn Thị Mai Sang (2016), Xác định ảnh hưởngcủa các thành phần trong HTKSNB tới chất lượng kiểm soát rủi ro trong các công ty xây dựng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh Khác
1. Sco (1981). Organizations: Rational, Natural, and Open Systems. EnglewoodCliffs NJ: Prentice Hall Inc Khác
2. The Relevance of the Structural-Contingency Model for Organizational Effectiveness Author(s): Johannes M. Pennings Source: Administrative Science Quarterly, Vol. 20, No. 3, (Sep., 1975), pp. 393–410 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w