1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Y đa khoa: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019

76 107 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 916,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (13)
    • 1.1. Giới thiệu về stress, lo âu, trầm cảm (13)
      • 1.1.1. Khái niệm (13)
        • 1.1.1.1. Khái niệm stress (13)
        • 1.1.1.2. Khái niệm lo âu (14)
        • 1.1.1.3. Khái niệm trầm cảm (15)
        • 1.1.1.4. Khái niệm Nhân viên y tế (NVYT) (15)
        • 1.1.1.5. Stress nhân viên y tế (15)
      • 1.1.2. Các yếu tố liên quan đến stress, lo âu và trầm cảm ở nhân viên y tế (16)
        • 1.1.2.1. Nguyên nhân gây ra stress, lo âu và trầm cảm (16)
        • 1.1.2.2. Những yếu tố gây ra rối loạn tâm thần trong lao động (16)
        • 1.1.2.3. Những điều kiện gây rối loạn tâm thần trong ngành y tế (17)
      • 1.1.3. Hậu quả của rối loạn tâm thần lên sức khoẻ (17)
    • 1.2. Giới thiệu về các thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và bộ công cụ (18)
  • DASS 21 của Lovibond (18)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm trên thế giới và tại Việt Nam (19)
      • 1.3.1. Một số nghiên cứu trên thế giới (19)
      • 1.3.2. Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế tại Việt Nam (21)
    • 1.4. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu (23)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (26)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (26)
    • 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (26)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu (26)
      • 2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu (26)
      • 2.3.3. Các chỉ số và biến số nghiên cứu (27)
    • 2.4. Công cụ nghiên cứu (29)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (30)
    • 2.6. Phương pháp phân tích số liệu (30)
    • 2.7. Các sai số và cách khắc phục (30)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu (31)
    • 2.9. Hạn chế của nghiên cứu (31)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (32)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (32)
      • 3.1.1. Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (32)
      • 3.1.2. Đặc điểm công việc của nhân viên y tế huyện Sóc Sơn (35)
    • 3.2. Xác định tỉ lệ stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2019 (39)
    • 3.3. Xác định một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội (42)
      • 3.3.1. Phân bố mức độ rối loạn tâm thần ở nhân viên y tế theo đặc điểm cá nhân (42)
      • 3.3.2. Phân bố mức độ rối loạn tâm thần ở nhân viên y tế theo đặc điểm công việc (45)
    • 3.4. Phân tích đa biến giữa các yếu tố liên quan với stress, trầm cảm, lo âu (49)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (53)
    • 4.1. Đặc điểm của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn năm (53)
    • 4.2. Mô tả thực trạng về tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn năm 2019 (54)
      • 4.3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm (59)
      • 4.3.2. Mối liên quan giữa các yếu tố về đặc điểm công việc với tình trạng stress, (62)
  • KẾT LUẬN (64)
  • PHỤ LỤC (71)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định tỉ lệ stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019.

TỔNG QUAN

Giới thiệu về stress, lo âu, trầm cảm

“Stress” là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “strictus” và một phần của từ “stringere” mang ý nghĩa là sự căng thẳng, bất hạnh, nghịch cảnh, đè nén Thuật ngữ stress lúc đầu được dùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu Sau đó đến thế kỉ thứ 17, stress được dùng trong y học và tâm lý học với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng [39]

Trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn có rất nhiều khái niệm khác nhau về stress tuỳ theo từng cách nhìn vấn đề của mỗi tác giả mà họ đưa ra những quan niệm khác nhau

Năm 1914, W.B.Cannon lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ stress trong các nghiên cứu về y sinh học Tuy nhiên, người có công lớn trong việc đưa ra khái niệm stress một cách khoa học đó là Hans Selye (nhà sinh lý học người Canada) Theo ông, stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những kích thích từ môi trường Đó là những phản ứng của cơ thể nhằm khôi phục trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống bất lợi để đảm bảo duy trì và thích nghi thoả đáng của cơ thể trước những điều kiện sống luôn luôn biến đổi Nói cách khác, bình thường stress góp phần giúp con người thích nghi với môi trường sống Nếu sự đáp ứng của cá nhân đối với stress không đầy đủ, không phù hợp và cơ thể không tạo nên một sự cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều cũng bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý về thể chất và tâm lý sẽ xuất hiện Học thuyết của H.Selye nhấn mạnh vai trò của cảm xúc đối với thể chất và đó là nguyên nhân của một số bệnh tâm thể như loét dạ dày – tá tràng, hen phế quản… [15]

Từ phát hiện của H.Selye, rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về stress Nhà tâm lý học Richard Lazarus cho rằng: Stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu, đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thể huy động đựợc [2]

Nhà tâm lý học Mc Grath coi “stress như một sự mất thăng bằng giữa đòi hỏi và khả năng đáp ứng Khi đáp ứng không thỏa đáng sẽ có hậu quả không tốt” [9]

Trong cuốn sách “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trị liệu” của Giáo sư Ferreri do Giáo sư Nguyễn Việt dịch thì stress được hiểu là mối liên quan giữa con người với môi trường xung quanh Stress vừa chỉ tác nhân công kích vừa chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó Do đó, stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể [30]

Còn theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, stress tiếng anh có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là một mối kích động đánh mạnh vào con người, nghĩa thứ hai chỉ phản ứng sinh lý – tâm lý của con người ấy Mối kích động có thể là tác nhân vật lý, hóa học, một vi khuẩn hoặc một tác nhân tâm lý xã hội, nói chung là một tình huống căng thẳng đột xuất đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng và phản ứng lại Phản ứng gồm hai mặt: Phản ứng đặc thù riêng cho từng loại kích động và phản ứng chung cho một loại nhưng kích động khác nhau [13]

Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu theo những định nghĩa khác nhau Có người nói đến stress như một nguyên nhân, có người nói đến như hậu quả Có người nhìn nhận thuần túy dưới góc độ sinh học, như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể, số khác, thường là của các nhà tâm lý, đề cập đến cả yếu tố sinh học và tâm lý Trong phạm vi nghiên cứu này, dưới góc độ tâm lý học, định nghĩa về stress của Richard Lazarus được chúng em sử dụng để định nghĩa tình trạng stress do phù hợp với điều kiện, định hướng và thang công cụ đo lường sử dụng trong nghiên cứu

Lo là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, thử thách mà nhận thức được của một người với tâm sinh lý bình thường, đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe doạ của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [21]

Tuy nhiên, khi lo âu mang tính chất dai dẳng, lan tỏa, tản mạn, không liên quan, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào đó ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua, không còn tính chất thời sự nữa thì nó lại trở

5 thành bệnh lý Khi đó lo âu gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ bình thường của cá nhân và được gọi là rối loạn lo âu [25]

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ, ăn uống và kém tập trung” [10]

Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM – IV, 1984): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần” [35]

Trầm cảm là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần Nó là một tình trạng buồn chán, giảm hứng thú quá mức và kéo dài, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động trong cuộc sống như công việc/học tập, gia đình và xã hội Là rối loạn tâm thần có thể điều trị được [6]

Với các khái niệm trên, trầm cảm được xem xét biểu hiện ở các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể và hành vi

1.1.1.4 Khái niệm Nhân viên y tế (NVYT)

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 thì NVYT là tất cả những người tham gia vào hành động có mục đích chính là để tăng cường sức khỏe Cụ thể hơn, nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, điều dưỡng viên, nữ hộ sinh, nha sĩ, dược sĩ, kĩ thuật viên phòng thí nghiệm, cũng như quản lý và công nhân hỗ trợ - chẳng hạn như quản lý bệnh viện, các quan chức tài chính, đầu bếp, bảo trì sửa chửa và nhân viên vệ sinh [3, 16] Từ đó có thể hiểu NVYT là tất cả những người hoạt động trong lĩnh vực y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân

Giới thiệu về các thang đo lường stress, lo âu, trầm cảm và bộ công cụ

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá các vấn đề sức khoẻ tâm thần (SKTT) Có thể kể đến một số bộ công cụ được sử dụng nhiều trong nghiên cứu khoa học như bộ câu hỏi đánh giá cảm nhận về stress (PSS 10), thang đánh giá về stress (GHO 12), thang tự đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu của Beck (BAI), thang đo đánh giá trầm cảm của Beck (BDI), thang đánh giá trầm cảm và lo âu (AKUADS), thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond (DASS 21 và DASS 42)… [26]

Năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại khoa tâm lý học Đại học New South Wales, Australia đã xây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo âu và trầm cảm kí hiệu là DASS 42 Bên cạnh thang đo DASS 42 còn có một phiên bản rút gọn là DASS 21 được xây dựng năm 1997 DASS 42 thích hợp trong lâm sàng, còn DASS

của Lovibond

Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay, các vấn đề sức khoẻ tâm thần đang ngày được quan tâm nhiều hơn Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm theo nhiều hướng và trên nhiều đối tượng khác nhau như: công nhân, học sinh – sinh viên, nhân viên lái xe buýt, cựu chiến binh, đặc biệt là đối tượng là các NVYT – người trực tiếp hay gián tiếp chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân… [33, 41, 43, 49]

Nghiên cứu của Refai Yassen Al-Hussein và Ahmed Moshirf Al-Mteiwty

(2007) sử dụng thang đo DASS 21 để đánh giá tỉ lệ NVYT bị trầm cảm, lo âu, stress tại 07 bệnh viện (BV) tại thành phố Mosul – Iran Mẫu của nghiên cứu gồm hai nhóm:

250 điều dưỡng và 250 NVYT khác gồm nhân viên X-quang, nhân viên phòng xét nghiệm, dược sĩ, cán bộ vật lý trị liệu Kết quả thu được có đến 16% điều dưỡng bị trầm cảm trong khi tỉ lệ này ở nhóm nhân viên còn lại là 7,6%; có 20,8% điều dưỡng có rối loạn lo âu, nhóm còn lại là 7,6%, có 10% điều dưỡng bị stress trong khi nhóm còn lại là 6% Nghiên cứu khẳng định rằng điều dưỡng có nguy cơ mắc các RLTT hơn các NVYT khác Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích được nguyên nhân cụ thể

10 dẫn đến kết luận cũng như các yếu tố liên quan đến vấn đề SKTT của các nhóm đối tượng [40]

Nghiên cứu của Khalid S.Al-Gelban (2009) sử dụng thang đo DASS 42 để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên đối tượng là 304 bác sĩ ở vùng Aseer Saudin Arabia Kết quả cho thấy tỉ lệ cán bộ mắc các vấn đề SKTT khá thấp với trầm cảm 7,6%, lo âu 8,6% và stress 7,2% Nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa trạng thái stress, lo âu, trầm cảm với: tuổi, giới tính, quốc tịch, tình trạng hôn nhân, bằng cấp và số năm kinh nghiệm, nghiên cứu tìm thấy hai yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với cả trạng thái stress và lo âu là giới tính và trình độ chuyên môn, trong đó thì nữ giới bị stress, lo âu nhiều hơn nam giới [48]

Nghiên cứu của Asad Zandi và cộng sự (2011) đánh giá tỉ lệ stress, lo âu, trầm cảm của 272 điều dưỡng làm việc tại 29 khoa phòng thuộc một BV quân đội Nghiên cứu dùng thang đo DASS 21, kết quả nghiên cứu cho thấy điều dưỡng bị trầm cảm là 24,9%, lo âu 27,9% và stress 23,8% Nữ giới có tỉ lệ stress, lo âu và trầm cảm cao hơn nam giới Có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa trầm cảm, lo âu, stress với tuổi, trình độ học vấn, số giờ làm thêm và nơi làm việc Nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, công việc…chưa mở rộng đến các yếu tố cá nhân như mối quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội [44]

Nghiên cứu của 03 tác giả Mostafa A F.Abbas, Lamiaa Z.Abu Zaid, Mona Hussaein (2013) đã khảo sát tình trạng lo âu, trầm cảm của điều dưỡng tại các BV tại King Fahad Medical City, Vương quốc Saudi Arabia Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá rối loạn lo âu và trầm cảm HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale) với cỡ mẫu nghiên cứu 715 điều dưỡng viên Kết quả cho thấy 25% điều dưỡng có triệu chứng trầm cảm, trong đó có 10% có thể mắc bệnh trầm cảm; 27% có triệu chứng lo âu, trong đó có 20% trường hợp có thể mắc rối loạn lo âu Nghiên cứu nhận thấy một số yếu tố như ly hôn/goá, ít rèn luyện thể dục, hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ cho các triệu chứng lo âu, trầm cảm của NVYT Tuy nhiên, khác với các nghiên cứu trước, tác giả không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yếu tố công việc như trực đêm, tăng ca với tình trạng lo âu, trầm cảm của NVYT… [34]

Nghiên cứu của Creedy D.K (2017) sử dụng thang đo là DASS 21 đã khảo sát tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên 1037 điều dưỡng/nữ hộ sinh tại Australia, cho kết quả tỉ lệ stress là 22,1%, 17,3% trầm cảm và 20,4% lo âu Nghiên cứu cũng đưa ra ý kiến rằng các RLTT của NVYT có liên quan nhiều đến các đặc điểm công việc, tuy nhiên nghiên cứu chưa đi vào phân tích kĩ các yếu tố này [42]

1.3.2 Thực trạng stress, lo âu và trầm cảm của nhân viên y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, vấn đề SKTT dần được quan tâm nhiều hơn, tuy nhiên các nghiên cứu về stress, lo âu và trầm cảm của NVYT vẫn còn hạn chế, chủ yếu là các nghiên cứu về stress nghề nghiệp Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau đây:

Nghiên cứu của Lê Thành Tài và cộng sự (2008) đánh giá tình trạng stress nghề nghiệp của điều dưỡng đang làm việc tại BV đa khoa Trung ương Cần Thơ, BV đa khoa thành phố Cần Thơ và BV đa khoa Châu Thành – Hậu Giang Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ đánh giá stress nghề nghiệp của David Fontana (The Professional Life Stress Test) Kết quả nghiên cứu cho thấy BV đa khoa Trung ương Cần Thơ có tỉ lệ stress cao nhất (53,1%), sau đó là BV đa khoa thành phố Cần Thơ (33,9%) và thấp nhất là BV đa khoa Châu Thành – Hậu Giang (32,5%) Các yếu tố có thể gây stress nghề nghiệp cho điều dưỡng bao gồm thâm niên công tác, làm việc quá nhiều thời gian (>8h/ngày), công việc nhiều áp lực, không hứng thú, làm việc trong điều kiện thiếu máy móc, trang thiết bị, đông người, ồn ào, tiếp xúc nhiều mầm bệnh, dễ bị thương tích, thường gặp phản ứng của người bệnh và người nhà, mâu thuẫn đồng nghiệp, cấp trên, thu nhập chưa thoả đáng và công việc ít thăng tiến [18]

Tại Đồng Nai, nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008) đánh giá tình trạng stress và các yếu tố liên quan trên toàn bộ NVYT huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cho thấy: tỉ lệ NVYT bị stress là 79%, tỉ lệ NVYT bị stress thường xuyên là 27% Có mối liên quan giữa stress và các yếu tố khác bao gồm: trình độ học vấn, tính chất công việc, mức độ hài lòng, hoạt động thể lực, thời gian nghỉ ngơi không hợp lý, áp lực hạn cuối phải hoàn thành công việc, ít nhận được sự quan tâm từ cấp trên, bị quấy rối và phân biệt đối xử, thiếu trang thiết bị Nghiên cứu cũng đã mở rộng đến các yếu tố cá nhân như: mối quan hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm hay tham gia các hoạt động thể lực, tuy nhiên chưa tìm thấy mối quan hệ giữa trạng thái stress với các yếu tố này [24]

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thuý (2011) đánh giá stress trên 120 NVYT khối lâm sàng tại BV Ung bướu Hà Nội Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS 21 kết hợp đánh giá 03 trạng thái stress, lo âu, trầm cảm Kết quả thu được có 36,9% NVYT có biểu hiện stress, 41,5% biểu hiện lo âu và 15,3% có biểu hiện trầm cảm Trong đó mức độ stress, lo âu, trầm cảm nặng lần lượt là 0,9%, 4,5% và 1,8% Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng trạng thái stress là: số buổi trực ³4 buổi, cảm nhận công việc ít hứng thú, thường

12 xuyên tiếp xúc với hoá chất độc hại, cảm nhận thấy mối quan hệ với người bệnh không tốt Nghiên cứu chưa đánh giá hết các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng stress như đời sống cá nhân, gia đình, các mối quan hệ ngoài công việc… Đồng thời nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phân tích các yếu tố liên quan tới tình trạng stress mà chưa phân tích được các yếu tố liên quan tới tình trạng lo âu và trầm cảm [23]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Tần (2012), “Stress của NVYT tại Bệnh viện tâm thần Tiền Giang” Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 136 NVYT tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang cho thấy có tới 75,7% các NVYT thỉnh thoảng stress, trong đó 14,7% các NVYT rơi vào tình trạng stress thường xuyên [20]

Nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (2013) sử dụng thang đo DASS 21 đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của NVYT khối lâm sàng tại 02 địa điểm: một BV công là BV đa khoa thành phố Vinh và một BV tư nhân là BV đa khoa khu vực 115 Nghệ An Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ NVYT khối lâm sàng biểu hiện stress, lo âu, trầm cảm là tương đối cao (trung bình lần lượt là 20,4%, 29%, 13,6%) BV đa khoa thành phố Vinh có tỉ lệ stress và trầm cảm thấp hơn nhưng lại có tỉ lệ lo âu cao hơn BV đa khoa khu vực 115 Nghệ An, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê Kết quả phân tích hồi quy logistic xác định được 11 yếu tố liên quan tới stress, lo âu và trầm cảm, đồng thời không có yếu tố nào chung giữa 2 BV Một số yếu tố liên quan chính như tại BV đa khoa thành phố Vinh, stress liên quan với mức độ hứng thú trong công việc, trầm cảm liên quan đến tình trạng cơ sở vật chất, máy móc và trang thiết bị; BV đa khoa 115 Nghệ An, stress liên quan đến nguy cơ lây nhiễm bệnh tật, lo âu liên quan với sự rõ ràng trong phân công công việc Nghiên cứu đã tìm hiểu thêm một số yếu tố tác động như: cá nhân, gia đình, môi trường xã hội nhưng nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả chung chứ chưa phân tích sâu hơn [31]

Nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My và cộng sự (2014) tiến hành trên 370 điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng BV Phụ Sản – Nhi Đà Nẵng, sử dụng bộ công cụ chuẩn DASS 21 của Lovibond để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm Kết quả cho thấy tỉ lệ điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bị stress, lo âu, trầm cảm lần lượt là 18,1%, 33,2%, 18,4% Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan với stress là công việc hiện tại chưa ổn định, diện tích nơi làm việc chật chội, quan hệ với cấp trên chưa tốt; các yếu tố liên quan với lo âu gồm không luyện tập thể dục, gặp biến cố cá nhân, tình trạng sức khoẻ không tốt, chưa công bằng trong đánh giá công việc; các yếu tố liên quan với trầm cảm bao gồm tình trạng sức khoẻ

13 không tốt, chưa tự chủ trong công việc, ít tham gia hoạt động văn thể mỹ tại bệnh viện, quan hệ với cấp trên không tốt [14]

Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

Sóc Sơn là một trong 5 huyện ngoại thành Hà Nội, huyện nằm ở phía bắc của thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 35km Huyện Sóc Sơn bao gồm 26 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Sóc Sơn và 25 xã: Bắc Phú, Bắc Sơn, Đông Xuân, Đức Hoà, Hiền Ninh, Hồng Kỳ, Kim Lũ, Mai Đình, Minh Phú, Nam Sơn, Phú Cường, Phù Linh, Phù Lỗ, Phú Minh, Quang Tiến, Tân Dân, Tân Hưng, Tân Minh, Thanh Xuân, Tiên Dược, Trung Giã, Việt Long, Xuân Giang, Xuân Thu [27]

Bằng sự phát huy nội lực của mình, vận dụng xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển, Sóc Sơn đã dần phát huy vai trò là ngoại thành của trung tâm phát triển kinh tế thứ hai của đất nước Với cơ sở hạ tầng ngày một hoàn thiện, cùng sự xuất hiện của các trung tâm công nghiệp (Trung tâm công nghiệp Nội Bài), các cụm công nghiệp, các làng nghề được đầu tư phát triển, đã biến Sóc Sơn từ một huyện thuần nông, với nông nghiệp là chủ yếu thì giờ đây, cơ cấu kinh tế Sóc Sơn đã được chuyển dịch theo hướng tiến bộ: Công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa xã hội cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Các chỉ tiêu về y tế cũng đạt nhiều thành quả đáng phấn khởi [27]

Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn được thành lập năm 1988 theo quyết định số

3025 ngày 30/06/1988 của UBND Thành phố Hà Nội và Quyết định số 494 ngày 22/07/1988 của UBND huyện Sóc Sơn Tháng 10 năm 2008, sát nhập 26 Trạm Y tế xã, thị trấn, nâng tổng số cơ sở y tế trực thuộc lên 30 đơn vị Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Y tế Hà Nội, ngày 10/05/2016, Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn đã tổ chức hội thảo đề án xây dựng mô hình bác sĩ gia đình tại Hà Nội Đến nay, Trung tâm đã có 5 khoa chuyên môn, 3 phòng chức năng, 4 phòng khám khu vực và 26 trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn, với đội ngũ 417 cán bộ chuyên môn Trong đó có 2 bác sĩ chuyên khoa II, 14 bác sĩ chuyên khoa I, 11 thạc sĩ, 4 dược sĩ đại học, 55 bác sĩ, 41 dược sĩ trung học và nhiều nhân lực khác có trình độ chuyên môn cao [28]

Cùng với nguồn nhân lực, Trung tâm còn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo có đủ các phòng chuyên môn theo quy định, đặc biệt là đầu tư trang thiết bị kĩ thuật hiện đại như: Máy siêu âm màu, máy nội soi (tai mũi họng, tiêu hoá, cổ tử cung), máy X-quang kĩ thuật số, điện tim, máy đo tật khúc xạ, ghế răng, máy xét nghiệm, kính sinh hiển vi, máy khí dung… nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân [28]

Ngoài ra, để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn đã liên kết với các bệnh viện lớn tuyến 1, tuyến 2 trên địa bàn thành phố Hà Nội như: BV Châm cứu Trung ương, BV Tim Hà Nội, BV Lão khoa Trung Ương, BV Ung bướu Hà Nội, BV Mắt Hà Nội, BV Bắc Thăng Long… [11]

Bằng các giải pháp thiết thực và hiệu quả với phương châm “Người bệnh là trung tâm phục vụ”, Trung tâm Y tế Sóc Sơn tiếp tục khẳng định vai trò nổi bật của mình trong hoạt động chuyên môn, thực sự trở thành nơi bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân nhân, góp phần tạo nguồn nhân lực chất lượng ngày càng cao cho

15 huyện Sóc Sơn trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới, đưa Sóc Sơn sớm trở thành huyện phát triển năng động của Thủ đô [28]

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là những cán bộ, nhân viên y tế đang công tác tại các Trạm Y tế (TYT), Phòng khám (PK) Đa khoa khu vực, Phòng khám Đa khoa huyện… trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

- Là nhân viên y tế (bao gồm: bác sĩ, dược sĩ, y tá, điều dưỡng viên, kĩ thuật viên…) hiện đang công tác tại các Trạm Y tế, Phòng khám Đa khoa khu vực, Phòng khám Đa khoa huyện…thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

- Cán bộ phải công tác tại đơn vị từ 6 tháng trở lên tính đến ngày làm nghiên cứu điều tra tại đơn vị đó

- Đối tượng không đủ các tiêu chuẩn trên

- Đối tượng vắng mặt tại thời điểm điều tra (nghỉ thai sản, nghỉ phép, nghỉ do ốm đau bệnh tật…)

- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Các Trạm Y tế, Phòng khám đa khoa khu vực, Phòng khám đa khoa huyện trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 06 năm 2019.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Liên hệ và phát phiếu tự điền cho toàn bộ 355 NVYT thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn đáp ứng tiêu chí chọn đối tượng Đã có 355 NVYT đồng ý và điền thông tin vào phiếu điều tra (100%)

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

Mục tiêu Biến số Định nghĩa Phân loại biến Đặc trưng cá nhân và đặc điểm công việc

Tuổi Tuổi dương lịch, lấy 2019 trừ đi năm sinh của ĐTNC Định lượng Giới tính Là giới nam hay nữ Định tính

Dân tộc Dân tộc của ĐTNC Định tính

Tôn giáo Tôn giáo của ĐTNC Định tính Nơi ở hiện tại Nơi ở hiện tại của ĐTNC Định tính

Là chưa kết hôn/kết hôn/ly thân, ly dị hay goá bụa Định tính

Số con Số con mà ĐTNC hiện có Định lượng

Lĩnh vực chuyên môn Chuyên ngành được đào tạo Định tính

Trình độ học vấn cao nhất mà ĐTNC hoàn thành (trung cấp, cao đẳng, đại học, CK1, CK2, thạc sĩ) Định tính

Thời gian công tác trong ngành y

Số năm công tác của ĐTNC trong ngành y Định lượng

Thời gian công tác tại PK/TYT

Số năm công tác của ĐTNC trong TYT và PK Định lượng

Mục tiêu Biến số Định nghĩa Phân loại biến

Hình thức lao đông của ĐTNC (hợp đồng/ biên chế) Định tính

Chức vụ của ĐTNC ở PK,

Mức thu nhập hàng tháng

Mức thu nhập hàng tháng của ĐTNC (triệu VNĐ/tháng) Định lượng

Thời gian làm việc hàng ngày

Thời gian làm việc hàng ngày của ĐTNC (giờ) Định lượng

Xác định tỉ lệ stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên y tế thuộc

Trung tâm y tế huyện Sóc

Sơn, thành phố Hà Nội năm 2019.

Mức độ stress của NVYT theo thang điểm DASS 21 (không stress, stress nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng) Định tính

Mức độ lo âu của NVYT theo thang điểm DASS 21 (không lo âu, lo âu nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng) Định tính

Mức độ trầm cảm của NVYT theo thang điểm DASS 21 (không trầm cảm, trầm cảm nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng) Định tính

Xác định một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu của nhân viên

Nhóm tuổi Nhóm tuổi £30 hoặc >30 Định tính

Giới tính Nam hoặc nữ (theo giấy khai sinh) Định tính

Nhóm tình trạng hôn nhân

Có gia đình hoặc nhóm độc thân, ly thân, ly dị, goá Định tính

Mục tiêu Biến số Định nghĩa Phân loại biến y tế thuộc

Trung tâm y tế huyện Sóc

Sơn, thành phố Hà Nội

Có con Đã có con hoặc không Định tính

Nhóm lĩnh vực chuyên môn

Nhóm bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng hoặc khác Định tính

Nhóm thời gian công tác trong ngành y

Nhóm thời gian công tác trong ngành y

Ngày đăng: 15/06/2021, 09:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w