1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam

135 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, bằng việc áp dụng nghiên cứu định lượng với mô hình FEM, REM, phương pháp bình phương tổng quát nhỏ nhất và SGMM, ngoài tác động cùng chiều của đa dạng hóa thu nhập DIV đến hiệu

Trang 1

TRẦN THỊ CẨM THANH

TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 7340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ HÀ DIỄM CHI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

Luận văn thực hiện các nội dung sau đây: thứ nhất luận văn đề cập và xem xét các cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh cụ thể là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, lý thuyết tính kinh tế theo quy mô, lý thuyết quyền lực thị trường Đồng thời, tác giả sử dụng chỉ số ROE, ROA để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, tác giả đã xác định các biến thuộc đa dạng hóa, các biến thuộc đặc điểm bên trong ngân hàng và các biến thuộc yếu tố vĩ mô tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam

Thứ hai, bằng việc áp dụng nghiên cứu định lượng với mô hình FEM, REM, phương pháp bình phương tổng quát nhỏ nhất và SGMM, ngoài tác động cùng chiều của đa dạng hóa thu nhập (DIV) đến hiệu quả kinh doanh, tác giả đã xác định các biến tác động đáng kể đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM ở mức ý nghĩa thống

kê 1% như quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay khách hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động hay tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát

Cuối cùng, trên cơ sở kết quả đạt được, tác giả đã tiến hành đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam

3 Từ khóa: Đa dạng hóa thu nhập, hiệu quả kinh doanh ngân hàng, FEM, REM, ngân hàng thương mại, Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan khóa luận với tên đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu riêng của tác giả dưới sự giúp

đỡ của TS Lê Hà Diễm Chi – giảng viên khoa Ngân hàng Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Nguồn dữ liệu và nội dung tham khảo đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, thống nhất trong phần danh mục tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong khóa luận Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn với những cam đoan của mình

TP.HCM, ngày tháng năm 2021

Tác giả

TRẦN THỊ CẨM THANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, những người đã hỗ trợ, giúp đỡ, trực tiếp giảng dạy, tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong những năm học tập tại trường, cũng như tạo cơ hội cho tôi thực hiện nghiên cứu này

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Hà Diễm Chi, người đã giúp đỡ tôi trong công tác chọn đề tài, cách viết đề tài, cũng như tận tình hướng dẫn, đưa ra các góp ý quý báu và động viên để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất Tôi cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo khoa tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh hỗ trợ, động viên, chia sẻ và tiếp thêm nguồn lực giúp tôi yên tâm nghiên cứu hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế, khóa luận này không tránh khỏi

những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ Quý Thầy Cô

Trân trọng cảm ơn

TRẦN THỊ CẨM THANH

Trang 5

MỤC LỤC

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 4

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Đóng góp của đề tài 6

1.7 Bố cục của luận văn 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 8

2.1 Cơ sở lý thuyết 8

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng 8

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh ngân hàng 13 2.1.3 Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh ngân hàng 19

Trang 6

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến

hiệu quả kinh doanh ngân hàng 24

2.2.1 Đa dạng hóa thu nhập tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng 24

2.2.2 Đa dạng hóa thu nhập tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng 27

2.2.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 36

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Quy trình nghiên cứu 37

3.2 Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 38

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 38

3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu 41

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 47

3.3.1 Mẫu nghiên cứu 47

3.3.2 Các biến trong mô hình nghiên cứu 48

3.4 Phương pháp nghiên cứu 51

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 54

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55

4.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 55

4.1.1 Biến đo lường hiệu quả kinh doanh 56

4.1.2 Biến đa dạng hóa thu nhập 58

4.1.3 Các biến khác 59

4.2 Phân tích hệ số tương quan 65

4.3 Kiểm định hồi quy tổng thể OLS, FEM và REM 69

4.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình và kết quả hồi quy 73

4.4.1 Mô hình 1: 73

4.4.2 Mô hình 2 81

4.4.3 Phân tích hồi quy theo phương pháp SGMM 84

Trang 7

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 88

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 89

5.1 Kết luận 89

5.2 Một số kiến nghị 91

5.2.1 Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 91

5.2.2 Đối với NHTM Việt Nam 92

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 95

KẾT LUẬN CHUNG 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO i

PHỤ LỤC ix

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

Từ viết

tắt

Cụm từ tiếng Việt

BCĐKT Bảng cân đối kế toán

BCKQKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

HQKD Hiệu quả kinh doanh

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

TN Thu nhập

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

Từ viết

tắt

Cụm từ tiếng Anh Cụm từ tiếng Việt

FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định

GMM Generalized Method of

Moments

Phương pháp tổng quát hóa dựa trên moment

IMF International Money Fund Quỹ tiền tệ thế giới

OLS Ordinary Least Square Bình phương nhỏ nhất thông thường REM Random Effect Model Mô hình tác động ngẫu nhiên

SGMM System Generalized Method

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến

hiệu quả kinh doanh của ngân hàng 32

Bảng 3.1: Diễn giải các biến của mô hình 40

Bảng 3.2: Các biến trong mô hình nghiên cứu 49

Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến 55

Bảng 4.2: Biến động của ROA giai đoạn 2010 - 2019 56

Bảng 4.3: Biến động của ROE giai đoạn 2010 - 2019 57

Bảng 4.4: Biến động của DIV giai đoạn 2020 - 2019 58

Bảng 4.5: Tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình tác động đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng 65

Bảng 4.6: Kiểm định đa cộng tuyến 67

Bảng 4.7: Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (mô hình 1) 68

Bảng 4.8: Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (mô hình 2) 69

Bảng 4.9: Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp (mô hình 1) 70

Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả của 3 phương pháp (mô hình 2) 71

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình 1 với biến phụ thuộc ROA 74 Bảng 4.12: Kết quả hồi quy tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng ROA 75

Bảng 4.13: Kết quả hồi quy về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng ROE 81

Bảng 4.14: Tông hợp kết quả nghiên cứu 83

Bảng 4.15: Tổng hợp kết quả hồi quy theo phương pháp SGMM 85

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 37

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống NHTM Việt Nam giữ một vai trò quan trọng như thế nào đối với sự phát triển kinh tế đất nước là không thể phủ nhận Như huyết mạch của thị trường tài chính – tiền tệ nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung, các NHTM đóng một vai trò chủ đạo trong việc tận dụng các nguồn lực tài chính để phát huy, đáp ứng nhu cầu tín dụng của mọi đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của một đất nước Tuy nhiên, đi cùng với sự hội nhập quốc tế chủ động, tích cực giúp đất nước ngày một phát triển thì các NHTM Việt Nam đã và đang đối mặt với việc số lượng NHTM tăng lên đáng kể từ năm 2006 cùng áp lực cạnh tranh với những NHTM nước ngoài được phép mở ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam thêm những khó khăn khi số lượng và quy mô của các công ty tài chính, tổ chức tín dụng đang hoạt động kinh doanh trên thị trường tăng lên làm cho môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Chính vì vậy để có thể đứng vững trong thị trường tài chính cùng tồn tại và phát triển thì các NHTM tìm nhiều cách để góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cụ thể gia tăng số lượng khách hàng, mở rộng thị phần tín dụng cũng như nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để thu hút khách hàng Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, hiệu quả kinh doanh luôn

là một trong những vấn đề then chốt nhất đối với ngân hàng Bên cạnh thu nhập truyền thống từ lãi, các ngân hàng đã và đang kiếm thêm những nguồn thu nhập mới từ môi giới, đồng tài trợ, quản lý danh mục đầu tư, chuyển tiền, bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản (Allen và Santomero, 2001) Chính vì lẽ đó, sự đa dạng hóa thu nhập là một khía cạnh rất quan trọng cần đặc biệt quan tâm khi nhắc đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Cụ thể, Ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1058/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử

lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” Việc chuyển đổi mạnh mẽ mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng từ “độc canh tín dụng” sang mô hình đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phi tín dụng … là một trong những hành động NHTM Việt Nam

Trang 12

đã thực hiện để theo kịp xu hướng phát triển cạnh tranh và thực hiện tốt Đề án Chính phủ, góp phần đa dạng hóa thu nhập Các NHTM đã không lo ngại hiểm nguy với các lĩnh vực ngoài truyền thống, mạnh dạn hơn trong việc phát triển các hoạt động trung gian truyền thống như huy động vốn, cho vay sang các hoạt động có thu nhập ngoài lãi như kinh doanh ngoại hối, đầu tư chứng khoán, … làm đa dạng hóa thu nhập cho ngân hàng Khi thực hiện đa dạng hóa thu nhập, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ ảnh hưởng theo

Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là rất cần thiết đối với những nhà điều hành ngân hàng, người làm chính sách, những nhà quản lý, những nhà đầu tư vì đối với họ việc hiểu liệu đa dạng hóa thu nhập có góp phần tạo thêm giá trị cho ngân hàng hay không là vô cùng quan trọng

Đa số các tài liệu hiện có nghiên cứu chú trọng vào mối liên hệ giữa đa dạng hóa và hiệu quả hoạt động của ngân hàng hoặc tác động của đa dạng hóa đối với rủi

ro ngân hàng (Stiroh 2004a) Điều này có thể hiểu rằng đối với các nhà quản lý, các nhà giám sát thì mối quan tâm hàng đầu của họ là ngân hàng có thu nhập ổn định và khả năng chịu rủi ro cao Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa đến hiệu quả kinh doanh tuy nhiên kết quả chưa thống nhất và còn sự khác biệt với hai quan điểm trái ngược nhau lớn Cụ thể nghiên cứu Elsas, Hackethal & Holzhäuser (2010); Gurbuz, Yanik & Ayturk (2013); Lee, Yang & Chang (2014); Moudud-Ul-Huq, Zheng, Gupta & Ashraf (2018) cho rằng đa dạng hóa thu nhập sẽ làm tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong khi đó nghiên cứu của DeYoung và Rice (2004); Stiroh và Rumble (2006) cho rằng đa dạng hóa thu nhập làm phát sinh nhiều chi phí chuyển đổi, thu nhập ảnh hưởng làm rủi ro tăng lên

Tại Việt Nam, các nghiên cứu Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015);

Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015); Lê Văn Hậu và Phạm Xuân Quỳnh 2016; Nguyễn Minh Sáng (2017) đưa ra kết quả đa dạng hóa thu nhập làm tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam Nhưng khi thêm yếu tố rủi ro thì tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro trong ngân

Trang 13

hàng là khác nhau Cụ thể, Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015); Batten và

Võ Xuân Vinh (2016) đưa ra kết quả rằng đa dạng hóa làm giảm hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro của ngân hàng Trong khi đó nghiên cứu của Nguyễn Quang Khải (2016), Lê Văn Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) với kết quả ngược lại, đa dạng hóa làm tăng hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro của ngân hàng Tóm lại, các nghiên cứu thực nghiệm vẫn chưa có kết quả thông nhất về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro của ngân hàng

Nhìn chung, Việt Nam chỉ có một số ít nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của NHTM Hơn nữa, kết quả nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro tại NHTM Việt Nam có sự trái ngược nhau nên chưa có kết luận về lợi ích của đa dạng hóa thu nhập đối với ngân hàng Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu “TÁC ĐỘNG CỦA

ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM” là cần thiết góp phần hoàn thiện thêm vào khía cạnh đa dạng hóa thu nhập và mối tương quan của nó với hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam Kết quả của nghiên cứu này có thể được sử dụng với mục đích tham khảo giúp các NHTM Việt Nam có cơ sở để thực hiện đa dạng hóa thu nhập phù hợp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Dựa vào những lí do thực tế kể trên, kết hợp với khối lượng kiến thức tích lũy được qua quá trình học tập, và xuất phát từ mong muốn tìm hiểu của bản thân, đi vào phân tích để đem đến một góc nhìn, một cách đánh giá về các nhân tố đang tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam qua đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA

ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Xác định mức độ ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh

từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các

Trang 14

NHTM Việt Nam thông qua yếu tố đa dạng hóa thu nhập

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Đánh giá sự tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam

- Từ kết quả tác động, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Đa dạng hóa thu nhập có tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam không và nếu có thì tác động theo chiều hướng nào? Mức độ tác động của

đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng ra sao?

- Những giải pháp nào có thể góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh tại NHTM Việt Nam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: 28 NHTM Việt Nam gồm ABB, ACB, BAB, BIDV, BaoVietBank, BVB, CTG, EIB, HDB, KLB, LPB, MBB, MSB, NAB, NCB, OCB, PGB, SCB, SEAB, SGB, SHB, STB, TCB, TPB, VAB, VCB, VIB, VPB

- Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2019

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Tác giả sử dụng dữ liệu nghiên cứu được xem xét là dữ liệu từ các báo cáo tài

chính đã được kiểm toán của các NHTM đang hoạt động Dữ liệu được chọn từ năm

Trang 15

2010 - 2019 Các kênh thông tin lấy dữ liệu: thu thập từ các Website chính thức của các ngân hàng, dữ liệu từ WorldBank, dữ liệu của tổng cục thống kê Việt Nam và các

trang báo kinh tế điện tử uy tín

1.5.2 Phương pháp nghiên cứu

Thống kê mô tả: mô tả đặc tính cơ bản của bộ dữ liệu thu thập nhằm có cái nhìn tổng quát về mẫu nghiên cứu Thống kê các biến giải thích và biến phụ thuộc của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn năm 2010 đến 2019 qua đó thấy được giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của từng biến trong mô hình cũng như kích thước mẫu

Phương pháp định lượng: áp dụng mô hình hồi quy bình phương bé nhất dạng gộp Pooled OLS để hồi quy dữ liệu bảng bằng cách kết hợp mô hình hồi quy tác động

cố định (FEM), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) để xem xét, phân tích các yếu tố Để lựa chọn được mô hình tối ưu, ta tiến hành kiểm định F để lựa chọn giữa hai mô hình OLS và FEM, nếu giá trị xác suất Prob (Chi-square) nhỏ hơn mức

ý nghĩa 5% thì mô hình FEM tối ưu hơn, tiếp theo đó tiến hành kiểm định Hausman

để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM, nếu giá trị xác suất Prob (Random) nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% thì mô hình FEM được lựa chọn Cuối cùng sử dụng kiểm định Breusch & Pagan để lựa chọn OLS và REM (Nếu p-value của kiểm định Breusch & Pagan có giá trị nhỏ hơn 5%) thì lựa chọn mô hình REM

Sau khi lựa chọn mô hình phù hợp, nếu mô hình REM được lựa chọn, ta dựa vào mô hình REM để phân tích kết quả, nếu FEM được lựa chọn thì nghiên cứu tiếp tục thực hiện các kiểm định phương sai thay đổi và tự tương quan Nếu mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi, phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square) được sử dụng trong mô hình này có thể kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi Ngoài ra, bài nghiên cứu sử dụng SGMM để giải quyết vấn đề nội sinh, phương sai thay đổi và tự tương quan nhằm so sánh kết quả để mô hình nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh vững chắc hơn

Trang 16

1.6 Đóng góp của đề tài

So với các nghiên cứu trước, nghiên cứu này có một số đóng góp mới sau:

- Nghiên cứu này thực hiện kiểm tra tác động của đa dạng hóa thu nhập tới hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam qua hai phương pháp FGLS và SGMM để từ đó đưa ra kết luận chính xác nhất về tác động của đa dạng hóa

thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

- Ngoài ra, về mặt thực tiễn, nghiên cứu này góp phần giúp các NHTM Việt Nam xác định lợi ích của đa dạng hóa thu nhập đối với hiệu quả kinh doanh ngân hàng đồng thời gợi ý những chính sách để ngân hàng thực hiện đa dạng hóa thu nhập phù hợp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cung cấp những thông tin hữu ích cho những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn những vấn đề liên quan

1.7 Bố cục của luận văn

Đề tài nghiên cứu bao gồm 5 chương:

- Chương 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương 1 trình bày những vấn đề chung về nghiên cứu bao gồm lý do nghiên cứu; mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên, những đóng góp của nghiên cứu và kết cấu đề tài nghiên cứu Thông qua chương này, người đọc sẽ hình dung tổng quát về đề tài nghiên cứu

- Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương 2 giải thích khái niệm, cách đo lường đa dạng hóa thu nhập, đo lường hiệu quả kinh doanh và giới thiệu một số lý thuyết liên quan đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Chương này cũng lược khảo các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

- Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 17

Dựa trên cở sở lý thuyết chương 2, chương 3 trình bày mô hình nghiên cứu, giải thích cách đo lường các biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu đã sử dụng nhằm thu được kết quả phù hợp với mục tiêu

đề ra

- Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương 4 thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình, thực hiện các kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình và phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng.Từ kết quả đó đưa ra mô hình hồi quy phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và hiệu quả kinh doanh của các NHTM

- Chương 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 trình bày kết luận rút ra từ nghiên cứu và gợi ý một số giải pháp, chính sách để các NHTM Việt Nam thực hiện tăng đa dạng hóa thu nhập và tăng hiệu quả kinh doanh Ngoài ra, chương 5 cũng trình bày hạn chế của nghiên cứu này và hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ đề này

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTM

VIỆT NAM

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập ngân hàng

2.1.1.1 Khái niệm đa dạng hóa thu nhập ngân hàng

Theo lý thuyết tài chính nói chung, đa dạng hóa là một chiến lược làm giảm thiểu rủi ro phi hệ thống, là chiến lược nhiều trong quản trị đầu tư

Theo Sanya & Wolfe (2011), đa dạng hóa là một chiến lược đầu tư được thiết

kế bằng cách kết hợp một loạt các khoản đầu tư khác nhau nhằm giảm bớt rủi ro Với kết hợp này một danh mục đầu tư được tạo ra theo nhiều hướng và tất cả các khoản đầu tư không có khả năng di chuyển theo cùng một hướng Mục tiêu đa dạng hóa trong lý thuyết danh mục đầu tư chính là làm giảm rủi ro

Các nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) đều có chung quan điểm rằng đa dạng hóa thu nhập là sự tăng tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi và giảm dần tỷ trọng hoạt động từ lãi, do đó khi các ngân hàng thực hiện đa dạng hóa thu nhập thì thu nhập ngoài lãi gia tăng

Theo Elsas và cộng sự (2010), các NHTM thường đa dạng hóa thu nhập bằng cách chuyển sang các hoạt động thu phí từ các hoạt động kinh doanh truyền thống như tiền gửi và tiền vay để thu lãi; sau đó các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống khác như hoạt động đầu tư trên cơ sở thu nhập từ phí ổn định

để gia tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập hoạt động

Trang 19

Theo Mercieca, Schaeck & Wolfe (2007), trong lĩnh vực ngân hàng đa dạng hóa chia thành ba khía cạnh: (i) đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ tài chính, (ii) đa dạng hóa địa lý và (iii) kết hợp đa dạng hóa địa lý và sản phẩm dịch vụ tài chính

Mỗi ngân hàng có thể lựa chọn nhiều cách thức đa dạng hóa trong chiến lược kinh doanh của mình Các quyết định lựa chọn ấy với mục tiêu cuối cùng là làm cách nào gia tăng doanh thu, chi phí được giảm thiểu tối đa, lợi nhuận thu về ngày càng nhiều, tìm kiếm nhiều khách hàng và đảm bảo sự tồn tại, phát triển ổn định, bền vững cho ngân hàng Mục tiêu đó sẽ được thực hiện qua việc làm cho thu nhập ngân hàng tăng lên Do đó, đa dạng hóa thu nhập được xem là chỉ tiêu tốt nhất phản ánh kết quả của các chiến lược đa dạng hóa nhiều hơn là xem đó như một hình thức đa dạng hóa trong quá trình hoạt động của ngân hàng (Campa và Kedia 2002, Baele và cộng sự

2007, Chiorazzo và cộng sự 2008, Lepetit và cộng sự 2008)

Tóm lại, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng là việc nâng cao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập ngân hàng, mảng kinh doanh truyền thống (hoạt động tín dụng) được chuyển sang kinh doanh phi truyền thống nhờ thu phí dịch vụ như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới chứng khoán đầu tư, ngân hàng điện tử…) tạo thêm nguồn thu nhập cho ngân hàng Những dịch vụ phi tín dụng cần đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, nhiều tiện ích cao, giao dịch nhanh, chính xác và liên kết chặt chẽ để phát triển một cách đồng bộ

Như vậy, đa dạng hóa thu nhập ngân hàng chính là sự tăng thêm nguồn thu nhập ngoài lãi phát triển mảng kinh doanh phi truyền thống hay các sản phẩm tài chính của ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thẻ, mua bán ngoại tệ, thanh toán xuất nhập khẩu, môi giới đầu tư chứng khoán, hoa hồng đại

lý, ngân hàng điện tử, … hay nói cách khác ngân hàng phân chia giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi trong tổng thu nhập của ngân hàng thay vì tập trung vào hoạt động kinh doanh truyền thống để đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng

Trang 20

2.1.1.2 Phương pháp đo lường đa dạng hóa thu nhập

Theo Asif và Akhter (2019), đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng chủ yếu được đo lường thông qua tỷ lệ thu nhập ngoài lãi và chỉ số Herfindahl Hirschman

 Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi Thu nhập của ngân hàng chia thành 2 loại thu nhập chính là thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi (Gurbuz và cộng sự 2013)

Theo nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC, thu nhập ngân hàng là những khoản thu được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự; thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (trừ cổ phiếu), thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác Trong đó, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự là các khoản thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi từ kinh doanh, đầu tư chứng khoán nợ, thu từ nghiệp vụ bảo lãnh, thu lãi cho thuê tài chính, thu lãi từ nghiệp vụ mua bán nợ, thu khác từ hoạt động tín dụng Thu nhập từ hoạt động dịch vụ là các hoạt động thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, hoạt động dịch vụ khác Thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng là thu từ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh vàng, thu lãi chênh lệch tỷ giá, thu từ công cụ tài chính phái sinh tiền tệ Thu nhập ngoài lãi bao gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ; thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng; thu từ hoạt động kinh doanh chứng khoán, thu từ hoạt động góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần; thu từ hoạt động khác

Theo Lepetit và cộng sự (2008), Gurbuz và cộng sự (2013), các nghiên cứu tính thu nhập ngân hàng trên cơ sở thuần vì trên báo cáo tài chính của các ngân hàng, các hoạt động đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối được trình bày trên cơ sở thuần Cụ thể, tổng thu nhập thuần bằng tổng thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần, trong đó, thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, thu nhập ngoài lãi thuần là chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và chi phí ngoài lãi

Trang 21

Thu nhập lãi thuần = Thu nhập lãi – Chi phí lãi

Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi

= Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư + Thu nhập thuần khác

Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi

Trên báo cáo tài chính của NHTM Việt Nam, tổng thu nhập thuần của ngân hàng bao gồm thu nhập lãi thuần, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ, thu nhập thuần

từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, thu nhập thuần từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần Do đó, thu nhập ngoài lãi thuần của các NHTM Việt Nam trong bài nghiên cứu này được tính như sau:

Thu nhập thuần ngoài lãi = Thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ + Thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Thu nhập thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập thuần từ hoạt động khác + Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần

Ngoài ra, để đo lường đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng, các nghiên cứu liên quan như Stiroh (2004b), Lepetit và cộng sự (2008), Lee và cộng sự (2014), Batten và Vo (2016), Moudud-UlHud (2018) sử dụng tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng Tỷ lệ này được tính như sau:

NON = Thu nhập thuần ngoài lãi

Tổng thu nhập thuần

Giả thiết rằng các khoản thu nhập thuần đều dương thì tỷ lệ NON có giá trị từ 0 đến

1 Giá trị của NON càng cao thì đa dạng hóa thu nhập càng cao

 Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman

Để đo lường mức độ tập trung của các nguồn thu nhập của ngân hàng cụ thể

đo lường sự thay đổi giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, chỉ số Herfindahl Hirschman được sử dụng Theo nghiên cứu của Sanya và Wolf (2011), Gurbuz và

Trang 22

cộng sự (2013), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), chỉ số đa dạng hóa thu nhập được tính toán như sau:

HHI = (INT2 + NON2)

Thu nhập lãi thuần (NET) = Thu nhập lãi – Chi phí lãi

Thu nhập thuần ngoài lãi (NII) = Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi

= Thu nhập thuần từ dịch vụ + Thu nhập thuần từ kinh doanh đầu tư +Thu nhập thuần khác Tổng thu nhập thuần = Thu nhập lãi thuần + Thu nhập thuần ngoài lãi

Giả thiết các khoản thu nhập thuần đều dương thì HHI có giá trị từ 0.5 đến 1 Khi HHI có giá trị bằng 0.5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn toàn mà tại đó đem lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng, khi HHI bằng 1 nghĩa là mức thấp nhất của đa dạng hóa thu nhập Như vậy, HHI càng cao nghĩa là các ngân hàng có sự tập trung lợi nhuận đồng nghĩa đa dạng hóa thu nhập càng ở mức thấp

Theo nghiên cứu của Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008) Mức độ đa dạng hóa thu nhập được xác định thông qua chỉ số Herfindahl Hirschman như sau:

DIV = 1 – HHI = 1 – (INT2 + NON2) Cách tính này giúp giải thích ý nghĩa chỉ số đa dạng hóa thu nhập (DIV) dễ dàng hơn Có nghĩa là DIV càng cao thì đa dạng hóa thu nhập càng hoàn hảo Vì HHI

có giá trị từ 0.5 đến 1 nên DIV có giá trị từ 0 đến 0.5 Chỉ số DIV càng cao, càng gần 0.5 thì đa dạng hóa thu nhập càng cao Khi DIV càng xa 0.5 (bằng 0) nghĩa là tất cả thu nhập ngân hàng đều chỉ từ một nguồn (tức là tập trung hoàn toàn, đa dạng hóa

Trang 23

thấp nhất), trong khi DIV đạt cực đại bằng 0.5 nghĩa là đa dạng hóa hoàn hảo (có sự chia đều giữa thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi (Xem phụ lục 2)

 Đo lường đa dạng hóa thông qua tỷ lệ từng loại thu nhập ngoài lãi

Theo Elsa và cộng sự 2010, có thể phân chia chi tiết hơn các khoản thu nhập của ngân hàng theo nhóm các hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm thu nhập

từ lãi, thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu nhập từ kinh doanh, đầu tư và các khoản thu nhập khác Khi đó dựa vào chỉ số Herfindahl Hirschman điều chỉnh, đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng có thể được tính như sau:

HHIRD = 1 – (INT2 + COM2 + TRAD2 + OTH2)

Trong đó: INT: Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập thuần

COM: Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập thuần TRAD: Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh, đầu tư trên tổng thu nhập thuần OTH: Tỷ lệ thu nhập thuần từ hoạt động khác trên tổng thu nhập thuần

2.1.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh doanh ngân hàng

2.1.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh

tế, kỹ thuật, xã hội Hiệu quả có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

Theo các nhà kinh tế học cổ điển, tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo là mục tiêu các doanh nghiệp hoạt động hướng tới Các doanh nghiệp cũng hoạt động hướng đến tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện thị trường cạnh tranh độc quyền

Do đó, lợi nhuận là thước đo hiệu quả một doanh nghiệp

Hai tiêu chí đánh giá HQKD của một doanh nghiệp đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối

Hiệu quả tuyệt đối: được đo lường bằng kết quả kinh doanh trừ đi chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, khối lượng, lợi nhuận đạt được

Trang 24

trong điều kiện, thời gian và địa điểm cụ thể Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chỉ tiêu này khó có thể so sánh được với các doanh nghiệp có thể cùng quy mô với chiến lược kinh doanh theo hướng dài hạn, chưa thể hiện tuyệt đối trình độ sử dụng các nguồn lực trong mối quan hệ so sánh hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức

Hiệu quả tương đối: do lường dựa vào tỷ lệ so sánh giữa các yếu tố đầu ra và

đầu vào Hiệu quả kinh doanh tương đối được xác định như sau: Efficiency = output/ input hoặc Efficiency = input/ output Cách đánh giá này rất thuận tiện khi so sánh giữa các tổ chức có quy mô, phạm vi không gian và thời gian khác nhau

Theo Nguyễn Khắc Minh (2004), hiệu quả trong kinh tế được định nghĩa là

“mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ”

và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào” Như vậy, hiệu quả có thể được hiểu là mức độ thành công

mà các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu

ra mà ngân hàng cung cấp, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó

Như vậy, hiệu quả biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được

và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó, hiệu quả càng cao thì độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí để đánh giá sự thành công của các doanh nghiệp đó

Hiệu quả kinh doanh thể hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí sử dụng các nguồn lực hay là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh Nếu một ngân hàng đạt đến mức tối đa về kết quả đầu

ra trong điều kiện sử dụng tối ưu các yếu tố đầu vào cho trước thì được coi là hoạt động hiệu quả (Berger và Mester (1997))

Nguyễn Việt Hùng (2008) cho rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu, khả năng các yếu tố đầu vào biến đổi thành yếu tố đầu ra để tăng khả năng sinh lời đem lại hiệu quả đặt ra cũng như thiểu chi phí để có thể cạnh tranh với các định chế tài chính khác

Trang 25

Nhìn chung, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh của NHTM Mỗi quan điểm xuất phát từ góc nhìn khác nhau, trong đó, không có sự mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau Từ những cách hiểu về hiệu quả kinh doanh nêu trên và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh như

sau: “Hiệu quả kinh doanh của NHTM là phạm trù kinh tế phản ánh khả năng biến đổi đầu vào thành đầu ra, xem xét trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được từ kinh doanh của ngân hàng và chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra”

2.1.2.2 Phương pháp đo lường hiệu quả kinh doanh

Theo các nghiên cứu hiện nay trên thế giới cụ thể Berger và Humphrey (1997), Heffernan và Fu (2008) phân tích hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thường sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính và phương pháp phân tích hiệu quả biên

 Phương pháp sử dụng các chỉ số tài chính đo lường hiệu quả kinh doanh Phương pháp sử dụng chỉ số tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM là phương pháp tiếp cận truyền thống và phổ biến nhất vì dễ thực hiện và dễ hiểu Các cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng của ngân hàng thường sử dụng các chỉ số tài chính quan trọng để so sánh và đánh giá hoạt động của ngân hàng (Grazyna 2008)

Theo Nguyễn Thị Cành và cộng sự (2015), các chỉ số tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng gồm nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và nhóm chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ thu nhập – chi phí

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

+ Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản

ROA (return on assets) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng càng lớn Đây không những là chỉ tiêu quan trọng và rất phổ biến để đo lường khả năng sinh lời của NHTM mà còn sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp nói

Trang 26

chung ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản thành thu nhập ròng (Rose và Hudgin, 2008)

Nói cách khác, đây là chỉ tiêu cho biết bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ một đồng tài sản ROA càng cao cho thấy khả năng tạo ra thu nhập từ tài sản ngân hàng càng tốt, hiệu quả kinh doanh ngân hàng càng tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế Chỉ số ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hoặc cho vay không hợp lý làm thu nhập của ngân hàng giảm hoặc cũng

có thể do chi phí hoạt động của ngân hàng ở mức cao Theo thông lệ quốc tế, chỉ tiêu ROA ≥ 1% thể hiện ngân hàng đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng tổng tài sản (Trần Thọ Đạt và Lê Thanh Tâm, 2016) Theo CAMEL, ngân hàng đạt hiệu quả nhất khi tỷ lệ ROA ≥ 1.5% (Rozzani và Rahman, 2013)

+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng vốn chủ sở hữu

Chỉ tiêu ROE (return on equity) cũng là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến để đo lường khả năng sinh lời của cả ngân hàng và doanh nghiệp Chỉ số này phản ánh khả năng tìm kiếm lợi nhuận ròng của ngân hàng trên 1 đồng vốn chủ sở hữu Chính vì vậy, đây là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng ROE thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý) Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả kinh doanh nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu cao được đánh giá là tốt, thể hiện khả năng của ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, hay nói cách khác, thể hiện sự tối ưu hóa trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng Theo thông lệ quốc tế (Dịch vụ nhà đầu tư của Moody: MIS-39 Moody’s Investors Service), ROE ≥ 12%-15% được coi là tốt Tại Việt Nam: ROE được xem là tốt nếu nằm trong khoảng từ 14% - 17% (Trần Thọ Đạt và Lê Thanh Tâm, 2016) Theo tiêu chuẩn của CAMEL, ngân hàng đạt hiệu quả nhất khi chỉ tiêu ROE ≥ 22% (Rozzani và Rahman,

Trang 27

2013) Chỉ tiêu ROE càng cao phản ánh lợi nhuận ròng các cổ đông của ngân hàng nhận được càng cao

+ Tỷ lệ thu nhập cận biên (NIM)

NIM = (Thu từ lãi – Chi phí lãi)/ Tổng tài sản

Hoặc NIM = (Thu từ lãi – Chi phí lãi)/ Tổng tài sản sinh lời

Tỷ lệ này đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà NH có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất NIM thể hiện hiệu quả của hoạt động huy động và cho vay thông qua việc kiểm soát tài sản sinh lời và tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp Tỷ lệ này cho thấy năng lực của nhà quản lý và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng nguồn thu từ lãi so với chi phí trả lãi của ngân hàng

Ngoài hoạt động truyền thống là huy động và cho vay, các ngân hàng hiện nay

có chủ trương phát triển các dịch vụ và thu nhập tạo ra từ hoạt động này đang ngày càng thể hiện việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, các chỉ

số NNIM, NBOM thể hiện việc tăng trưởng tổng nguồn thu (chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với tổng chi phí của ngân hàng (chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên,và phúc lợi)

và cũng được xem là một thước đo hiệu quả về mặt tài chính

NNIM = (Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi)/ Tổng tài sản

NBOM = (Tổng thu hoạt động – Chi phí hoạt động)/ Tổng tài sản

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ thu nhập – chi phí:

Tổng chi phí hoạt động/ Tổng thu từ hoạt động: phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động ngân hàng

Thu nhập hoạt động/ Số nhân viên làm việc quy đổi theo toàn thời gian: phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của ngân hàng

Trang 28

Tổng thu hoạt động/ Tổng tài sản: phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản Hệ số này lớn cho biết ngân hàng đã phân bổ danh mục tài sản một cách hợp lý nhằm nâng cao lợi nhuận của ngân hàng

Phương pháp đo lường hiệu quả kinh doanh qua các chỉ số tài chính được sử dụng phổ biến vì dễ thực hiện và dễ hiểu Trong điều kiện dữ liệu thị trường hạn chế thì cách tiếp cận này là lựa chọn phổ biến trong các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, khi thực hiện đánh giá hiệu quả kinh doanh qua các chỉ

số tài chính thì mỗi chỉ tiêu tài chính biểu hiện mối quan hệ giữa hai biến số, phản ánh một khía cạnh trong hoạt động của NHTM Vì vậy, để đánh giá toàn diện hiệu quả kinh doanh của NHTM, chúng ta phải sử dụng hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau

Bên cạnh phương pháp phân tích các chỉ số tài chính, các nhà kinh tế còn sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các NHTM

 Phương pháp đo lường hiệu quả kinh doanh bằng phân tích hiệu quả biên: Phân tích hiệu quả biên là phương pháp xác định chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị với một đơn vị hoạt động tốt nhất trên đường biên Khi so sánh với các ngân hàng khác, đây cũng là kết quả tốt nhất mà một ngân hàng đang thực hiện Những thông tin này giúp các nhà quản trị đánh giá được tình hình hoạt động hiện tại của ngân hàng và tìm ra các biện pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (Nguyễn Việt Hùng 2008) Hai phương pháp chính để ước tính thực nghiệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng theo phương pháp phân tích hiệu quả biên thường được sử dụng là: phương pháp tiếp cận tham số

và phi tham số (Nguyễn Minh Sáng 2014)

Theo Berger và Humphrey (1997), phương pháp tiếp cận tham số có 3 phương pháp chính là: phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Approach - SFA), phân tích Thick Frontier Approach (TFA) và phân tích Distribution Free Approach (DFA) Phương pháp phân tích phi tham số bao gồm phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) và phương pháp xử lý yếu tố tự do Hull (Free Disposal

Trang 29

Hull - FDH) Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) là phương pháp phân tích đặc trưng nhất của phương pháp phân tích hiệu quả biên theo cách tiếp cận tham

số và phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) là phương pháp phân tích đặc trưng nhất của phương pháp phân tích hiệu quả biên theo cách tiếp cận phi tham số

Cách tiếp cận tham số đòi hỏi phải chỉ định cụ thể mối quan hệ hay dạng hàm giữa đầu vào và đầu ra, điều này có thể cho những kết luận sai nếu việc chỉ định dạng hàm là không đúng

Kết quả tính của phương pháp DEA không phải là tuyệt đối vì hiệu quả chỉ xem xét trong mẫu nghiên cứu nên kết quả chỉ mang tính tương đối, trong những mẫu nghiên cứu khác nhau thì hiệu quả tương đối khác nhau, có ngân hàng hiệu quả trong mẫu nghiên cứu này nhưng không hiệu quả trong mẫu nghiên cứu khác (Huỳnh Thị Hương Thảo 2017)

Asif và Akhter (2019) trong nghiên cứu khảo lược về đa dạng hóa trong ngân hàng đã kết luận hầu hết các nghiên cứu về đa dạng hóa thì hiệu quả kinh doanh của ngân hàng được phân tích dựa vào ROA, ROE hoặc các chỉ số CAMEL Khóa luận

sẽ tiếp cận đo lường hiệu quả kinh doanh ngân hàng theo phương pháp dùng chỉ số tài chính và ROA, ROE được sử dụng để đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam

2.1.3 Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh ngân

hàng

Đa dạng hóa thu nhập ngân hàng tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

có thể được giải thích bởi lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại và lý thuyết kinh tế theo quy mô (economies of scale) Theo Athanasoglou và cộng sự (2006), hai lý thuyết

mà các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh ngân hàng dựa là lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power - MP) và cấu trúc hiệu quả (Efficiency Structure - ES) Ngoài

ra, Lý thuyết danh mục đầu tư bổ sung cái nhìn sâu sắc hơn vào nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng (Atemnkeng và Nzongang 2006) Vì vậy, nghiên cứu trình bày việc vận dụng nội dung của các lý thuyết trên để giải thích việc các ngân hàng thực

Trang 30

hiện đa dạng hóa thu nhập cũng như giải thích tác động của đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố khác đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

2.1.3.1 Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) là lý thuyết cho phép các nhà đầu

tư không thích rủi ro có thể xây dựng danh mục đầu tư một cách tối ưu hóa hay tối

đa hóa lợi nhuận kì vọng trên một mức độ rủi ro thị trường nhất định, với rủi ro là một phần cần đánh đổi để có lợi nhuận cao hơn Lý thuyết được Harry Markowtitz - người được giải thưởng Nobel cho việc phát triển lý thuyết MPT giới thiệu trong bài

báo “Lựa chọn danh mục đầu tư", được xuất bản năm 1952 bởi tạp chí Journal of Finance

Danh mục đầu tư tối ưu có thể được xây dựng một “đường biên hiệu quả” để mang lại lợi nhuận kì vọng tối đa có thể cho một mức độ rủi ro nhất định Một danh mục hiệu quả là một danh mục mà với mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho sẵn thì có rủi

ro là thấp nhất Rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn

Lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư được phát triển bởi Markowitz và Jame (Levy & Sarnat (1970)) cho rằng khi thực hiện đa dạng hóa danh mục đầu tư rủi ro cá thể sẽ được giảm Đa dạng hóa danh mục có thể mang lại lợi nhuận nhưng mức độ đa dạng hóa có thể làm giảm rủi ro hay không thì còn phụ thuộc vào sự tương quan giữa các khoản đầu tư trong danh mục Ứng dụng lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư cho thấy đa dạng hóa thu nhập sẽ mang lại hiệu quả gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng khi các nguồn thu nhập là độc lập và không có tương quan thuận khi rủi ro xảy ra và ngược lại

Ngoài ra, đóng vai trò quan trọng và liên quan nhất trong nghiên cứu hiệu quả của ngân hàng chính là lý thuyết danh mục đầu tư (Atemnkeng và Nzongang 2006) Theo mô hình cân bằng danh mục đầu tư của đa dạng hóa tài sản, việc nắm giữ tối ưu từng tài sản trong danh mục đầu tư của một người là do các quyết định chính sách được xác định bởi một số yếu tố, chẳng hạn như tỷ lệ lợi tức của tất cả các tài sản nắm giữ trong danh mục đầu tư, rủi ro liên quan đến quyền sở hữu của từng tài sản

Trang 31

tài chính và quy mô của danh mục đầu tư Điều này ngụ ý đa dạng hóa danh mục đầu

tư và thành phần danh mục đầu tư mong muốn của các ngân hàng thương mại là kết quả của các quyết định của ban quản lý ngân hàng Hơn nữa, khả năng thu được lợi nhuận tối đa phụ thuộc vào tài sản và nợ phải trả được xác định bởi ban quản lý và chi phí đơn vị mà ngân hàng phải chịu để có từng loại tài sản (Atemnkeng và Nzongang 2006)

Vận dụng lý thuyết, có thể thấy rằng việc giảm rủi ro và tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh là kết quả các ngân hàng thực hiện đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập góp phần gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng khi các nguồn thu nhập là độc lập và không có tương quan thuận khi rủi ro xảy ra và ngược lại Vì vậy, nghiên cứu đã xây dựng mô hình nghiên cứu đa dạng hóa tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng với giả thuyết đa dạng hóa thu nhập sẽ làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

2.1.3.2 Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô

Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô được phát triển bởi Panzar và Willig (1977)

Lý thuyết này cho rằng khi doanh nghiệp mở rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ

mà doanh nghiệp đang cung cấp thì chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm Doanh nghiệp

có cơ hội chuyển đổi nguồn lực và chia sẻ nguồn lực dùng chung khi doanh nghiệp thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, nhất là đa dạng hóa các sản phẩm và dịch

vụ có liên quan (Markides và Williamson 1994) Nếu hai hay nhiều lĩnh vực kinh doanh cùng chia sẻ một số nguồn lực dùng chung thì tổng chi phí sản xuất sẽ giảm xuống và từ đó làm cho hiệu quả tăng lên (Panzar và Willig 1977)

Ngân hàng có thể vận dụng lý thuyết này để thực hiện đa dạng hóa các dịch

vụ ngân hàng (hay liên quan đến lĩnh vực ngân hàng) bằng cách có thể sử dụng chung các nguồn lực như công nghệ, nhân lực, cơ sở vật chất, thông tin… nhờ đó tiết giảm được chi phí Kết quả là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng có thể tăng lên Khi đa dạng hóa trong lĩnh vực có liên quan thì ngân hàng cũng tận dụng được kỹ năng quản

lý, kiểm soát được rủi ro nên rủi ro có thể giảm xuống Vì vậy, nghiên cứu này đã xây

Trang 32

dựng mô hình nghiên cứu đa dạng hóa tác động đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

với giả thuyết đa dạng hóa thu nhập sẽ làm tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

2.1.3.3 Lý thuyết quyền lực thị trường

Lý thuyết quyền lực thị trường với giả thuyết quyền lực thị trường cho rằng thị phần của doanh nghiệp tăng lên là biểu hiện của quyền lực thị trường và doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận cao hơn nhờ sức mạnh của quyền lực thị trường Theo Olweny

và Shipho (2011), có hai cách tiếp cận khác nhau trong lý thuyết MP là Cấu trúc – Hành vi - Hiệu quả (Structure – Conduct – Performance - SCP) và Sức mạnh thị trường tương đối (Relative Market power - RMP) SCP cho rằng cấu trúc thị trường quyết định hành vi của công ty và hành vi quyết định kết quả trên thị trường như khả năng sinh lợi, cải tiến kỹ thuật và tăng trưởng (Olweny và Shipho 2011) Theo cách tiếp cận của SCP, mức độ tập trung trong thị trường ngân hàng làm tăng sức mạnh thị trường tiềm năng của các ngân hàng, điều này có thể làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Các ngân hàng ở các thị trường tập trung nhiều khả năng tạo ra lợi nhuận bất thường bởi khả năng hạ lãi suất tiền gửi và tính lãi suất cho vay cao hơn do độc quyền,

so với các công ty hoạt động ở các thị trường ít tập trung hơn, không phân biệt về hiệu quả của các công ty đó (Tregenna 2009) Không giống như SCP, hướng tiếp cận RMP đặt ra rằng lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi thị phần Hướng tiếp cận RMP giả định rằng chỉ những ngân hàng lớn với các sản phẩm khác biệt mới có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm được lợi nhuận không cạnh tranh (non-competitive profits) (Athanasoglou và cộng sự 2008) Vì vậy, một số ngân hàng lớn với thế mạnh về thương hiệu và chất lượng sản phẩm có thể tăng giá sản phẩm và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn

2.1.3.4 Lý thuyết cấu trúc hiệu quả

Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES), được đề xuất bởi Demsetz (1973) đưa ra ý kiến rằng các doanh nghiệp hiệu quả nhất có được cả lợi nhuận và thị phần cao hơn; các doanh nghiệp tăng lợi nhuận là kết quả gián tiếp của việc cải thiện hiệu quả quản trị chứ không phải sức mạnh của thị trường Theo Olweny và Shipho (2011), có hai

Trang 33

cách tiếp cận khác nhau trong ES: hướng theo hiệu quả X (X-efficiency) và theo hiệu quả quy mô (Scale – efficiency) Trong cách tiếp cận theo hiệu quả X, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thường đạt được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn, bởi vì các doanh nghiệp này có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu

ra nào Nói cách khác, các doanh nghiệp hiệu quả hơn có lợi nhuận cao hơn do chi phí thấp hơn (Olweny và Shipho 2011) Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả có xu hướng giành được thị phần lớn hơn, có thể biểu hiện ở mức độ cao hơn về sự tập trung thị trường, nhưng không có bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào từ sự tập trung đến lợi nhuận (Athanasoglou và cộng sự 2006) Theo Berger (1995), hiệu quả quản

lý không chỉ làm tăng lợi nhuận mà còn có thể dẫn đến tăng thị phần và do đó, tăng

sự tập trung; vì thế, việc tìm ra mối quan hệ tích cực giữa tập trung và lợi nhuận có thể là kết quả giả do mối tương quan với các biến khác Vì vậy, kiểm soát các yếu tố khác, vai trò của sự tập trung ảnh hưởng đến lợi nhuận là không đáng kể (Berger 1995)

Các ngân hàng kiếm được lợi nhuận cao vì các ngân hàng này hoạt động hiệu quả hơn các ngân hàng khác, có thể hiểu do hiệu quả quản lý của các ngân hàng cao nên kiếm lợi nhuân cao Có thể thấy lý thuyết cấu trúc hiệu quả đối với ngân hàng đước vấn dụng trong việc đánh giá chất lượng lợi nhuận mà ngân hàng đạt được qua hiệu quả quản lý của ngân hàng

Như vậy, có thể thấy lý thuyết quyền lực thị trường cho rằng, khả năng sinh lợi của ngân hàng là một hàm theo yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết cấu trúc hiệu quả và danh mục đầu tư cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng các yếu tố nội tại cụ thể của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, Do đó, nhiều nhà nghiên cứu dựa vào lý thuyết trên để sử dụng các biến có ý nghĩa đưa vào mô hình đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và phần lớn đều thừa nhận rằng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny

và Shipho 2011) Các yếu tố bên trong ngân hàng là những đặc điểm riêng của ngân hàng như mức độ đa dạng hóa thu nhập quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay khách hàng,… trong khi các yếu tố bên ngoài

Trang 34

bao gồm các yếu tố của ngành như mức độ tập trung ngành và yếu tố môi trường vĩ

mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, … Vận dụng các lý thuyết trên, nghiên cứu đã đưa các yếu tố thuộc đặc điểm bên trong của ngân hàng và cả các yếu tố bên ngoài thuộc vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDPG, tỷ lệ lạm phát khi xây dựng mô hình đa dạng hóa thu nhập tác động đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Với câu hỏi “Các ngân hàng thương mại có nên đa dạng hóa các dịch vụ, sản phẩm tài chính và tăng cường sự hiện diện tại các vùng lãnh thổ và quốc gia khác nhau hay không?” thì các nghiên cứu thực nghiệm hiện nay về hoạt động của các ngân hàng thương mại vẫn chưa đưa ra được câu trả lời thuyết phục cho điều đó Trái lại, các nghiên cứu trước đây đưa đến 2 quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (Berger và cộng sự 2010)

2.2.1 Đa dạng hóa thu nhập tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh

doanh ngân hàng

Đa dạng hóa thu nhập tăng cường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và mức

độ ổn định, cụ thể là tăng lợi nhuận và giảm rủi ro cho các ngân hàng Thực tế, để đo lường mức độ đa dạng hóa trong hoạt động ngân hàng các nhà nghiên cứu thường nhìn vào nguồn thu nhập ngoài lãi Đây là nguồn thu nhập từ việc mở rộng, phát triển các sản phẩm, cung cấp hàng loạt các dịch vụ tài chính từ bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán, các chính sách bảo hiểm, … Điều này giúp giảm chi phí hoạt động,

ngoài ra cũng giúp tiết kiệm chi phí tiềm năng nhờ vào việc chia sẻ các yếu tố đầu vào cũng, từ đó giúp lợi nhuận ngân hàng gia tăng (Baele và cộng sự 2007, Stiroh 2004a) Các ngân hàng nếu cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ hơn sẽ tạo ra nhiều nhu cầu hơn và sẽ kiếm được nhiều thu nhập hơn

Trang 35

Những nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ cho giả thuyết đa dạng hóa thu nhập làm tăng hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng cụ thể như Elsas và cộng sự (2010),

Sanya và Wolfe (2011), Gurbuz và cộng sự (2013), Lee và cộng sự (2014), Ul-Huq và cộng sự (2018), …

Moudud-Elsas và cộng sự (2010) kiểm tra sự đa dạng hóa doanh thu ảnh hưởng đến giá trị ngân hàng bằng cách sử dụng dữ liệu bảng từ chín quốc gia (Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Anh, Mỹ, Tây Ban Nha và Thụy Sĩ) trong giai đoạn 1996-2008 Kết quả nghiên cứu thông qua hồi quy với tác động cố định cho thấy đa dạng hóa làm tăng lợi nhuận, do đó làm tăng giá trị thị trường

Sanya và Wolfe (2011) phân tích mẫu quan sát gồm các ngân hàng thương mại

từ 11 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 2000 – 2007 đã chỉ ra rằng đa dạng hóa giúp tăng cường khả năng sinh lời và mức độ ổn định của các ngân hàng thương mại Tiếp theo, nghiên cứu của Kohler (2014) về các ngân hàng thương mại ở Đức chỉ ra rằng các khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của các ngân hàng theo xu hướng bán lẻ được cải thiện rõ nét khi các đơn vị này tăng cường cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính bên ngoài hoạt động cho vay truyền thống

Gurbuz và cộng sự (2013) nghiên cứu áp dụng phương pháp GMM trên dữ liệu bảng của 26 ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thời gian 2005 – 2011 để phân tích mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ với kết quả hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro ngân hàng tăng khi tiến hành đa dạng hóa thu nhập

Lee và cộng sự (2014) dùng phương pháp GMM với dữ liệu từ 22 nước của Châu Á từ 1995 – 2009 để kiểm tra tác động của thu nhập ngoài lãi đến rủi ro và lợi nhuận của 967 ngân hàng Trong mô hình nghiên cứu này, biến phụ thuộc là lợi nhuận (ROA, đo bằng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản trung bình; ROE, đo bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn chủ sở hữu trung bình) và rủi ro ngân hàng (đo bằng

độ lệch chuẩn của ROA và độ lệch chuẩn của ROE) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động (biến này cũng thể hiện sự đa dạng hóa thu nhập ngân hàng),

Trang 36

quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, tỷ lệ cho vay khách hàng trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng tài sản, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản là các biến độc lập được sử dụng trong mô hình Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động phi lãi của ngân hàng Châu Á làm giảm rủi

ro nhưng không làm tăng lợi nhuận của ngân hàng

Moudud-Ul-Huq và cộng sự (2018) áp dụng phương pháp GMM để phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập và đa dạng hóa tài sản đến hiệu quả và rủi ro của các ngân hàng ở các nước mới nổi ở Đông Nam Á gồm Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philippin và Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015 Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu đều hưởng lợi từ đa dạng hóa: đa dạng hóa trong ngân hàng làm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro Tuy nhiên đa dạng hóa không đem lại lợi ích một cách đồng nhất cho các ngân hàng Đa dạng hóa thu nhập đem lại tác động tích cực mạnh mẽ đến hiệu quả và ổn định của các ngân hàng, còn tác động của đa dạng hóa tài sản thay đổi tùy quốc gia

Có thể thấy rằng, đa dạng hóa thu nhập sẽ giúp thu nhập cao hơn, từ đó có lợi nhuận cao hơn Ngoài ra, đa dạng hóa thu nhập làm giảm sự phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn thu nhập truyền thông từ lãi Điều này sẽ làm nguồn thu của ngân hàng ít

bị biến động hơn ngay cả khi hoạt động tín dụng gặp khó khăn

Việc mở rộng kinh doanh sang mảng dịch vụ, đầu tư, kinh doanh phi truyền thống giúp ngân hàng mở rộng thị trường tăng khả năng tiếp xúc và phục vụ khách hàng đa dạng hơn Theo nghiên cứu của Baele và cộng sự (2007) khi mở rộng hoạt động ở mảng dịch vụ, đầu tư, kinh doanh… ngân hàng tiết kiệm được nguồn chi phí

về nhân lực, công nghệ và thông tin Đồng thời ngân hàng còn có thể mở rộng thêm bán chéo sản phẩm hiện có với các khách hàng để gia tăng lợi nhuận Tận dụng được mối quan hệ với khách hàng để có thể giới thiệu nhiều sản phẩm dịch vụ mới góp phần gia tăng thị phần mang lại nhiều nguồn thu nhập hơn cho ngân hàng

Trang 37

2.2.2 Đa dạng hóa thu nhập tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh

doanh của ngân hàng

Bên cạnh những lợi ích của đa dạng hóa, trái ngược quan điểm với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu ở các nước Mỹ như DeYoung và Roland (2001), Stiroh (2004a, 2004b), Stiroh và Rumble (2006) và Châu Âu như của Mercieca và cộng sự (2007), Lepetit và cộng sự (2008) và các nghiên cứu khác chỉ ra rằng việc đa dạng hóa thu nhập làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và làm tăng rủi ro

Nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001) nghiên cứu tại Mỹ với bộ dữ liệu

472 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 1988 – 1995 kết luận rằng ngân hàng khi tăng cường thu nhập ngoài lãi thì công nghệ và nguồn lực con người được đầu tư hơn

từ đó gia tăng đòn bẩy hoạt động và làm rủi ro cao hơn

Tác giả Stiroh (2004a) thực hiện nghiên cứu tại các ngân hàng cộng đồng tại

Mỹ trong giai đoạn 1984 – 2000 cho thấy đa dạng hóa thu nhập thì làm giảm hiệu quả kinh doanh đối với ngân hàng nhỏ Trong khi đó đa dạng hóa thu nhập sẽ góp phần gia tăng hiệu quả kinh doanh và giảm rủi ro đối với các ngân hàng có quy mô lớn hơn Ngân hàng nhỏ có ít kinh nghiệm quản trị hơn so với ngân hàng có quy mô lớn nên việc gia tăng nguồn thu nhập từ hoạt động ngoài lãi có nhiều rủi ro hơn

Stiroh (2004b) nghiên cứu hệ thống ngân hàng ở Mỹ trong giai đoạn 1984 –

2001 và kết quả cho thấy: tỷ lệ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và tỷ lệ tăng trưởng thu nhập ngoài lãi có mối tương quan mạnh với nhau Ngoài ra, nghiên cứu này kết luận rằng thu nhập ngoài lãi và lợi nhuận ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với nhau

Dó đó nhóm tác giả kết luận rằng khi ngân hàng thực hiện đa dạng hóa thu nhập ít mang về lợi ích cho ngân hàng

DeYoung và Rice (2004) thực hiện nghiên cứu với 4.712 ngân hàng Mỹ giai đoạn 1989 – 2001 phân tích mối tương quan giữa thu nhập ngoài lãi lãi và hiệu quả tài chính của ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập ngoài lãi tác động ngược chiều với hiệu quả tài chính điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng Mỹ bằng hồi qui với phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS)

Trang 38

Stiroh và Rumble (2006) tiến hành nghiên cứu với các công ty tài chính Mỹ giai đoạn 1997 – 2002 để tìm ra chiều hướng tác động giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro Kết quả nghiên cứu đã kết luận rằng những lợi ích mà đa dạng hóa mang lại đã bù đắp qua các khoản chi phí cho hoạt động ngoài lãi nên đa dạng hóa không làm gia tăng hiệu quả điều chỉnh rủi ro của ngân hàng bằng cách hồi qui với phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS

Ngoài ra, Delpachitra và Lester (2013) nghiên cứu việc đa dạng hóa của các ngân hàng tại Úc giai đoạn từ 2000 – 2009 cho thấy rằng việc đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng không góp phần cải thiện lợi nhuận và cũng không giúp giảm thiểu rủi

ro hoạt động

2.2.3 Các nghiên cứu ở Việt Nam về tác động của đa dạng hóa thu nhập

đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh và rủi ro của các ngân hàng Các nghiên cứu này đa số cho kết quả là đa dạng hóa làm tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam Nhưng khi xét thêm yếu tố rủi ro thì kết quả tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro trong ngân hàng là khác nhau Kết quả của

Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) cho rằng đa dạng hóa và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của ngân hàng tác động ngược chiều nghĩa là hiệu quả kinh doanh điều chỉnh rủi ro giảm khi ngân hàng tiến hành đa dạng hóa Batten và Võ Xuân Vinh (2016) cũng ủng hộ quan điểm là đa dạng hóa làm rủi ro ngân hàng gia tăng và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro giảm Trong khi đó các nghiên cứu của Nguyễn Quang Khải (2016), Lê Văn Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2017) cho kết quả hiệu quả điều chỉnh rủi ro của ngân hàng sẽ tăng khi tiến hanh đa dạng hóa

Cụ thể như Hồ Thị Hồng Minh, Nguyễn Thị Cành (2015) tiến hành kiểm định

22 NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2013 để xem xét mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố khác tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam Kết quả ước lượng bằng phương pháp SGMM (System Generalized

Trang 39

method of moment), cho thấy chỉ số đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi khách hàng và lạm phát tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam Trong khi có tương quan nghịch chiều giữa tỷ lệ

nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động với khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam Nghiên cứu chưa tìm thấy quy mô tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối tương quan với khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam

Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) sử dụng dữ liệu bảng từ 37 ngân hàng giai đoạn 2006-2013 nghiên cứu tác động của đa dạng hóa đến lợi nhuận

và rủi ro của NHTM Việt Nam Kết quả hồi qui với ước lượng tác động cố định, tác động ngẫu nhiên và GMM cho thấy rằng ngân hàng Việt Nam đạt lợi nhuận cao khi tiến hành đa dạng hóa nhưng mức độ đa dạng hóa thu nhập càng cao, lợi nhuận điều chỉnh rủi ro giảm (tức rủi ro gia tăng)

Lê Văn Hậu, Phạm Xuân Quỳnh (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam với dữ liệu bảng của

26 ngân hàng thời kỳ 2006-2014 Kết quả hồi quy dữ liệu bảng với mô hình tác động

cố định và tác động ngẫu nhiên cho thấy đa dạng hóa có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam

Batten và Võ Xuân Vinh (2016) sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS và tác động cố định FEM với dữ liệu của 35 ngân hàng tìm hiểu mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và rủi ro ở Việt Nam Tác giả đưa ra kết quả rằng các ngân hàng thay đổi sang các hoạt động ngoài lãi thì lợi nhuận có điều chỉnh rủi

ro mang lại cao hơn (tức rủi ro cao hơn)

Nguyễn Quang Khải (2016) xem xét mối quan hệ giữa việc đa dạng hóa thu nhập và hiệu suất điều chỉnh rủi ro trong hoạt động ngân hàng thông qua dữ liệu hàng năm của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015 Bằng phương pháp ước lượng của GMM, nghiên cứu cho kết quả là đa dạng hóa thu nhập làm tăng hiệu suất điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 40

Lê Văn Hậu, Phạm Xuân Quỳnh (2017) nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam bằng cách sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của 26 ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm

2006 đến năm 2016 Kết quả ước lượng với tác động cố định FEM và tác động ngẫu nhiên REM cho thấy thu nhập ngoài lãi có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng, khả năng sinh lời

sẽ tăng khi tăng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, kinh doanh, đầu tư

Võ Xuân Vinh (2017) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị thị trường chứng khoán với đa dạng hóa ngân hàng thông qua dữ liệu từ NHTM Việt Nam niêm yết giai đoạn 2006-2014 Kết quả cho thấy mối quan hệ ngược chiều, ám chỉ các nhà đầu

tư thích ngân hàng tập trung vào các hoạt động truyền thống hơn

Nguyễn Minh Sáng (2017) sử dụng dữ liệu 34 ngân hàng trong giai đoạn

2007-2015 tiến hành phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả hoạt động, bằng phương pháp hồi qui Tobit Kết quả cũng ửng hộ quan điểm rằng đa dạng hóa

có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng

Tóm lại, qua phần tổng quan các nghiên cứu trước thì có rất nhiều nghiên cứu

ở nước ngoài về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng ở Mỹ, Châu Âu, cũng như các nước mới nổi Kết quả của các nghiên cứu này cũng có sự trái ngược nhau Về mặt lý thuyết thì khi các ngân hàng đa dạng hóa

sẽ làm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro cho các ngân hàng Đã có những nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ cho giả thuyết này như Chiorazzo và cộng sự (2008), Elsas và cộng sự (2010), Gurbuz và cộng sự (2013), Meslier và cộng sự (2014), Lee và cộng

sự (2014), Moudud-Ul-Huq và cộng sự (2018) Tuy nhiên, một số nghiên cứu ở các nước Mỹ và Châu Âu cho kết quả ngược lại, nghĩa là đa dạng hóa làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và làm tăng rủi ro như kết quả các nghiên cứu của DeYoung và Rice (2004), Stiroh và Rumble (2006), Lepetit và cộng sự (2008)

Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh và rủi ro của các ngân hàng Các nghiên cứu này đều

Ngày đăng: 15/06/2021, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w