Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận là sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Pooled OLS, REM, FEM để xác định các yêu tố chính tác động đến FDI của Nhật Bản vào Việt N
GIỚI THIỆU
Lý do nghiên cứu
Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội đối với một quốc gia Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò quan trọng cho việc đầu tư, tăng trưởng kinh tế của các quốc gia tiếp nhận vốn đầu tư, nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Burke và Epstein, 2001) FDI góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa (Nguyễn Sỹ Thành, 2012) Vốn FDI góp phần tăng vốn đầu tư của nền kinh tế đối với các nước đang phát triển có nhu cầu vốn lớn, trong khi vốn trong nước không đủ để đáp ứng cho nhu cầu phát triển của quốc gia (Samuelson và Puttaswamaiah,
2002) Vốn FDI giúp các quốc gia đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài (Buckley và ctg, 2002), góp phần cải thiện cán cân thanh toán (Rosidi, 1991) Ngoài ra FDI còn có những tác động khác như: góp phần tạo việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển giao công nghệ ((Braaunstrin, 2002), Wooster và Diebel, 2010) và Đào Quang Thu (2013) Thu hút FDI là một phần của quá trình phát triển và cải tổ nền kinh tế của các nước đang phát triển, kém phát triển Vì vậy mà chính phủ các quốc gia đang phát triển đã và đang thay đổi các chính sách, pháp luật sao cho phù hợp hơn với nhu cầu đầu tư vốn của các quốc gia đầu tư, nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, cạnh tranh cùng phát triển và làm hài hòa hơn mối quan hệ và lợi ích của các bên đối tác Các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thu hút FDI càng nhiều càng tốt cho quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn không thể thiếu trong quá trình phát triển của Việt Nam
Những minh chứng từ các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới đều cho thấy là vốn đầu tư nước ngoài tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển ví dụ như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Điều này chứng tỏ FDI là rất quan trọng đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam Việt Nam là nền kinh tế đang chuyển đổi với tiềm năng kinh tế và thị trường lớn chưa được khai phá ở Châu Á Kinh tế Việt Nam nổi lên với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và tương đối ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, môi trường chính trị, tôn giáo, vấn đề dân tộc, an sinh xã hội khá tốt, đặc điểm vị trí thuận lợi, nguồn tài nguyên tương đối đa dạng và dồi dào, dân số trẻ, lao động có tay nghề cao với chi phí thấp Kể từ khi Luật đầu tư ra đời vào năm 1987 đến nay, Việt Nam đã đổi mới mạnh mẽ thể chế thu hút FDI và tìm nguồn tài chính từ nhiều nước đã khiến dòng vốn này tăng lên đáng kể Vì thế vấn đề thu hút FDI nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, Nhật Bản nổi lên như một nhà đầu tư đáng tin cậy Tính đến cuối tháng 12.2019 tổng vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam đạt xấp xỉ 59,3 tỷ USD, đứng thứ hai sau Hàn Quốc trong số 144 quốc gia và quốc gia lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Điều đó chứng tỏ Nhật Bản là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam về thu hút FDI Theo đánh giá từ các chuyên gia thì thị trường Việt Nam có tiềm năng lớn trong việc thu hút các doanh nghiệp Nhật Bản đến đầu tư mở rộng kinh doanh trong mọi lĩnh vực cụ thể như là sản xuất Không chỉ thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn lớn, mà còn thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản cũng tăng cường xúc tiến đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên, do tình hình Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp đã gây một cản trở lớn đến thương mại hàng hóa thế giới cũng như là ảnh hưởng nhiều đến đời sống, hoạt động sản xuất và kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp Đại dịch Covid-19 đã gây một tổn thất lớn tới hầu hết các nền kinh tế toàn cầu, trong đó có các đối tượng thương mại lớn của Việt Nam như Nhật Bản và một số nước trong khu vực Đông Nam Á Thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch lần này
Vì thế, tìm kiếm một mô hình phù hợp, nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết về các mối quan hệ nói trên nhằm nhận dạng và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến dòng chảy FDI từ Nhật Bản chảy vào Việt Nam và các nước Đông Nam Á đang cần có lời giải, làm tiền đề hoạch định chính sách thu hút FDI từ Nhật Bản là cần thiết, cấp bách Do đó, việc chọn đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á” nghiên cứu có ý nghĩa cả về lý luận lần thực tiễn
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là “Nhân tố nào ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á”, qua đó nghiên cứu, gợi ý chính sách cho các bên liên quan nhằm thu hút nguồn vốn FDI từ Nhật trong tương lai đặc biệt là tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được vấn đề nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu quan trọng sau đây: (1) Yếu tố nào ảnh hưởng đến thu hút FDI của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á? ; (2) Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thu hút FDI của Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á như thế nào?
1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là yếu tố ảnh hưởng đến FDI của Nhật vào các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu gồm 6 nước trong 10 nước Đông Nam Á: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam trong phạm vi 10 năm từ năm 2011-2020 Đây là 6 quốc gia có nền kinh tế mạnh trong 10 nước trong khu vực, nên được chọn làm đại diện cho khu vực Đông Nam Á Bên cạnh đó nguồn dữ liệu không được cập nhật và không đầy đủ của cả 10 quốc gia Đông Nam Á nên khóa luận chỉ chọn 6 nước như trên để tiến hành nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các nguồn dữ liệu từ Tổng cục thống kê 2011-2020, dữ liệu của Ngân hàng thế giới (Worldbank), Diễn đàn kinh tế thế giới (The World Economic Forum), Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO) Khóa luận lựa chọn giai đoạn từ năm 2011-2020 để nhằm mục đích tránh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới vào cuối năm 2008 đến dòng vốn FDI nên tác giả nghiên cứu sau năm 2008 vì sau đó các nước đã có sự ổn định nhất định
Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á, đồng thời cũng so sánh một số nhân tố của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu để thu thập thông tin: thu thập và xử lý thông tin thứ cấp thông qua các nguồn sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các đề tài nghiên cứu, văn bản luật, các báo cáo thống kê và bài viết trên mạng Internet từ các tổ chức uy tín Trên cơ sở mô hình nghiên cứu được xác định và các biến quan sát, khóa luận tiến hành thu thập dữ liệu sử dụng dùng trong nghiên cứu (dữ liệu thứ cấp) từ các cơ quan trong và ngoài nước công bố chính thức Tiếp theo đó, khóa luận sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, REM, FEM) để xác định các yếu tố chính tác động đến FDI của Nhật Bản vào các nước khu vực Đông Nam Á Đồng thời, đề tài cũng sử dụng các phương pháp khác như: Thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp…để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu đã đặt ra
Sau khi có kết quả phù hợp nhất, đảm bảo điều kiện của hồi quy, nghiên cứu rút ra kết luận và đánh giá kết quả dựa theo mục tiêu nghiên cứu Đồng thời khóa luận cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đưa ra những hướng thảo luận, khuyến nghị để đóng góp cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hoạch định chính sách về thu hút FDI ở Việt Nam trong thời gian tới
1.6 Những điểm mới của khóa luận
Nghiên cứu này cũng giống như những nghiên cứu trước là sử dụng các mô hình lý thuyết về đầu tư của các nhà đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài để đánh giá các yếu tố tác động đến FDI từ Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á
Cũng như một số nghiên cứu gần đây, nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tác động của các yếu tố khác nhau (cả yếu tố vi mô và vĩ mô) đến FDI Tuy nhiên đề tài nghiên cứu này tiến hành trên phạm vi rộng hơn các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam nhưng có ưu điểm là đắp đầy các khoảng trống nghiên cứu Bởi vì các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung phân tích FDI vào Việt
Nam mà không có một sự so sánh với các nước trong khu vực Ngoài ra nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu về dòng vốn FDI của Nhật – một trong những dòng vốn đầu tư lớn vào Việt Nam
Sự phát triển của một quốc gia không thể không nhắc đến việc thu hút nguồn vốn FDI, nhưng hiện nay việc thu hút vốn FDI từ Nhật vào Việt Nam gặp một vài khó khăn, nguồn vốn FDI biến động và có xu hướng xụt giảm tạo ra một sự chênh lệch khá lớn so với các nước trong khu vực Đông Nam Á Xác định các nhân tố ảnh hưởng mạnh đến thu hút FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á nhằm có những chính sách góp phần phát triển kinh tế, thu hút đầu tư hợp lý hơn của Việt Nam trong khu vực
Mục tiêu phát triển của Việt Nam là đến năm 2025 tăng trưởng kinh tế nhanh hơn nữa, phát triển kinh tế vĩ mô một cách bền vững cùng với sự phát triển khoa học, không ngừng cải tiến công nghệ Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế phải cao hơn, bền vững hơn với mục tiêu tăng trưởng trung bình 5 năm 2020 – 2025 là từ 6.5% đến 7%/năm, điều này đòi hỏi một sự nỗ lực không ngừng từ các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương Một trong số những yếu tố góp phần cho sự thành công của chiến lược tăng trưởng này đó là vốn đầu tư, việc thu hút vốn đầu tư trong nước còn rất nhiều hạn chế, bỡi lẽ do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản – là một trong những nguồn vốn lớn đầu tư vào Việt Nam cũng đang bị hạn chế Vì vậy cho thấy là cần có những giải pháp khoa học hơn để thúc đẩy thu hút FDI, mặc dù quốc gia cũng có nhiều nổ lực kêu gọi đầu tư, song vẫn còn một vài yếu tố mang tính quốc gia như: cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính, tăng trưởng kinh tế…mà lượng vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam có xu hướng chậm lại
Nghiên cứu nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI của các nước Đông Nam Á nhằm làm cơ sở cho Việt Nam rút ra các bài học về cải tiến trong việc đưa ra các chính sách thu hút vốn FDI khả thi hơn dựa vào các dữ liệu thực tế Bên cạnh đó là khắc phục những tồn đọng, những mặt còn hạn chế trong thu hút đầu tư so với các quốc gia trong khu vực và đề ra các chính sách thu hút vốn nhiều hơn trong tương lai, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của chính phủ, đưa kinh tế Việt Nam lên một tầm cao mới, ổn định, bền vững và phát triển
1.7 Kết cấu của khóa luận
Nghiên cứu bao gồm 5 chương với nội dung các chương cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Nội dung chương trình 1 trình bày:
Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài Nội dung chương 2 tập trung trình bày các lý thuyết nền tảng liên quan đến FDI, tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước Đồng thời, tác giả cũng hệ thống lại các nghiên cứu trước theo trình tự thời gian
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để xác định các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á, đồng thời cũng so sánh một số nhân tố của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á để làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu để thu thập thông tin: thu thập và xử lý thông tin thứ cấp thông qua các nguồn sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các đề tài nghiên cứu, văn bản luật, các báo cáo thống kê và bài viết trên mạng Internet từ các tổ chức uy tín Trên cơ sở mô hình nghiên cứu được xác định và các biến quan sát, khóa luận tiến hành thu thập dữ liệu sử dụng dùng trong nghiên cứu (dữ liệu thứ cấp) từ các cơ quan trong và ngoài nước công bố chính thức Tiếp theo đó, khóa luận sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, REM, FEM) để xác định các yếu tố chính tác động đến FDI của Nhật Bản vào các nước khu vực Đông Nam Á Đồng thời, đề tài cũng sử dụng các phương pháp khác như: Thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp…để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu đã đặt ra
Sau khi có kết quả phù hợp nhất, đảm bảo điều kiện của hồi quy, nghiên cứu rút ra kết luận và đánh giá kết quả dựa theo mục tiêu nghiên cứu Đồng thời khóa luận cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và đưa ra những hướng thảo luận, khuyến nghị để đóng góp cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hoạch định chính sách về thu hút FDI ở Việt Nam trong thời gian tới.
Những điểm mới của khóa luận
Nghiên cứu này cũng giống như những nghiên cứu trước là sử dụng các mô hình lý thuyết về đầu tư của các nhà đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài để đánh giá các yếu tố tác động đến FDI từ Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á
Cũng như một số nghiên cứu gần đây, nghiên cứu này cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng để lượng hóa tác động của các yếu tố khác nhau (cả yếu tố vi mô và vĩ mô) đến FDI Tuy nhiên đề tài nghiên cứu này tiến hành trên phạm vi rộng hơn các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam nhưng có ưu điểm là đắp đầy các khoảng trống nghiên cứu Bởi vì các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung phân tích FDI vào Việt
Nam mà không có một sự so sánh với các nước trong khu vực Ngoài ra nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu về dòng vốn FDI của Nhật – một trong những dòng vốn đầu tư lớn vào Việt Nam
Sự phát triển của một quốc gia không thể không nhắc đến việc thu hút nguồn vốn FDI, nhưng hiện nay việc thu hút vốn FDI từ Nhật vào Việt Nam gặp một vài khó khăn, nguồn vốn FDI biến động và có xu hướng xụt giảm tạo ra một sự chênh lệch khá lớn so với các nước trong khu vực Đông Nam Á Xác định các nhân tố ảnh hưởng mạnh đến thu hút FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á nhằm có những chính sách góp phần phát triển kinh tế, thu hút đầu tư hợp lý hơn của Việt Nam trong khu vực
Mục tiêu phát triển của Việt Nam là đến năm 2025 tăng trưởng kinh tế nhanh hơn nữa, phát triển kinh tế vĩ mô một cách bền vững cùng với sự phát triển khoa học, không ngừng cải tiến công nghệ Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế phải cao hơn, bền vững hơn với mục tiêu tăng trưởng trung bình 5 năm 2020 – 2025 là từ 6.5% đến 7%/năm, điều này đòi hỏi một sự nỗ lực không ngừng từ các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương Một trong số những yếu tố góp phần cho sự thành công của chiến lược tăng trưởng này đó là vốn đầu tư, việc thu hút vốn đầu tư trong nước còn rất nhiều hạn chế, bỡi lẽ do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thu hút các nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn đầu tư từ Nhật Bản – là một trong những nguồn vốn lớn đầu tư vào Việt Nam cũng đang bị hạn chế Vì vậy cho thấy là cần có những giải pháp khoa học hơn để thúc đẩy thu hút FDI, mặc dù quốc gia cũng có nhiều nổ lực kêu gọi đầu tư, song vẫn còn một vài yếu tố mang tính quốc gia như: cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính, tăng trưởng kinh tế…mà lượng vốn FDI từ Nhật Bản vào Việt Nam có xu hướng chậm lại
Nghiên cứu nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI của các nước Đông Nam Á nhằm làm cơ sở cho Việt Nam rút ra các bài học về cải tiến trong việc đưa ra các chính sách thu hút vốn FDI khả thi hơn dựa vào các dữ liệu thực tế Bên cạnh đó là khắc phục những tồn đọng, những mặt còn hạn chế trong thu hút đầu tư so với các quốc gia trong khu vực và đề ra các chính sách thu hút vốn nhiều hơn trong tương lai, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược của chính phủ, đưa kinh tế Việt Nam lên một tầm cao mới, ổn định, bền vững và phát triển.
Kết cấu của khóa luận
Nghiên cứu bao gồm 5 chương với nội dung các chương cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Nội dung chương trình 1 trình bày:
Lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu và những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài Nội dung chương 2 tập trung trình bày các lý thuyết nền tảng liên quan đến FDI, tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước Đồng thời, tác giả cũng hệ thống lại các nghiên cứu trước theo trình tự thời gian
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu, nội dung chương 3 gồm 2 phần chính: (i) Mô hình nghiên cứu (ii) Phương pháp nghiên cứu Đề ra khung phân tích sử dụng cho nghiêu cứu này, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu về các yếu tố tác động dòng vốn FDI từ Nhật Bản vào các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Trong chương 3, phương pháp phân tích dữ liệu bằng mô hình kinh tế lượng được trình bày chi tiết nhằm làm nền tảng khoa học cho quá trình phân tích kết quả ở chương 4
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung chính của chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu về FDI từ Nhật vào các nước Đông Nam Á Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu đã nêu ở chương 3 được trình bày và phân tích chi tiết nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã nêu ra
Chương 5: Kết luận và đưa ra các đề xuất Nội dung chính của chương cuối trình bày 2 phần chính (i) Kết luận: nêu những kết quả nghiên cứu của đề tài một cách khái quát theo mục tiêu nghiên cứu, (ii) Các giải pháp: nêu những giải pháp cần thực hiện để cải thiện tình hình thu hút vốn FDI Nhật Bản vào Việt Nam Các giải pháp nhằm thu hút vốn FDI của Nhật Bản như: độ mở của nền kinh tế, năng suất lao động, quản lý thu chi ngân sách hiệu quả
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Khái niệm
Theo Sachs và Larrain (1993), đầu tư có nghĩa là sử dụng các nguồn lực tích lũy hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt kết quả lớn hơn trong tương lai Nguồn lực hiện tại tồn tại dưới nhiều hình thức như: vốn, tài nguyên, sức lao động, trí tuệ, tài sản (hữu hình hoặc vô hình),…
Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư là số tiền sử dụng cho sản xuất trong tương lai (ví dụ như vốn), đầu tư vốn con người (Metcalf và Hassett, 1999) Trong đo lường thu nhập và sản lượng quốc gia, đầu tư còn là một thành phần của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), được đưa ra trong công thức GDP = C + I + G + NX, ở đây C là tiêu dùng của dân cư, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ và đầu tư của chính phủ và NX là xuất nhập khẩu ròng Như vậy đầu tư I trong khái niệm này chưa bao gồm phần đầu tư của chính phủ
Tóm lại đầu tư có thể được hiểu là nguồn nhân lực bỏ ra như: Vốn, nhân lực, tài nguyên, trí tuệ để thực hiện các hoạt động sản xuất, trao đổi theo quy định của pháp luật nhằm tạo ra các giá trị thặng dư lớn hơn trong tương lai bên cạnh giá trị của nguồn nhân lực đã bỏ ra trong hiện tại
2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nhà ĐTNN cung cấp một dòng vốn nước ngoài cho các doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác với kỳ vọng lợi nhuận từ việc tham gia vốn ở doanh nghiệp mà họ đầu tư Nhà đầu tư có quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp nước sở tại tương ứng với tỷ lệ vốn chủ sở hữu mà họ nắm giữ ĐTNN bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp và các hình thức đầu tư khác Một số định nghĩa FDI thường sử dụng
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), FDI là hoạt động đầu tư nhằm đạt được lợi ích lâu dài trong doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là dành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó Trong định nghĩa này, FDI hàm ý chỉ nhà đầu tư có nhiều ảnh hưởng quản lý điều hành doanh nghiệp và FDI là sự đầu tư với quan hệ lâu dài phản ánh lợi ích giữa NĐTNN và doanh nghiệp ở nền kinh tế của nước sở tại
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), FDI xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Tài sản mà nhà đầu tư quản lý ở nước ngoài phần lớn là cơ sở kinh doanh Trong trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là “công ty mẹ”, tài sản gọi là
“công ty con” hay “công ty chi nhánh”
Theo luật đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam (2014) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân người nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này
Theo quan điểm Eaton và Kortum (1996) cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một DN, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý DN nói trên bằng cách thành lập hoặc mở rộng một DN hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của nhà đầu tư, mua lại toàn bộ DN đã có, tham gia vào các DN mới, cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm)
Graham (1996) cho rằng, “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Theo Ramcharran (2000), FDI là việc công ty mẹ mua và điều hành các tài sản vật chất như nhà máy, trang thiết bị ở nước ngoài Các hình thức FDI thường thực hiện là sở hữu 100%, liên doanh, nhượng quyền, sở hữu tài sản chiến lược Quan điểm của Eaton và Kortum (1996) cho rằng FDI phản ánh mục tiêu có được lợi ích lâu dài của một tổ chức (nhà đầu tư) hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế mà các nhà đầu tư đang hoạt động Như vậy, FDI là một hình thức đầu tư, trong đó nhà đầu tư từ nền kinh tế của quốc gia khác (nước đầu tư) đóng góp số vốn nhất định dưới nhiều hình thức (bằng tiền, hoặc bằng tài sản khác) vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ đến nước nhận đầu tư trong thời gian dài và nhà đầu tư có khả năng ảnh hưởng đến việc quản lý, điều hành DN thông qua số vốn cổ phần nắm giữ
Vậy dòng vốn FDI có những đặc tính sau: Một là, FDI là một trong những hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế từ nước này sang nước khác với mục địch tìm kiếm lợi nhuận cho nhà đầu tư Vốn đầu tư có thể là do cá nhân, tổ chức kinh doanh thực hiện, cung cấp trực tiếp hoặc thông qua doanh nghiệp liên quan cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN Chủ đầu tư chia sẻ quyền và nghĩa vụ kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro cùng với đối tác nước sở tại, theo tỷ lệ vốn góp vào vốn pháp định của các bên, nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì họ có toàn quyền quyết định Hình thức này mang tính khả thi, hiệu quả kinh tế cao, ít có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
Hai là, nhà ĐTNN phải góp tỷ lệ vốn tối thiểu trong tổng vốn đầu tư để dành quyền kiểm soát, tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Tỷ lệ này được quy định theo luật lệ mỗi quốc gia Tài liệu hướng dẫn cán cân thanh toán của IMF 1993 quy định tỷ lệ vốn cổ phần nắm giữ tối thiểu 10%; theo chuẩn mực của OECD, tỷ lệ nắm giữ tối thiểu 10% cổ phần phổ thông hay 15% quyền biểu quyết Thu nhập của nhà ĐTNN phụ thuộc kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đầu tư, nó mang tính chất là khoản thu nhập kinh doanh, không phải là khoản lợi tức
Ba là, FDI liên quan đến việc chuyển giao một gói tài sản gồm: vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý, tổ chức từ nước này sang nước khác Do đó, nước chủ nhà có thể tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Đây là mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không giải quyết được Nguồn vốn đầu tư có thể là vốn đầu tư ban đầu của nhà ĐTNN dưới hình thức vốn pháp định, vốn tái đầu tư từ lợi nhuận, vốn vay của doanh nghiệp để mở rộng dự án trong quá trình hoạt động
Tóm lại có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó
Tổng quan lý thuyết
2.2.1 Các lý thuyết theo cấp độ vĩ mô
Lý thuyết về môi trường đầu tư
Lý thuyết về môi trường đầu tư của Lucass (1988) đã chứng minh các nhân tố tác động ngoại sinh đến nguồn vốn đầu tư bao gồm: Sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, lãi suất và mức độ phát triển của hệ thống tài chính Bên cạnh đó, các yếu tố về lợi thế của nền kinh tế như: Mức đầu tư công và khả năng về nguồn lực cũng có tác động đến đầu tư Bên cạnh đó các tác động ngoại sinh khác như: số lượng các dự án đầu tư, trình độ công nghệ, khả năng tiếp thụ và vận dụng công nghệ, mức ổn định về môi trường đầu tư (môi trường vĩ mô, pháp luật và các thủ tục hành chính, tính minh bạch, mức độ đầy đủ thông tin về thị trường, các văn bản về luật lệ, thủ tục,…) đều có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
Lý thuyết FDI liên quan đến thương mại quốc tế
Smith (1776) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết FDI dựa vào thương mại quốc tế Theo Smith (1776) thương mại quốc tế phát triển dựa trên sự khác biệt về lợi thế tuyết đối, thương mại quốc tế giữa hai quốc gia diễn ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối về một loại hàng hóa nào đó và không có lợi thế về một loại hàng hóa khác Lý thuyết này thất bại trong việc giải thích hoạt động thương mại giữa hai quốc gia hoàn toàn không có lợi thế thương mại nào cả Ricardo (1817) đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối dựa trên nền tảng lý thuyết của Smith (1776) Theo Ricardo (1817) các quốc gia nên tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu các mặt hàng mà mình có lợi thế nhất Tuy nhiên lý thuyết của Ricardo (1817) chưa đề cập đến vấn đề công nghệ trong sản xuất, sự dịch chuyển vốn trong quốc tế Heckscher (1919), Heckscher và Ohlin (1991) đã bổ sung lý thuyết của Smith (1776) và Ricardo (1817) bằng lý thuyết thương mại quốc tế dựa vào sự dồi dào các yếu tố sản xuất Song song đó, Vernon (1966) cũng đưa lý thuyết vòng đời sản phẩm quốc tế để giải thích dòng chảy của thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế dựa vào các nguồn lực sẵn có (vốn, quy trình sản xuất, sự khác biệt sản phẩm, chu kì sản phẩm) Tuy nhiên, lý thuyết Vernon (1966) chưa đề cập đến đặc điểm của quốc gia tiếp nhận đầu tư Do đó, Kojima (1973) đã tích hợp lý thuyết thương mại và lý thuyết đầu tư trực tiếp Ông xác định các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, lao động, định hướng thị trường là 3 yếu tố quan trọng quyết định động cơ đầu tư trực tiếp nước ngoài
Lý thuyết lựa chọn đầu tƣ quốc tế dựa vào lợi thế
Lý thuyết lựa chọn vào lợi thế hay còn gọi là lý thuyết Chiết Trung (OLI – Ownership – Locational – International Advantages) Đây là một nghiên cứu phát triển các lý thuyết về quốc tế hóa và được nghiên cứu bởi John H Dunning Theo (Dunning, 1981) nhà đầu tư lựa chọn đầu tư vào 3 yếu tố O – L – I (Lợi thế về sở hữu (Ownership Advantages - Lợi thế O)), Lợi thế về vị trí (Locational Advantages - Lợi thế L) và Lợi thế về nội địa hóa (Internalisation Advantages - Lợi thế I) Cả 3 điều kiện nói trên đều phải được thỏa mãn trước khi có FDI Dunning (1981) cho rằng, nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI Tuy nhiên những lợi thế này luôn biến động theo thời gian Thời gian, không gian và sự phát triển của từng quốc gia theo từng thời kỳ, từng khu vực cũng như sự di chuyển và phát triển của luồng vốn FDI
Theo Dunning và Buckley (1977), lợi thế sở hữu (Lợi thế O) thể hiện qua: quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm tài sản hữu hình (vốn, nhân lực) và tài sản vô hình (công nghệ, bí quyết, thương hiệu, uy tín, thông tin, tiếp thị, kỹ năng quản lý) và khả năng tài chính so với công ty địa phương Tài sản này tạo điều kiện thuận lợi cho họ có được lợi thế cạnh tranh so với đối thủ địa phương Tuy nhiên, lợi thế này chỉ là điều kiện cần để công ty thành công ở nước ngoài, không giải thích động cơ di chuyển sang nước khác, họ có thể khai thác lợi thế này thông qua cấp giấy phép, xuất khẩu
Theo Dunning và Buckley (1977), lợi thế về vị trí (Lợi thế L) thể hiện qua các yếu tố như : tài nguyên của đất nước, khoáng sản, quy mô của nền kinh tế, tính đồng bộ về hạ tầng, tiền lương và lực lượng lao động, chất lượng nguồn nhân lực và tình hình chính trị của quốc gia, quy mô và sự tăng trưởng của thị trường, các chính sách đầu tư ưu đãi của Chính phủ, các yếu tố kinh tế vĩ mô ổn định, Khi quyết định đầu tư ra nước ngoài thông qua hình thức FDI, công ty phải đối mặt với việc lựa chọn địa điểm đầu tư tối ưu cho hoạt động của mình, đó là: (1) nên chọn quốc gia nào; và
(2) địa phương nào của quốc gia đó để đặt nhà máy là tốt nhất? Vấn đề này được lý giải bởi lý thuyết lợi thế địa điểm Lý thuyết này xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu của các yếu tố liên quan đến quá trình SXKD Quyết định địa điểm được nhà đầu tư đưa ra dựa trên cơ sở lợi thế địa điểm đó có thể giúp doanh nghiệp tối đa hóa doanh thu, tối thiểu hóa chi phí, tối đa hoa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Những địa điểm có khung thể chế gần với nước của nhà đầu tư, khoảng cách mập mờ ít, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh quốc tế và chính trị ổn định sẽ là vị trí sản xuất quốc tế được ưu thích lựa chọn
Theo Dunning và Buckley (1977), lợi thế về nội hóa (Lợi thế I) thể hiện qua các yếu tố như: sự minh bạch, công bằng của hệ thống quản lý nhà nước, hệ thống hành chính của quốc gia, các chính sách hổ trợ của địa phương Theo lý thuyết này những yếu tố mang đặc tính của quốc gia có ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn FDI cũng như các nguồn vốn khác Các yếu tố đặc trưng của quốc gia khá nhiều như chính sách thu hút đầu tư của quốc gia, cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động,…vì thế các yếu tố này cần được quan tâm khi nghiên cứu về FDI của các quốc gia
2.2.2 Các lý thuyết theo cấp độ vi mô
Lý thuyết quy mô thị trường và quyền lợi thị trường
Balassa (1986) cho rằng quy mô thị trường có ảnh hưởng đến lượng vốn FDI vào các quốc gia Quy mô thị trường được đo lường thông qua các yếu tố như: lượng hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dân số,…Quy mô thị trường cho phép việc chuyên môn hóa sản xuất, giảm chi phí, đạt lợi nhuận cận biên hay nói cách khác quy mô thị trường cho phép đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô Lý thuyết về quy mô thị trường và quyền lợi thị trường cho chúng ta căn cứ khoa học để giải thích dòng chảy vốn đầu tư và động thái của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Lý thuyết về FDI dựa trên thị trường không hoàn hảo và FDI dựa trên sức mạnh độc quyền
Lý thuyết về FDI dựa trên thị trường không hoàn hảo và FDI dựa trên sức mạnh độc quyền của Kindleberger (1969) được sự ủng hộ của Kickerbocker (1973) và Vaitsos (1974) Theo lý thuyết này thị trường luôn không hoàn hảo, sự cạnh tranh không hoàn hảo giúp cho FDI tồn tại (nếu cạnh tranh tồn tại, không tồn tại FDI) Một số quốc gia tồn tại sự không hoàn hảo ở thị trường hàng hóa, thị trường các yếu tố sản xuất, công nghệ và sự can thiệp của Chính phủ vào môi trường cạnh tranh làm cho thị trường tách biệt nhau thì đầu tư nước ngoài mới phát triển mạnh Hay nói cách khác, vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh ở những nơi có sự không hoàn hảo trong môi trường cạnh tranh, sự can thiệp của Chính phủ vào sự phát triển của thị trường nhiều và tính liên kết các loại thị trường trong nền kinh tế yếu
Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm do nhà kinh tế học Vernon đề xuất vào năm 1966 để giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh của họ từ chỗ xuất khẩu sản phẩm sang thực hiện đầu tư trực tiếp Lý thuyết này giải thích xu hướng dịch chuyển đầu tư của vốn đầu tư theo chu kỳ sản phẩm quốc tế, giải thích xu hướng đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài Theo lý thuyết này thì bất kỳ một công nghệ sản phẩm mới nào đều tiến triển theo 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển quy trình và đi đến chín mùi; (3) Giai đoạn chín mùi hay được tiêu chuẩn hóa Trong mỗi giai đoạn này các nền kinh tế khác nhau có lợi thế so sánh trong việc sản xuất những thành phàn khác nhau của sản phẩm
Giai đoạn phát minh và giới thiệu: Nhà đầu tư thường mong đợi nơi mà họ đầu tư sẽ có nhiều điều kiện để cải tiến sản phẩm và sẽ được tiêu thụ với mức giá cao Vì thế địa điểm sản xuất được lựa chọn ở nơi có điều kiện để cải tiến sản phẩm mới (điều kiện thị trường thuận lợi, khách hàng có mức thu nhập cao, chi phí lao động đơn vị cao, đầu tư mạnh cho nghiên cứu) Vì vậy nhân tố thu thập của khách hàng và đầu tư nghiên cứu, phát triển là nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài
Giai đoạn phát triển quy trình và đi đến chín mùi: Nhà đầu tư sẽ luôn muốn mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng lợi nhuận, dẫn đến việc nhà đầu tư sẽ lựa chọn những địa điểm đặt nhà máy dựa trên sự cân nhắc chi phí sản xuất cận biên cộng với chi phí vận chuyển hàng hóa xuất khẩu so với chi tiêu Vì vậy việc lựa chọn một vị trí địa lý phù hợp, có quy mô thị trường, và xem xét kĩ các khoản chi phí cho nguyên liệu và lao động cũng là những nhân tố ảnh hưởng mà mọi nhà đầu tư quan tâm
Giai đoạn chín mùi hay được tiêu chuẩn hóa: Bên cạnh những mong muốn nêu trên thì nhà đầu tư còn chú trọng làm thế nào để giảm chi chí sản xuất tối đa nhất có thể để mà từ đó gia tăng lợi nhuận dẫn đến nhà đầu tư sẽ ưu tiên lựa chọn địa điểm có chi phí thấp để thành lập cơ sở sản xuất, lắp ráp Vì vậy các loại chi phí lao động, chi phí nguyên liệu và chính sách hỗ trợ thuế cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư
Quá trình phát triển kinh tế, nó được chuyển dịch từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác Giả thuyết chu kỳ sản xuất giải thích sự tập trung công nghiệp hóa ở các nước phát triển, đưa ra một lý luận về việc hợp nhất thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế giải thích sự gia tăng xuất khẩu hàng công nghiệp ở các nước công nghiệp hóa Tuy nhiên, lý thuyết này chỉ còn quan trọng đối với việc giải thích FDI của các công ty nhỏ vào các nước đang phát triển
Lý thuyết nội địa hóa
Buckley và Casson (1976) đã phân tích đơn giản hoạt động của các DN đa quốc gia như là một chuỗi các hoạt động riêng biệt được liên kết thông qua việc trao đổi, vận chuyển nguyên liệu, bán thành phẩm Các MNCs thực hiện liên kết (theo chiều ngang và chiều dọc) bằng cách “nội hóa” các sản phẩm trung gian Các sản phẩm trung gian giữa các công ty trong cùng hệ thống ở các quốc gia khác nhau Từ đó giúp MNCs gia tăng thị phần, lợi nhuận thông qua các giao dịch “nội hóa” các sản phẩm trung gian Lý thuyết nội địa hóa giải thích tại sao các MNCs di chuyển nguồn vốn của mình sang nhiều quốc gia nhằm tránh những ràng buộc về xuất khẩu, rào cản xuất khẩu, rào cản thuế quan, phi thuế quan, giảm sự kiểm soát của các chính phủ, tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động SXKD
Các nghiên cứu thực nghiệm về FDI
2.3.1 Các nghiên cứu quốc tế
Mirza, H and Giroud, A (2004), “Regional integration and benefits from foreign direct investment in ASEAN countries: the case of Vietnam”, Asian Development Economic Review Khảo sát các tập đoàn xuyên quốc gia hoạt động ở ASEAN và cho rằng, Việt Nam đã đạt những thành tựu đáng kể trong thu hút FDI, trở thành nước lớn thứ ba ở ASEAN thu hút vốn FDI, sau Singapore và Malaysia, Việt Nam hấp dẫn FDI bởi sự ổn định chính trị, dân số lớn, chất lượng nguồn lao động và cơ sở công nghiệp đa dạng, khoảng 45% doanh nghiệp đầu tư với động cơ tìm kiếm thị trường, 14% là tìm kiếm hiệu quả, còn lại là những động cơ khác và hỗn hợp (hiệu quả và tìm kiếm thị trường) tùy thuộc thực tế, mẫu nghiên cứu là các công ty con của công ty xuyên quốc gia gồm 22 công ty
Binh, N.N., and Haughton, J (2002), “Trade liberalization and foreign direct investment in Vietnam”, ASEAN Economic Bulletin Kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI của 16 nước Châu Á giai đoạn 1991-1999 bằng cách sử dụng mô hình dữ liệu bảng cho rằng, tỷ lệ xuất khẩu/GDP của một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến thu hút FDI Tỷ giá thực tế, thâm hụt ngân sách, tiết kiệm cũng là những yếu tố quan trọng Sau đó tác giả sử dụng mô hình này để kiểm tra ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đối với thu hút FDI vào Việt Nam và cho rằng, Hiệp định này khiến cho hơn 30% FDI vào Việt Nam trong năm đầu tiên và tăng gấp đôi trong dài hạn Tuy nhiên, dòng vốn chỉ được duy trì khi Việt Nam thực hiện các thay đổi cần thiết để gia nhập WTO
Khachoo và Khan (2012) “Determinant of FDI inflows to developing countries: a panel data analysis” Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển giai đoạn (1982 – 2008) Nghiên cứu này được dựa trên một mẫu của 32 nước đang phát triển Dòng vốn FDI được mô hình hóa như một hàm của các biến: kích thước thị trường, tổng sản lượng, cơ sở hạ tầng, chi phí lao động, độ mở của nền kinh tế Kết quả cho thấy quy mô thị trường, tổng sản lượng, cơ sở hạ tầng và chi phí lao động là các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển
Ozturk (2007), “Foreign direct investment-growth nexus: a review of the recent literature” International Journal of Applied Econometrics and Quantitative Studies, vol 4, pp Nghiên cứu cho rằng các quốc gia cần có những điều kiện cụ thể để thu hút dòng vốn FDI chảy vào trong nước đó là: chi phí lao động, chính sách thu hút đầu tư, độ mở của nền kinh tế, môi trường đầu tư, hệ thống tài chính, chế độ thương mại, thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng, chất lượng cơ sở hạ tầng, những ưu đãi về thuế, quy mô thị trường, mức độ hội nhập khu vực và kinh tế, chính trị ổn định,…Những yếu tố trên quan trọng đối với FDI và tạo ra một tác động tích cực về tăng trưởng kinh tế
Xin, 2012 “Factors affecting foreign direct investment decision in Malaysia” Universiti Tunku Abdul Rahman Nghiên cứu của Xin (2012) về dòng vốn FDI của Malaysia từ năm 1982 – 2010 vốn FDI chịu sự tác động của nhiều tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, tỷ giá thực tế chính thức, độ mở của thương mại, tổng sản phẩm trong nước, tỷ lệ lạm phát và dòng vốn FDI của Trung Quốc ảnh hưởng đáng kể đến vốn FDI Malaysia ở mức ý nghĩa 10% Trong đó, tỷ giá thực tế chính thức có mối quan hệ tiêu cực với dòng vốn FDI Malaysia Biến cơ sở hạ tầng ảnh hưởng không đáng kể đến dòng vốn FDI Malaysia tại mức ý nghĩa 10%
2.3.2 Các nghiên cứu của Việt Nam
Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian từ
1988 – 2003 thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Tổng cục Thống kê, Cục Đầu tư Nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động và Thương binh xã hội Nghiên cứu đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng qua kênh đầu tư và tác động tràn đến năng suất của các doanh nghiệp trong nước Nhóm nghiên cứu đã phân tích số liệu theo quý (để đảm bảo đủ 60 quan sát trong kênh đầu tư) Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau: Về kênh đầu tư: có mối tương tác giữa FDI với tăng trưởng kinh tế (tác động đồng biến với mức ý nghĩa 5%); Tác động trái chiều giữa biến GDP và tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã tốt nghiệp cấp tiểu học; Tác động đồng biến giữa biến hội nhập với FDI và GDP Về tác động tràn: biến cường độ sử dụng vốn cố định/lao động, tỷ lệ lao động có bằng cao đẳng và trung cấp nghề trở lên/tổng lao động của doanh nghiệp, biến tỉnh có tác động làm thay đổi tăng năng suất của ngành dệt may, biến ngành điện tử Những mặt hạn chế của đề tài là: (i) Dữ liệu phân tích theo quý và chỉ có 60 quan sát (cho kênh đầu tư); (ii) Dữ liệu thứ cấp có từ nhiều nguồn nên độ tin cậy chưa cao, mức độ giải thích mô hình thấp; (iii) Số biến mô hình sử dụng trong mô hình còn rất hạn chế
Nghiên cứu của Nguyen và Nguyen (2007) đã tập hợp dữ liệu bảng gồm số liệu thu hút FDI và tăng trưởng kinh tế của các tỉnh thành của Việt Nam từ công bố trong Niên giám thống kê và Bộ Kế Hoạch và Đầu tư giai đoạn 1988 – 2005 với mô hình đề xuất: FDI = f (Nhân tố thị trường, nhân tố lao động, nhân tố cơ sở hạ tầng, nhân tố chính sách của chính phủ/ chính quyền địa phương) Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất thông thường (Ordinary Least Square, OLS) cho kết quả: Nhân tố thị trường, nhân tố lao động, nhân tố cơ sở hạ tầng có tích cực đến thu hút FDI của địa phương
Trần Thanh Hậu (2010), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản ở Thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI”, luận văn thạc sĩ, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Đề tài nghiên cứu đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Tp Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2010, so sánh, đánh giá với các địa phương khác làm nổi bật vai trò, vị trí TP Hồ Chí Minh trong việc thu hút FDI nói chung mà trọng tâm là FDI từ Nhật Bản Tác giả nêu lên triển vọng FDI của Nhật ở Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp gồm: hệ thống luật và các thủ tục hành chính, cơ sở hạ tầng, hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, nhân lực và công nghệ Tuy nhiên cơ sở lý luận còn sơ sài, các nhân tố tác động đến tăng trưởng FDI của Nhật Bản chỉ trình bày chung chung
Phan Văn Tâm (2011), “Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam”, luận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Luận án nghiên cứu các nhân tố tác động đến FDI của Nhật Bản vào Việt Nam, áp dụng phương pháp mô hình lực hấp dẫn xác định các nhân tố thu hút FDI Đề xuất các định hướng thu hút FDI của Nhật Bản tại Việt Nam nên chuyển theo hướng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ thu hút các dự án thâm dụng vốn Tác giả khuyến nghị 5 nhóm giải pháp thu hút
FDI: khuôn khổ pháp lý và chính sách, vai trò điều tiết kinh tế vi mô của Chính phủ, xúc tiến thu hút đầu tư, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp Nhật Bản trả lời câu hỏi không nhiều, bộ dữ liệu sử dụng để phân tích và ước lượng mô hình ngắn
Nguyễn Huy Hoàng (2012), “FDI của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO”, luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn phân tích thực trạng, cơ hội, thách thức đối với việc thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập WTO, trên cơ sở đó đánh giá những ưu nhược điểm, tìm ra các nguyên nhân tồn tại Tác giả chưa phân tích định lượng để làm rõ các yếu tố chính tác động đến FDI của Nhật Bản để có thể ưu tiên những giải pháp cần thiết và tối ưu trước
Phạm Kim Phước (2017), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long”, luận án tiến sĩ, Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh Luận án phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn FDI và GDP của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và mối quan hệ nhân quả giữa FDI và GDI Đồng thời luận án cũng đánh giá tăng trưởng kinh tế qua chỉ số TFP (Total Factor Poundation) Tác giả sử dụng phương pháp định lượng đối với 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 10 năm 2005-2014 để tìm ra 9 nhân tố tác động đến FDI gồm: FDI năm trước, tăng trưởng kinh tế của địa phương, vốn đầu tư của nhà nước, tỷ lệ lực lượng lao động đang làm việc/dân số, độ mở nền kinh tế, tỷ lệ chi thường xuyên/gdp, tổng giá trị hàng hóa bán lẻ, khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy
Nguyễn Minh Tiến (2014), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng cường kinh tế ở các vùng của Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế Đề tài luận án tiến hành nghiên cứu thực nghiệm vùng đối với: Đồng bằng sông Hồng, Trung du miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung Luận án tiến hành kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa FDI với các biến có quan hệ với tăng trưởng kinh tế để đánh giá tác động lan tỏa của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế Luận án đưa ra các nhân tố thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam gồm: Quy mô thị trường, nguồn nhân lực, lao động có kĩ năng, chính sách kinh tế vĩ mô Đồng thời luận án cũng gợi ý một số chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường thu hút dòng vốn FDI
Nguyễn Ngọc Anh (2014), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” Luận án phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút đến vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Luận án tập trung vào yếu tố vùng và sử dụng mô hình hồi quy Kết quả của luận án cho thấy các yếu tố tác động đến sự thuận lợi của yếu tố vùng bao gồm: thể chế, lao động, tài nguyên, công nghiệp hỗ trợ và công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường Luận án cũng gợi ý 5 chính sách đề xuất tập trung vào 5 nhóm nhân tố quan trọng:
(1) hoàn thiện thể chế và cơ chế thực thi tại địa phương; (2) phát triển nguyên vật liệu; (3) phát triển công nghiệp hỗ trợ; (4) phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và hạ tầng bên trong khu công nghiệp, khu chế xuất; và (5) chính sách xúc tiến đầu tư nhằm tạo ra lợi thế so sánh vùng, tạo sức hút lớn đối với doanh nghiệp FDI
Các yếu tố tác động đến nguồn vốn FDI
Các yếu tố tác động đến vốn FDI bao gồm từ 2 phía: từ nước chủ nhà (quốc gia đi đầu tư) và từ nước tiếp nhận đầu tư hay nói cách khác là từ nước có đầu tư ra nước ngoài và nước muốn thu hút đầu tư và trong nước
2.4.1 Các yếu tố thúc đẩy sự dịch chuyển vốn đầu tƣ của các nhà đầu tƣ nước ngoài
Samuelson và Puttaswamaniah (2002) đã đưa ra lý thuyết “vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài” Theo lý thuyết này đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích lũy vốn còn hạn chế, để phát triển kinh tế phải có cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là nguồn vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi (Samuelson và Puttaswamaniah,
Chu kì của sản phẩm bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: Giai đoạn phát minh và giới thiệu, giai đoạn phát triển quy trình và đi tới chín muồi, giai đoạn chín muồi hay được tiêu chuẩn hóa Theo Akamatsu (1962), sản phẩm mới ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài (giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu sản phẩm mới trên thị trường bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI
Trong chu kỳ phát triển sản phẩm, khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa là lúc có rất nhiều nhà cung cấp sản phẩm đó trên thị trường (Vernon, 1966) Lúc này, DN ít thực hiện cải tiến sản phẩm nhưng mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp rất khốc liệt Các nhà cung cấp có xu hướng giảm giá bán sản phẩm nhờ cắt giảm chi phí sản xuất, kinh doanh ở những quốc gia có chi phí sản xuất thấp
Lợi thế của các công ty đa quốc gia (MNCs)
Theo Hymer (1976) Dunning (1981), các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính sách đầu tư,…) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế về vốn và công nghệ nên lựa chọn đầu tư và các nước có nguồn nguyên liệu dồi dào và sẵn có, giá lao động rẻ, thị trường tiêu thụ tiềm năng,…
Khai thác lợi thế của nước nhận đầu tư
Theo Hymer (1976), các công ty đa quốc gia là các công ty tiến hành các hoạt động sản xuất ở nhiều quốc gia khác nhau Hầu hết các công ty này khởi phát từ các quốc gia giàu có phát triển và phần nhiều dự án đầu tư nước ngoài của họ là nhằm vào các nước phát triển khác Thông thường, các công ty này mang vốn ra nước ngoài bởi vì họ sở hữu một lợi thế đặc biệt mà họ muốn khai thác tối đa, hơn nữa họ có thể thu được nhiều lợi nhuận từ các hoạt động ở nước ngoài Những lợi nhuận này có được có thể là nhờ việc tránh được hàng rào thuế quan hay sử dụng lao động nước ngoài rẻ Theo Akamatsu (1962), các yếu tố hấp dẫn FDI là nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản (như dầu mỏ ở Indonesia) hay giá lao động rẻ (như Trung Quốc, Malaysia) cũng có vai trò quan trọng không kém, đặc biệt khi áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu là một cơ hội lớn cho các nhà đầu tư
Khai thác ưu đãi đầu tư của nước nhận đầu tư
Theo Akamatsu (1962), để thu hút FDI, nhiều chính phủ đưa ra các biện pháp khuyến khích đầu tư như miễn giảm thuế, khấu hao nhanh, giảm thuế nhập khẩu đầu vào sản xuất, đặc khu kinh tế, khuyến khích xuất khẩu đối với những người muốn đầu tư Các công ty ĐTNN nhằm giành trước hay ngăn chặn những hoạt động tương tự của các đối thủ cạnh tranh Một số nước cho phép các nhà đầu tư được nhập khẩu miễn thuế một số sản phẩm chế tạo tại các chi nhánh của họ tại nước ngoài Một trong những động cơ của các DN FDI khi thực hiện đầu tư nước ngoài là nhằm phân tán rủi ro bằng cách đầu tư tại nhiều địa điểm khác nhau
Né tránh cạnh tranh và các rào cản khác
Theo Thunell (1977), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Một số quốc gia đặc biệt là những quốc gia có nhiều lợi thế trong hoạt động thương mại quốc tế thường gặp các rào cản tư các quốc gia không có lợi thế hay bị thâm hụt thương mại Để né tránh vấn đề này, các quốc gia tiến hành đầu tư trực tiếp vào nước thứ 3 để xuất khẩu trở lại nước không có lợi thế (giảm số lượng hàng hóa xuất khẩu trực tiếp từ nước chủ nhà)
2.4.2 Các yếu tố thu hút FDI của các nhà đầu tư trong nước
Yếu tố về môi trường vĩ mô
Globerman và Shapiro (2003) cho rằng kinh tế vĩ mô bao gồm: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cán cân thanh toán, tỷ giá ngoại hối, các thuộc tính của pháp luật, quy định và hệ thống pháp lý, đảm bảo quyền sở hữu, tính minh bạch của quy trình chính phủ và pháp lý,…có tác động đến việc thu hút vốn FDI vào quốc gia Lê Xuân
Bá (2006) cho rằng Việt Nam thu hút được nhiều hơn vốn FDI là nhờ ổn định kinh tế vĩ mô đặc biệt là quá trình kiểm soát lạm phát tốt, duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện Trần Kim Cương (2015) cho rằng cải thiện thể chế kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát tốt tiến trình đô thị hóa có thể gia tăng lợi ích nhận được từ FDI cho nền kinh tế
Yếu tố về chính sách thu hút vốn FDI
Theo Garibaldi và cộng sự (2002) chứng minh rằng FDI có thể bị tác động bởi các nhân tố: mức độ cải cách của nền kinh tế, chiến lược và chính sách của quốc gia, tình trạng quan liêu của chính phủ (liên quan đến vấn nạn tham nhũng ở những nước nhận đầu tư) Okafor (2015) cho rằng, DN FDI dễ dàng đưa ra quyết định đầu tư vào các quốc gia có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Nguyễn Ngọc Mai (2013) cho rằng, việc thu hút FDI tùy thuộc khá nhiều vào chính sách, chiến lược về thuế, đất đai, hỗ trợ đầu tư, lao động và việc làm và kế hoạch phát triển của từng quốc gia Nghiên cứu của Nguyễn Đình Chiến và cộng sự (2012) cho thấy, mở cửa nền kinh tế có tác động tích cực đến thu hút dòng vốn FDI chảy vào trong nước
Yếu tố về môi trường vi mô
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, môi trường kinh doanh, vị trí địa lý, văn hóa, lực lượng lao động,…là những yếu tố được nhà ĐTNN quan tâm cân nhắc khi lựa chọn địa điểm đầu tư (Jetro, 2013), Ozturk (2007) nhận định rằng quốc gia sẽ thu hút được nhiều hơn vốn FDI khi có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào Harris và Reid (2010) các quốc gia có nhiều rào cản thương mại có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu và thu hút vốn FDI Nghiên cứu của Pravakar Sahoo (2006) cho rằng các nhân tố như quy mô thị trường, tỷ lệ tăng trưởng lực lượng lao động, chỉ số cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại có tác động lên FDI Nghiên cứu cũng khuyến nghị rằng để thu hút nhiều hơn nữa dòng vốn FDI vào những nước này cần duy trì đà tăng trưởng để cải thiện quy mô thị trường, chính sách thương mại để sử dụng lao động dư thừa tốt hơn, giải quyết những ách tắt về cơ sở hạ tầng và cho phép chính sách thương mại mở cửa hơn
Yếu tố về môi trường kinh tế thế giới
Shahzad và Al-Swidi (2013) cho rằng các công ty đa quốc gia sẽ dịch chuyển vốn đầu tư khi môi trường đầu tư thế giới có sự biến động Các MNCs sẽ xâm nhập vào các quốc gia khác khi có đủ tiềm lực tài chính và năng lực kinh doanh nhằm tìm kiếm thị trường hấp dẫn hơn
Trong chương 2 đã cho thấy cái nhìn tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nhiệm, từ đó dựa vào các lý thuyết của Keyness (1936), lý thuyết Dunning
(1981) và một số nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến thu hút vốn FDI của: Mirza, H and Giround, A (2004), Binh, N.N., and Haughton, J (2002), Ozturk
(2007), Xin, O K.2012, Khachoo và Khan (2012), Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự
(2006), Nghiên cứu của Nguyen và Nguyen (2007), Trần Thanh Hậu (2010), Phan Văn Tâm (2011), Nguyễn Huy Hoàng (2012), Nguyễn Minh Tiến (2014), Nguyễn Ngọc Anh (2014), Nguyễn Kim Phước (2017) rút ra được 7 yếu tố ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn FDI, tạo nền tảng phát triển khung phân tích gồm thể chế nhà nước, tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân lực, thị trường, đặc điểm của quốc gia, công nghiệp hỗ trợ Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và từng bước phân tích dữ liệu ở chương 3.