Qua đó, đo lường tác động của các biến bên trong ngân hàng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng bao gồm qui mô tín dụng SIZE, vốn chủ sở hữu CAPITAL, tính thanh khoản LIQUITY, qui mô tín
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Trong khoá luận này, tác giả nghiên cứu về lợi nhuận của ngân hàng và tìm hiểu các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng thông qua dữ liệu của 30 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019 với 324 quan sát
Với sự hỗ trợ của phần mềm Stata, khoá luận áp dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng với 3 phương pháp sau: phương pháp bình phương tối thiểu dạng gộp (Pooled OLS), phương pháp hiệu ứng cố định (FEM) và phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) Qua đó, đo lường tác động của các biến bên trong ngân hàng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng bao gồm qui mô tín dụng (SIZE), vốn chủ sở hữu (CAPITAL), tính thanh khoản (LIQUITY), qui mô tín dụng (LOAN), rủi ro tín dụng (CREDIT), chi phí hoạt động (TETA) cùng các biến bên ngoài ngân hàng bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP (GDP), tỷ giá trao đổi (ER) và lãi suất cho vay (IRT) Sau khi thực hiện các kiểm định, tác giả lựa chọn mô hình REM Để kiểm định các khuyết tật của mô hình, tác giả sử dụng kiểm định nhân tử Lagrange và kiểm định Wooldridge cho thấy mô hình có hiện tượng tự tương quan
và phương sai sai số thay đổi Sau khi dùng phương pháp hồi quy GLS để khắc phục khuyết tật của mô hình, kết quả cho thấy với mức ý nghĩa 5%, các biến SIZE, CAPITAL, LOAN và GDP có tác động cùng chiều đến lợi nhuận của ngân hàng Ngược lại, các biến CREDIT, TETA và ER có mối quan hệ nghịch chiều với lợi nhuận Trong khi đó, các biến LIQUITY và IRT không có ý nghĩa thống kê
Như vậy, lợi nhuận của ngân hàng chịu tác động bởi cả các nhân tố bên trong
và bên ngoài ngân hàng Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp, khuyến nghị cho hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam và cơ quan quản lý Nhả nước có những chích sách để ổn định và cải thiện lợi nhuận cũa ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 4ABSTRACT
The study investigates the factors affecting profitability of commercial banks
in Vietnam through data of 30 commercial banks in Vietnam during the period 2009-2019 with 324 observations
The author uses Ordinary Least Squares (OLS), Fixed Effects Method (FEM) and Random Effects Method (REM) to estimate the impact of bank-specific characteristics, macroeconomic conditions towards the profits of banking The independent variables comprise of total assets (SIZE), ratio of equity to total assets representing capital strength (CAPITAL), ratio of liquid assets to customer and short-term funding (LIQUITY), ratio of loan to total assets (LOAN), loan loss reserves to total loans (CREDIT) and operating cost (TETA) Turning to external determinants, the study consider three variables which are the rate of GDP growth (GDP), exchange rate (ER) and interest rate (IRT) The study uses Breusch and Pagan Lagrangian mutiplier test and Wooldridge test for autocorrelation to estimate and surmount the defects of the model After using Generalized Least Squares Method (GLS), the result shows that the variables SIZE, CAPITAL, LOAN and GDP have a positive and dominant influence on their profitability While the variables CREDIT and TETA have negative affect on banking profit, the variables LIQUITY and IRT have no correlation with banking profitability
In conclusion, the profit of banking is influenced by both bank-specific determinants and external factors Based on the research results, the author offer recommendations for commercial banking system and State management agency in order to stable operating management, maximize banking profitability In addition, the author also points out the limitations of the study and suggestions for future study of determinants affecting banking profitability
Trang 5Chapter 1: Introduction
This chapter presents an overview of the research topics, including the reasons for choosing topic, the research objectives, the object of study, the scope of research, the contribute of research methods and layout To identify the factors affecting the profitibility profitability of commercial banks in Vietnam during the period of 2009-2019, the project has identified research goals and formed three research questions: What factors affecting bank‟s profitability; The level of these factors influences profitability of commercial banks in Vietnam; From the results of the research, do the research have any suggestion to improve the commercial banks‟ profitability in Vietnam?
Chapter 2: Literature Review
This chapter presents the theoretical basis of profitability and the factors affect the profit of commercial bank Based on the previous emprical studies both
at home and abroad, we have specific overview about the deteminants affecting commercial bank‟s profitability The factors affecting the profitability of banks include bank-specific characteristics and country-specific characteristics, also referred to as internal factors and external factors, respectively The internal factors includes bank size, capital ratio, liquidity ratio, loan ratio, credit risk and operating cost The external factors includes rate of GDP growth, exchange rate and average interest rate
Bank size is the main characteristic of a bank that affects its profitability Existing studies by Adem & Deger (2011), Gul & Zaman (2011), San & Heeng (2012), Weersainghe & Perera (2013), Adama & Apélété (2017), Nguyen Viet Hung (2008), Tran Huy Hoang và Nguyen Huu Huan (2016), Phan Thi Hang Nga (2017) found that bank size has a positive effect on the bank‟s profitability, while Syafri (2012), Ahmad (2014), Islam & Nishiyama (2016) found a negative effect Nguyen Thanh Phong (2015) pointed out bank size have no relation to banking profit
Trang 6The capital ratio is also an important determinant that may affect banks‟ profitability Some previous studies found that there is a positive impact of capital ratio on profitability (Yuqi, 2007; Nguyen Viet Hung, 2008; Gul & Zaman, 2011; Saira, 2011; San & Heeng , 2012; Syafri, 2012; Ahmad, 2014; Islam & Nishiyama, 2016; Adama & Apélété, 2017; Phan Thi Hang Nga, 2017) However, Nguyen Thanh Phong (2015) has shown that capital ration has no affect on the profit of bank
Liquidity ratio is also considered as a determinant on banking profitability Some existing researches by Yuqi (2007), Ahmad (2014) pointed out ratio of liquid assets to customer and short-term funding has a positive effect on the profit of bank However, Weersainghe & Perera (2013), Nguyen Thanh Phong (2015), Gul & Zaman (2011), Syafri (2012) have a answer against the prior result
Lending activities have a huge positive impact on banking profitability based on the studies of Gul & Zaman (2011), Syafri (2012) In the reverse direction, Nguyen Viet Hung (2008), Adem & Deger (2011), Nguyen Thanh Phong (2015) found a negative effect on the profit of bank
Operating costs of a bank as a percentage of its profits are expected to have a negative correlation with profitability (Syafri, 2012; Weersainghe & Perera, 2013; Ahmad, 2014) However, the studies by Tarus, Chekol & Mutwol (2012), Islam & Nishiyama (2016), Phan Thi Hang Nga (2017) have shown that there is a positive affect on banking profit
There are also country-specific factors that influence the profitability of a bank The rate of GDP growth is one of the main determinants of a bank‟s profitability as it displays the relative country‟s performance Previous studies such
as Gul & Zaman (2011), Adama & Apélété (2017) found that GDP growth has a positve affect on the profitability of bank while Tarus, Chekol & Mutwol (2012), Islam & Nishiyama (2016) pointed out a reverse correlation between GDP and the banking profit
Trang 7Some new factors affecting on the profitability of bank includes exchange rate and average interest rate Gul & Zaman (2011) examined the positive correlation between exchange rate and banking profit In other aspect, Gul & Zaman (2011) pointed out a negative affect on the profit of bank The previous studies by Adem & Deger (2011), Gul & Zaman (2011), Qinhua & Meiling (2014) has shown that interest rate impacts in the same direction as the profit of bank while Guru & Balashanmugam (2002), Yuqi (2007), Adama & Apélété (2017) have an against result
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong khóa luận Em xin được gửi lời tri ân đến người đã hướng dẫn khoá luận của em là
cô Nguyễn Thị Mai Huyên cùng với bạn bè và gia đình đã giúp đỡ và hỗ trợ em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận
TP.Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2021
TRẦN THỊ THẢO LY
Trang 9MỤC LỤC
TÓM TẮT KHÓA LUẬN i
MỤC LỤC vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
DANH MỤC BẢNG xiii
DANH MỤC HÌNH ẢNH xiv
CHƯƠNG 1GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 4
1.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 5
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 5
CHƯƠNG 2CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
2.1 LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
2.1.1 Khái niệm lợi nhuận 6
2.1.2 Cách thức xác định lợi nhuận 6
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh NHTM 8
2.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NHTM 9
Trang 102.2.1 Các yếu tố bên trong ngân hàng 9
2.2.2 Các yếu tố bên ngoài ngân hàng 13
2.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NHTM 15
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài 15
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 20
2.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 25
CHƯƠNG 3PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 26
3.1.1 Qui mô ngân hàng 26
3.1.2 Vốn chủ sở hữu 27
3.1.3 Tính thanh khoản 27
3.1.4 Qui mô tín dụng 28
3.1.5 Rủi ro tín dụng 28
3.1.6 Chi phí hoạt động 29
3.1.7 Tốc độ tăng trưởng GDP 29
3.1.8 Lãi suất cho vay 30
3.1.9 Tỷ giá 30
3.2 GIẢI THÍCH CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 31
3.2.1 Biến phụ thuộc 31
3.2.2 Biến độc lập 31
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 36
3.4 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 37
Trang 11KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 39
CHƯƠNG 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 40
4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ 40
4.1.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản 41
4.1.2 Qui mô ngân hàng 42
4.1.3 Vốn chủ sở hữu 43
4.1.4 Tính thanh khoản 44
4.1.5 Qui mô tín dụng 44
4.1.6 Rủi ro tín dụng 45
4.1.7 Chi phí hoạt động 46
4.1.8 Tốc độ tăng trưởng GDP 47
4.1.9 Tỷ giá 48
4.1.10 Lãi suất cho vay 49
4.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 50
4.3 PHÂN TÍCH HỒI QUY 51
4.3.1 Kết quả hồi quy 52
4.3.2 Lựa chọn mô hình 53
4.4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
4.4.1 Các biến tác động bên trong ngân hàng 55
4.4.2 Các biến tác động bên ngoài ngân hàng 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 61
CHƯƠNG 5KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
5.1 KẾT LUẬN 62
5.2 KHUYẾN NGHỊ 63
Trang 125.2.1 Đối với các NHTM 63
5.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 66
5.3 HẠN CHẾ CỦA KHOÁ LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 67 5.3.1 Hạn chế của khoá luận 67
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 74
Trang 13DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng Anh Tiếng Việt
AND TAXES
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
EBT EARNINGS BEFORE TAXES Lợi nhuận trước thuế
GDP GROSS DOMESTIC PRODUCT Tốc độ tăng trưởng kinh tế
GLS GENERALIZED LEAST SQUARES Phương pháp bình phương nhỏ
nhất tổng quát
đương tiền trên tổng tài sản
OLS ORDINARY LEAST SQUARES Mô hình bình phương nhỏ phất
thông thường REM RANDOM EFFECT MODEL Mô hình tác động ngẫu nhiên ROA RETURN ON ASSET Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROE RETURN ON EQUITY Tỷ suất sinh lời trên tổng nguồn
vốn ROI RETURN ON EQUITY Tỷ suất sinh lời trên tổng vốn chủ
sở hữu
Trang 14TETA TOTAL EXPENDITURE OF TOTAL
Trang 15DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm 21
Bảng 3.1 Các biến và kỳ vọng về dấu của mô hình 35
Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các biến 40
Bảng 4.2 Ma trận hệ số tương quan 50
Bảng 4.3 Nhân tử phóng đại phương sai của các biến 51
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM, REM của ROA 52
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy bằng phương pháp GLS của ROA 54
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy của các yếu tố bên trong ngân hàng 55
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy của các biến bên ngoài ngân hàng 59
Trang 16DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 37
Hình 4.1 Tỷ suất sinh lời trung bình của các NHTM Việt Nam 41
Hình 4.2 Qui mô tài sản của các ngân hàng trong năm 2009 và năm 2019 42
Hình 4.3 Tổng vốn chủ sở hữu cúa các ngân hàng năm 2019 43
Hình 4.4 Dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng năm 2019 45
Hình 4.5 Chi phí hoạt động của các ngân hàng năm 2019 46
Hình 4.6 Chỉ số tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2009-2019 47
Hình 4.7 Tỷ giá trao đổi VND/USD tại Việt Nam giai đoạn 2009-2019 48
Hình 4.8 Lãi suất cho vay trung bình của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2019 49
Trang 17CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức trung gian tài chính đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia NHTM là cầu nối về vốn của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp với các hoạt động chủ yếu bao gồm nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để thực hiện các hoạt động cấp tín dụng đối với các chủ thể trong nền kinh tế như cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, …
NHTM có chức năng đặc biệt mà các loại hình doanh nghiệp khác không có chính là chức năng tín dụng, trung gian thanh toán và có khả năng tạo tiền Tuy nhiên, dù có là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, mục tiêu của NHTM cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác là tạo ra lợi nhuận NHTM có thể hoạt động, duy trì và mở rộng quy mô kinh doanh thi cần phải tạo ra lợi nhuận và hoạt động hiệu quả
Hệ thống NHTM được xem là mạch máu của nền kinh tế quốc gia Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động của NHTM luôn cần được chú trọng, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hóa như hiện nay NHTM hoạt động tốt sẽ dẫn đến nền kinh tế phát triển thuận lợi Ngược lại, nếu hoạt động của NHTM yếu kém sẽ dẫn đến lượng tiền nhàn rỗi không được phân phối hiệu quả, nhu cầu huy động vốn sẽ không được đáp ứng hoặc tỉ lệ nợ xấu gia tăng, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia
Theo báo cáo của ngân hàng nhà nước (NHNN), trong giai đoạn năm
2009-2015 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các NHTM giảm dần một cách nhanh chóng từ 1.27% xuống còn 0.38% sau cuộc khủng hoảng nền kinh tế năm 2008 Cho đến năm 2016, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản mới tăng nhẹ và bắt đầu có chuyển biến tích cực Trong giai đoạn 2017-2019 tỷ suất sinh lời tăng từ 0.61% lên 0.91%, mặc dù lợi nhuận của ngân hàng có xu hướng phát triển nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn do nền kinh tế vẫn chưa ổn định, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các ngân hàng Đến năm 2020, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giảm xuống chỉ còn 0.78% Có thể thấy rằng, cho dù ngành ngân hàng có sự tăng trưởng tích cực nhưng
Trang 18vẫn chịu áp lực hỗ trợ các doanh nghiệp, giảm lãi và thực hiện theo chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước Trong khi đó, trong lĩnh vực ngân hàng lợi nhuận luôn được xem là yếu tố quyết định tính sống còn của các ngân hàng, là mục tiêu then chốt để các ngân hàng khẳng định sự tồn tại và phát triển Một ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận
sẽ giúp cho tiềm lực ngân hàng cải thiện, hoạt động kinh doanh hiệu quả góp phần
ổn định tài chính của một quốc gia
Để đo lường về lợi nhuận của NHTM, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thường sử dụng các thước đo tin cậy bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Các nghiên cứu của Naceur (2003), Ahmad (2014), Weersainghe & Perera (2013) đều chỉ ra rằng ROA sẽ phản ánh khả năng quản trị của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận Các tác giả Gul & Zaman (2011), Adama & Apélété (2017) lại nhận định ROE thể hiện một ngân hàng sử dụng vốn tốt đầu tư như thế nào để tăng trưởng lợi nhuận Trong khi đó, Tarus, Chekol & Mutwol (2012), Islam & Nishiyama (2016) lại chỉ ra NIM của ngân hàng tập trung vào phần lợi nhuận nhận được do các hoạt động biên lãi Qua các thước đo trên, nhà quản trị ngân hàng có thể nhận biết các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM, từ đó phân tích để đưa ra những khuyến nghị giúp ngân hàng ngày càng phát triển Bên cạnh đó, qua chỉ tiêu lợi nhuận, các nhà đầu tư sẽ có cái nhìn cụ thể hơn giúp đưa ra quyết định chính xác để đầu tư vào các ngân hàng
Do đó, nhận thấy được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với hoạt động của các NHTM cũng như việc tìm kiếm các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận là cần thiết Vì thế, đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 191.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là xác định các nhân tố tác động đến lợi của các NHTMCP Việt Nam Từ đó đưa ra những đề xuất giúp các NHTMCP gia tăng lợi nhuận
Thứ ba, nghiên cứu dựa trên kết quả phân tích đề xuất những gợi ý nhằm cải thiện lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đã nêu ra ở trên, khoá luận lần lượt trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, có những yếu tố chính nào tác động đến lợi nhuận của NHTM? Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam là như thế nào?
Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu, có những đề xuất nào nhằm cải thiện lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam?
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là lợi nhuận của ngân hàng và các nhân
tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 20Không gian nghiên cứu: do hạn chế về thời gian và số liệu được công bố, khoá luận nghiên cứu trên 324 quan sát của 30 NHTMCP Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2019, là giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế cho đến hết năm 2019 Do số liệu công bố một số năm của một số các ngân hàng bị hạn chế nên mô hình được xây dưng trên dữ liệu bảng không cân bằng
Khoá luận sử dụng phương pháp mô tả, tổng hợp, so sánh, phân tích để nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM và xây dựng mô hình nghiên cứu và phương pháp định lượng qua việc thực hiện mô hình hồi quy đa biến giúp xử lý số liệu và dữ liệu để xác định mô hình hồi quy
Phương pháp định lượng: Thực hiện mô hình hồi quy đa biến với dữ liệu không cân bằng (Unbalanced Panel Data) bằng cách kết hợp: Pooled OLS, FEM, REM nhằm xem xét và phân tích tác động của các yếu tố đến lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam thông qua phần mềm Stata 13
Việc nghiên cứu định lượng sẽ góp phần thêm bằng chứng thực nghiệm các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTMCP Việt Nam, giúp dễ dàng kiểm soát lợi nhuận và đo lường các tác động cụ thể đến lợi nhuận Cụ thể đề tài nghiên cứu này
Trang 211.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài và bố cục của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu
Chương này đề tài sẽ tập trung giới thiệu về lợi nhuận của NHTM và các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của NHTM Đồng thời, trình bày các dẫn chứng là các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này sẽ tập trung giải thích nghiên cứu, các bước nghiên cứu thực nghiệm và phương pháp ước lượng mô hình
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này đề tài kết quả thống kê mô tả các biến, phân tích hệ số tương quan giữa các biến, thực hiện kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp và cuối cùng
là thảo luận về kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và đề xuất
Chương này sẽ tóm tắt lại các vấn đề nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của
đề tài, những đề xuất giúp cho các NHTMCP Việt Nam gia tăng lợi nhuận Đồng thời, chương này cũng đưa ra những hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu mới tiếp theo của đề tài
Trang 22CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu về lợi nhuận của NHTM và các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của NHTM Đồng thời, chương này cũng trình bày các dẫn chứng là các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM
2.1.1 Khái niệm lợi nhuận
Hoạt động tài chính trong doanh nghiệp là hoạt động liên quan đến việc huy động vốn và sử dụng vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp để đầu tư ra bên ngoài Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là phần chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính
và chi phí hoạt động tài chính (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 91) Bản chất của ngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp, mục tiêu hoạt động cũng cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác là tạo ra lợi nhuận
Ngân hàng cũng được xem là một loại hình doanh nghiệp, do đó lợi nhuận của NHTM được xác định là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu trừ tổng chi phí hợp lý, hợp lệ Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng kinh doanh của NHTM bao gồm lợi nhuận thu được từ nghiệp vụ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác Một trong những mục tiêu quan trọng của NHTM là tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy để xác định được chính xác lợi nhuận của NHTM thì cần phải xác định được chính xác tổng thu nhập và tổng chi phí trong năm của toàn hệ thống
2.1.2 Cách thức xác định lợi nhuận
2.1.2.1 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (Earnings Before Interest and Taxes – EBIT) bao gồm lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính, lợi nhuận hoạt động tài chính trước lãi vay (không tính chi phí lãi vay) và lợi nhuận khác
Tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động của ngân hàng trong một thời kỳ và có thể sử dụng để đánh giá hiệu quả trong việc sử
Trang 23dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận chung cho nền kinh tế EBIT cao sẽ đảm bảo khả năng trả lãi vay tốt, khả năng đóng góp của ngân hàng vào nguồn thu ngân sách cao, khả năng mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu lớn (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 92)
2.1.2.2 Tổng lợi nhuận trước thuế (EBT)
Tổng lợi nhuận trước thuế (Earnings Before Taxes – EBT) phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động của ngân hàng trong kỳ chưa trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Tổng lợi nhuận trước thuế khác với tổng lợi nhuận trước thuế và lãi vay do tác động của chi phí lãi vay Chi phí lãi vay càng lớn sẽ làm cho EBT càng nhỏ hơn
so với EBIT Do chi phí lãi vay là chi phí sử dụng vốn duy nhất được tính vào chi phí để xác định lợi nhuận, vì vậy khi ngân hàng sử dụng nợ vay càng nhiều thì chi phí lãi vay cảng lớn nhưng điều này không có nghĩa là ngân hàng đã không tiết kiệm chi phí sử dụng và làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh cũng như làm giảm hiệu quả sử dụng vốn (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 93)
2.1.2.3 Lợi nhuận sau thuế (EAT)
Lợi nhuận sau thuế (Earnings After Taxes – EAT) là phần chênh lệch giữa tổng lợi nhuận trước thuế với chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, đây là lợi nhuận cuối củng thuộc về chủ sở hữu EAT khác với EBT bởi chi phí thuế TNDN, vì vậy EAT chịu tác động bởi chính sách thuế TNDN của Chính phủ trong từng thời kỳ (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 94)
EAT lả chỉ tiêu đo lường kết quả kinh doanh của toàn ngân hàng đã tính đến ảnh hưởng của cơ cấu vốn và chính sách thuế TNDN, cho biết tổng giá trị lợi nhuận
mà doanh nghiệp tạo ra được dành cho chủ sở hữu Như vậy, phân tích EAT không chỉ thấy rõ khả năng đóng góp vào kết quả kinh doanh chung của lợi nhuận hoạt động kinh doanh chính, lợi nhuận hoạt động tài chính trước lãi vay và lợi nhuận khác, mà còn biết được ảnh hưởng của chi phí lãi vay phát sinh từ quyết định tài trợ
và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ những quy định trong chính sách của Chính phủ (Ngô Kim Phượng, 2018, trang 99)
Trang 242.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh NHTM
2.1.3.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một ngân hàng trong việc sử dụng tài sản (bao gồm các khoản cho vay và đầu tư) để tạo ra lợi nhuận sau thuế ROA cho biết được lợi nhuận ròng của ngân hàng từ một đồng đầu
tư và tổng tài sản (The Bussiness of Banking, 2010) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản được tính bằng công thức:
ROA là suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng sau thuế, do đó ROA chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế thu nhập ngân hàng ROA không chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn Chỉ số ROA phản ánh hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng, là
cơ sở quan trọng để những người đi vay hoặc cho vay cân nhắc liệu xem ngân hàng
có tạo ra mức sinh lời cao hơn chi phí sử dụng nợ không Bên cạnh đó, ROA cũng
là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn Số chênh lệch giữa ROA và chi phí sử dụng nợ vay sau thuế (lãi suất vay sau khi đã khấu trừ thuế) dương thể hiện ngân hàng sử dụng nợ vay có hiệu quả vì
nợ vay có khả năng làm gia tăng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu (Ngô Kim Phượng, 2018)
William (2009) đưa ra tiêu chuẩn quốc tế cụ thể là tiêu chí CANSLIM, ROA yêu cầu của một ngân hàng phải đạt mức tối thiểu là 7,5%
2.1.3.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Theo Banking Bussiness (2010) nhận định rằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ
sở hữu là hiệu quả hoạt động của ngân hàng khi sử dụng nguồn vốn của họ (bao gồm cả nguồn vốn của chủ sở hữu) và được xác định bằng công thức:
Trang 25Ngô Kim Phượng (2018) chỉ ra rằng ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của vốn chủ sở hữu vào ngân hàng đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thu nhập doanh nghiệp, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính
Tương tự như ROA, tiêu chí CANSLIM cho rằng một ngân hàng được coi là hoạt động tốt khi đạt chỉ số ROE tối thiểu là 15% (Wiliam, 2009)
2.1.3.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết được ngân hàng đang thực sự hưởng mức chêch lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động đầu tư tín dụng là bao nhiêu (Gul & Zaman, 2011) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được xác định bằng công thức:
Chỉ số NIM là một trong những thước đo đặc trưng của lợi nhuận ngân hàng Ngân hàng phát sinh thêm một số hoạt động kinh doanh khác như kinh doanh chứng khoán, công cụ phái sinh, dịch vụ bảo lãnh, giao dịch ngoại hối,… để gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng Tuy nhiên hoạt động nhận tiền gửi và cho vay vẫn chiếm phần lớn trong doanh thu của các ngân hàng, được thể hiện rõ qua NIM (Naceur & Goaied, 2001)
2.2.1 Các yếu tố bên trong ngân hàng
2.2.1.1 Qui mô ngân hàng
Theo Gul & Zaman (2011) cho rằng mô ngân hàng là một trong những yếu
tố quan trọng tác động đến lợi nhuận của NHTM Bài nghiên cứu chỉ ra ngân hàng với qui mô lớn có mạng lưới chi nhánh rộng sẽ dễ dàng mở rộng các hoạt động
Trang 26nghiệp vụ như tạo điều kiện huy động vốn, tiếp cận khách hàng cho vay, phát triển
và lắp đặt thêm trang bị công nghệ hiện đại giúp đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
Theo nghiên cứu của Adem & Deger (2011) sử dụng dữ liệu cân bằng thực hiện đo lường lợi nhuận của ngân hàng qua ROA và ROE, kết quả cho thấy qui mô của ngân hàng đều tác động tích cực đến 2 chỉ số trên Đồng thuận với kết quả trên, bài nghiên cứu của Nguyễn Trần Thịnh (2013) cũng đưa ra nhận xét rằng lợi nhuận ngân hàng và qui mô ngân hàng có mối quan hệ đồng biến Khi gia tăng tài sản ngân hàng sẽ góp phần gia tăng khả năng sinh lời của ngân hàng
Trái ngược lại với kết quả trên, theo nghiên cứu của Saira và ctg (2011) qui
mô của ngân hàng có tác động nghịch chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng Bài nghiên cứu chỉ ra rằng những ngân hàng có qui mô càng lớn thì ROA của ngân hàng sẽ càng thấp Kết quả cũng đồng nhất với nghiên cứu của Bourke (1989) Lợi nhuận của ngân hàng sẽ không được gia tăng khi tồng tài sản càng lớn, việc đa dạng hóa qui mô dịch vụ không hợp lý sẽ dẫn đến các khoản chi phí mà ngân hàng phải gánh chịu mà không mang lại hiệu quả như chi phí quản lý, chi phí mở rộng mạng lưới chi nhánh, chi phí nhân viên,…
Nhìn chung, để gia tăng lợi nhuận một cách hiệu quả, nhà quản trị cần phải lựa chọn qui mô của ngân hàng một cách hợp lý Qui mô của ngân hàng có thể cải thiện nguồn thu ngân hàng trong một giới hạn nhất định, tuy nhiên khi ngân hàng đạt đến một mức qui mô quá lớn, ngân hàng sẽ phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong việc quản trị tốt ngân hàng
Trang 27Theo bài nghiên cứu của Yuqi (2007) nhận định rằng một ngân hàng với vị thế vốn chủ sở hữu cao có nhiều cơ hội để hoạt động hiệu quả và linh động hơn trong việc giải quyết những vấn đề tổn thất bất thường, hơn nữa là giúp gia tăng lợi nhuận Kết quả cho thấy vốn chủ sở hữu ngân hàng có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng với giá trị tương quan cao Phạm Thị Hằng Nga (2013) cũng cho kết quả đồng nhất như trên với tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản đều tương quan cùng chiều với các chỉ số ROA, ROE của ngân hàng Tuy nhiên trong bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong (2015), khi phân tích tương quan tỉ lệ vốn chủ
sở hữu trên tổng tài sản lại không có ý nghĩa thống kê đối với biến phụ thuộc ROA
Các chính sách thanh khoản sẽ tác động trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Việc thiếu hụt thanh khoản là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại trong hiệu quả kinh doanh của ngân hàng (Weersainghe & Perera, 2013) Thông thường có một sự đánh đổi giữa tính thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng, càng nhiều nguồn vốn hơn được giữ lại sẽ đáp ứng nhu cầu thanh khoản dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng ngày càng thấp và ngược lại
Yuqi (2007) đã chỉ ra rằng tính thanh khoản có tác động cả tích cực và tiêu cực đối với khả năng sinh lời của ngân hàng Trong khi đó, theo nghiên cứu của Weersainghe & Perera (2013) ngân hàng với tính thanh khoản thấp lại có khả năng gia tăng lợi nhuận hơn
Trang 282.2.1.4 Qui mô tín dụng
Theo Gul & Zaman (2011), hoạt động cho vay là một trong những hoạt động chính giúp mang lại nguồn thu cho ngân hàng Ngân hàng sẽ huy động nguồn tiền nhàn rỗi và tận dụng lượng tiền đó để thõa mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng Chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay chính là nguồn thu nhập của ngân hàng
Với xu hướng phát triển của kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng
và phong phú ở tất cả các lĩnh vực ngành nghề Vì vậy, để hoạt động cho vay của ngân hàng phải ngày càng mở rộng, ngân hàng cần phải quản lý chặt chẽ quy trình cho vay Bài nghiên cứu của Abreu & Mendes (2001) đã chỉ ra rằng với quy trình cho vay cẩn thận, qui mô tín dụng có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Trái ngược kết quả trên, Nguyễn Việt Hùng (2008) cho rằng không phải ngân hàng cho vay càng nhiều thì hiệu quả lại càng cao Việc thực hiện các món cho vay
có nhiều rủi ro, thì sẽ làm tăng chi phí hoạt động tín dụng và giảm thu từ chính những hoạt động này Trong khi đó, theo bài nghiên cứu của Weersainghe & Perera (2013) lại đưa ra ý kiến rằng qui mô tín dụng không ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM
2.2.1.5 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn thanh toán (Nguyễn Thanh Phong, 2015) Có thể nhận thấy rằng, một trong những hoạt động chính của NHTM là hoạt động cho vay nên yếu tố rủi ro tín dụng là một yếu tố đáng cân nhắc khi xét về mức độ ảnh hưởng đối với lợi nhuận
Khi qui mô tín dụng ngày càng được mở rộng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro một cách hiệu quả Nếu ngân hàng chấp nhận những khoản cho vay với rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng đối mặt với tình trạng thiếu vốn, tính thanh khoản thấp Việc này có thể dẫn đến giảm lợi nhuận của ngân hàng hoặc nghiêm trọng hơn là nguy cơ vỡ nợ, phá sản
Trang 29Theo Yuqi (2007) chỉ ra rằng mức rủi ro tín dụng càng cao sẽ dẫn đến việc giảm sút lợi nhuận Đồng thuận với quan điểm trên, bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong (2015) cũng đưa ra kết quả rủi ro tín dụng có tác động âm lên ROA Ngược lại, theo Weersainghe & Perera (2013) rủi ro tín dụng không có tương quan đối với lợi nhuận của ngân hàng
2.2.1.6 Chi phí hoạt động
Lợi nhuận của ngân hàng được xác định bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí (Ngô Kim Phượng, 2018) Bên cạnh việc gia tăng nguồn thu nhập, một trong những yếu tố quan trọng cần được xem trọng là giảm thiểu tối đa các khoản chi phí của ngân hàng
Chi phí hoạt động của ngân hàng bao gồm: Chi nộp thuế và các khoản lệ phí, chi phí cho nhân viên, chi về tài sản, chi cho hoạt động quản lý, chi phí bảo hiểm tiền gửi của khách hàng, chi phí dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn khác và chi phí khác (Nguyễn Thanh Phong, 2015)
Theo bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong (2015), chi phí hoạt động có tác động âm đến lợi nhuận của ngân hàng Như vậy càng cắt giảm tối thiểu chi phí
sẽ giúp nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Naceur (2003) lại cho rằng việc gia tăng chi phí hoạt động sẽ thể hiện tình hình hoạt động tích cực của ngân hàng Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra nhận định rằng chi phí hoạt động có thể được bù đắp bằng cách giảm lãi suất huy động hay tăng lãi suất cho vay
2.2.2 Các yếu tố bên ngoài ngân hàng
Trang 30Một nền kinh tế đang phát triển thuận lợi sẽ kéo theo sự tăng trưởng của tất
cả các lĩnh vực khác trong đó có lĩnh vực ngân hàng Chỉ số tăng trưởng GDP năm sau so với năm trước tăng thể hiện cơ hội kinh doanh ngày càng mở rộng, điều đó cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng, tạo điều kiệu gia tăng lợi nhuận ngân hàng Ngược lại, nếu chỉ số GDP giảm sút, nền kinh tế chững lại, các hoạt động đầu tư kinh doanh gặp nhiều khó khăn, lĩnh vực tài chính cũng không thoát khỏi rủi ro trên
Hầu hết trong các bài nghiên cứu lẫn trong nước và ngoài nước đều đề cập tốc độ tăng trưởng GDP là một yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Bài nghiên cứu Qinhua & Meiling (2014) nghiên cứu tác động của các yếu tố bên ngoài ngân hàng đến lợi nhuận của 10 ngân hàng niêm yết tại Trung Quốc cho thấy có sự tương quan đồng biến giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng Đồng thuận với ý kiến trên chính là bài nghiên cứu của Obamuyi & Marshal (2013) Theo Deger & Adem (2011) và Weersainghe & Perera (2013) GDP lại không có tác động đến lợi nhuận của NHTM
2.2.2.2 Lãi suất cho vay
Một trong những hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận chính cho ngân hàng
là hoạt động cho vay Lãi suất cho vay trên thị trường biến động liên tục theo từng thời điểm khác nhau Nếu lãi suất cho vay của ngân hàng cao hơn so với lãi suất cho vay thị trường, ngân hàng sẽ hưởng lợi từng khoản chêch lệch đó nhưng sẽ phải chịu sự rủi ro mất khách hàng do chi phí đi vay cao khiến họ phải e dè trước quyết định vay Ngược lại, nếu lãi suất cho vay của ngân hàng thấp hơn so với lãi suất cho vay của thị trường, ngân hàng có mức sinh lời thấp hơn tuy nhiên lại nhận được sự lựa chọn vay vốn từ các doanh nghiệp và các cá nhân
Bài nghiên cứu của Adem & Deger (2011) kiểm định các yếu tố tác động đến lợi nhuận của NHTM tại Turkey trong giai đoạn 2002 – 2010 đã cho thấy lãi suất có tác động cùng đến ROE của ngân hàng Trái với kết quả trên, Guru và cộng sự (2002) đã chỉ ra rằng lợi nhuận của ngân hàng dựa trên tổng thu nhập trừ cho tổng chi phí, khoản chêch lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động mới đáng được
Trang 31cân nhắc hơn so với lãi suất cho vay trên thị trường Bài nghiên cứu của Yuqi (2007) cũng không tìm ra mối tương quan giữa lãi suất và lợi nhuận của ngân hàng
2.2.2.3 Tỷ giá
Tỷ giá là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác NHTM là trung gian tài chính hợp pháp được thực hiện các hoạt động kinh doanh sử dụng ngoại tệ như thanh toán quốc tế, bảo hiểm, mua bán ngoại tệ và đánh giá lại chêch lệch ngoại tệ,… Sự thay đổi của tỷ giá theo thời gian có thể làm tăng hoặc giảm lợi nhuận của ngân hàng
Theo kết quả nghiên cứu của Aburime (2008) sử dụng dữ liệu bảng kiểm định các yếu tố tác động đến 154 ngân hàng tại Nigeria cho thấy tỷ giá tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Mohammad & Farshid (2012) cũng nhận định tỷ giá hối đoái có tương quan đến lợi nhuận ngân hàng theo thời hạn Tỷ giá thúc đẩy lợi nhuận trên mức kì vọng của ngân hàng trong ngắn hạn và làm giảm mức sinh lời trong dài hạn tại các ngân hàng ở Iran giai đoạn 2006 – 2010 Ngược lại với ý kiến của Aburime (2008), Adama & Apélété (2017) đã kiểm định và chỉ ra rằng tỷ giá có tác động nghịch chiều đến cả ROA và ROE trong một khoảng thời gian dài
TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NHTM
2.3.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Bài nghiên cứu của Yuqi (2007) tìm hiểu các yếu tố nội tại và bên ngoài ngân hàng tác động đến lợi nhuận của NHTM sử dụng biến phụ thuộc là ROA Nghiên cứu khảo sát 123 ngân hàng tại Mỹ với 378 quan sát trong giai đoạn 1999-
2006 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích hồi quy với các biến bên trong ngân hàng bao gồm thanh khoản, rủi ro tín dụng, vốn chủ sở hữu và các biến bên ngoài ngân hàng bao gồm lạm phát, tăng trưởng GDP và lãi suất Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra tính thanh khoản có tác động tiêu cực lẫn tích cực đối với lợi nhuận ngân hàng Trong khi đó, rủi ro tín dụng càng cao làm cho lợi nhuận càng
Trang 32thấp và việc gia tăng vốn càng mạnh sẽ làm tăng lợi nhuận ngân hàng Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài ngân hàng có tác động không đáng kể đối với mô hình của tác giả
Adem & Deger (2011) thực hiện bài nghiên cứu với mục đích tìm ra các yếu
tố đặc trưng của ngân hàng và các biến bên trong có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng tại Turkey trong giai đoạn 2002-2010 Lợi nhuận của ngân hàng được đo lường bởi hai chỉ số ROA và ROE, sử dụng dữ liệu bảng cân bằng Bài nghiên cứu thực hiện qua kiểm dịnh FEM, REM cùng kiểm định Hausman để tìm ra mô hình phù hợp nhất, kết quả cho thấy qui mô tài sản và thu nhập ròng có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên qui mô về danh mục tín dụng và các khoản cho vay liên quan có tác động mạnh và tiêu cực đến lợi nhuận của ngân hàng Xét
về các yếu tố bên ngoài, chỉ có lãi suất là có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Bài nghiên cứu còn đề xuất rằng các ngân hàng nên cải thiện lợi nhuận của họ bằng cách gia tăng qui mô của ngân hàng và thu nhập lãi ròng, giảm tỉ lệ tín dụng trên tổng tài sản Thêm vào đó, lãi suất thực càng cao sẽ giúp gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng
Theo nghiên cứu của Gul & Zaman (2011) kiểm tra mối quan hệ giữa các yếu tố đặc trưng của ngân hàng và các tác động bên ngoài đến lợi nhuận của bằng cách sử dụng dữ liệu của 15 NHTM hàng đầu tại Pakistan trong giai đoạn 2005-
2009 Trong bài nghiên cứu sử dụng kiểm định mô hình POLS để tìm ra sự ảnh hưởng của qui mô ngân hàng, qui mô tín dụng, rủi ro tín dụng, GDP, lạm phát và tỉ
lệ vốn hóa thị trường đối với các biến phụ thuộc đại diện cho lợi nhuận ngân hàng, bao gồm cả ROA, ROE, ROCE và NIM Kết quả cho thấy các ngân hàng với nhiều vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, các khoản cho vay, các khoản tiền huy động và các yếu tố bên ngoài ngân hàng như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, vốn hóa thị trường chứng khoán sẽ có khả năng đạt được lợi nhuận cao hơn một cách an toàn và thuận lợi Để đạt được yêu cầu gia tăng lợi nhuận, bài nghiên cứu đã phát triển hai giả thuyết Giả thiết 1 nói rằng các nhân tố bên trong có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Bên cạnh đó giả thiết 2 cũng đưa ra rằng các yếu tố bên ngoài ngân hàng cũng có tác động đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng Kết quả chỉ ra
Trang 33rằng cả hai giả thiết đều được chấp nhận về sự ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các ngân hàng Pakistan
Saira và cộng sự (2011) đã kiểm định để tìm ra các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Pakistan Bài nghiên cứu phân tích 10 ngân hàng hàng đầu tại Pakistan giai đoạn 2004-2008 sử dụng kiểm định mô hình POLS bao gồm các biến tài sản, qui mô khoản vay, vốn chủ sở hữu và tiền gửi huy động lên chỉ số ROA Kết quả cho thấy không phải ngân hàng nào với tổng tài sản càng cao thì lợi nhuận
sẽ tăng do qui mô đa dạng hóa Qui mô khoản vay có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng nhưng không đáng kể Cuối cùng, bài nghiên cứu chỉ ra rằng vốn chủ sở hữu và tiền gửi huy động có tương quan đồng biến đến lợi nhuận của ngân hàng
Mohammad & Farshid (2012) kiểm định tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai
số ECM cho các ngân hàng trong cả ngắn hạn và dài hạn giai đoạn 2006-2010 Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái có tương quan đến lợi nhuận ngân hàng theo thời hạn
Tỷ giá thúc đẩy lợi nhuận trên mức kì vọng của ngân hàng trong ngắn hạn và làm giảm mức sinh lời trong dài hạn tại các ngân hàng ở Iran
Bài nghiên cứu của Tarus, Chekol & Mutwol (2012) cũng kiểm định các nhân tố tác động đến NIM của các NHTM ở Kenya, sử dụng dữ liệu thứ cấp Kết quả cho thấy sau khi sử dụng mô hình dữ liệu bảng với phương pháp bình phương nhỏ nhất (POLS) và FEM kiểm định 44 ngân hàng tại Kenya trong giai đoạn 2000-
2009, chi phí hoạt động và rủi ro tín dụng có tác động tích cực đáng kể đến NIM của NHTM Bài nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ lạm phát càng cao, NIM càng được
mở rộng hơn, trong khi đó sự tập trung của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế
có tác động ngược chiều đến NIM
San & Heeng (2012) với bài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận NHTM tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2009 Các tác giả sử dụng mô hình hồi quy với kiểm định POLS và dữ liệu cắt ngang được đo lường bởi ba chỉ số ROA, ROE và NIM Bài nghiên cứu cho ra kết quả với chỉ số ROA được cho là phép đo đáng tin cậy nhất để đo lường lợi nhuận so với ROE và NIM Bên cạnh đó
Trang 34tác giả còn đưa ra nhận định rằng các yếu tố bên trong ngân hàng như là tỷ lệ vốn, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhưng các yếu tố bên ngoài như GDP, lạm phát lại không ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời
Trong nghiên cứu của Syafri (2012) sử dụng dữ liệu thứ cấp và phân tích mô hình hồi quy về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận các NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2002-2011 Nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của các yếu tố bên trong ngân hàng (vốn chủ sở hữu, các khoản cho vay, hiệu quả cho vay và rủi ro tín dụng trên tổng cho vay) có tác động tích cực đối với lợi nhuận Ngược lại qui mô ngân hàng, chi phí hoạt động và yếu tố bên ngoài ngân hàng như lạm phát lại tác động tiêu cực nhưng không đáng kể đối với lợi nhuận, riêng tốc độ tăng trưởng kinh tế hầu như không hề có sự tác động
Nghiên cứu của Weersainghe & Perera (2013) sử dụng dữ liệu liên quan đến
33 ngân hàng ở Sri Lanka (2001-2011), để xem xét các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận tác giả đã đưa ra ba biến (các khoản cho vay, rủi ro tín dụng, tỷ lệ tăng trưởng GDP) là không tác động với đến lợi nhuận (được đo bằng chỉ số ROA) Quy mô ngân hàng tác động cùng chiều với lợi nhuận nhưng chi phí hoạt động nghịch biến với lợi nhuận Rủi ro thanh khoản, lãi suất thì
có tác động đáng kể và ngược chiều với lợi nhuận
Qinhua & Meiling (2014) chỉ nghiên cứu các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến lợi nhuận với bảng dữ liệu bất cân xứng của 10 ngân hàng thương mại ở Trung Quốc (1998-2012), kết quả cho thấy các yếu tố bên ngoài ngân hàng (lãi suất, lạm phát và GDP) không có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lời và có mối tương quan thuận với lợi nhuận ngân hàng
Nghiên cứu của Ahmad (2014) sử dụng dữ liệu bảng với mô hình hồi quy và
dữ liệu được thu thập các nguồn thứ cấp với 161 quan sát trong giai đoạn
2005-2015 Nghiên cứu các ngân hàng Ả rập Saudi và Jordan để phân tích các biến bên trong ngân hàng như vốn chủ sở hữu, thanh khoản, qui mô ngân hàng, chi phí ngân hàng, rủi ro tín dụng Nghiên cứu cho rằng mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng (ROA)
Trang 35của các ngân hàng Saudi Arabia với vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản là cùng chiều nhưng lại nghịch chiều đối với các yếu tố còn lại Trong khi đó tại các ngân hàng Jordan cho rằng duy nhất yếu tố qui mô ngân hàng lại tác động tiêu cực đối với lợi nhuận Tác giả kết luận rằng sự ảnh hưởng của của các biến độc lập lên biến phụ thuộc lợi nhuận sẽ khác nhau tùy theo mỗi quốc gia
Islam & Nishiyama (2016) đã sử dụng mô hình lý thuyết của Ho và Saunders (1981) để xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi thuần của 4 của các ngân hàng của 4 nước thuộc khu vực phía nam Châu Á (Bangladesh, Ấn Độ, Nepal
và Pakistan) trong giai đoạn 1997-2012 sử dụng dữ liệu bảng với tổng 230 ngân hàng, chia các biến nghiên cứu thành yếu tố bên trong ngân hàng, yếu tố ngành và các biến bên ngoài ngân hàng Kết quả chỉ ra rằng tính thanh khoản, vị thế vốn hóa,
tỷ lệ dữ trữ bắt buộc, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản có tác động tích cực đến NIM, trong khi qui mô ngân hàng, năng lực tập trung thị trường và tốc độ tăng trưởng GDP lại có tác động tiêu cực đến NIM
Adama & Apélété (2017) cũng nghiên cứu về mối quan hệ của các yếu tố bên trong ngân hàng tác động đến lợi nhuận của ngân hàng trong ngắn hạn và dài hạn 3 yếu tố bên ngoài chính được tác giả tập trung nghiên cứu là GDP, tỷ giá và lạm phát Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp PMG được đo lường bởi 2 chỉ số ROA và ROE, thực hiện trong giai đoạn 2006-2015 tại Togo Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn ROA và ROE của ngân hàng không có sự tương quan đến các biến bên ngoài ngân hàng Nhưng ROA của ngân hàng chịu sự tác động tích cực bởi tỉ lệ vốn trên tổng tài sản và qui mô ngân hàng Ngược lại, tỉ lệ vốn trên tổng tài sản lại tác động nghịch chiều đến chỉ số ROE Tuy nhiên, trong dài hạn, GDP và tỷ giá có tác động mạnh và tiêu cực trong khi lạm phát lại không có sự tương quan đến ROA Đối với ROE của ngân hàng, cả ba yếu tố trên đều tác động nghịch chiều đến chỉ số ROE Bài nghiên cứu còn chỉ ra rằng, để ổn định lợi nhuận ngân hàng và làm cho lĩnh vực ngân hàng tại Togo phát triển, các nhà quản trị ngân hàng phải cải thiện GDP, tỉ giá thực và dự đoán sự biến động của lạm phát
Trang 362.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Hùng (2008), tác giả sử dụng mô hình Tobit để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NHTM Bài nghiên cứu sử dụng báo cáo tài chính của 32 ngân hàng bao gồm 160 quan sát trong giai đoạn 2001-2005, kết quả cho thấy qui mô của ngân hàng, tỉ lệ vốn chủ sở hữu, phần chia thị trường có tác động dương đến lợi nhuận của NHTM,
tỷ lệ tiền gửi – cho vay và qui mô tín dụng lại tác động âm đến lợi nhuận của ngân hàng
Nguyễn Thanh Phong (2015) nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014, sử dụng dữ liệu bảng và mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là lợi nhuận (ROA) và các biến độc lập bao gồm quy mô ngân hàng, các khoản cho vay, qui mô vốn chủ sở hữu, rủi ro hoạt động tín dụng, tính thanh khoản, chi phí hoạt động, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Tác giả đưa ra kết quả rằng các yếu tố bao gồm: Các khoản cho vay, rủi ro tín dụng, chỉ số thanh khoản và chi phí hoạt động
có tác động tiêu cực lên lợi nhuận ngân hàng Tỷ lệ lạm phát có tác động đồng biến lên lợi nhuận ngân hàng Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tăng trưởng kinh tế không thật sự ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTMCP đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bài nghiên cứu của Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016) cũng nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của 30 NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 2005-2011 theo phương pháp SFA (Stochanic Frontiner Panel Data) Theo đó, các nhân tố tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng bao gồm: tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nươc ngoài, quy mô ngân hàng và thị phần của ngân hàng
Theo Phan Thị Hằng Nga (2017) tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam sau khủng hoảng năm 2008, sử dụng mô hình hồi quy GMM với biến phụ thuộc là ROA và ROE Các biến bên trong và bên ngoài ngân hàng trong bài nghiên cứu được thu thập từ 33 ngân hàng trong giai đoạn
Trang 372008-2015 Kết quả ước lượng cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu, năng lực quản lý chi phí, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, thu thập từ lãi, chi phí trả lãi, tốc độ tăng trưởng tài sản, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, lạm phát, GDP có tác động đến lợi nhuận của NHTM.Tổng hợp kết quả các nghiên cứu liên quan
Tóm lại, với các nghiên cứu của các tác giả như trình bày trên về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM, có một số yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng chính được sử dụng trong hầu hết tất cả các nghiên cứu Bảng tồng hợp dưới đây sẽ chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng chính và kết quả nghiên cứu:
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Adem & Deger (2011), Gul & Zaman (2011), San &
Heeng (2012), Weersainghe & Perera (2013), Adama
& Apélété (2017), Nguyễn Việt Hùng (2008), Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016), Phan Thị Hằng Nga (2017)
Tác động cùng chiều
Syafri (2012), Ahmad (2014), Islam & Nishiyama (2016)
Tác động ngược chiều Nguyễn Thanh Phong (2015) Không tác động
Vốn chủ sở
hữu
Yuqi (2007), Nguyễn Việt Hùng (2008), Gul &
Zaman (2011), Saira (2011), San & Heeng (2012), Syafri (2012), Ahmad (2014), Islam & Nishiyama (2016) , Adama & Apélété (2017), Phan Thị Hằng Nga (2017)
Tác động cùng chiều
Nguyễn Thanh Phong (2015) Không tác động
Tính thanh
khoản
Yuqi (2007), Ahmad (2014) Tác động cùng
chiều Yuqi (2007), Weersainghe & Perera (2013), Nguyễn
Thanh Phong (2015)
Tác động ngược chiều
Qui mô tín
Gul & Zaman (2011), Syafri (2012) Tác động cùng
chiều Nguyễn Việt Hùng (2008), Adem & Deger (2011), Tác động ngược
Trang 38dụng Nguyễn Thanh Phong (2015) chiều
Weersainghe & Perera (2013) Không tác động
Rủi ro tín
dụng
Chirwa, E.W.(2003), Syafri (2012) Tác động cùng
chiều Tarus, Chekol & Mutwol (2012), Syafri (2012), Phan
Thị Hằng Nga (2017)
Tác động ngƣợc chiều Weersainghe & Perera (2013) Không tác động
(2014)
Tác động ngƣợc chiều
(2016)
Tác động ngƣợc chiều Yuqi (2007), San & Heeng (2012), Syafri (2012),
Weersainghe & Perera (2013), Nguyễn Thanh Phong (2015)
Guru & Balashanmugam (2002) Tác động ngƣợc
chiều Yuqi (2007), Adama & Apélété (2017) Không tác động
Trang 392.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Mô hình của bài nghiên cứu dựa trên bài nghiên cứu của Weersainghe & Perera (2013) Trong nghiên cứu của tác giả, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA được chọn làm biến phụ thuộc đại diện cho khả năng tạo lợi nhuận của ngân hàng Tác giả còn sử dụng các biến độc lập bao gồm các biến bên trong ngân hàng như qui mô ngân hàng (SIZE), vốn chủ sở hữu (CAPITAL), chi phí hoạt động (TETA), tính thanh khoản (LIQUITY), rủi ro tín dụng (CREDIT) và các biến bên ngoài ngân hàng là tốc độ tăng trưởng GDP (GDP) và lãi suất cho vay (IRT) Dữ liệu được các tác giả thu thập và kiểm định theo mô hình hồi quy dữ liệu bảng với nhiều biến bên trong và bên ngoài ngân hàng hơn đồng thời thực hiện việc lựa chọn giữa các mô hình Pooled OLS, FEM, REM để tăng tính chính xác cho mô hình
Bên cạnh các biến bên trong ngân hàng đã được đề cập, theo nghiên cứu của Abreu & Mendes (2001), Naceur & Goaied (2003) và Syafri (2012) đã xác định qui
mô tín dụng (LOAN) là một trong những biến tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Nhận thấy qui mô tín dụng được đề cập trong nhiều bài nghiên cứu, khoá luận quyết định thêm biến qui mô tín dụng (LOAN) để nâng cao tính chính xác cho mô hình
Về biến bên ngoài ngân hàng, trong nghiên cứu của Aburime (2008) và Adama & Apélété (2017) cũng tìm ra sự tác động của tỷ giá trao đổi (ER) đến lợi nhuận của ngân hàng Hai biến này sẽ được đề cập trong khoá luận
Tóm lại, dựa trên cơ sở lý thuyết tác giả đã trình bày cùng với sự lựa chọn
mô hình hồi quy đa biến dữ liệu bảng và thiết kế các biến như trên, khoá luận đưa ra
mô hình nghiên cứu như sau:
ROAit= α + β1SIZEit + β2CAPITALit + β3LIQUITYit + β4LOANit + β5CREDITit + β6TETAit + β7GDPt + β8ERt + β9IRTt + εt
Trang 40Trong đó:
α là hệ số chặn
β1,…, β9: Các hệ số hồi quy của các biến độc lập
i ký hiệu cho ngân hàng thứ i, t ký hiệu cho năm quan sát và ε là đại diện cho sai số của mô hình
CAPITAL: đại diện cho tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản
LIQUIDITY: đại diện cho tỷ lệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản
LOAN: đại diện cho tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản
CREDIT: đại diện cho tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay trên tổng các
khoản cho vay
TETA: đại diện cho tỷ lệ tổng chi phí trên tổng tài sản
Biến bên ngoài ngân hàng:
GDP: đại diện cho tốc độ tăng trưởng GDP
ER: đại diện cho tỷ giá VND/USD, được tính theo logarit
cơ số e của tỷ giá
IRT: đại diện cho lãi suất cho vay trung bình