TÓM TẮT Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tác động của nỗi sợ thất bại trong kinh doanh đối với quyết định khởi nghiệp đối với sinh viên đại học chuẩn bị tốt nghiệp tại Thành phố
GIỚI THIỆU
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam đang ngày càng phát triển thông qua các nổ lực của Chính phủ Bên cạnh đó, nhiều chương trình, chính sách và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp đang được xây dựng để thúc đẩy phong trào khởi nghiệp ở Việt Nam Kết quả này đã giúp cộng đồng khởi nghiệp có thêm nhiều cơ hội và khả năng để khởi nghiệp thành công Ngày càng có nhiều người tham gia khởi nghiệp để thành lập ra các dự án kinh doanh Doanh nhân ngày nay nhận được nhiều tôn trọng trong xã hội hơn Chính những nhận thức tích cực này sẽ góp phần tạo cơ hội, thúc đẩy việc khởi nghiệp kinh doanh, giúp các doanh nhân ngày một phát triển hơn
Trong quá trình quyết định khởi nghiệp, các nỗi sợ trong kinh doanh được xác định là một rào cản đáng kể đối với việc ra quyết định đưa kế hoạch khởi nghiệp vào thực tế Cơ quan giám sát tinh thần khởi nghiệp toàn cầu (GEM) xác định sợ thất bại như một yếu tố kìm hãm mạnh mẽ để nắm bắt cơ hội và chuyển đổi ý định kinh doanh thành hành động khởi nghiệp
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có một số bài nghiên cứu về quyết định khởi nghiệp của thanh niên và sinh viên Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích liên quan đến sự sợ hãi khi khởi nghiệp của của những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh Vấn đề đặt ra là để xem xét các tác động của sự sợ hãi trong kinh doanh ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp nhằm hoạch định các chính sách tạo lập môi trường, hệ sinh thái khởi nghiệp, đề ra các định hướng khởi nghiệp một cách thành công là vấn đề mang tính cấp thiết và quan trọng trong bối cảnh hồi phục sau đại dịch Covid-19 hiện nay
Do đó, đề tài nghiên cứu ―Phân tích tác động của sự sợ hãi trong kinh doanh lên quyết định khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết.
Ý nghĩa nghiên cứu
Xuất phát từ việc bổ sung khoảng trống nghiên cứu như đã nêu ở phần trên, bài nghiên cứu đóng góp ý nghĩa nghiên cứu như sau:
Nghiên cứu đóng góp và củng cố lý thuyết về nỗi sợ trong kinh doanh đối với quyết định khởi nghiệp
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các Trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh hiểu được tác động của nỗi sợ thất bại trong kinh doanh lên các sinh viên sắp tốt nghiệp để đưa ra hướng giảng dạy và hỗ trợ cũng như xác định quyết định của sinh viên năm cuối nên đi làm hay khởi nghiệp Từ đó đưa ra hàm ý nâng cao chất lượng đào tạo và giảng dạy của các trường Đại học trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung mà đề tài hướng đến là phân tích tác động của sự sợ hãi trong kinh doanh lên quyết định khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
1.3.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài nghiên cứu sẽ giải quyết những mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định các nhân tố của sự sợ hãi trong kinh doanh tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố sợ hãi trong kinh doanh đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Phân tích sự tác động của nhân tố sợ hãi trong kinh doanh đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất các khuyến nghị để định hướng cho việc học tập, làm việc và khởi nghiệp của các sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi nghiên cứu
Từ những mục tiêu cụ thể trên, bài nghiên cứu cần giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Có hay không tác động của sợ thất bại trong kinh doanh lên quyết định khởi nghiệp?
- Mức độ tác động của các nhân tố sợ hãi trong kinh doanh đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
- Những khuyến nghị nào phù hợp để định hướng các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp học tập, làm việc và khởi nghiệp?
1.5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thể hiện ở 3 mặt: không gian, thời gian và Việc xác định rõ phạm vi nghiên cứu của đề tài giúp cho nghiên cứu tập trung, đi đúng hướng và đạt được kết quả tốt nhất Về mặt không gian, nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được triển khai thực hiện trong 12 tuần (từ tháng 1/2021 đến tháng 3/2021)
1.5.2 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những yếu tố sợ hãi trong kinh doanh tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên tốt nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Khách thể nghiên cứu của đề tài là những sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng dưới sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và AMOS để phân tích những mục tiêu nghiên cứu được đề ra phía trên Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá thang đo về độ tin cậy Cronbach‘s Alpha, kiểm định độ hợp lệ của mô hình nghiên cứu đề xuất, bài nghiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khám phá EFA của SPSS, cho xoay toàn bộ các nhân tố cùng 1 lúc Để phân tích sự tác động của mô hình tuyến tính, sử dụng phương pháp phân tích CFA của AMOS và dùng AMOS để chạy mô hình cấu trúc tuyến tính SEM Cho ra kết quả kiểm định thang đo và độ phù hợp của dữ liệu với mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.
Nội dung nghiên cứu
Ứng với phương pháp nghiên cứu định tính, kết cấu dự kiến của đề tài này gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu Chương này trình bày về vấn đề nghiên cứu mục tiêu, câu hỏi, phạm vi đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nêu các khái niệm, các lý thuyết liên quan đến đề tài Đồng thời, nêu các kết quả thực nhiệm của các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề khởi nghiệp Từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu, giải thuyết cho đề tài và thành lập bảng khảo sát phục vụ cho việc thu thập dữ liệu cho chương sau
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu Trình bày về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính, cách xác định tổng thể, số lượng mẫu cần thu thập, xây dựng thang đo các thành phần nghiên cứu trong mô hình, phương pháp thu thập dữ liệu, làm sạch và mã hóa dữ liệu để có thể sử dụng công cụ SPSS và AMOS dễ dàng hơn
Chương 4: Phân tích dữ liệu Chương này sẽ tiến hành phân tích dữ liệu thu thập được thông qua quy trình phân tích như thống kê mô tả, kiểm định biến, chạy mô hình và kiểm định mô hình Đưa ra kết quả phân tích dữ liệu
Chương 5: Báo cáo kết quả nghiên cứu và đề xuất trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa thực tiễn và đề xuất một số giải pháp ứng dụng kết quả phân tích vào thực tiễn, đưa ra hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Tổng quan về vấn đề khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Khái niệm Khởi nghiệp kinh doanh
Khởi nghiệp kinh doanh là một thuật ngữ chung chỉ một công ty đang trong giai đoạn ươm tạo Thái độ kinh doanh cũng ngụ ý rằng một thực thể kinh doanh, có thể là một cá nhân hoặc một nhóm người, khám phá các cơ hội kinh doanh mới hoặc cách cư xử mới đề cao tính độc lập, không ngừng đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra các giá trị mới trong bối cảnh kinh doanh hiện tại (Bird, 1988)
Theo (Shapero, A & Sokol, L., 1982), Khởi nghiệp là quá trình bắt đầu từ việc nhận ra cơ hội, từ đó phát triển các ý tưởng nhằm tạo ra một doanh nghiệp mới Tuy vậy, không phải ai cũng có thể nắm bắt được cơ hội để khởi nghiệp Một người có năng lực khởi nghiệp phải có kỳ vọng và nhận ra tính khả thi của ý tưởng khởi nghiệp
Hiện tại có hai thuật ngữ về khởi nghiệp là ―Startup – Khởi nghiệp‖ và
―Entrepreneurship – Khởi sự‖ gây nhầm lẫn Thuật ngữ Startup phải được hiểu đúng phải là ―Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp kinh doanh phải dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu, bằng phát minh, sáng chế, công nghệ mới để tạo ra sản phẩm mới có giá trị gia tăng lớn và sức cạnh tranh cao
Vì vậy, Khởi nghiệp kinh doanh trong nghiên cứu này được hiểu là Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo
2.1.2 Thực trạng Khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Khởi nghiệp kinh doanh từ lâu đã được coi là một trong những định hướng chiến lược quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Khởi nghiệp là một trong những giải pháp cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm
Năm 2010, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành ―Thành phố khởi nghiệp cho thanh niên‖ Theo Chỉ số Khởi nghiệp Toàn cầu Việt Nam do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố năm 2019 Mức độ ghi nhận cơ hội kinh doanh đã tăng mạnh so với năm 2018 (năm 2019 là 56,8% so với 39,4% tại
2018) Tỷ lệ người có ý định thành lập công ty khởi nghiệp của riêng mình trong ba năm tới tính theo phần trăm dân số trưởng thành của Việt Nam đã tăng từ 18,2% năm
2018 lên 22,3% vào năm 2019 Tuy nhiên, con số này vẫn thấp hơn mức trung bình
36,5 % ở các nước phát triển Thanh niên (18-35 tuổi) nhận thức kém hơn về tính khả thi trong kinh doanh so với trung niên (36-64 tuổi) Tuy nhiên, những người trẻ tuổi nhạy cảm với các cơ hội kinh doanh hơn, thích mạo hiểm hơn và có ý định khởi nghiệp hơn so với những người trung niên ở Việt Nam (15,5% so với 11,9%)
Việt Nam là quốc gia duy nhất trong số các quốc gia đang phát triển có hơn một nửa dân số sử dụng Internet thường xuyên Theo các chuyên gia, áp dụng Internet và công nghệ thông tin là con đường ngắn nhất để bù đắp những hạn chế về cơ sở hạ tầng và nền tảng của Việt Nam so với các nước phát triển Công nghệ đã, đang, và sẽ là một trong những khía cạnh rất quan trọng góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu cũng như của nền kinh tế Việt Nam Phát triển công nghệ tiên tiến và công nghiệp phát minh là một xu hướng tất yếu cho sự tiến bộ và hiện đại hóa trong tương lai của thế giới chúng ta Hiệp hội Tin học Hồ Chí Minh thông báo đã có 18.000 doanh nghiệp khởi nghiệp mới tại Việt Nam cho đến tháng 4 năm 2020 Trong quá trình này, công nghệ thông tin là lĩnh vực thu hút nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp từ các bạn trẻ Tốc độ phát triển nhanh chóng của Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam phát triển nhanh chóng, làm động lực chính thúc đẩy phát triển các sản phẩm công nghệ sáng tạo đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội Việt Nam
Hiện nay, khởi nghiệp đã và đang là xu hướng được Chính phủ quan tâm và khuyến khích, chỉ đạo để tạo điều kiện đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp kinh doanh Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP về nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển khởi nghiệp kinh doanh trong đấy hướng đến mục tiêu đến 2020, cả nước có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động cùng với nhiều chính sách cải cách quan trọng trong thực thi Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Quyết định 844/ QĐ-TT ngày 18 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án ―Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025‖ Mặc dù Chính phủ có nhiều chính sách thúc đẩy và hỗ trợ cho việc khởi nghiệp kinh doanh, tuy nhiên tỷ lệ thất bại, chết đi ở các doanh nghiệp khởi nghiệp trong những năm gần đây chiếm tới 90% Theo như nhận xét của các chuyên gia, nguyên nhân khiến các hoạt động khởi nghiệp kinh doanh thất bại vì gặp những khó khăn trong quá trình duy trì doanh nghiệp như thiếu hụt vốn, thiếu nguồn cung ứng, thiếu lao động chất lượng cao, thiếu khả năng quản trị tài chính, nhân lực Tỷ lệ thất bại khá cao, dẫn đến tâm lý của những người có ý định khởi nghiệp quyết định không khởi nghiệp nữa.
Lý thuyết nền
2.2.1 Nỗi sợ thất bại – Fear of Failure
Sợ thất bại được định nghĩa một cách đơn giản là niềm tin vào những hệ quả, kết quả xấu của thất bại Trước những năm 1970, khái niệm sợ thất bại bắt nguồn từ các nghiên cứu liên quan đến động lực thành tích (Achievement Motivation) Động lực thành tích là một khái niệm được định nghĩa là mong muốn về sự xuất sắc và thành công (McClelland, D C., Atkinson, J W & Clark, R A., 1953)
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu sau này, nỗi sợ thất bại được định nghĩa là một khái niệm đa chiều hơn là một biến động lực đơn giản (Birney, R C Burdick, H & Teevan, R C., 1969) xem động lực thành tích và nỗi sợ thất bại là những yếu tố độc lập, không giống như các nghiên cứu trước đó Birney và cộng sự (1969) cho rằng: Thất bại thường được định nghĩa là không đạt được mục tiêu, nên mọi người sợ hệ quả của thất bại hơn là sợ thất bại Ngoài ra, giá trị bản thân giảm sút, trừng phạt bản thân và giảm địa vị xã hội, đó là những hệ quả của việc thất bại
Những nghiên cứu gần đây phát triển thêm điều này Định nghĩa về nỗi sợ thất bại của (Conroy, 2001) đã đưa ra một góc nhìn cách đa chiều dựa trên lý thuyết Nhận thức-Động cơ-Quan hệ của cảm xúc – (Lazarus, 1991) và phát triển một bản kiểm kê đánh giá thất bại hiệu suất (Performance Failure Appraisal Inventory – PFAI) để đánh giá nó Trên thang điểm này, (Conroy, 2001) cho rằng nỗi sợ thất bại gồm: Cảm thấy xấu hổ và bối rối; Đánh mất giá trị riêng của bản thân; Đánh mất ảnh hưởng xã hội;
Có một tương lai không chắc chắn; Sợ làm phiền lòng những người quan trọng
2.2.2 Lý thuyết hành vi có kế hoạch – Theory of Planned Behavior (TPB)
Trong lĩnh vực tâm lý xã hội, nhiều nghiên cứu đã tiến hành một số nghiên cứu để giải thích mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, ý định hành vi và Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior: TPB) (Fishbein, M & Ajzen, I., 1975); (Ajzen, I & Fishbein, M., 1980); (Ajzen, The theory of planned behavior , 1991)
Theo (Fishbein, M & Ajzen, I., 1975), lý thuyết hành vi có kế hoạch (lý thuyết đại diện và giải thích các quyết định hành động) cho rằng các yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi không đến từ thái độ của cá nhân, mà từ quyết định thực hiện các hành vi đó Vừa là hành động có kế hoạch, vừa là một quá trình ý thức, hành động lúc này được cho là một biến số giải thích chính xác nhất việc hành động đã lập kế hoạch có được thực hiện hay không Hành vi đưa ra quyết định trong lý thuyết TPB được xác định bởi: Cách nhìn nhận một hành vi có lợi hoặc không có lợi; Chuẩn mực chung; Áp lực xã hội liên quan đến hành vi đó và Sự kiểm soát, đánh giá hành vi một cách chủ quan của cá nhân
Theo lý thuyết này, ‗kiểm soát hành vi được nhận thức‘ của cá nhân đối với khả năng thực hiện hành vi, tiêu chuẩn khách quan, là áp lực xã hội nhận thức được về việc thực hiện hành vi và mức độ sẵn sàng của hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ đánh giá đối với hành vi nhằm mục đích sự chú ý của những người ra quyết định Nó được coi là biến số giải thích tốt nhất hành vi của người đó vì nó tập trung vào hành vi là chính (Krueger, N F Reilly, M D & Carsrud, A L., 2000)
Thái độ đối với hành vi đề cập đến xu hướng đã học được để đáp ứng một cách nhất quán có lợi hoặc không có lợi đối với một đối tượng Và thái độ này có liên quan mật thiết đến ý định hành vi Thái độ đối với những hành vi này được xác định bởi niềm tin về kết quả của một hành vi cụ thể, cấu trúc thái độ và niềm tin của việc đánh giá kết quả của những hành vi đó
Chuẩn mực chung có nghĩa là cách nhìn nhận, ý kiến của người khác về một hành động nào đó và mức độ chấp nhận hành động đó Nói cách khác, các chuẩn mực chung dựa trên niềm tin của một cá nhân rằng những tiêu chí sẽ hoặc sẽ không chấp thuận thực hiện hành động Nói chung, mọi người nghĩ rằng hầu hết những người quan trọng đối với họ, chấp thuận hành vi của họ sẽ có những chuẩn mực chung tác động đến việc thực hiện hành vi của họ Mặt khác, có thể nói rằng các chuẩn mực chung bao gồm niềm tin vào kỳ vọng của những người xung quanh và động lực để tuân thủ những người xung quanh khi một cá nhân cố gắng thực hiện một số hành động
Theo lý thuyết này, kiểm soát hành vi nhận thức được xác định là kết quả của niềm tin mong muốn kiểm soát cộng với nhận thức của một cá nhân Niềm tin thống kê đề cập đến nhận thức của một cá nhân về sự sẵn có của các kỹ năng, nguồn lực và cơ hội, và các nguồn lực nhận thức đề cập đến đánh giá của một cá nhân về tầm quan trọng của các kỹ năng, nguồn lực và cơ hội để đạt được các kết quả hành vi cụ thể (Ajzen,
Hình 2.1 Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Theo (Krueger, 1993), quyết định là trạng thái nhận thức ngay trước khi thực hiện hành động và do đó quyết định thể hiện mức độ quyết tâm thực hiện hành động trong tương lai (Shapero, A & Sokol, L., 1982) cho rằng những người quyết định khởi nghiệp là những người tiên phong trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh hấp dẫn trong tầm tay của họ Nếu cá nhân có thái độ, suy nghĩ và quyết tâm lớn đối với việc khởi nghiệp, họ sẽ hành động ngay và luôn Một quyết định mạnh mẽ là điều kiện tiên quyết để quyết tâm xây dựng công ty khởi nghiệp Quan điểm này cũng được (Krueger, 1993) ủng hộ khi hai tác giả này đề xuất rằng những người có quyết định khởi nghiệp sẽ chấp nhận rủi ro và tham gia vào các hành động cần thiết khi họ nhận thấy các tín hiệu về cơ hội kinh doanh Mặt khác, quyết định kinh doanh của các cá nhân cũng bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội kinh doanh và tận dụng các nguồn lực sẵn có hiện có và môi trường hỗ trợ hiện tại để thành lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz, A & Wagner, M., 2010)
(Timmons, J A & Spinelli, S., 1994) nói rằng khởi nghiệp là quá trình tạo ra một tổ chức, có nghĩa là một loạt các hành động trong đó một kế hoạch được thực hiện để tạo ra một doanh nghiệp và những nỗ lực của cá nhân để thực hiện những hành động kinh doanh này được gọi là quyết định khởi nghiệp Quan điểm của việc này chủ yếu là hiểu quá trình hơn là kết quả Để quyết định khởi nghiệp dẫn đến hành động, thì thái độ tích cực đối với tinh thần khởi nghiệp phải được ưu tiên (Yoon, 2004) và tinh thần khởi nghiệp dựa trên sự hiểu biết về quyết định khởi nghiệp của cá nhân
Quyết định khởi nghiệp được công nhận là bước đầu tiên để thành lập một công ty, vì nó là một quá trình diễn ra theo thời gian từ quan điểm coi tinh thần khởi nghiệp là một khía cạnh của quá trình Nói cách khác, quyết định khởi nghiệp là yếu tố cơ bản nhất để hiểu về tinh thần khởi nghiệp vì nó là cơ sở để hình thành một tổ chức mới
Có thể nói rằng nó hoạt động như một yếu tố dẫn đến kết quả (Yoon, 2004)
(Krueger, N F Reilly, M D & Carsrud, A L., 2000) đã định nghĩa quyết định khởi nghiệp là một trạng thái tâm lý gây ra sự quan tâm và hành vi cá nhân trong việc khởi nghiệp, và tuyên bố rằng quyết định khởi nghiệp cao hơn có nghĩa là thuận lợi hơn cho việc khởi nghiệp hơn là việc làm
Khởi nghiệp là bước đầu tiên ảnh hưởng đến việc xây dựng một công ty mới, có thể nói đây là khái niệm làm cơ sở cho việc lập kế hoạch khởi nghiệp và thành lập tổ chức Như vậy, có thể thấy từ nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác rằng quyết định khởi nghiệp là một biến số có ảnh hưởng lớn đến các công ty khởi nghiệp (Veciana, J M Aponte, M & Urbano, D., 2005), ảnh hưởng phần lớn đến các yếu tố cá nhân và môi trường
Trong các nghiên cứu khác, mong muốn đạt được thành tựu trong khởi nghiệp đã được nghiên cứu như một yếu tố quan trọng đi trước trong quyết định khởi nghiệp và thực hiện tinh thần khởi nghiệp Kết quả của việc nghiên cứu các doanh nhân thành đạt trong lĩnh vực công nghệ cao, (Komives, 1993) nhận thấy một điểm chung là họ có mong muốn đạt được thành tựu cao Mong muốn đạt được thành tựu là một biến số quan trọng ảnh hưởng tích cực đến quyết định khởi nghiệp và là một khái niệm liên quan chặt chẽ đến tính kiên quyết và sáng kiến
Các nghiên cứu liên quan
Các nhà nghiên cứu đã khoanh vùng các yếu tố cá nhân và môi trường khác nhau ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp Quyết định khởi nghiệp thường liên quan đến sự hiện diện của một số đặc điểm tính cách và tâm lý như: nhu cầu mong muốn, mức độ chấp nhận rủi ro, vị trí kiểm soát, hành động tích cực, độc lập và khoan dung cho những việc không lường trước (Zhao, H., & Seibert, S E., 2006) Quyết định khởi nghiệp thành công cũng liên quan đến các điều kiện môi trường, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như xã hội, kinh tế, luật pháp và các yếu tố công nghệ (Aldrich, 2000)
Trong những năm gần đây, các báo cáo của GEM đã chỉ ra rằng các doanh nhân có nhiều tham vọng xác định lý do hàng đầu khiến họ không bắt đầu việc khởi nghiệp là do nỗi sợ trong kinh doanh (Amoros,J E., & Bosma, N., 2013); (Bosma N., Jones K., Autio E., & Levie J., 2007); (Singer, S., Amoros, J.E., & Moska, D , 2015)) Những nghiên cứu ủng hộ ý kiến này rằng nỗi sợ thất bại là một rào cản đối với quyết định kinh doanh khởi nghiệp cho nên phải được đào thải Tuy nhiên, nghiên cứu khởi nghiệp dựa trên dữ liệu GEM không giải thích rõ ràng về bản chất của hiện tượng sợ thất bại cũng như các cơ chế mà nó ngăn cản ý định kinh doanh Do đó, cần phải tìm hiểu sâu hơn về nỗi sợ hãi của hiện tượng thất bại và quá trình mà nó ảnh hưởng đến hành vi kinh doanh sẽ giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh tốt hơn
2.3.1 Chi phối bởi chuẩn mực chung
Các chuẩn mực chung đại diện cho ý kiến của một nhóm tham chiếu được nhận thức nhất định, có nghĩa là hầu hết những người mà họ coi là có tầm quan trọng lớn đối với nhận thức của một cá nhân về những gì họ nghĩ họ nên làm hoặc không nên làm (Fishbein, M & Ajzen, I., 1975) Các chuẩn mực chung đôi khi được sử dụng như những biểu hiện của ảnh hưởng xã hội hoặc áp lực xã hội Nếu một cá nhân tin rằng thực hiện một hành động có khả năng đạt được kết quả tích cực, họ sẽ phát triển một thái độ tích cực đối với hành động đó Tuy nhiên, nếu người khác có ảnh hưởng đến hành vi của họ thể hiện một thái độ tiêu cực đối với một hành vi, họ do dự hành vi của mình do áp lực từ các chuẩn mực chung Theo cách này, chuẩn mực chung của suy nghĩ về cách những người quan trọng đối với họ sẽ phản ứng với hành vi của họ và chấp nhận họ như thế nào được xác định bởi niềm tin của những người xung quanh họ và mức độ của cá nhân muốn chấp nhận những niềm tin đó
Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) là một lý thuyết cung cấp sức mạnh giải thích cao trong việc dẫn dắt các quyết định hành động đến hành vi, như đã đề xuất ở trên Người ta thường chấp nhận rằng có một mối quan hệ nhân quả tích cực giữa tâm lý và hành vi Có thể dự đoán rằng tâm lý đối với tinh thần khởi nghiệp sẽ làm trung gian giữa hai bên khi nỗi sợ thất bại làm giảm quyết định khởi nghiệp Điều này là do, về đánh giá thái độ, bạn càng có tâm lý tiêu cực đối với một đối tượng hoặc một hành động liên quan đến đối tượng đó, thì khả năng thực hiện hành động đó càng ít (Schifter, D E & Ajzen, I., 1985) nhận thấy rằng các chuẩn mực chung có ảnh hưởng tích cực đến các quyết định hành vi Đặc biệt là trong các nền văn hóa phương Đông, nơi văn hóa tập thể được đề cao Dựa trên điều này, người ta đánh giá rằng ba biến số của lý thuyết hành vi có kế hoạch là những biến số đi trước dự đoán hành vi và sẽ làm trung gian cho mối quan hệ giữa nỗi sợ thất bại đối với nỗi sợ thất bại trong kinh doanh Do đó tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H 1 : Tồn tại tác động của yếu tố Chuẩn mực chung lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
2.3.2 Sức mạnh tài chính yếu
Nguồn vốn đóng một vai trò quan trọng như là xương sống cho nhiều doanh nghiệp và công ty khởi nghiệp Một vấn đề nổi bật trong việc xây dựng các công ty khởi nghiệp đặt ra, thách thức cho sinh viên là việc gây quỹ và thu hút vốn cho các ý tưởng khởi nghiệp của họ Dễ dàng tiếp cận tài chính sẽ tạo điều kiện cho các cơ hội khởi nghiệp và ngược lại Kết quả nghiên cứu của (Hair, J F., Black, W C., Babin, B J., Anderson, R E & Tatham, R L., 2006)) cho thấy yếu tố sức mạnh tài chính có ảnh hưởng gián tiếp đến thái độ và quyết định của sinh viên đối với việc khởi nghiệp thông qua nỗi sợ Do đó tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H 2 : Tồn tại tác động của yếu tố Sức mạnh tài chính yếu lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
Môi trường giáo dục khởi nghiệp liên quan đến các khóa học, bài giảng và các hoạt động ngoại khóa cung cấp cho sinh viên kiến thức, kỹ năng và thái độ để theo đuổi nghề nghiệp trong tinh thần khởi nghiệp (Lee, J S & Lee S M., 2015) Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm tra mối quan hệ tích cực giữa môi trường giáo dục khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp Môi trường giáo dục khởi nghiệp thu nhận sinh viên với kiến thức kinh doanh cần thiết và khả năng tập hợp tinh thần khởi nghiệp để đối mặt những thách thức trong tương lai, trong thế giới kinh doanh và để vượt qua rào cản rủi ro Vì vậy, môi trường giáo dục khởi nghiệp hiệu quả được hiểu là việc truyền cảm hứng cho học sinh, sinh viên quyết định xây dựng kế hoạch khởi nghiệp, thực hiện các hành động khởi nghiệp và nâng cao thái độ dám mạo hiểm trong khởi nghiệp Do đó tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H 3 : Tồn tại tác động của việc Thiếu kiến thức lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
2.3.4 Ít sáng tạo đổi mới, không khả thi
Nhận thức về tính khả thi là nhận thức cá nhân về khó khăn, khả năng kiểm soát và các ràng buộc khi một cá nhân thực hiện một hành vi Nó cũng là một mức độ tin tưởng vào tính khả thi của các hành vi (Ajzen, 1991) Trong nghiên cứu này, nhận thức về tính khả thi là cảm nhận về khả năng của họ trong việc xây dựng khởi nghiệp một cách thành công Quyết định khởi nghiệp sẽ bị suy giảm nếu các ý tưởng khởi nghiệp được coi là không khả thi Tính khả thi mang lại hy vọng và tính quyết định để chuyển đổi ý tưởng thành hành động Do đó tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H 4 : Tồn tại tác động của yếu tố Ít sáng tạo đổi mới, khả thi lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
2.3.5 Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
Nỗi sợ thất bại đóng vai trò là động lực chính cho hành vi khởi nghiệp, bao gồm cả những quyết định khởi nghiệp Theo (Mitchell, J R & Shepherd, D A., 2010), nổi sợ thất bại làm suy yếu mối quan hệ tích cực giữa nguồn nhân lực và hành vi khởi nghiệp Theo nghiên cứu hàng năm của GEM, trong trường hợp của Nhật Bản, một nền kinh tế được dẫn dắt bởi sự đổi mới, trong nghiên cứu năm 2014, nỗi sợ thất bại cao 54,5%, trong khi quyết định khởi nghiệp là 2,5%, thấp hơn so với của các quốc gia khác Người ta đã cho rằng nỗi sợ đối với sự thất bại càng lớn thì quyết định khởi nghiệp càng thấp Do đó, nỗi sợ thất bại đóng vai trò là yếu tố chính làm suy yếu tinh thần khởi nghiệp Nỗi sợ thất bại ảnh hưởng tiêu cực đến việc ra quyết định của doanh nhân bằng cách hạ thấp quyết định khởi nghiệp, sự bền bỉ của tinh thần khởi nghiệp và kỳ vọng thành công trong giai đoạn đầu khi khởi nghiệp (Arenius, P & Minniti, M., 2005), (Morales-Gualdrón, S T & Roig, S., 2005) Trong một nghiên cứu so sánh giữa các quốc gia Trung Quốc, Hoa Kỳ và Bỉ, kết quả nghiên cứu rằng nỗi sợ thất bại làm giảm quyết định trở thành một doanh nhân (Shinnar, R S Giacomin, O & Janssen, F., 2012)
Trong một nghiên cứu của (Mitchell, J R & Shepherd, D A., 2010), phản ánh bản chất của nỗi sợ thất bại, người ta đã xem xét liệu ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân lên hành vi khởi nghiệp có bị suy yếu hay tăng cường theo kiểu sợ thất bại của CEO hay không Kết quả là, người ta thấy rằng ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân đến hành vi khởi nghiệp khác nhau tùy theo kiểu sợ thất bại của Giám đốc điều hành Nỗi sợ suy giảm định giá do thất bại là mối quan hệ tích cực giữa nguồn nhân lực và hành vi khởi nghiệp Mặt khác, người ta thấy rằng nỗi sợ làm mất lòng những người quan trọng và mất đi ảnh hưởng xã hội đã củng cố mối quan hệ tích cực giữa nguồn nhân lực, hiệu quả bản thân và hành vi khởi nghiệp Nói cách khác, tùy thuộc vào nỗi sợ hãi là tập trung vào bản thân hay lấy người khác làm trung tâm, ảnh hưởng đến hành vi của doanh nhân là khác nhau (Wood, M S & Pearson, J M., 2009) phát biểu rằng nỗi sợ thất bại điều chỉnh mối quan hệ giữa thất nghiệp và quyết định kinh doanh, và nỗi sợ thất bại càng cao thì quyết định KHÔNG khởi nghiệp càng cao Do đó tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H 5 : Tồn tại tác động của Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh lên Quyết định khởi nghiệp
Hình 2.3 Tác động của Tâm lý sợ thất bại lên Quyết định khởi nghiệp (Kim, 2016)
Tâm lý sợ thất bại
Kiểm soát hành vi nhận thức
Tổng hợp các nghiên cứu trước
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu đi trước
Nghiên cứu Tác giả Đối tƣợng nghiên cứu
Lý thuyết nền Các yếu tố nghiên cứu
Nghiên cứu ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học tai Canada
Sinh viên đại học tại Canada
Lý thuyết hành vi dự định của Ajzen (1991)
Yếu tố môi trường bên ngoài gồm: Thị trường; Tài chính;
Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài tác động trực tiếp đến quyết định kinh doanh, đặc biệt là yếu tố giáo dục Đại học
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế tại
Sinh viên khối ngành kinh tế tại TPHCM
Sự kiện khởi nghiệp của Shapero &
Cảm nhận sự khát khao; Điều kiện thị trường và tài chính;
Cảm nhận tính khả thi; Môi trường giáo dục Đại học
Nghiên cứu chỉ ra mức độ tác động của 4 yếu tố sau theo mức độ giảm dần: Cảm nhận sự khát khao -> Điều kiện thị trường và tài chính -> Cảm nhận tính khả thi -> Môi trường giáo dục Đại học
Nghiên cứu Tác giả Đối tƣợng nghiên cứu
Lý thuyết nền Các yếu tố nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của sinh viên Đại học bách khoa
Kumasi khởi nghiệp trong tương lai
Sinh viên Đại học bách khoa Kumasi
N/A Tính cách; Sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè; Ngành nghề của gia đình;
Giáo dịch kinh doanh; Giới tính;
Các yếu tố nghiên cứu có tác động tích cực lên quyết định khởi nghiệp Tính cách hướng ngoại; Gia đình có truyền thống kinh doanh; Giới tính Nam; Có cơ hội tiếp cận nguồn tài tốt thì có quyết định khởi nghiệp cao hơn Giáo dục kinh doanh cũng tác động lên quyết định khởi nghiệp của sinh viên
Các biến số cảm nhận và sự phát triển của tinh thần khởi nghiệp
Người lớn có độ tuổi từ 18 đến 64 tuổi ở khắp mọi nơi trên thế giới
N/A Sự tỉnh táo trước cơ hội; Nỗi sợ thất bại; sự tự tin của bản thân
Các biến nhận thức có tương quan đáng kể với việc khởi nghiệp Khi đưa ra quyết định, các doanh nhân trẻ phụ thuộc đáng kể vào nhận thức chủ quan và thường thiên lệch hơn là dựa trên kỳ vọng khách quan về thành công
Nghiên cứu Tác giả Đối tƣợng nghiên cứu
Lý thuyết nền Các yếu tố nghiên cứu
Quyết định mạo hiểm mới: Phân tích dựa trên cơ sở dữ liệu dự án
Lý thuyết sự kiện khởi nghiệp của Shapero (1984)
Xã hội; Nhân khẩu học, Văn hóa, Kinh tế Ảnh hưởng tiêu cực của nỗi sợ thất bại đối với quyết định khởi nghiệp
Kỳ vọng tài chính cho tương lai, khi đưa ra quyết định khởi nghiệp bị ngăn cản vì gặp những rào cản khó khăn, bất lợi
Quyết định Khởi nghiệp: Vai trò của Giới và Văn hóa
Sinh viên nam và nữ đến từ các nền văn hóa của 3 nước: Trung
Lý thuyết về vai trò của giới tính của
Rào cản khởi nghiệp: Thiếu sự hỗ trợ; Sợ thất bại;
Có sự khác biệt đáng kể về giới tính trong nhận thức về rào cản khởi nghiệp như Thiếu sự hỗ trợ, Tâm lý sợ thất bại, Thiếu năng lực và vốn Tuy nhiên sự khác biệt này không có sự nhất quán giữa các nền văn hóa Có sự tác động trung gian của giới tính đối với mối quan hệ giữa rào cản khởi nghiệp và quyết định khởi nghiệp
Nghiên cứu Tác giả Đối tƣợng nghiên cứu
Lý thuyết nền Các yếu tố nghiên cứu
Sự cải tiến trong việc phát triển thang đo lường về việc sợ thất bại: PFAI – The
Vận động viên và học sinh của các trường Trung học và Đại học
Lý thuyết nhận thức-động cơ- quan hệ của cảm xúc
Lý thuyết tổng hợp về cảm xúc
Nỗi sợ thất bại; Sự xấu hổ và bối rối; Đánh mất giá trị bản thân; Tương lai không ổn định; Mất sự ảnh hưởng xã hội; Sợ phiền lòng người quan trọng
Thang điểm PFAI đại diện cho nỗi sợ về: (a) Cảm thấy xấu hổ và bối rối; (b) Đánh mất giá trị riêng của bản thân; (c) Đánh mất ảnh hưởng xã hội; (d)
Có một tương lai không chắc chắn; (e)
Sợ làm phiền lòng những người quan trọng.
Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Bằng việc tìm hiểu các nghiên cứu trước đây, với những giả thiết được đặt ra, bài nghiên cứu đã quyết định bổ sung, hoàn thiện và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất với 4 yếu tố chính được trình bày trong mô hình:
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất của Nghiên cứu sinh
2.4.2 Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết và các lý thuyết liên quan đến tác động của nỗi sợ thất bại lên quyết định khởi nghiệp, mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh là Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh (tác động trực tiếp); Chuẩn mực chung; Sức mạnh tài chính yếu; Thiếu kiến thức; Thiếu sáng tạo, đổi mới, ít khả thi (tác động gián tiếp thông qua biến Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh)
- Về yếu tố Chi phối bởi chuẩn mực chung
Theo lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), chuẩn mực chung đo lường các áp lực của gia đình và xã hội mà một cá nhân nhận được tác động đến quyết định thực hiện hành động đó hay không Theo Kokle P (2003), hành vi thu thập, xin ý kiến của
Sức mạnh tài chính yếu
Thiếu sáng tạo, đổi mới, ít khả thi
Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
Quyết định khởi nghiệp mình để có thể có cái nhìn rõ về nó, và có quyết định lựa chọn thích hợp hơn Hoặc ngược lại, nếu những ý kiến đấy không được đồng thuận, ủng hộ, bạn sẽ cảm thấy sợ hãi trước những cảnh báo từ những người xung quanh, khả năng bạn quyết định không khởi nghiệp sẽ giảm đi
H 0 : Không tồn tại tác động dương của Chuẩn mực chung lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
H 1 : Tồn tại tác động dương của Chuẩn mực chung lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
- Về yếu tố Sức mạnh tài chính yếu
Khi kế hoạch khởi nghiệp được hỗ trợ bởi nguồn vốn có sẵn và dễ dàng thì tỉ lệ quyết định ngay việc khởi nghiệp mà không đắn đo đến nổi sợ thất bại Việc tiếp cận nguồn vốn càng dễ, tài chính đủ khỏe để có thể vận hành tốt thì nổi sợ về thất bại sẽ càng giảm đi
H 0 : Không tồn tại tác động dương của việc Thiếu sức mạnh tài chính lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
H 2 : Tồn tại tác động dương của việc Thiếu sức mạnh tài chính lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
- Về yếu tố Thiếu kiến thức
Nhà trường có những khóa học thực tế hay những cuộc thi khởi nghiệp gọi vốn đầu tư, truyền cảm hứng và động lực để sinh viên bớt sợ hãi vì không tưởng tượng được việc khởi nghiệp sẽ có những gì phát sinh Từ đó có thể suy ngược lại rằng việc thiếu kiến thức sẽ gia tăng nỗi sợ thất bại khi khởi nghiệp
H 0 : Không tồn tại tác động dương của việc Thiếu kiến thức lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
H 3 : Tồn tại tác động dương của việc Thiếu kiến thức lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
- Về yếu tố Ít sáng tạo đổi mới, không khả thi
Về vấn đề khởi nghiệp, tính sáng tạo càng được đề cao nhiều để gia tăng cơ hội cạnh tranh và tồn tại Sản phẩm mà doanh nghiệp khởi nghiệp mang lại phải được thị trường tiếp nhận thì mới gọi là thành công, mà thị trường ngày nay muốn cạnh tranh được thì ccàn phải khả thi và mang tính sáng tạo Nếu không có những yếu tố đó, họ sẽ sợ hải việc kinh doanh sẽ thất bại và họ sẽ quyết định không khởi nghiệp nữa
H 0 : Không tồn tại tác động dương của việc Ít sáng tạo đổi mới, khả thi lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
H 4 : Tồn tại tác động dương của việc Ít sáng tạo đổi mới, khả thi lên Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
- Về yếu tố Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh
Nỗi sợ thất bại bắt nguồn từ những yếu tố như bị chi phối bởi chuẩn mực chung, sức khỏe tài chính yếu, thiếu kiến thức và ít sáng tạo đổi mới, thiếu khả thi Từ đó tác động đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh càng cao thì quyết định không khởi nghiệp càng cao
H 0 : Không tồn tại tác động của Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh lên Quyết định khởi nghiệp
H 5 : Tồn tại tác động của Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh lên Quyết định khởi nghiệp.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được thể hiện chi tiết trong hình 3.1 Quy trình này mở đầu bằng đặt vấn đề nghiên cứu và kết thúc bằng việc trình bày báo cáo nghiên cứu
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp định lượng, thông qua việc thu thập thông tin bằng bảng khảo sát được thiết kế bằng công cụ Google Forms Nghiên cứu sinh thực hiện công việc khảo sát từng đối tượng và tổng hợp kết quả trên một mẫu thống nhất Sau khi có được một số lượng kết quả nhất định, nghiên cứu sinh tiếp tục công việc sàng lọc những kết quả phù hợp cho nghiên cứu, đồng thời loại bỏ những kết quả không mang tính khách quan cho đến khi lấy được đủ mẫu kết quả (phù hợp để đại diện cho tổng thể nghiên cứu)
Trước tiên, các thang đo này được đánh giá bằng phương pháp phân tích độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach‘s Alpha và phương pháp phân tích EFA Các thang đo thỏa mãn điều kiện của 02 phương pháp đánh giá trên sẽ được đánh giá bằng phương pháp phân tích nhân tố kh ng định CFA (Confirmatory Factor Analysis) Các thang đo thỏa mãn chỉ tiêu đánh giá trong phân tích CFA sẽ được sử dụng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structural Equation Modeling).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng mở đầu bằng việc xác định các thang đo của nghiên cứu và hình thành bảng câu hỏi Xây dựng kế hoạch chọn mẫu rồi tiến hành thu thập thông tin Tiếp đó là xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS và AMOS để kết luận các giả thuyết nghiên cứu
Các phiếu khảo sát sau khi thu thập đủ sẽ được đánh giá tính hợp lệ những phiếu hợp lệ sẽ được mã hóa, nhập liệu và làm sạch dữ liệu dựa trên phần mềm SPSS và AMOS Thông qua SPSS và AMOS, việc phân tích sẽ được thực hiện qua các bước sau:
Lập bảng tần số, thống kê các đặc điểm của mẫu thu thập được theo năm học và trường Đại học đang theo học Đánh giá thang đo:
Kiểm định độ tin cậy của các thang đo thông qua kiểm định hệ số tin cậy Cronbach‘s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA Hệ số Cronbach‘s Alpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các thang đo tương quan với nhau Nhờ phương pháp này, người phân tích có thể loại biến không phù hợp và hạn chế các biên xấu trong quá trình nghiên cứu Thang đo chấp nhận được phải có độ tin cậy Cronbach‘s Alpha từ 6.0 trở lên và các biến có hệ số tương quan bé hơn 0.3 sẽ bị loại
Phân tích nhân tố EFA được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach‘s Alpha và loại đi các biến không đảm bảo độ tin cậy Phương pháp này xác định các tập biến cho nghiên cứu, tìm mối liên hệ giữa các biến với nhau Khi phân tích EFA, mô hình cần phải thỏa các yếu tố sau:
- Hệ số KMO (Kaiser Meyer Olkin) phải lớn hơn hoặc bằng 0.5 và vượt qua kiểm định Barlett‘s Test với mức ý nghĩa bé hơn hoặc bằng 0.05 (Sai số cho phép là 5%, lấy tin cậy ở mức 95%)
- Hệ số Eigenvalues lớn hơn hoặc bằng 1 và tổng phương sai trí từ 50% trở lên thì thang đo được chấp nhận
- Hệ số tải nhân tố trên 0,3 được xem là đạt được mức tối thiểu; trên 0,4 được xem là quan trọng; từ 0,5 trở lên được xem là có ý nghĩa thực tiễn
Sau khi phân tích EFA, các thang đo sẽ tiếp tục được kiểm định mô hình bằng CFA và SEM nên cần chú ý đến kết cấu thang đo, khái niệm sau khi rút ra có thể tương quan lẫn nhau, và cũng cần chú ý đến giá trị phân biệt của các nhân tố Vì vậy nghiên cứu này sử dụng phương pháp trích Principal Axis Factoring với phép xoay Promax và điểm dừng khi trích các yếu tố Eigenvalues lớn hơn hoặc bằng 1 Phương pháp này được cho rằng sẽ phản ánh dữ liệu tốt hơn khi dùng phương pháp trích Principal Components với phép quay Varimax
Kiểm định thang đo ng ph n t ch nh n tố kh ng định C :
Phân tích nhân tố kh ng định (CFA - Confirmatory Factor Analysis) là một trong các kỹ thuật thống kê của mô hình cấu trúc tuyến tính SEM CFA kiểm định các biến quan sát đại diện cho các nhân tố tốt hay không
Việc thực hiện kiểm định hội tụ (Convergent Validity), tính phân biệt Discriminant Validity) và Sự tin cậy (Reliability) nhằm xem xét loại bỏ các nhân tố không đảm bảo được tin cậy và khác biệt, tránh gây ra những sai lệch kết quả phân tích, các con số phân tích không thể hiện được ý nghĩa của dữ liệu khảo sát và mô hình thực tế Để kiểm định sự phân biệt và tin cậy khi phân tích CFA, một số đo lường cần tuân thủ như sau:
- Về độ tin cậy – Reliability: Standardized Loading Estimates phải lớn hơn hoặc bằng 0.5 (từ 0.7 trở lên là độ tin cậy lý tưởng) và Composite Reliability (CR) phải lớn hơn hoặc bằng 0.7
- Về tính hội tụ - Convergent: Average Variance Extracted (AVE) phải từ 0.5 trở lên Có nghĩa là thang đo đạt được giá trị hội tụ khi các trọng số chuẩn hóa của thang đo đều cao hơn 0.5 và có ý nghĩa thống kê với P bé hơn 0.05
- Về tính phân biệt – Discriminant: Maximum Shared Variance (MSV) phải bé hơn Average Variance Extracted (AVE) Sử dụng mô hình tới hạn – mô hình mà các biến được tự do quan hệ với nhau để kiểm định hệ số tương quan xét trên phạm vi tổng thể giữa các biến có thực sự khác biệt so với 1 hay không Nếu nó khác biệt thì thang đo đạt được giá trị phân biệt
Tiếp theo đó, để đo lường mức độ phù hợp và tương thích của mô hình (Model Fit) với dữ liệu thu thập, cần thỏa các điều kiện sau:
- Chi-square (CMIN): Mô hình được xem là thích hợp với dữ liệu thị trường khi kiểm định Chi-square có P-value bé hơn 0.1 Tuy nhiên Chi-square có nhược điểm là phụ thuộc vào kích thước mẫu
- Chi-square điều chỉnh theo bậc tự do (CMIN/df) bé hơn hoặc bằng 3
- Chỉ số thích hợp so sánh (CFI Comparative Fit Index) lớn hơn hoặc bằng 0.9
- Chỉ số Tucker Lewis (TLI Tucker Lewis Index) lớn hơn hoặc bằng 0.9
- Chỉ số RMSEA (Root Mean Square Error Approximation) bé hơn hoặc bằng 0.08 (bé hơn hoặc bằng 0.05 thì kết quả của RMSEA sẽ rất cao)
Kiểm định m h nh ng ph n t ch cấu tr c tu ến t nh S M:
Phân tích SEM để đánh giá các giả thuyết đặt ra từ đầu bài nghiên cứu đến giờ, dựa trên mục tiêu nghiên cứu là trả lời các câu hỏi liên quan đến sự tác động và mức độ tác động của các biến, bài nghiên cứu sử dụng các chỉ số đo lường phù hợp để đánh giá, kiểm định như sau:
- Bài nghiên cứu nhận xét chỉ số P (sig) và Estimates (hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa) để xem có hay không sự tác động của các biên Biến độc lập tác động lên biến phụ thuộc trên 0.05 thì biến độc lập không có sự tác động lên biến phụ
- Sau đó dựa vào hệ số hồi quy Estimate để đánh giá chiều tác động (âm hoặc dương) của các biến độc lập lên biến phụ thuộc
- Cuối cùng là xét đến giá trị R bình phương, thể hiện mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc
- Đưa ra kết luận về các giả thuyết đặt ra ở đầu chương là chấp nhận hay bác bỏ.
Thang đo nghiên cứu
Các tập biến quan sát cụ thể được đo lường trên thang đo Likert 5 điểm thay đổi từ
1 - rất không đồng ý đến 5 - rất đồng ý
Thang đo Chuẩn mực chung (CM)
Thang đo Chuẩn mực chung bao gồm 6 biến quan sát để học các bạn sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp về những chuẩn mực chung khiến các bạn sinh viên sợ thất bại trong khi kinh doanh Cụ thể như sau:
CM1: Gia đình, bạn bè không khuyến khích anh chị khởi nghiệp kinh doanh
CM2: Anh chị sợ không có nhiều thời gian cho gia đình, bạn bè, người quan trọng khi khởi nghiệp kinh doanh
CM3: Anh chị không đủ tự tin chọn đánh đổi công việc ổn định để khởi nghiệp
CM4: Anh chị sẽ cảm thấy bản thân không giúp ích được gì cho xã hội khi khởi nghiệp thất bại
CM5: Anh chị sợ khởi nghiệp vì không được gia đình chấp thuận
CM6: Anh chị sợ làm mất mặt người thân quan trọng khi khởi nghiệp thất bại
Thang đo Sức mạnh tài chính (TC)
Thang đo tài chính thể hiện tác động của sức mạnh tài chính yếu lên nỗi sợ thất bại trong kinh doanh Các biến quan sát cho biến sức mạnh tài chính bao gồm:
TC1: Anh chị khó có thể vay mượn vốn từ bạn bè và gia đình để xây dựng doanh nghiệp
TC2: Anh chị tích lũy vốn khá lâu để có thể bắt đầu việc khởi nghiệp
TC3: Anh chị phải đánh đổi chi tiêu hằng ngày cho bản thân và gia đình
TC4: Khó có thể gây quỹ từ các nguồn như ngân hàng, các định chế tài chính
TC5: Khả năng thành công thấp khi gọi vốn từ các chương trình khởi nghiệp như Sharktank…
Thang đo Kiến thức (KT)
Thang đo Kiến thức thể hiện việc thiếu kiến thức sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nổi sợ thất bại trong kinh doanh, gồm các biến quan sát như sau:
KT1: Nhà trường chưa tạo nhiều cơ hội phát triển kỹ năng khởi nghiệp của anh chị
KT2: Lượng kiến thức được học không đủ giúp anh chị duy trì doanh nghiệp tồn tại trong 3 năm
KT3: Các hoạt động khởi nghiệp tại trường đại học chưa mang lại kinh nghiệm thực tế KT4: Các khóa học chính ở trường chưa đủ để xây dựng công ty khởi nghiệp
KT5: Trường đại học chưa cung cấp đủ các kiến thức thực tiễn khi khởi nghiệp
Thang đo Thiếu sáng tạo đổi mới, không khả thi (ST)
Thang đo Thiếu sáng tạo đổi mới, không khả thi diễn tả cho tác động của việc thiếu sáng tạo đổi mới trong khởi nghiệp hay ý tưởng khởi nghiệp không khả thi ảnh hưởng đến nỗi sợ thất bại trong kinh doanh Thang đo này gồm 4 phát biểu như sau:
ST1: Anh chị không có lợi thế về ý tưởng kinh doanh mới
ST2: Anh chị thấy ý tưởng sáng tạo khó thực hiện thực tế
ST3: Thị trường mà anh chị dự định khởi nghiệp khó có thể cạnh tranh những đối thủ đi trước
ST4: Ý tưởng của anh chị không có đủ sáng tạo và điểm khác biệt với đối thủ cạnh tranh
Thang đo tổng quát Nỗi sợ thất bại trong kinh doanh (TB)
Thang đo tổng quát nỗi sợ thất bại trong kinh doanh thể hiện tâm lý sợ hãi khi kinh doanh khởi nghiệp không thành công, dưới sự tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như: Sự áp đặt của chuẩn mực chung, Sự mạnh tài chính yếu, Lượng kiến thức để khởi nghiệp vẫn chưa đủ, Sự sáng tạo, đổi mới và tính khả thi của việc kinh doanh khởi nghiệp không đủ Thang đo tổng quát gồm 4 biến quan sát sau:
TB1: Anh chị không tự tin rằng có thể duy trì doanh nghiệp khởi nghiệp trong 3 năm sau khi đã tốt nghiệp
TB2: Sức mạnh tài chính của anh chị yếu, không đủ khả năng duy trì khi anh chị kinh doanh thua lỗ
TB3: Lượng kiến thức của anh chị không đủ rộng để khởi nghiệp thành công và dành được thị phần trong thị trường
TB4: Sự sáng tạo của anh chị không mới mẻ, khả thi để khởi nghiệp thành công
Thang đo Qu ết định khởi nghiệp:
Thang đo quyết định khởi nghiệp hay không được đo lường dựa vào nỗi sợ thất bại kinh doanh trong tâm lý của sinh viên chuẩn bị ra trường, bao gồm các biến quan sát sau:
QDKN1: Quyết định không khởi nghiệp trong tương lai gần vì sức mạnh tài chính không khỏe
QDKN2: Không sẵn sàng khởi nghiệp khi tâm lý không được lạc quan
QDKN3: Không sẵn sàng sở hữu hoặc điều hành doanh nghiệp khởi nghiệp với lượng kiến thức từ Đại học
QDKN4: Không sẵn sàng khởi nghiệp khi sản phẩm không có lợi thế, thiếu sáng tạo và khả thi.
Xác định tổng thể
Trong nghiên cứu này, tổng thể được xác định dựa trên số lượng sinh viên sắp ra trường (chỉ gồm sinh viên năm cuối của chương trình đào tạo 4 năm và 5 năm) Vì vậy, dựa trên công bố kết quả tuyển sinh của một số trường Đại học lớn tại thành phố HCM trong 2 niên khóa 2015-2016 và 2016-2017 lần lượt là như sau:
Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng sinh viên sắp tốt nghiệp ở một số trường Đại học
STT Viết tắt Trường Đại học
Số lƣợng sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp
2 HCMUS Khoa học tự nhiên 2850 3034 5884
3 USSH Khoa học xã hội và nhân văn
4 HCMUTE Sư phạm kỹ thuật 4165 4775 8940
Bài nghiên cứu cho ra được tổng thể của nghiên cứu là N= 90934 Tổng thể này sẽ là cơ sở cho nghiên cứu sinh tính được cỡ mẫu và thu thập được đủ số lượng mẫu cho nghiên cứu, để cho ra kết quả nghiên cứu có giá trị
N: Số lượng tổng thể e = 5%: Sai số tiêu chuẩn
Như vậy, để phân tích có ý nghĩa và kết quả nghiên cứu có giá trị về mặt khoa học, tôi quyết định chọn ra 406 kết quả điều tra phù hợp nhất trong số những kết quả thu thập được và lấy 406 kết quả điều tra đó làm đại diện để suy rộng cho tổng thể sinh viên chuẩn bị ra trường đang theo học tại các Trường Đại học trong TP.HCM.