1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý khoa học và công nghệ: Xây dựng mô hình quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh (Nghiên cứu trường

80 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (9)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (11)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (12)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (12)
  • 5. Mẫu khảo sát (13)
  • 6. Câu hỏi nghiên cứu (13)
  • 7. Giả thuyết nghiên cứu (13)
  • 8. Phương pháp chứng minh giả thuyết (13)
  • 9. Kết cấu luận văn (14)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN CAO HỌC VÀ NGHIÊN CỨU SINH (15)
    • 1.1. Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu khoa học trong trường đại học (15)
      • 1.1.1. Đại học định hướng nghiên cứu (15)
      • 1.1.2. Nghiên cứu khoa học (16)
      • 1.1.3. Vai trò của nghiên cứu khoa học đối với người học (18)
    • 1.2. Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học (19)
      • 1.2.1. Khái niệm “quỹ” (19)
      • 1.2.2. Khái niệm “đầu tƣ” (20)
      • 1.2.3. Khái niệm “quỹ đầu tƣ” (20)
      • 1.2.4. Các loại hình Quỹ (20)
      • 1.2.5. Điều kiện hình thành các loại hình Quỹ (21)
      • 1.2.6. Khái niệm và tính pháp lý của Quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học (0)
      • 1.2.7. Vai trò của Quỹ đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của người học (23)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NGUỒN TÀI CHÍNH PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN (0)
    • 2.1. Thực trạng tình hình nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (27)
      • 2.1.1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh với hoạt động nghiên cứu khoa học (27)
      • 2.1.2. Sinh viên nghiên cứu khoa học (31)
      • 2.2.1. Nguồn ngân sách nhà nước (42)
      • 2.2.2. Nguồn kinh phí từ các Quỹ học bổng tài trợ (43)
      • 2.2.3. Nguồn kinh phí từ các giải thưởng của cấp trên (44)
    • 2.3. Đánh giá chung về thực trạng nguồn tài chính phục vụ NCKH của người học và sự cần thiết của việc xây dựng Quỹ (45)
      • 2.3.1. Đánh giá thực trạng nguồn tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học (45)
      • 2.3.2. Nhu cầu về tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học và sự cần thiết của việc xây dựng Quỹ (46)
    • 2.4. Kinh nghiệm của một số Quỹ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học (51)
  • CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUỸ ĐẦU TƯ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN (62)
    • 3.1. Cơ sở của việc xây dựng Quỹ (62)
      • 3.1.1. Cơ sở thực tiễn (62)
      • 3.1.2. Cơ sở tài chính (62)
      • 3.1.3. Định hướng xây dựng Quỹ (63)
    • 3.2. Cơ chế hoạt động của Quỹ (64)
      • 3.2.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quỹ (64)
      • 3.2.2. Tổ chức quản lý và hoạt động của Quỹ (65)
    • 3.3. Tính khả thi của mô hình (67)
      • 3.3.1. Điểm mạnh của mô hình (67)
      • 3.3.2. Cơ hội (69)
      • 3.3.3. Điểm yếu (70)
      • 3.3.4. Thách thức (71)
  • KẾT LUẬN (14)
  • PHỤ LỤC (78)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất mô hình Quỹ đầu tư cho hoạt động NCKH của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh (nghiên cứu trường hợp Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN). Mời các bạn tham khảo!

Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hiện nay có khá nhiều các bài viết, đề tài nghiên cứu, các chính sách của Nhà nước và các kinh nghiệm liên quan đến việc quản lý, khuyến khích và đầu tƣ phát triển KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học nhƣ: Đề tài: “Đánh giá thực hiện quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học (Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia

Hà Nội)”, Luận văn Cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ của tác giả Nguyễn Ngọc Dương (2014) chỉ ra một số hạn chế trong thực hiện quy trình quản lý KH&CN trong nhà trường, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hạn chế Đề tài “Xây dựng mô hình hiệu quả cho sự kết hợp giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo (Nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội)”, Luận văn Cao học chuyên ngành Kinh doanh và quản lý của tác giả Bùi Việt Nga (2008) tập trung nghiên cứu xu thế phát triển của hệ thống giáo dục đào tạo và các mô hình liên kết giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo hiện nay trên thế giới và Việt Nam, cũng nhƣ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam với các trường đại học, từ đó đánh giá và đề xuất giải pháp để mô hình liên kết nghiên cứu - đào tạo giữa Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội hoạt động có hiệu quả

Bài viết “Sẽ hỗ trợ để sinh viên có điều kiện nghiên cứu” do K.Y ghi trên trang http://nguoilaodong.com.vn khẳng định, để thúc đẩy sinh viên tăng cường nghiên cứu khoa học và nâng cao hiệu quả nghiên cứu gắn với thực tiễn cần thiết lập “Quỹ sáng tạo” Mục tiêu của quỹ là hỗ trợ kịp thời cho các sinh viên, các nhà khoa học trẻ khi họ có ý tưởng mới, sáng tạo

Bài viết “Đại học sáng tạo” của tác giả Trần Quân đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ số 7-2014 đã nhìn nhận Đại học Sáng tạo nhƣ hình mẫu cho đại học nghiên cứu trong thời đại công nghệ thông tin và kinh tế tri thức với ngân sách huy động từ nhiều nguồn nhƣ quỹ đầu tƣ mạo hiểm, quỹ cho

9 đổi mới sáng tạo… Tuy còn khá mới mẻ trong hệ thống giáo dục Việt Nam nhưng việc áp dụng mô hình này vào chương trình đào tạo bậc đại học là cần thiết nhằm đổi mới và thúc đẩy sự tăng trưởng, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, quản lý; tăng khả năng gắn kết với doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, thu hút đầu tƣ, hình thành các liên kết giữa đại học và doanh nghiệp; hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, việc nghiên cứu hình thành các quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên, một lực lƣợng các nhà khoa học trẻ đầy tiềm năng trong các cơ sở giáo dục hiện nay thì chƣa thấy có.

Mục tiêu nghiên cứu

1) Mục tiêu tổng quát: Đề xuất mô hình Quỹ đầu tƣ cho hoạt động NCKH của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh (nghiên cứu trường hợp Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN)

- Mục tiêu 1: Xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết của NCKH sinh viên, học viên và Quỹ đầu tƣ cho hoạt động NCKH của sinh viên, học viên

- Mục tiêu 2: Phân tích thực trạng nguồn tài chính phục vụ hoạt động NCKH của người học

- Mục tiêu 3: Nghiên cứu tham khảo mô hình tổ chức và hoạt động của một số hỗ trợ cho hoạt động NCKH của sinh viên ở Việt Nam hiện nay

- Mục tiêu 4: Đề xuất xây dựng mô hình Quỹ đầu tƣ cho hoạt động NCKH của sinh viên, học viên Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN nhằm tìm kiếm và thúc đẩy khả năng sáng tạo của người học.

Mẫu khảo sát

- Đại diện giảng viên, sinh viên, cựu sinh viên thành đạt của Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN

+ Giảng viên: 8-10 người (phỏng vấn)

+ Sinh viên: 100 người (bảng hỏi)

+ Cựu sinh viên: 3-5 người (phỏng vấn)

+ Học viên cao học: 5-7 người (phỏng vấn)

+ Nghiên cứu sinh: 5-7 người (phỏng vấn)

- Đại diện các nhà quản lý, các chuyên viên trong lĩnh vực Kế hoạch - Tài chính, Khoa học - Công nghệ của Trường ĐHKHTN: mỗi lĩnh vực từ 1 - 2 người (phỏng vấn).

Câu hỏi nghiên cứu

Mô hình Quỹ đầu tƣ cho hoạt động NCKH của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Trường ĐHKHTN sẽ được xây dựng như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu

Quỹ đầu tƣ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên được xây dựng theo mô hình tổ chức tài chính phi lợi nhuận trực thuộc trường, bằng hình thức huy động vốn ban đầu từ 3% nguồn thu học phí 1 , Quỹ sẽ là nguồn kinh phí ổn định để đầu tư cho hoạt động NCKH của người học.

Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các đề tài, luận văn, bài viết có liên quan; phân tích các nguồn tƣ liệu, số liệu có sẵn về việc thành lập và tổ chức hoạt động của các Quỹ hỗ trợ sinh viên nghiên cứu khoa học ở Việt Nam

1 Đƣợc giải thích tại mục 1.2.5: “Khái niệm và tính pháp lý của Quỹ đầu tư cho hoạt động NCKH của người học”

- Phương pháp khảo sát thực tế: Điều tra bằng bảng hỏi các sinh viên đang học tập tại trường để tìm hiểu thực trạng và xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động NCKH của sinh viên

+ Phỏng vấn các học viên cao học, nghiên cứu sinh về những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên và ý tưởng thiết lập Quỹ nghiên cứu dành cho người học

+ Phỏng vấn các nhà quản lý, các giảng viên và các chuyên viên của Trường ĐHKHTN trong lĩnh vực Kế hoạch - Tài chính, Khoa học - Công nghệ, các cựu sinh viên thành đạt để đánh giá tính khách quan và tính khả thi của việc xây dựng mô hình Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học Trường ĐHKHTN

- Phương pháp phân tích tổng hợp: tổng hợp các tư liệu, số liệu đã nghiên cứu và khảo sát đƣợc để đƣa ra kết luận cuối cùng.

Kết cấu luận văn

Chương 1 Cơ sở lý luận của Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh

Chương 2 Thực trạng nguồn tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học trong Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Chương 3 Đề xuất mô hình Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Kết luận và Khuyến nghị

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN CAO HỌC VÀ NGHIÊN CỨU SINH

Các khái niệm liên quan đến nghiên cứu khoa học trong trường đại học

1.1.1 Đại học định hướng nghiên cứu

Theo Luật Giáo dục Đại học (Luật số 08/2012/QH2013) định nghĩa:

“Đại học là cơ s giáo ục đại học ao g m tổ h p các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo ục đại học” [14; điều 4]

Trong đó, “Cơ s giáo ục đại học đư c phân tầng thành: a) Cơ s giáo ục đại học định hướng nghiên cứu; b) Cơ s giáo ục đại học định hướng ứng ụng; c) Cơ s giáo ục đại học định hướng thực hành” [14; điều 9]

Theo “định nghĩa xuất phát” về đại học nghiên cứu của TS Phạm Thị Ly,

“đại học nghiên cứu là một trường đại học đặt trọng tâm vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo sau đại học, là nơi quy tụ và đào tạo giới nghiên cứu chuyên nghiệp cũng như có những kết quả nghiên cứu đóng góp cho việc phát triển tri thức của nhân loại.” [11]

Theo GS.TSKH Trương Quang Học, “khái niệm đại học nghiên cứu đư c nâng cao hơn theo triết lý giáo ục là “học để làm những điều chưa học, học cách học suốt đời Muốn vậy, người thầy không những phải nghiên cứu giỏi mà còn phải có cách đào tạo giỏi - đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu Nói một cách khái quát, trong đại học nghiên cứu, hàm lư ng NCKH rất cao trong mọi lĩnh vực hoạt động.” [10; tr.24]

Trong bài “Mười đặc điểm của Trường Đại học nghiên cứu hiện đại” [12],

“Các trường đại học nghiên cứu đư c định nghĩa i những cam kết nghiêm túc

13 và xuyên suốt của họ với hoạt động nghiên cứu khoa học; i sự ưu tú, i ề rộng và khối lư ng những kết quả nghiên cứu của họ; và i cách thức văn hóa khoa học thẩm thấu, lan tỏa trong mọi hoạt động của họ, từ giảng ạy, nghiên cứu đến gắn kết với giới oanh nghiệp, với chính phủ, và với cộng đ ng xã hội Việc đào tạo ậc đại học các trường đại học nghiên cứu đư c hư ng l i to lớn từ những cơ hội mà nhà trường mang lại cho sinh viên trong những lớp học hay phòng thí nghiệm với các giáo sư và nghiên cứu sinh đang làm việc tuyến đầu của tri thức Đào tạo sau đại học các trường đại học nghiên cứu đư c làm cho phong phú thêm nhờ sự gắn kết trực tiếp và mạnh mẽ của các nghiên cứu sinh trong việc thực hiện nghiên cứu, còn chất lư ng và năng suất của hoạt động nghiên cứu trong trường thì đư c l i rất nhiều nhờ sự sáng tạo và năng lư ng của các nghiên cứu sinh Các trường đại học nghiên cứu thường chỉ là số ít trong hệ thống giáo ục đại học của mỗi nước, nhưng ao giờ cũng chiếm một phần đáng kể thành quả nghiên cứu của quốc gia” Đồng thời, “Trường đại học nghiên cứu có vai trò đặc iệt trong việc uy trì sự ưu tú, tạo ra những kiến thức mới, ý tư ng mới, sáng tạo mới nhằm ẫn ắt tiến ộ xã hội cũng như thúc đẩy sự giàu mạnh của quốc gia” 2

Tác giả có cùng quan điểm với định nghĩa về đại học nghiên cứu của TS Phạm Thị Ly

Như vậy, đại học định hướng nghiên cứu là đại học có chiến lược phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, hiện tại đang trên con đường hoàn thiện để dần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của một đại học nghiên cứu

“Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện ản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm iến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người

2 http://tiasang.com.vn: Phạm Thị Ly, Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại, 23.12.2013

Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tư ng cần khám phá” [7; tr.35]

“Đặc điểm chung nhất của NCKH là sự tìm tòi những sự vật, hiện tư ng mà khoa học chưa hề iết đến Đặc điểm này ẫn đến hàng loạt những đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu” [7; tr.36], đó là:

“NCKH là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm

Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đư c từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về ản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ng i trên ghế nhà trường” 3 [22]

Tác giả đồng ý với định nghĩa về NCKH của TS Vũ Cao Đàm Đặc biệt, theo tác giả, hoạt động NCKH trong trường đại học định hướng nghiên cứu phải đƣợc xuyên suốt trong quá trình giảng dạy đại học và sau đại học của nhà trường

3 Http://it.humg.edu.vn/research/thong-tin-khoa-hoc/181-khai-niem-khoa-hoc-va-nghien-cuu-khoa-hoc, 26.9.2015

1.1.3 Vai trò của nghiên cứu khoa học đối với người học

1.1.3.1 Nghiên cứu khoa học sinh viên

“Nghiên cứu khoa học sinh viên” là cụm từ để chỉ hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên hay nói cách khác, chính là sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học

“Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận ụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận ụng một cách tổng h p những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học o thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, m rộng và hoàn thiện vốn hiểu iết của mình” 4 [8] Đây là vấn đề không còn mới, ngày 30 tháng 3 năm 2000, nguyên Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã ký Quyết định số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng, trong đó nêu rõ “Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một phần của kế hoạch khoa học và công nghệ của cơ s Việc triển khai và quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên đư c thực hiện theo những quy định hiện hành về hoạt động khoa học và công nghệ” [2; điều 4], đưa nghiên cứu khoa học sinh viên trở thành một hoạt động thường niên bắt buộc đối với các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng

Về mặt cấu trúc, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên nằm ngay trong hoạt động đào tạo của các trường Nó bắt nguồn từ những việc nhỏ như sinh viên tự tìm đọc tài liệu, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí khoa học, trao đổi với nhau và với giảng viên ở các diễn đàn chính thức và không chính thức đến việc thực hiện các đề án môn học, luận văn tốt nghiệp hay cao hơn là các đề tài nghiên cứu độc lập Một phương pháp khác là các hội thảo chuyên môn mini

4 http://donga.edu.vn, Đại học Đông Á, Ý nghĩa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, 28.10.2014

16 đƣợc tổ chức định kỳ mở rộng cho mọi thành phần (giảng viên, sinh viên, những người quan tâm), trong đó nội dung là việc báo cáo các hướng nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, dự án nghiên cứu, hay trao đổi bình luận các bài báo khoa học cũng có thể nằm trong kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên Các hội thảo này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành môi trường nghiên cứu, trao đổi chuyên môn, là cơ hội cho sinh viên tích lũy kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu từ những người đi trước 5 [6]

Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về “quỹ” nhƣ sau [23]:

 Số tiền dành riêng cho những khoản chi tiêu nhất định (ví dụ: Quỹ tiền lương, Quỹ phúc lợi)

 Tổ chức làm nơi nhận gửi và chi trả tiền (Quỹ tiết kiệm, Quỹ tín dụng)

5 Theo Vũ Thế Dũng, http://oisp.hcmut.edu.vn, Nghiên cứu khoa học trong sinh viên: Cần cách tiếp cận mới, 07.8.2009

Theo Từ điển Tiếng Việt của Hồ Ngọc Đức [9]: “quỹ” là số tiền bạc thu góp lại dùng để làm gì đó

Như vậy, thông thường “quỹ” được hiểu ở hai dạng: hoặc là khoản tiền hoặc là một tổ chức độc lập kinh doanh (hoặc không kinh doanh) tiền Tùy thuộc mục đích và quy mô hoạt động mà hình thành dạng Quỹ trong thực tế

“Đầu tƣ” có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học

Trong kinh tế học, “đầu tƣ” có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ

“Đầu tƣ” có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn nhƣ quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ

Trong tài chính, “đầu tƣ” là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn được đánh giá cao, thường là trong tương lai dài hạn Điều này có thể được hoặc không đƣợc hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tƣ liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn nhƣ đầu tƣ vào cổ phần, bất động sản, vốn con người (chi phí cho học tập và nghiên cứu khoa học), 6 [25]

Về mặt xã hội học, “đầu tƣ” có thể sinh lợi mà cũng có thể là phi lợi nhuận

1.2.3 Khái niệm “quỹ đầu tư”

Quỹ đầu tƣ, hay còn gọi là quỹ đại chúng, là quỹ huy động vốn từ nhà đầu tƣ để đầu tƣ vào các loại tài sản tuân thủ theo mục tiêu đầu tƣ đƣợc xác định Quỹ đƣợc quản lý bởi một đội ngũ chuyên gia làm việc toàn thời gian và đƣợc ngân hàng giám sát đƣợc chỉ định để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tƣ

Tùy theo tiêu thức có thể phân loại các loại hình Quỹ sau:

- Theo hình thức sở hữu, Quỹ phân loại thành:

+ Quỹ thuộc sở hữu nhà nước: vốn nhà nước

+ Quỹ thuộc sở hữu tập thể: vốn do các cá nhân/ tập thể đóng góp

6 Http://vi.wikipedia.org/wiki/đầu_tƣ, 29.9.2015

+ Quỹ thuộc sở hữu tƣ nhân: vốn cá nhân

- Theo tính chất sử dụng, Quỹ phân loại thành:

+ Quỹ có tính chất kinh doanh: đầu tƣ sinh lợi

+ Quỹ có tính chất xã hội (không kinh doanh): đầu tƣ phi lợi nhuận

+ Quỹ vừa có tính chất kinh doanh vừa có tính chất xã hội

- Theo phạm vi tác động, Quỹ phân loại thành:

+ Quỹ có phạm vi trong một đơn vị/ tổ chức: trường học, công ty, viện, + Quỹ có phạm vi quốc gia: Quỹ trung ương, quỹ địa phương

+ Quỹ có phạm vi khu vực/ quốc tế

+ Quỹ có phạm vi ngành/ lĩnh vực: Quỹ KH&CN, Quỹ khuyến học, Quỹ Quốc phòng - An ninh,

1.2.5 Điều kiện hình thành các loại hình Quỹ

Một Quỹ có khả năng hình thành cao cần hội đủ ít nhất 2 điều kiện sau:

- Điều kiện thứ nhất: tồn tại các nhu cầu khách quan Đây là điều kiện quan trọng nhất, là yếu tố cơ bản và mang tính quyết định

+ Quỹ thuộc sở hữu Nhà nước gắn liền với bản chất của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu/ quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội

+ Quỹ thuộc sở hữu cá nhân/ tập thể, nhu cầu hình thành đƣợc thể hiện ở tôn chỉ, mục đích hoạt động của từng Quỹ, bổ sung Quỹ cho Nhà nước, do phạm vi Quỹ Nhà nước không thể bao trùm và thỏa mãn mọi nhu cầu xã hội, có vai trò thay thế Quỹ Nhà nước đối với những nhu cầu có phạm vi nhỏ hơn

- Điều kiện thứ hai: có nguồn vốn để hình thành Đây là điều kiện để đảm bảo vật chất cho việc hình thành, tồn tại và phát triển các loại hình Quỹ Điều cần chú ý ở đây là, nguồn vốn muốn chuyển hóa thành Quỹ, cần phải thỏa mãn các điều kiện:

+ Phải có nguồn vốn có thể huy động, sử dụng theo cơ chế của Quỹ để phục vụ cho mục tiêu đề ra khi lập Quỹ

+ Phải có cơ chế thích hợp để tập trung Quỹ đúng mục tiêu và phù hợp với pháp luật

Theo đó, Quỹ Nhà nước có các nguồn hình thành: Ngân sách Nhà nước, viện trợ/hỗ trợ quốc tế, các tổ chức, nguồn tích lũy của bản thân Quỹ Quỹ cá nhân/ tập thể có nguồn hình thành: huy động vốn từ các tổ chức kinh tế, xã hội và từ dân cư, từ nguồn hỗ trợ/ đóng góp của Ngân sách Nhà nước (nếu có), viện trợ/ hỗ trợ quốc tế

1.2.6 Khái niệm và tính pháp lý của Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học

Quỹ đầu tư cho hoạt động NCKH của người học là loại hình Quỹ thuộc sở hữu tập thể, có tính chất xã hội (đầu tƣ phi lợi nhuận), có phạm vi trong một đơn vị/ tổ chức và nằm trong hệ thống Quỹ phát triển KH&CN của tổ chức, cá nhân Đây là Quỹ chuyên biệt nhằm đầu tƣ tài chính cho các đề tài, dự án NCKH do sinh viên làm chủ trì Mục đích của Quỹ là tìm kiếm và thúc đẩy khả năng sáng tạo và NCKH của người học, đầu tư kinh phí hoàn toàn không vì lợi nhuận Đối với nước ta, Quỹ đầu tư cho NCKH của sinh viên đã được pháp lý hóa trong các văn bản pháp lý sau: Luật KH&CN số 26/2013/QH13, Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện và Quyết định số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế về NCKHSV trong các trường Đại học, Cao đẳng

Trong đó có ghi rõ, “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật” và “Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân là tổ chức hoạt động phi l i nhuận để tài tr không hoàn lại, cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi, bảo lãnh vốn vay phục vụ yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ của tổ chức, cá nhân”.[15; điều 62]

Về tổ chức và hoạt động của Quỹ, ghi rõ: “Quỹ đư c tổ chức và hoạt động nhằm mục đích hỗ tr và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo ục, y tế, thể ục, thể thao, khoa học, từ thiện, nhân đạo và các mục đích phát triển cộng đ ng, không vì mục đích l i nhuận” [5; điều 2]

Về kinh phí nghiên cứu khoa học, ghi rõ: “Hàng năm, thủ trư ng các cơ s quyết định dành một khoản kinh phí thích h p để hỗ tr hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên” [2; điều 6]

Gần đây nhất, ngày 25/10/2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2014/NĐ-CP quy định việc đầu tƣ phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học, trong đó ghi rõ

“Hằng năm, ành tối thiểu 3% kinh phí từ ngu n thu học phí của cơ s giáo ục đại học để cho sinh viên và người học hoạt động nghiên cứu khoa học”[4; điều

12] Về vấn đề này, trong công văn gửi các trường đại học về việc triển khai Nghị định số 99/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu rõ “Mức đầu tư cho sinh viên và người học hoạt động nghiên cứu khoa học tối thiểu là 3% ngu n thu học phí của trường” Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc

Chính phủ ban hành Nghị định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước tăng cường đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học, khuyến khích người học tham gia nghiên cứu khoa học 7 [13]

Có thể nói, đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để tạo nguồn vốn ban đầu cho việc hình thành Quỹ

THỰC TRẠNG NGUỒN TÀI CHÍNH PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Thực trạng tình hình nghiên cứu khoa học của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

2.1.1 Học viên cao học và nghiên cứu sinh với hoạt động nghiên cứu khoa học

2.1.1.1 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của đối tư ng học viên

Với mục tiêu chung trở thành trường đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học nghiên cứu tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á và có một số ngành, lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến châu Á, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Trường ĐHKHTN luôn xây dựng quy mô các bậc đào tạo hợp lý, phù hợp với tiêu chí đại học nghiên cứu, đặc biệt là các tiêu chí về tỷ lệ quy mô đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Từ đó, Trường đặt ra các nhiệm vụ trọng tâm là cần phải “Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo sau đại học thông qua việc xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo liên kết quốc tế Xây dựng cơ chế thu hút các giáo sư giỏi của nước ngoài đến giảng dạy và tham gia đồng hướng dẫn luận văn, luận án, cùng thực hiện các đề án hợp tác nghiên cứu, giúp nâng cao hiệu quả và chất lƣợng đào tạo sau đại học” và “Gắn liền nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học, kết hợp nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng, gắn chặt với thực tiễn, đóng góp tích cực vào việc giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, đặc biệt là các lĩnh vực mà Trường có thế mạnh.” 9 [21]

Hiện tại trường có 48 chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ và 46 chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ

9 Http://hus.vnu.edu.vn/vi/main/chienluocphattrien, ngày 30.9.2015

Từ năm 2012, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ theo “Đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020” (Đề án

911) với cả hai phương thức đào tạo:

- Phối hợp với Đại học Kitakyushu (Nhật Bản): Chuyên ngành Kỹ thuật môi trường

Bảng 2.1 Số lƣợng NCS tham gia đề án 911

Năm Tổng số NCS NCS 911

(Ngu n: Phòng Chính trị và Công tác sinh viên,

Trường ĐHKHTN) Đồng thời, thực hiện chủ trương “Đẩy mạnh sự hợp tác trong nghiên cứu khoa học gắn liền với đào tạo” của ĐHQGHN, từ năm 2004, các đề tài NCKH từ cấp ĐHQGHN trở lên phải gắn liền với đào tạo đại học và sau đại học, sản phẩm của đề tài phải có kết quả cụ thể về bồi dƣỡng các cán bộ khoa học trẻ, trực tiếp là các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên

Hàng năm, số lượng học viên tốt nghiệp của Trường luôn giữ ổn định: tỷ lệ tốt nghiệp đối với cao học từ 70-80%, đối với NCS từ 35-45%

Bảng 2.2 Số lƣợng học viên sau đại học đã tốt nghiệp

Năm Cao học Nghiên cứu sinh

Tổng số Số tốt nghiệp Tổng số Số tốt nghiệp

(Ngu n: Phòng Sau đại học, Trường ĐHKHTN) 2.1.1.2 Những vấn đề còn t n tại trong hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên

Tiến hành tìm hiểu về những vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu khoa học của học viên, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:

Hộp 2.1 Phỏng vấn về những tồn tại trong hoạt động NCKH của học viên

“Thông thường học viên cao học của trường được người hướng dẫn gợi ý đề tài nghiên cứu chứ rất ít trường hợp là ý tưởng thực sự của học viên Đối với học viên điều này tương đối an toàn nhưng lại không giúp các em phát huy ý tưởng sáng tạo, không giúp các em tự phát hiện và nghiên cứu cái mới.”

(PGS.TS., giảng viên khoa Địa lý, 10/2015)

“Học viên trong trường hiện nay phải hoàn toàn tự chi phí cho quá trình nghiên cứu của mình Cũng có một vài trường hợp thuộc kết quả nghiên cứu đề tài cấp ĐHQGHN hay cấp Quốc gia của các thầy hướng dẫn thì học viên đỡ vất vả hơn.”

(PGS.TS, giảng viên khoa Môi trường, 10/2015)

“Đề tài tôi đang làm phải thí nghiệm nhiều, tốn rất nhiều kinh phí cho việc mua hoạt chất và chạy máy, tôi đi làm nhà nước lương cơ bản nên cũng khá vất vả”

Nhƣ vậy, có thể nhận thấy một số vấn đề còn tồn tại trong NCKH của học viên nhƣ sau:

Thứ nhất, rất ít trường hợp học viên tự đề xuất ý tưởng nghiên cứu mà phần lớn là do thầy hướng dẫn gợi ý hoặc làm theo hướng nghiên cứu đề tài có sẵn của các thầy Việc tự đề xuất ý tưởng nghiên cứu đối với HVCH, NCS được cho là tương đối mạo hiểm, tính cả về khía cạnh tài lực và trí lực Đây chính là một trong những nút thắt của bài toán tìm kiếm và thúc đẩy khả năng sáng tạo của người học, khi mà trong môi trường giáo dục của nhà trường hiện nay, hầu hết học viên sẽ chọn giải pháp an toàn cho bản thân

“Hiện nay các học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu của bậc sau đại học trong trường khá ít, hàng năm chỉ thấy có 2 loại là Sasakawa và Toshiba của Nhật Bản, nên hầu hết học viên nhƣ tôi phải tự chi phí cho quá trình nghiên cứu của mình”

(Học viên cao học, tháng 10/2015)

“Tôi đang làm Luận văn thạc sĩ dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, đề tài cũng là do thầy chọn giúp tôi Các bạn học cùng tôi cũng thế cả”

(Học viên cao học, tháng 10/2015)

“Tôi đang làm nghiên cứu sinh tại Khoa Môi trường, đề tài của tôi đòi hỏi phải đi thực địa để lấy mẫu, lấy mẫu về lại phải thuê phân tích mẫu, tính ra rất tốn kém mà không phải ngay lần đầu mọi việc đã thuận lợi”

“Nghiên cứu sinh thường là những đối tượng đã có kinh nghiệm nghiên cứu, cũng nhiều bạn đưa ra được ý tưởng nghiên cứu khá mới mẻ, nếu có điều kiện về kinh phí để thực hiện thì rất tốt, nhiều nghiên cứu đã mang lại giá trị thực tiễn Tuy nhiên nhiều người cũng đành bỏ dở vì quá trình nghiên cứu rất tốn kém, không thể có kinh phí để theo đuổi đến cùng”

(ThS., Chuyên viên Phòng Sau đại học, tháng 10/2015)

Thứ hai, kinh phí dành cho nghiên cứu đang là một vấn đề lớn đối với các học viên Hiện nay hầu hết học viên phải tự túc kinh phí, vì hiện tại nhà trường hầu nhƣ không có hoạt động nào hỗ trợ học viên làm NCKH độc lập NCKH đi liền với rủi ro nên đối với những học viên, đặc biệt là NCS mà việc nghiên cứu cần đi thực địa, hay phân tích mẫu mà không có điều kiện về kinh phí thì rất dễ có tâm lý chán nản và bỏ dở

2.1.2 Sinh viên nghiên cứu khoa học

2.1.2.1 Những thành tích đạt đư c trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Hoạt động NCKH của sinh viên Trường ĐHKHTN từ nhiều năm nay đã được Trường quan tâm tạo điều kiện phát triển, đặc biệt từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế mới về NCKHSV (Quyết định số 08/2000/QĐ- BGD&ĐT) trong các trường đại học và cao đẳng, đã nêu rõ mục đích, nội dung NCKH, việc đánh giá cũng như chế độ đối với sinh viên và cán bộ hướng dẫn có thành tích, NCKHSV đã trở thành phong trào thường niên và phát triển sâu rộng trong toàn trường

Công tác NCKH của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo Ngoài việc tập dƣợt cho sinh viên NCKH, biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, còn góp phần phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ cho đất nước

Qua nhiều năm liên tục, hoạt động NCKH sinh viên Trường ĐHKHTN đƣợc triển khai với quy mô lớn và ngày càng có chất lƣợng cao

Trong tháng phát động phong trào NCKHSV, không khí thi đua sôi nổi diễn ra ở khắp các khoa trong trường Hoạt động NCKH của sinh viên Trường ĐHKHTN tổ chức theo 2 vòng: vòng thứ nhất ở cấp Khoa, vòng thứ hai ở cấp Trường Được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo, các sinh viên đã chủ động đề xuất, thực hiện những đề tài theo nhiều hướng khác nhau và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tại Hội nghị cấp Trường, 8 báo cáo xuất sắc nhất đại diện cho 8 Khoa đƣợc lựa chọn đã trình bày các kết quả nghiên cứu của mình Ngoài ra, Trường còn có cơ cấu giải thưởng “trình bày báo cáo hay và ý

29 tưởng độc đáo” dành cho 3 báo cáo viên, tạo nên không khí thực sự sôi nổi đối với sinh viên tại Hội nghị cấp Trường

Đánh giá chung về thực trạng nguồn tài chính phục vụ NCKH của người học và sự cần thiết của việc xây dựng Quỹ

2.3.1 Đánh giá thực trạng nguồn tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học

Có thể thấy, với thực trạng của nhà trường hiện nay, nguồn chi cho người học NCKH là có, tuy nhiên còn tồn tại những vấn đề sau:

Thứ nhất, không thấy mục chi từ ngân sách của Trường và giải thưởng các cấp cho đối tƣợng HVCH và NCS nghiên cứu khoa học Trong quá trình học tập, học viên chỉ đƣợc hỗ trợ kinh phí nghiên cứu thông qua một lƣợng rất nhỏ từ các Quỹ học bổng tài trợ Nhƣ vậy đa số học viên phải tự trang trải kinh phí cho toàn bộ quá trình nghiên cứu của mình Đã biết nghiên cứu khoa học là hoạt động bắt buộc của học viên trong thời gian học tập, nhƣng nếu học viên đƣợc quan tâm hơn, đƣợc hỗ trợ kinh phí thông qua mô hình Quỹ đầu tƣ, rất có thể sẽ có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu độc lập mang ý nghĩa thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của xã hội được thực hiện, vì rằng khả năng sáng tạo của con người là vô hạn, đặc biệt đối với đối tượng nghiên cứu sinh vốn đã có tương đối kinh nghiệm nghiên cứu, khi tập trung đƣợc cả trí lực, tài lực, vật lực thì không khó để cho ra đời những sản phẩm nghiên cứu chất lƣợng cao

Thứ hai, với nguồn ngân sách từ nhà trường và từ giải thưởng các cấp (Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN và Bộ GD&ĐT), hiện nay người học NCKH chủ yếu chỉ đƣợc hỗ trợ kinh phí mang tính chất khích lệ, động viên vì số tiền đến với người học quá ít ỏi, không thể đủ để thực hiện công việc nghiên cứu, nghĩa là chưa đáp ứng được nhu cầu về NCKH của người học

Thứ ba, nguồn kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa được tập trung Nguồn kinh phí ổn định nhất là nguồn Ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động NCKH của sinh viên chỉ đáp ứng đƣợc một nhu cầu rất nhỏ cho một số nhóm nghiên cứu tập trung 1 năm/ 1 lần Trường chưa hình thành một Quỹ nào để đầu tư có trọng điểm, có chương trình cho hoạt động NCKH của

43 người học Thực tế thì chỉ với sự tài trợ của các Quỹ học bổng ngoài ngân sách, nếu học viên, sinh viên nào đƣợc cấp xét thì số tiền cũng tạm đƣợc coi là có thể góp phần thực hiện một đề tài nghiên cứu Điều này cho thấy tác dụng của các Quỹ hỗ trợ học tập và NCKH ngoài ngân sách, tuy nhiên để đầu tư vốn trước cho một đề tài nghiên cứu của người học thì hiện tại Trường ĐHKHTN chưa có tổ chức nào tài trợ

Thứ tƣ, từ năm 2014 Chính phủ đã cho phép cơ sở đào tạo trích tối thiểu 3% học phí để chi cho hoạt động nghiên cứu khoa học của người học, tuy nhiên hiện tại nhà trường vẫn chưa áp dụng thực hiện Theo số liệu trên thì chỉ có từ nguồn Ngân sách nhà nước cấp cho NCKH sinh viên, ko phải từ học phí

Trong thời gian tới, thực hiện chính sách khuyến khích người học nghiên cứu khoa học của nhà nước, có thể Trường cũng sẽ sắp xếp phân bổ lại kinh phí cho phù hợp Nhưng nếu Trường không đổi mới cơ chế bằng cách thiết lập một Quỹ và trích thẳng ít nhất 3% nguồn thu từ học phí để người học nghiên cứu khoa học mà vẫn chi theo những đầu mục như trước, chỉ nâng các mức hỗ trợ và mức giải thưởng, đầu tư dàn trải thì e rằng người học cũng vẫn không có kinh phí để triển khai ý tưởng khoa học, từ đó vẫn không đạt được mục đích cuối cùng là khuyến khích người học nghiên cứu khoa học nhằm tìm kiếm khả năng sáng tạo của người học

2.3.2 Nhu cầu về tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học và sự cần thiết của việc xây dựng Quỹ

Cùng với các số liệu liên quan đến kinh phí NCKH dành cho người học mà chúng tôi thu thập được từ các phòng ban chức năng của nhà trường, để tìm hiểu kỹ hơn về nhu cầu tài chính của người học khi làm NCKH, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế Với câu hỏi: “Đối với cá nhân bạn, kinh phí có phải là khó khăn lớn nhất khi làm NCKH?”, có đến 68% số người được hỏi khẳng điều này

Biểu 2.5 Nhu cầu về kinh phí khi làm NCKH của người học

(Ngu n: Khảo sát thực tế)

Có thể thấy, nhu cầu về tài chính để sinh viên tham gia NCKH là rất lớn do hiện tại sinh viên gần nhƣ không có kinh phí để đầu tƣ cho hoạt động NCKH Với nguồn hỗ trợ của nhà trường quá ít ỏi, còn kinh phí từ các Quỹ học bổng tài trợ cũng chỉ đáp ứng 1-5% nhu cầu thực của sinh viên, còn kinh phí từ các Giải thưởng thì chỉ khi sinh viên đã có kết quả nghiên cứu, tham gia dự thi đạt giải mới được nhận Lúc này quả thực giải thưởng chỉ mang tính khích lệ, động viên chứ không phải là nguồn kinh phí để sinh viên có thể đầu tƣ cho hoạt động NCKH của mình

Theo tổng hợp phiếu trƣng cầu ý kiến sinh viên, với câu hỏi: “Bạn đồng ý với đề xuất nào nhằm khắc phục những vướng mắc về tài chính trong NCKHSV?” tác giả đã thu đƣợc kết quả nhƣ sau:

Bảng 2.12 Đề xuất khắc phục vướng mắc tài chính trong NCKHSV Ý kiến trả lời Số lƣợng phiếu

Giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà 40 40%

(Ngu n: Khảo sát thực tế)

Biểu 2.6 Đề xuất khắc phục vướng mắc tài chính trong NCKHSV

(Ngu n: khảo sát thực tế)

Nhƣ vậy, hai ý kiến đƣợc tác giả gợi ý là “tăng mức hỗ trợ” và “giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà” có số lượng phiếu tương đối cho thấy thực trạng cho là sinh viên khá vất vả với việc nhận kinh phí hỗ trợ Và đa số người học đồng thuận với ý tưởng “thiết lập Quỹ NCKHSV” với 88% ý kiến được hỏi đồng ý đề xuất này, cho thấy nhu cầu đƣợc đầu tƣ kinh phí để nghiên cứu của sinh viên là có thật, chứng tỏ bản thân sinh viên cũng mong muốn có một sự bứt phá mới trong môi trường nghiên cứu khoa học dành cho mình

Tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ và học viên đang công tác và học tập tại Trường ĐHKHTN về ý tưởng thiết lập một Quỹ NCKH dành cho người học trong nhà trường, tác giả thu được một số ý kiến sau:

Hộp 2.4 Phỏng vấn các cán bộ về ý tưởng thiết lập Quỹ dành cho NCKH của người học

Giám bớt các thủ tục hành chính rườm rà

“Tôi đã chứng kiến nhiều sinh viên rất say mê NCKH nhƣng chỉ đƣợc tham gia cùng thầy giáo chứ không thể tự mình đứng ra chủ trì một đề tài nghiên cứu mặc dù em có ý tưởng chỉ vì cơ chế của trường hiện nay chưa cho phép Nhƣ vậy Quỹ ra đời sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu này của sinh viên”

(TS., giảng viên Khoa Vật lý, 10/2015)

Hộp 2.5 Phỏng vấn các học viên về ý tưởng thiết lập Quỹ dành cho NCKH của người học

“Tôi thấy trong bối cảnh nhà trường hiện nay thì việc thành lập một quỹ dành riêng cho người học NCKH là hoàn toàn phù hợp Sinh viên hiện nay đang rất cần một nguồn đầu tƣ tài chính để chuyên tâm NCKH, phát huy ý tưởng sáng tạo”

(ThS., Phó Trư ng phòng Kế hoạch - Tài chính, 10/2015)

“Với số kinh phí hỗ trợ ít ỏi hiện nay thì những người học không có điều kiện kinh tế sẽ không dám thực hiện ƣớc mơ NCKH của mình Quỹ sẽ thực sự giúp đỡ cho những sinh viên nghèo say mê NCKH”

(ThS., chuyên viên Phòng Khoa học - Công nghệ, 11/2015)

“Một trường đại học đang hướng tới mô hình đại học định hướng nghiên cứu như Trường ĐHKHTN nhất thiết cần đào tạo ra những lớp sinh viên, học viên biết NCKH và cao hơn là có khả năng nghiên cứu độc lập Việc hình thành Quỹ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu của người học là hoàn toàn cần thiết, vì rằng với các ngành học cần phải đi thực địa nhiều thì kinh phí rất lớn Nếu không được đầu tư hợp lý thì các em dù có ý tưởng nghiên cứu cũng không thể thực hiện đƣợc”

(TS., giảng viên Khoa Địa chất, 11/2015)

Kinh nghiệm của một số Quỹ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học của người học

2.4.1 Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam

Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC) [16] là một Quỹ Liên bộ do Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh và

Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ƣơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam bảo trợ và đƣợc thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Trung ƣơng Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Quyết định số 1215/TC-LHH ngày

17 tháng 11 năm 1992) nhằm mục đích:

 Huy động mọi tiềm năng về chất xám, tiền vốn, dịch vụ kỹ thuật thuộc mọi thành phần kinh tế góp phần vào sự nghiệp đổi mới, chính sách mở cửa của Việt Nam làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

 Tạo điều kiện thuận lợi để các tài năng sáng tạo kỹ thuật có cơ hội tiếp cận với nền khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới, tăng cường tình hữu nghị, hợp tác vì hòa bình và phát triển: thúc đẩy việc đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả và bảo vệ môi trường

 Hỗ trợ các tài năng sáng tạo kỹ thuật trong việc phát huy sáng kiến, sáng chế và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

 Hỗ trợ về vật chất, tinh thần và các hình thức thích hợp khác cho các tài năng sáng tạo trong học tập, nghiên cứu, hoàn thiện các công trình sáng tạo và lao động, công tác gặp những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt

Nguồn tài chính của Quỹ gồm có:

 Từ sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

 Từ việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật do Quỹ tham gia và các dịch vụ khoa học kỹ thuật do Quỹ mang lại;

 Từ nguồn Ngân sách Nhà nước cấp thường xuyên cho Quỹ VIFOTEC (Chi cho các Giải thưởng, chi hành chính cho Văn phòng Quỹ hàng năm, chi tuyên truyền phổ biến khoa học - công nghệ; hỗ trợ sáng kiến, sáng chế…)

Hội đồng Bảo trợ Quỹ:

Hội đồng Bảo trợ là cơ quan cao nhất của Quỹ, bao gồm đại diện của các tổ chức sáng lập ra Quỹ và các tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia, có quyền quyết định toàn bộ nội dung liên quan đến Quỹ và có trách nhiệm về mọi mặt của Quỹ Hội đồng bảo trợ có nhiệm vụ:

 Hoạt động theo quy chế riêng;

 Giúp đỡ về mọi mặt cho hoạt động của Quỹ phát triển;

 Đề ra chủ trương, phương hướng hoạt động của Quỹ;

 Quyết định các biện pháp huy động nhằm tăng nguồn vốn của Quỹ;

 Lựa chọn các cá nhân, đơn vị cần hỗ trợ giúp đỡ, các giải pháp kỹ thuật cần áp dụng để có kế hoạch hỗ trợ Đối tƣợng hỗ trợ của Quỹ:

 Những người lao động, công nhân, nông dân, trí thức, có tài năng sáng tạo khoa học kỹ thuật gặp hoàn cảnh khó khăn đặc biệt;

 Những tài năng sáng tạo kỹ thuật trẻ trong thanh thiếu nhi;

 Những giải pháp kỹ thuật đƣợc đánh giá cao tại các Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật Toàn quốc nhƣng chƣa có điều kiện áp dụng rộng rãi

 Hỗ trợ về tài chính;

 Hỗ trợ xét nghiệm đánh giá các giải pháp kỹ thuật;

 Hỗ trợ về thông tin khoa học kỹ thuật;

 Hỗ trợ tuyên truyền, phổ biến, quảng cáo cho các giải pháp kỹ thuật;

 Hỗ trợ áp dụng các sáng tạo khoa học kỹ thuật vào thực tiễn;

 Hỗ trợ về phương pháp luận sáng tạo;

 Giới thiệu các chuyên gia, các nhà khoa học giúp đỡ tác giả hoàn thiện giải pháp kỹ thuật sáng tạo đƣợc đề xuất;

 Hỗ trợ việc đƣa các giải pháp sáng tạo kỹ thuật tham gia triển lãm, hội thi sáng tạo và giới thiệu quảng cáo kết quả sáng tạo với thị trường trong nước và quốc tế;

 Hỗ trợ học bổng để đi học hoặc đi nghiên cứu ngắn hạn hoặc dài hạn ở nước ngoài

 Hỗ trợ không hoàn lại hoặc hoàn lại một phần đƣợc áp dụng đối với các dự án nâng cao dân trí và nâng cao nghiệp vụ về khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;

 Cho vay không lấy lãi hoặc với lãi suất ƣu đãi đối với các dự án triển khai;

 Góp phần phát triển công nghệ;

Quản lý tài sản và tài chính của Quỹ:

Tài sản và tài chính của Quỹ đƣợc quản lý theo chế độ kế toán thống kê của Nhà nước Đƣợc thành lập vào năm 1992 và ngay năm 1993, Quỹ đã lần đầu tiên tổ chức Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC cho sinh viên các trường Đại học trong toàn quốc Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Quỹ thường niên tổ chức các chương trình hỗ trợ và tìm kiếm tài năng trẻ như Cuộc thi Sáng tạo Thanh - Thiếu niên và Nhi đồng toàn quốc, Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC cho sinh viên, Hỗ trợ học bổng cho tài năng trẻ, Riêng với Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC cho sinh viên đã thu hút sự tham gia của hơn 200 trường đại học và trở thành giải thưởng có uy tín nhất đối với sinh viên Từ năm 2012, Giải thưởng đổi tên thành Giải thưởng Tài năng khoa học trẻ Việt Nam, mở rộng đối tượng cho cả các giảng viên trẻ ở các trường đại học, học viện

Cụ thể số lƣợng đề tài sinh viên NCKH từ năm 2010 đến năm 2014 dự thi và được trao giải thưởng như sau:

Bảng 2.13 Số lƣợng đề tài dự thi và đạt giải từ năm 2010 - 2014

Giải thưởng Sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC cho sinh viên

Năm Số đề tài dự thi

Giải nhất Giải nhì Giải ba Giải khuyến khích

Với mỗi giải sẽ kèm theo tặng thưởng bằng tiền mặt như sau:

Những sinh viên đoạt Giải thưởng VIFOTEC còn được Quỹ Giáo dục Việt nam (VEF) tổ chức cho học tiếng Anh để đự thi giành học bổng du học thạc sỹ và tiến sỹ của các trường đại học danh tiếng trên thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc Đây thực sự là một cơ hội lớn để các sinh viên có thể trở thành những nhà khoa học trong tương lai

2.4.2 Quỹ Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka

Quỹ Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka [24] là quỹ trực thuộc Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và đƣợc thành lập theo Quyết định số

235/2003/QĐ-UB ngày 22 tháng 10 năm 2003 của Ủy ban nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh [18] Quỹ ra đời nhằm mục đích quy tụ mọi nguồn lực của xã hội vào việc hỗ trợ và tạo điều kiện động viên sinh viên trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có ý tưởng sáng tạo, say mê nghiên cứu khoa học phát triển tài năng; góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Nguồn tài chính của Quỹ:

 Từ nguồn ngân sách thành phố hỗ trợ ban đầu theo quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố

 Từ việc chuyển giao ứng dụng kết quả nghiên cứu, ý tưởng sáng tạo đối với cá nhân và đơn vị sử dụng

 Từ sự đóng góp tự nguyện hoặc sự tài trợ của các cá nhân và tổ chức trong nước và nước ngoài

 Từ các hoạt động gây Quỹ theo quy định hiện hành

 Nguồn thu khác (nếu có)

Nhà bảo trợ là các tổ chức hoặc cá nhân trong nước, nước ngoài tài trợ và đóng góp tự nguyện, đáp ứng mục tiêu hoạt động của Quỹ Nhà bảo trợ có các quyền sau :

 Giao quyền sử dụng nguồn tài trợ của mình cho Hội đồng quản trị Quỹ quyết định, hoặc yêu cầu sử dụng nguồn tài trợ vào một nhóm đối tƣợng hay một nhóm ngành cụ thể

 Đƣợc quyền yêu cầu công khai nguồn tài trợ của mình, đóng góp ý kiến xây dựng hoặc chất vấn hoạt động của Quỹ

 Nhà bảo trợ có đóng góp tích cực cho hoạt động của Quỹ đƣợc ghi vào

Sổ vàng của Quỹ và có thể được đề nghị khen thưởng theo quy định của Nhà nước

53 Đối tƣợng hỗ trợ của Quỹ:

ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH QUỸ ĐẦU TƯ CHO HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Ngày đăng: 15/06/2021, 09:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Anh (2015), Nghiên cứu khoa học trẻ: chất lư ng thấp vì chạy theo thành tích, http://anninhthudo.vn/giao-duc/nghien-cuu-khoa-hoc-tre-chat-luong-thap-vi-chay-theo-thanh-tich/594283.antd,ngàycậpnhật02/02/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học trẻ: chất lư ng thấp vì chạy theo thành tích
Tác giả: Bảo Anh
Năm: 2015
7. Vũ Cao Đàm (2014), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
8. Đại học Đông Á, Ý nghĩa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, http://donga.edu.vn/NCKH/tabid/1232/cat/1648/ArticleDetailId/11740/ArticleId/11738/Default.aspx, ngày cập nhật 28/5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên
9. Hồ Ngọc Đức, Từ điển Tiếng Việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/, ngày cập nhật 28/5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
10. Trương Quang Học (2009), Đại học nghiên cứu, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 217-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học nghiên cứu
Tác giả: Trương Quang Học
Năm: 2009
11. Phạm Thị Ly (2013), Về khái niệm trường đại học nghiên cứu và các tiêu chí nhận diện đại học nghiên cứu, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 89 tháng 2/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm trường đại học nghiên cứu và các tiêu chí nhận diện đại học nghiên cứu
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2013
12. Phạm Thị Ly (2013), Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại,http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&News=7087&CategoryID=6, ngày cập nhật 23/5/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười đặc điểm của trường đại học nghiên cứu hiện đại
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2013
13. Lan Phương (2015), Dành tối thiểu 3% ngu n thu học phí cho sinh viên nghiên cứu khoa học, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Danh-toi-thieu-3-nguon-thu-hoc-phi-cho-sinh-vien-nghien-cuu-khoa-hoc/320219112/157/,ngàycập nhật 26/05/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dành tối thiểu 3% ngu n thu học phí cho sinh viên nghiên cứu khoa học
Tác giả: Lan Phương
Năm: 2015
17. Tập đoàn Sơn KOVA, http://www.kovapaint.com, ngày 15/10/2015 Link
23. Từ điển Việt - Việt, http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Qu%E1%BB%B9, ngày cập nhật 29/9/2015 Link
25. Wikipedia - Bách khoa toàn thƣ mở, http://vi.wikipedia.org/wiki/đầu_tƣ, ngày cập nhật 29/9/2015 Link
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Quyết định số 08/2000/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế về nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000), Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ban hành Quy chế về đào tạo sau đại học Khác
4. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Nghị định số 99/2014/NĐ-CP quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN trong các cơ s giáo dục đại học Khác
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giáo dục Đại học Khác
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật Khoa học và Công nghệ Khác
16. Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo kỹ thuật Việt Nam, Http://www.vifotec.com.vn, ngày cập nhật 15/10/2015 Khác
18. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 711/QĐ-TTg về Chiến lư c phát triển giáo dục từ năm 2011 - 2020 Khác
19. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 418/QĐ-TTg về Chiến lư c phát triển khoa học và công nghệ từ năm 2011 - 2020 Khác
20. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (2015), Báo cáo tổng kết năm học 2014 - 2015 và kế hoạch năm học 2015 - 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w