Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng Luận án thạc sỹ sinh học nghiên cứu tính kháng thuốc của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp tại bệnh viện phụ sản – nhi đà nẵng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các chủng vi khuẩn phân lập được từ những bệnh nhi nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.
Khi lựa chọn mẫu cấy máu, cần đảm bảo rằng mẫu đó dương tính với tác nhân vi khuẩn và có kết quả kháng sinh đồ hợp lệ, điều này rất quan trọng để áp dụng vào điều trị lâm sàng hiệu quả.
- Tiêu chuẩn loại trừ: mẫu cấy máu dương tính do các tác nhân không phải vi khuẩn.
Thời gian và địa điểm thực hiện nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019.
- Địa điểm nghiên cứu: khoa vi sinh bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu và mô tả cắt ngang.
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu: tất cả các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng từ tháng 10/2018 đến tháng 03/2019.
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ
- Tỷ lệ các chủng vi khuẩn thường gặp ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng.
- Mức độ kháng kháng sinh theo hướng dẫn của CLSI của một số chủng vi khuẩn thường gặp ở bệnh nhi tại địa điểm nghiên cứu:
+ Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân chia thành các mức độ:nhạy cảm, trung gian, kháng [3].
+ Tỷ lệ kháng kháng sinh được chia theo nhóm A, B, C, U, O [35].
- Môi trường nuôi cấy, phân lập bệnh phẩm và kháng sinh đồ: chai cấy máu hai pha , thạch máu, thạch Mac-Conkey.
- Thuốc nhuộm Gram (đỏ safranin, lugol, tím gentian, cồn tuyệt đối), thuốc nhuộm xanh methylen.
- Dung dịch nước muối NaCl 0.45% vô trùng.
- Thẻ định danh vi khuẩn và làm kháng sinh đồ (đi kèm máy)
- Máy VITEK 2 Compact để định danh vi khuẩn.
- Tủ an toàn sinh học cấp 2.
- Cassette (khay đặt ống nghiệm và thẻ) có dán mã.
- Máy đo độ đục denicheck của hãng Bio Merieux, Mỹ.
- Dispenser chứa dung dịch nước muối 0,45% vô trùng.
- Ống nghiệm vô trùng kích thước 12 x 0.75 cm để pha huyền dịch vi khuẩn.
- Pipet cố định cú thể tớch 145àl cho vi khuẩn Gram õm.
- Pipet cố định cú thể tớch 280àl cho vi khuẩn Gram dương.
- Que cấy, đèn cồn, bật lửa, găng tay sạch.
- Hộp đầu típ đã khử trùng ở 121 o C, 20 phút.
- Kính hiển vi, lam kính.
- Phương pháp lấy mẫu máu: lấy máu tĩnh mạch.
- Máu: khoảng 2-5 ml máu toàn phần.
2.3.5 Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong nuôi cấy
- Cấy máu trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh hệ thống.
Bệnh nhân đang sử dụng kháng sinh nhưng triệu chứng nhiễm khuẩn huyết không cải thiện, do đó cần thực hiện cấy máu để xác định tác nhân gây nhiễm trùng.
- Thời điểm tốt nhất để cấy máu là khi bệnh nhân bị ớn lạnh hay đang lạnh run trước khi sốt hay đang lên cơn sốt.
- Có thể cấy máu 2 lần trong vòng 1 giờ đầu và thực hiện cấy máu tại 2 vị trí lấy máu khác nhau trên cơ thể.
- Cách lấy máu để cấy:
+ Lấy máu tĩnh mạch bằng phương pháp vô trùng.
Thể tích máu cần lấy để cấy chiếm khoảng 1/10 đến 1/5 thể tích môi trường cấy máu Đối với người lớn, lượng máu thường lấy là từ 3-10ml, trong khi trẻ em chỉ cần 2-3ml, với môi trường cấy máu có thể tích 50ml là phù hợp.
- Xử lý bệnh phẩm: cho lượng máu vừa đủ vào chai cấy máu 2 pha BHI (pha đặc và pha lỏng).
+ Chai cấy máu được ủ trong tủ ấm 35-37 0 C và theo dõi mỗi ngày trong 7 ngày.
Hàng ngày, cần kiểm tra mặt thạch của pha đặc để phát hiện sự xuất hiện của khuẩn lạc vi khuẩn, đồng thời quan sát pha lỏng xem có hiện tượng đục, váng trên bề mặt hoặc cặn trắng ở đáy hay không Nếu không có dấu hiệu bất thường, hãy tráng pha lỏng lên pha đặc và đặt vào tủ ấm để tiếp tục theo dõi.
Khi phát hiện dấu hiệu vi khuẩn phát triển, cần tiến hành cấy phân lập ngay lập tức, sử dụng môi trường thạch máu và có thể kết hợp với môi trường Mac-conkey để tìm vi khuẩn đường ruột Đồng thời, thực hiện phết nhuộm Gram để khảo sát trực tiếp Sau khi phân lập, cần nhanh chóng định danh và thực hiện kháng sinh đồ.
+ Nếu trên pha đặc có vi khuẩn mọc thì tiến hành định danh và làm kháng sinh đồ ngay.
Sau 5 ngày theo dõi, cần thực hiện cấy truyền kiểm tra để đảm bảo không có vi khuẩn phát triển trong chai cấy máu trước khi xác nhận kết quả âm tính.
2.3.5.2 Kỹ thuật định danh và kháng sinh đồ tự động bằng máy VITEK 2 Compact tại Khoa Vi sinh bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
* Phân lập vi khuẩn từ chai cấy máu dương tính
- Chuẩn bị chai cấy máu dương tính, đĩa thạch, đèn cồn và ăng cấy.
- Để đĩa thạch lấy từ tủ lạnh vào tủ ấm khoảng 5-10 phút trước khi cấy.
- Nuôi cấy bệnh phẩm vào các môi trường phân lập thích hợp.
+ Nhuộm soi bệnh phẩm, đánh giá sơ bộ.
+ Nếu trên đĩa thạch có khuẩn lạc vi khuẩn mọc, tiến hành làm tiêu bản nhuộm soi để xác định sơ bộ vi khuẩn.
+ Lấy một khuẩn lạc vi khuẩn ria riêng rẽ để được chủng thuần chạy VITEK
2 Compact định loại vi khuẩn.
* Kỹ thuật định danh và kháng sinh đồ tự động bằng máy VITEK 2 Compact
Nguyên lý định danh vi khuẩn gây bệnh dựa vào phương pháp đo màu, cho phép nhận diện các tính chất sinh hóa của vi khuẩn thông qua sự thay đổi màu sắc ở các giếng môi trường có sẵn trong thẻ định danh.
● Nguyên lý kháng sinh đồ:
Xác định tính nhạy cảm, trung gian hay đề kháng của vi khuẩn với kháng sinh có thể thực hiện thông qua phương pháp đo độ đục ở các giếng trong thẻ kháng sinh đồ Phương pháp này giúp đánh giá hiệu quả của kháng sinh đối với vi khuẩn, từ đó hỗ trợ trong việc lựa chọn liệu pháp điều trị phù hợp.
- Khởi động, vận hành máy VITEK 2 Compact.
Chuẩn bị thẻ định danh và thẻ kháng sinh đồ bằng cách lấy thẻ ra khỏi tủ lạnh và để ở nhiệt độ phòng khoảng 15 phút, sau đó đặt ống nghiệm vô trùng vào cassette.
- Pha huyền dịch vi khuẩn cho định danh:
+ Dùng dispenser hút 3ml nước muối NaCl 0.45% cho vào ống nghiệm vô trùng thứ 1.
+ Lấy một khuẩn lạc chủng thuần đã phân lập để tạo huyền dịch vi khuẩn. + Dùng denicheck để đo huyền dịch đạt nồng độ 0,5-0,63 McFarland.
- Pha loãng huyền dịch cho kháng sinh đồ:
+ Dùng dispenser hút 3ml nước muối NaCl 0.45% cho vào ống nghiệm vô trùng thứ 2.
+ Dùng pipet hút dung dịch đã chuẩn bị cho định danh cho vào ống nghiệm đã chứa 3ml nước muối (ống thứ 2)
- Lấy thẻ định danh và thẻ kháng sinh đồ cắm vào từng ống nghiệm tương ứng đã pha huyền dịch.
- Cho cassette vào buồng hút và nhấn hoạt động để máy tự hút mẫu vào thẻ xét nghiệm.
Khi đèn báo nháy, hãy mở cửa buồng hút để lấy cassette ra, sau đó mở cửa buồng vận hành và cho cassette vào Đóng cả hai cửa lại và chờ đến khi buồng vận hành báo nháy, sau đó mở cửa và lấy cassette ra ngoài.
- Nhập mã cassette và thông tin bệnh nhân, người làm xét nghiệm vào máy tính.
Thời gian hoàn thành xét nghiệm vi khuẩn dao động từ 4 đến 24 giờ, tùy thuộc vào tốc độ phát triển của chúng Máy xét nghiệm tự động thực hiện quy trình và in kết quả ngay sau khi hoàn tất.
2.3.6 Phương pháp phân tích số liệu
- Phần mềm nhập số liệu: sử dụng phần mềm epidata 3.1
- Phần mềm phân tích số liệu: xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học trên Excel 2010
2.3.7 Phân loại kháng sinh theo nhóm báo cáo A, B, C, U, O
Phòng xét nghiệm cần phối hợp chặt chẽ với dược sĩ lâm sàng, bác sĩ truyền nhiễm và các hội đồng thuốc, điều trị, kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện để lựa chọn kháng sinh phù hợp nhất cho việc điều trị.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa
Kỳ (FDA) phân loại kháng sinh dựa trên mức độ ưu tiên sử dụng, hiệu quả lâm sàng thực tế và mức độ kháng của từng loại vi khuẩn, được chia thành các nhóm A, B, C, O.
U về kết quả kháng sinh đồ [35],[5]:
Nhóm A bao gồm các kháng sinh được ưu tiên lựa chọn để đánh giá mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn, và kết quả này thường xuyên được báo cáo cho bác sĩ lâm sàng.
Nhóm B bao gồm các kháng sinh được chọn để thử nghiệm khả năng kháng kháng sinh song song với nhóm A, nhưng chỉ được thông báo cho bác sĩ lâm sàng khi vi khuẩn đã phát triển khả năng kháng với các kháng sinh thuộc nhóm A.
Nhóm C bao gồm các kháng sinh thay thế hoặc bổ sung, được lựa chọn để thử nghiệm khi kháng sinh thuộc nhóm A và B đã xuất hiện tình trạng kháng Nhóm này ưu tiên sử dụng cho bệnh nhân có tiền sử kháng với các kháng sinh ban đầu hoặc trong việc giám sát dịch tễ học liên quan đến nhiễm khuẩn.
- Nhóm O: gồm các kháng sinh không được ưu tiên thử nghiệm thường quy, nhưng có tác dụng lâm sàng với một số nhóm vi khuẩn.
- Nhóm U: gồm các kháng sinh không được báo cáo thường quy do căn nguyên nhiễm trùng, chỉ được chỉ định dùng trong điều trị nhiễm trùng tiết niệu.
- Các số liệu và thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không vì mục đích nào khác.
- Mọi thông tin đối tượng cung cấp trong quá trình nghiên cứu được giữ bí mật tuyệt đối.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
3.1.1 Phân loại theo nhóm vi khuẩn Gram âm, Gram dương
Trong nghiên cứu, tổng số chủng vi khuẩn thu thập được từ các kết quả cấy máu dương tính là 123 chủng Trong đó, vi khuẩn Gram âm chiếm 61,79% với 76 chủng, trong khi vi khuẩn Gram dương chiếm 38,21% với 47 chủng.
3.1.2 Tỷ lệ các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi
Bảng 3.1 Tỷ lệ các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết
Loại vi khuẩn Số lượng Tỷ lệ (%) vi khuẩn Gram âm 76 61,79
17 Serratia odorifera 1 1,31 vi khuẩn Gram dương 47 38,21
Bảng 3.1 cho thấy tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp trong nhóm vi khuẩn Gram âm là E coli với 21,05%; tiếp theo là K pneumoniae với 17,1%.
The prevalence of ESBL-producing bacteria is significant, with 25% in E coli and 76.92% in K pneumoniae Additionally, the emerging Gram-negative bacterium Stenotrophomonas maltophilia has a notable prevalence of 9.21%.
Trong nhóm vi khuẩn Gram dương, S epidermidis chiếm tỷ lệ cao nhất (46,8%) với tỷ lệ kháng methicilin (MRSE) là 90,9%; tiếp theo là S aureus
(29,78%) với tỷ lệ kháng methicilin (MRSA) là 83,3%.
3.2 TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN
GÂY NHIỄM KHUẨN HUYẾT THƯỜNG GẶP Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN – NHI ĐÀ NẴNG.
3.2.1 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn họ Enterobacteriaceae
3.2.1.1 Tình hình kháng kháng sinh của E coli
Bảng 3.2 Kết quả kháng sinh đồ của E coli
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
E coli trong nhóm kháng sinh A đã phát triển khả năng kháng thuốc đáng kể, với tỷ lệ kháng hoàn toàn 100% đối với ampicillin và 75% đối với gentamicin.
In group B, E coli exhibited a high resistance rate, with trimethoprim/sulfamethoxazole resistance at 81.25%, followed by ampicillin/sulbactam at 75%, and ceftriaxone at 68.75%.
Tỷ lệ kháng của E coli với ceftazidime - kháng sinh thuộc nhóm C là 68,75%.
E coli còn nhạy cảm hoàn toàn với nitrofuratonine thuộc nhóm U dành cho điều trị nhiễm trùng tiết niệu.
3.2.1.1 Tình hình kháng kháng sinh của K pneumoniae
Bảng 3.3 Kết quả kháng sinh đồ của K pneumoniae
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
K pneumoniae trong nhóm kháng sinh A đang đối mặt với tỷ lệ đề kháng cao, với 100% kháng ampicillin, 92,3% kháng gentamicin và 84,61% kháng cefazolin.
In Group B, K pneumoniae exhibits a high resistance rate, with the highest resistance observed against cefepime and ceftriaxone at 92.3% This is followed by ampicillin/sulbactam and trimethoprim/sulfamethoxazole, which show a resistance rate of 84.61%.
K pneumoniae đề kháng gần như hoàn toàn (92,3%) với kháng sinh thuộc nhóm C là ceftazidime.
Tỷ lệ kháng với nitrofuratonine thuộc nhóm U dành cho điều trị nhiễm trùng tiết niệu do K pneumoniae là chưa đáng kể (7,69%).
3.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram âm khác
3.2.2.1 Tình hình kháng kháng sinh của A baumanii
Bảng 3.4 Kết quả kháng sinh đồ của A baumanii
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
A baumanii đã kháng hoàn toàn (100%) với kháng sinh cefazolin thuộc nhóm A, bắt đầu có các trường hợp kháng với ceftazidime Tuy nhiên, vi khuẩn này chưa xuất hiện khả năng kháng với một số kháng sinh như: tobramycin, ampicillin/sulbactam, ciprofloxacin,… Đối với nhóm B, vi khuẩn A baumanii vẫn còn nhạy cảm với các kháng sinh còn lại của nhóm, ví dụ như nhạy cảm hoàn toàn với amikacin, levofloxacin, trimethoprim/sulfamethoxazole,…
3.2.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của P aeruginosa
Bảng 3.5 Kết quả kháng sinh đồ của P aeruginosa
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
Trong nhóm A, P aeruginosa đề kháng hoàn toàn với cefazolin nhưng còn nhạy cảm hoàn toàn với gentamicin và tobramycin.
Vi khuẩn cho thấy sự nhạy cảm đáng kể với nhiều loại kháng sinh nhóm B như amikacin và ciprofloxacin, trong khi đó, mức độ đề kháng nhẹ (16,67%) được ghi nhận đối với một số kháng sinh như meropenem, piperacillin/tazobactam và cefepime.
Trong nhóm C, vi khuẩn nhạy cảm cao với ceftazidime (83,3%).
Vi khuẩn P aeruginosa nhạy cảm hoàn toàn với colistin thuộc nhóm O.
3.2.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của S maltophilia
Bảng 3.6 Kết quả kháng sinh đồ của S maltophilia
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
Kết quả kháng sinh đồ cho thấy S maltophilia hoàn toàn nhạy cảm với trimethoprim/sulfamethoxazole và levofloxacin, hai loại kháng sinh đang được sử dụng tại bệnh viện.
3.2.3 Tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn Gram dương
3.2.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của S epidermidis
Bảng 3.7 Kết quả kháng sinh đồ của S epidermidis
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
Trong nhóm A, vi khuẩn đề kháng với penicilin với tỷ lệ 95,45%; kháng oxacillin và erythromycin với tỷ lệ lần lượt là 81,82% và 68,18%.
Trong nhóm B, vi khuẩn còn nhạy cảm với nhiều kháng sinh nhưng cũng đề kháng 50% với rifampicin.
Trong nhóm C, vi khuẩn vẫn còn nhạy cảm với nhiều kháng sinh như gentamicin, ciprofloxacin và moxifloxacin với tỷ lệ nhạy cảm từ là 59,1- 81,82%.
Trong nhóm O, vi khuẩn nhạy cảm với tigecline với tỷ lệ 100%, nhạy cảm 95,45% với teicoplanin Tỷ lệ đề kháng với fusidic acid là 31,82%.
3.2.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của S aureus
Bảng 3.8 Kết quả kháng sinh đồ của S aureus
Nhạy cảm Trung gian Đề kháng Số lượn g
Trong nhóm A, S aureus đề kháng hoàn toàn với penicilin, ngoài ra tỷ lệ đề kháng tương đối cao với các kháng sinh như erythromycin (92,85%), clindamycin (85,71%).
Trong nhóm B, vi khuẩn kháng kháng sinh teracyline với tỷ lệ 35,71% nhưng vẫn còn nhạy cảm hoàn toàn với nhiều loại kháng sinh khác như vancomycin, linezolid,
S aureus có hiện tượng kháng kháng sinh tương đối cao với ciprofloxacin
(50%) thuộc nhóm C, tuy nhiên vi khuẩn này còn nhạy cảm với gentamicin với tỷ lệ 64,28%;…
S aureus nhạy cảm hoàn toàn với các kháng sinh thuộc nhóm O (fusidic acid, teicoplanin).
Tình hình kháng kháng sinh của của các chủng vi khuẩn vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
4.1 CÁC LOẠI VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN HUYẾT Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN – NHI ĐÀ NẴNG
Trong nghiên cứu về nhiễm khuẩn huyết, vi khuẩn Gram âm chiếm 61,79% trong số 123 chủng vi khuẩn được phân lập, cao hơn vi khuẩn Gram dương (38,21%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Võ Dũng (2017), cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Gram âm đạt 76,39%, gần gấp ba lần so với Gram dương (23,61%) Tương tự, báo cáo của Nguyễn Hữu Quân năm 2017 cũng chỉ ra rằng vi khuẩn Gram âm là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn huyết với tỷ lệ 89,5%, trong khi Gram dương chỉ chiếm 10,5%.
Trong số các vi khuẩn Gram âm được phân lập, E coli chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,05%, tiếp theo là K pneumoniae với 17,1%.
A baumanii và Stenotrophomonas maltophilia cùng chiếm tỷ lệ 9,21% và P. aeruginosa với 7,89% Các vi khuẩn khác như Burkholderia cepacia, Enterobacter cloacae,… có tỷ lệ thấp (dưới 6%) Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn
Trong nghiên cứu của Võ Dũng, trong tổng số 377 chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết, E coli chiếm tỷ lệ 37,15%, K pneumoniae 23,96% và A baumannii 14,2% P aeruginosa và Stenotrophomonas maltophilia có tỷ lệ 3,82% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga về các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết trong giai đoạn 2008-2012, cho thấy E coli và K pneumoniae có tỷ lệ cao nhất, vượt quá 20%.
K pneumoniae là hai tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp nhất, kế tiếp là
A baumanii và P aeruginosa Tác nhân gây bệnh mới nổi S maltophilia có tỷ lệ
BÀN LUẬN
Các loại vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
Trong nghiên cứu về nhiễm khuẩn huyết, vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế với tỷ lệ 61,79%, cao hơn so với vi khuẩn Gram dương (38,21%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Võ Dũng (2017), cho thấy tỷ lệ vi khuẩn Gram âm lên tới 76,39%, gần gấp ba lần vi khuẩn Gram dương (23,61%) Tương tự, báo cáo của Nguyễn Hữu Quân năm 2017 cũng chỉ ra rằng vi khuẩn Gram âm là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn huyết với tỷ lệ 89,5%, trong khi vi khuẩn Gram dương chỉ chiếm 10,5%.
Trong số các vi khuẩn Gram âm được phân lập, E coli chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,05%, tiếp theo là K pneumoniae với tỷ lệ 17,1%.
A baumanii và Stenotrophomonas maltophilia cùng chiếm tỷ lệ 9,21% và P. aeruginosa với 7,89% Các vi khuẩn khác như Burkholderia cepacia, Enterobacter cloacae,… có tỷ lệ thấp (dưới 6%) Kết quả này tương tự nghiên cứu của Nguyễn
Trong một nghiên cứu về 377 chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết, tỷ lệ E coli chiếm 37,15%, trong khi K pneumoniae và A baumannii lần lượt là 23,96% và 14,2% Cả P aeruginosa và Stenotrophomonas maltophilia đều có tỷ lệ 3,82% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga, cho thấy E coli và K pneumoniae có tỷ lệ cao nhất (trên 20%) trong giai đoạn 2008-2012.
K pneumoniae là hai tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp nhất, kế tiếp là
A baumanii và P aeruginosa Tác nhân gây bệnh mới nổi S maltophilia có tỷ lệ khác nhau ở các nghiên cứu tùy theo công tác phòng chống nhiễm khuẩn của các bệnh viện, theo tính chất bệnh nhân và áp dụng thủ thuật xâm lấn [47].
Trong nhóm vi khuẩn Gram dương, S epidermidis và S aureus chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,8% và 29,78% Streptococcus spp chiếm tỷ lệ 10,63% và
Staphylococcus (coagulase âm) chiếm 8,51% trong nghiên cứu, khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Võ Dũng (2017) khi S aureus chiếm tỷ lệ cao nhất là 34,83%, tiếp theo là Streptococcus suis và Enterococci Mặc dù có sự khác biệt về các loài vi khuẩn Gram dương gây nhiễm khuẩn huyết, S aureus vẫn là tác nhân chính đáng quan tâm Trước đây, S epidermidis thường bị bỏ qua do là vi khuẩn thường trú trên da, nhưng đối với trẻ dưới 3 tháng tuổi và trẻ sơ sinh có thủ thuật xâm lấn như đặt catheter, S epidermidis có thể là tác nhân gây nhiễm trùng huyết nguy hiểm.
Vi khuẩn S epidermidis được phân lập chủ yếu tại các khoa nặng, khoa hồi sức sơ sinh và khoa hồi sức nhi.
4.2 TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA CÁC CHỦNG VI KHUẨN GÂY NHIỄM KHUẨN HUYẾT THƯỜNG GẶP Ở BỆNH NHI TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN – NHI ĐÀ NẴNG
4.2.1 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn họ Enterobacteriaceae
Trong các vi khuẩn Gram âm, vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae là
E.coli và K pneumoniae chiếm tỷ lệ cao nhất Kết quả kháng sinh đồ của hai chủng vi khuẩn này cho thấy tỷ lệ sinh ESBL của E coli và K pneumoniae lần lượt là 25% và 76,92% Kết quả có sự sai khác khi so sánh với nghiên cứu ở các bệnh viện khác như bệnh viện Chợ Rẫy hay bệnh viện Bạch Mai với tỷ lệ sinhESBL của hai chủng này thường xấp xỉ nhau (từ 48% đến 50%) [22] Vi khuẩn sinh ESBL là vấn đề nghiêm trọng với các bệnh viện vì vi khuẩn sẽ đề kháng với tất cả các thế hệ cephalosporin kể cả thế hệ 4 và đề kháng chéo với kháng sinh thuộc các nhóm aminoglycosides, fluoroquinolones [13].
4.2.1.1 Tình hình kháng kháng sinh của E coli
Kết quả kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn E coli hoàn toàn kháng ampicillin thuộc nhóm β-lactam và có tỷ lệ kháng 75% với gentamicin thuộc nhóm aminoglycoside trong nhóm A, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây.
Lê Văn Nam và cộng sự trong hai năm 2012-2014 với tỷ lệ đề kháng của E coli với ampicillin và gentamycin lần lượt là 85,71% và 26,79% [20]
Trong nhóm B, E coli cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh cao, đặc biệt là với trimethoprim/sulfamethoxazole (81,25%), ampicillin/sulbactam (75%) và ceftriaxon (68,25%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nga (2014), trong đó tỷ lệ kháng của E coli với trimethoprim/sulfamethoxazole và ceftriaxone lần lượt là 73,4% và 71,1%.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy E coli vẫn nhạy cảm với amikacin (75%) và ertapenem (81,25%), tương đồng với kết quả nghiên cứu của Lê Văn Nam và cộng sự tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương năm 2014, trong đó E coli hoàn toàn nhạy cảm (100%) với amikacin và nhạy cảm 97,14% với ertapenem.
Kết quả nghiên cứu cho thấy E coli có tỷ lệ sinh ESBL cao và kháng với hầu hết các loại kháng sinh Theo báo cáo của WHO năm 2017, E coli được xếp vào nhóm 3 vi khuẩn ưu tiên hàng đầu và đặc biệt nguy hiểm trong danh sách các vi khuẩn kháng kháng sinh toàn cầu.
4.2.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của K pneumoniae
Kết quả kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn K pneumoniae đã hoàn toàn kháng ampicillin, tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Hoài An với tỷ lệ kháng 94,29% Mặc dù nhóm A là kháng sinh ưu tiên trong điều trị, nhưng nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng K pneumoniae cũng có tỷ lệ kháng cao đối với các kháng sinh khác trong nhóm này.
Trong nhóm B, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy K pneumoniae có tỷ lệ kháng cao đối với trimethoprim/sulfamethoxazole (84,61%) và ceftriaxon (92,3%), khác biệt so với nghiên cứu của Trần Viết Tiến (2016) với tỷ lệ kháng lần lượt là 25,3% và 31,7% Sự chênh lệch này có thể do khác nhau trong khả năng sinh ESBL của vi khuẩn, với tỷ lệ K pneumoniae sinh ESBL trong nghiên cứu của chúng tôi là 76,92%, trong khi nghiên cứu của Trần Viết Tiến chỉ ghi nhận 13%.
Nhóm B được ưu tiên thứ hai khi vi khuẩn kháng nhóm A Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy chỉ có một số chủng K pneumoniae kháng amikacin, imipenem và ertapenem với tỷ lệ 7,69% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Viết Tiến (2016), với tỷ lệ kháng amikacin, imipenem và ertapenem lần lượt là 11,9%; 14% và 16,3%.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng K pneumoniae có khả năng sinh ESBL cao, dẫn đến kháng hoàn toàn với kháng sinh β-lactam (ampicillin) và kháng với các cephalosporin (cefepime, cefazolin) Ngoài ra, vi khuẩn này còn kháng chéo với nhóm aminoglycoside (gentamicin, tobramycin) và với dạng kết hợp của sulfonamide (trimethoprim/sulfamethoxazole) Đáng chú ý, một số chủng K pneumoniae đã phát triển khả năng kháng carbapenem, nhóm kháng sinh cuối cùng được sử dụng để điều trị vi khuẩn kháng kháng sinh phổ rộng và các trường hợp nhiễm trùng nặng.
4.2.2 Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn Gram âm khác
4.2.2.1 Tình hình kháng kháng sinh của A baumanii
Tình hình kháng kháng sinh của của các chủng vi khuẩn vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
1 Tỷ lệ các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
Trong nghiên cứu, đã phân lập được 123 chủng vi khuẩn, trong đó có 76 chủng vi khuẩn Gram âm, chiếm tỷ lệ 61,79% Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với vi khuẩn Gram dương, chỉ chiếm 38,21%.
Các vi khuẩn Gram âm thường gặp gây nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em bao gồm E coli với tỷ lệ cao nhất là 21,05%, tiếp theo là K pneumoniae với 17,1%, và A baumanii cùng S maltophilia đều chiếm 9,21%.
P aeruginosa với tỷ lệ 7,89% Còn lại là những vi khuẩn khác chiếm tỷ lệ thấp như Burkholderia cepacia, Enterobacter cloacae,…
Trong nhóm vi khuẩn Gram dương, S epidermidis chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,8%, tiếp theo là S aureus với 29,78% Các vi khuẩn khác như Streptococcus spp và Staphylococcus hominis có tỷ lệ thấp hơn.
2 Tình hình kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp ở bệnh nhi tại bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà
E coli sinh ESBL có tỷ lệ kháng thuốc cao, với 25% mẫu vi khuẩn kháng hoàn toàn ampicillin (100%), gentamicin (75%) và cefazolin (68,75%) Tỷ lệ kháng đối với các kháng sinh nhóm B như ceftriaxon, trimethoprim/sulfamethoxazole, ampicillin/sulbactam cũng vượt quá 50% Tuy nhiên, vi khuẩn này vẫn giữ được độ nhạy trên 60% với các kháng sinh như levofloxacin và ertapenem.
E coli kháng ceftazidime với tỷ lệ 68,75% và chưa xuất hiện đề kháng đối với nhóm kháng sinh U.
Tỷ lệ vi khuẩn K pneumoniae sản sinh enzyme ESBL đạt 76,92%, cho thấy mức độ kháng thuốc cao Vi khuẩn này đã ghi nhận trường hợp kháng hoàn toàn với ampicillin nhóm A và kháng trên 80% đối với các kháng sinh như gentamicin, cefazolin nhóm A; ampicillin/sulbactam, ceftriaxon nhóm B và ceftazidime nhóm U.