là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạtđộng tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dầnchiếm lĩnh được những kinh nghiệm lị
Trang 1MỤC LỤC:
Mục lục ……… … ……… 1
Phần I: Đặt vấn đề……… ……….……… 3
Phần II : Giải quyết vấn đề……… 5
1.Cơ sở lý luận……… … 5
2.Thực trạng vấn đề………
3.Những biện pháp thực hiện đề tài……… ……….… 6
3.1- BP 1:Giáo viên tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức 6
3.2-BP 2:Xây dựng môi trường tạo cơ hội cho trẻ phát triển ngôn ngữ 6
3.3-BP 3:Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động 10
3.4-BP 4:Sưu tầm, sáng tác trò chơi, thơ ca 17
3.5-BP 5: Phối hợp phụ huynh 19
4.Kết quả………….… … …… 19
Phần III: Kết luận và khuyến nghị ……… 21
1.Kết luận 21
2.Bài học kinh nghiệm 21
3.Kiến nghị- đề xuất 2
Trang 2là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạtđộng tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dầnchiếm lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người và biến nóthành cái riêng của mình Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể
có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng pháttriển hơn
Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trítuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ Như vậy ngôn ngữ
có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người Vấn đề phát triển ngôn ngữmột cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng
Là một cô giáo Mầm Non trực tiếp dạy trẻ 3-4 tuổi tôi luôn có những suynghĩ trăn trở làm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng Tiếng Việt
Vì thế tôi đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và dạy các con ởmọi lúc mọi nơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết vềmọi sự vật hiện tượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy Tôi thấymình cần phải đi sâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dụccho phù hợp với yêu cầu phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy nên tôi đã chọn đềtài:
“Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi ở trường mầm non ” ,nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đối với chương
trình GDMN mới hiện nay
2 Phạm vi thực hiện đề tài:
Tại lớp MGB C4 trường Mầm Non Đại Kim- Quận Hoàng Mai- TP
Hà Nội từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019
Trang 3
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận:
Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung và trẻMầm Non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng không thể thiếuđược Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt đối với trẻnhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanhhình thành những cảm xúc tích cực Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập vớicộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng Nhờ có những lời chỉ dẫncủa người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của xã hội màmọi người đều phải thực hiện theo những quy định chung đó
Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức vềmôi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn trẻ sẽ được làmquen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh Nhờ có ngônngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các sự vật ,hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày
Đặc biệt đối với trẻ 3-4 tuổi cần giúp trẻ phát triển mở rộng các loại vốn từ,biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ về những
sự vật, hiện tượng, hình ảnh… mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành ngày, nóicho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn ngữcho trẻ
2.Cơ sở thực tiễn và thực trạng của vấn đề:
*Thuận lợi:
- BGH nhà trường nhiệt tình, có kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cao luôntận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi làm tốt công việc
- Giáo viên nhiệt tình làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp
và phát triển ngôn ngữ cho trẻ
- Trẻ được phân chia theo đúng độ tuổi, nhanh nhẹn và đa số trẻ đi học rất đều
- Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú vềmầu sắc và hình ảnh, hấp dẫn thu hút trẻ
- Phụ huynh quan tâm đến con mình và luôn cùng cô phối hợp uốn nắn sửangọng cho trẻ
* Khó khăn:
- Lớp có diện tích khá nhỏ, ít không gian cho trẻ thỏa sức sáng tạo
Trang 4- Một số ít giáo viên vẫn cò ngọng chữ l-n do ngôn ngữ địa phương.
- Vì các cháu bắt đầu đi học nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiệnsinh hoạt của lớp nên còn bỡ ngỡ Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tínhkhác nhau
- Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi sắpxếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói
- 60% trẻ phát âm chưa chính xác hay ngọng chữ x-s, chữ l-n, dấu ngã - dấusắc, dấu hỏi – dấu nặng
- Một số phụ huynh chưa quan tâm đến con do bận đi làm không có thời giandành cho con, để phó mặc con cho ông bà và cô giáo
*Thực trạng:
- Là một giáo viên chủ nhiệm lớp ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâmđến đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm khámphá, tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có những biện phápgiáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấyrằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm Khi trẻnói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khigiáo viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chếkhi nói , trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi Đây cũng làmột trong những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo nàn
- Qua quá trình tiếp xúc với trẻ bản thân tôi thấy rất lo lắng về vấn đề này
và tôi nghĩ rằng mình phải tìm tòi suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra biệnpháp phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho trẻ một cách có hiệu quả nhất để có thểgiúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người
* K t qu i u tra c a ết quả điều tra của đầu năm như sau: ả điều tra của đầu năm như sau: điều tra của đầu năm như sau: ều tra của đầu năm như sau: ủa đầu năm như sau: điều tra của đầu năm như sau:ầu năm như sau:u n m nh sau:ăm như sau: ư sau:
Khả năng nói bày tỏ tình cảm,
nhu cầu hiểu biết của bản thân
Làm quen với một số kí hiệu
thông thường trong cuộc sống 5/35
14 15/35 43 10/35
29 5/35 14
Trang 53 Một số biện pháp thực hiện đề tài
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ vàphát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữmạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói Ngoài ra ngôn ngữ còn là phươngtiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà trẻ dễdàng tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốthơn Chính vì vậy mà trong quá trình dạy trẻ tôi đã mạnh dạn áp dụng một sốbiện pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua một số hoạt động sau:
3.1-Biện pháp 1: Giáo viên tự học, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức
*Mục đích
- Nâng cao nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với trẻ nhỏ
*Cách thực hiện
- Để thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi đã tiến hành nghiên cứu và học hỏi
thông qua rất nhiều nguồn tài liệu, tư liệu khác nhau để nắm bắt tâm lý trẻ từ nhàtrẻ đến mẫu giáo như:
+ Qua chị em đồng nghiệp trong trường: Tôi học hỏi chị em đồng nghiệp rấtnhiều thông qua các buổi kiến tập đặc biệt là môn hoạt động làm quen văn học,hoạt động góc, thông qua các giờ sinh hoạt chuyên môn chị em hướng dẫn vàchia sẻ những kinh nghiệm tổ chức hoạt động, tổ chức trò chơi phát triển ngônngữ
+ Qua các buổi kiến tập cấp quận và kiến tập cấp thành phố tôi đều ghi chép,sưu tầm các trò chơi học tập hay, mới lạ để làm tài liệu tham khảo
+ Được nhà trường cho đi nghe giảng bài môn hoạt động phát triển ngôn ngữ(do cô giáo của trường Đại học sư phạm giảng dạy) do phòng giáo dục và đàotạo tổ chức tôi đã học hỏi được rất nhiều
- Qua các loại sách báo:
+ Giáo trình giáo dục học mầm non – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam+ Sách chương trình giáo dục mầm non 3-4 tuổi ( Bộ giáo dục và đào tạo banhành)
Trang 6+Tạp chí giáo dục mầm non do nhà trường phát hàng tháng
- Qua các trang mạng internet: http://www.trochoimamnon/.com,
- Thông điệp của bé: dành hẳn một mảng tường lớn phủ mặt giấy trắng của
những tờ lịch cũ Khuyến khích trẻ “vẽ” lên đó những thông điệp mà chúng thích
- Bức tường của lớp: tạo các bức tranh tường đồ vật mà trẻ sưu tầm.
- Ghi tên của các đồ vật, góc chơi trong lớp, phòng chức năng, cây-hoa trong
vườn,hướng dẫn lối đi trong trường… Ghi tên trẻ ở các kệ tủ đồ dùng cánhân( đối với trẻ 3-4 tuổi nên kèm hình của trẻ bên cạnh tên bằng chữ to)
- Các bảng biểu: có chữ và hình ảnh đi kèm VD.một ngày của bé, trực
nhật… Tuy nhiên, tránh đưa ra quá nhiều chữ trong một thời điểm
- Môi trường chữ nên được thay đổi thường xuyên ( có thể theo nội dung trẻ đang học) Các chữ viết phải tuân thủ luật ngữ pháp, chính tả, ngắn gọn súc tích
Tránh viết tắt (đặc biệt là tên trẻ) Có thể dùng chữ viết và chữ in.
- Trẻ được khuyến khích tham gia xây dựng môi trường chữ (Tô màu, đồ chữ
cô viết, tự sao chép tên mình… )
+ Sử dụng môi trường chữ một cách tích cực :
- Khuyến khích trẻ nhận biết chữ hàng ngày Khi thay đổi chữ cũng chỉ
cho trẻ xem và đọc cho trẻ nghe
- Hoạt động hàng ngày với các bảng biểu VD: Tìm đúng tên ở tủ đồ dùng
Trang 7cá nhân, trong các giờ sinh hoạt; Bảng trực nhật: Trẻ thay đổi tên bạn trực nhật,
“đọc” các nhiêm vụ với sự gợi ý của hình ảnh minh họa và trợ giúp của GV Quan sát thường xuyên để đọc được tên cô và một số bạn trong lớp…
+ Xây dựng góc đọc sách ở các nhóm lớp, sử dụng sách như một phương tiện
- Đọc sách cho trẻ nghe và xem: cô cần đọc cho trẻ nghe và chỉ cho trẻ xem
chữ đang đọc Một số chuyện kể có thể sử dụng hình thức đọc thay cho kể trên lớp nếu có sách đủ to cho cả nhóm trẻ theo dõi
- Làm bigbook: Thường tồ chức theo từng nhóm trẻ với sự giúp đỡ của cô giáo( viết lời thoại, đóng thành tập…) Nên sử dụng câu đơn giản, dựa trên tình tiết chính, lời ngắn ngọn, chữ to khi viết lời Nếu làm sách theo chủ đề: con vật,
đồ dùng, thức ăn, cơ thể, ngày lễ hội…nên cho trẻ mô tả rồi cô giáo viết theo lời
kể của trẻ Trẻ rất thích quan sát người lớn viết theo những gì mình nói
+ Một vài thay đổi nhỏ trong môi trường cũng giúp trẻ có cơ hội được tiếp cận với môi trường như thay tủ vị trí ngăn tủ để trẻ tìm kiếm tên, kí hiệu của
cá nhân trẻ, bảng bé đến trường nhận biết tên và thêm giới tính, có thể phân loại theo nhiều dấu hiệu khác như xếp tên theo họ, theo chữ cái đầu…
*Kết quả
- Trẻ sáng tạo hơn và nói nhiều hơn trong tất cả các hoạt động trong ngày
3.2.2.Đổi mới việc xây dựng môi trường ngoài lớp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
- Chú trọng tạo môi trường giao tiếp, môi trường chữ viết phong phú để trẻ được tắm mình trong môi trường ngôn ngữ Chú ý môi trường chữ trong cả khuôn viên trường chứ không chỉ trong lớp học ( khẩu hiệu, bảng biểu, thông báo….cho người lớn) vì trẻ có thể quan sát chữ bất cứ ở đâu và lúc nào
- Quan tâm hướng trẻ chú ý quan sát chữ viết xung quanh cuộc sống Khi cha mẹ mua bất cứ đồ dùng nào ( thường có chữ trên đó), hãy đọc cho trẻ nghe
và chỉ cho trẻ xem chữ
Trang 8- Giáo viên tạo thêm nhiều sân khấu rối lưu động ở sân, ở sảnh để trẻ có thể đóng kịch, diễn rối, chơi rối cùng nhau giúp trẻ phát triển tốt hơn về ngôn ngữ
*Kết quả
- Trẻ luôn hào hứng hỏi cô trên biển nội qui của khu vui chơi, góc đọc sách là gì
và nói lại cho bố mẹ nghe vào buổi chiều
3.2.3: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ bằng cách xây dựng môi trường giao tiếp
*Mục đích
- Tôn trọng từng cá nhân trẻ để có các biện pháp riêng phù hợp nhằm mang lạihiệu quả ngôn ngữ tuyệt đối
*Cách thực hiện
- Nhận biết và tôn trọng mỗi đứa trẻ như một cá thể riêng biệt.
+ Giáo viên khiến trẻ cảm thấy đặc biệt và được mong chờ bằng cách chào đón chúng nồng nhiệt khi đến lớp Chào hỏi mỗi đứa trẻ mỗi ngày Gọi mỗi trẻ bằng tên riêng, và đảm bảo rằng giao tiếp phi ngôn ngữ của cô giáo phù hợp với giao tiếp ngôn ngữ tích cực; giao tiếp với trẻ bằng nụ cười, ánh mắt ấm áp, và những
va chạm ân cần Hãy đặc biệt cẩn thận khi chào đón những trẻ có xu hướng nhútnhát, để chúng không có cảm giác bị bỏ rơi
- Thể hiện sự hứng thú đối với trẻ và các hoạt động của chúng.
+ Hãy tích cực giao tiếp ở chiều cao của trẻ: quỳ, ngồi xổm, hoặc ngồi, để mắt của bạn ngang hàng với mắt trẻ Khi hướng dẫn trẻ làm việc gì, hãy đến gần trẻ chứ không được gào thét hay la lớn trong phòng Tham gia đầy đủ vào các trò chơi của trẻ, nhưng theo sự dẫn dắt của trẻ thay vì chỉ đạo chúng
+ Người lớn cũng có thể thúc đẩy tính sáng tạo ở trẻ bằng các câu nói khuyến khích, chẳng hạn như "Con đang thực sự làm việc chăm chỉ chứ" hoặc "Con đang phối màu xanh hay màu đỏ."
Ví dụ, nếu một đứa trẻ nói, "Tàu đi lên," bạn có thể nói, "Con đang làm cho các tàu đi lên đồi rồi."
- Trò chuyện lịch sự.
- Trong môi trường giao tiếp tích cực, tôi luôn kiên nhẫn và lịch sự khi nói chuyện với trẻ em, với cha mẹ trẻ Tôi không làm gián đoạn câu chuyện của trẻ Khuyến khích trẻ thể hiện mình bằng cách sử dụng các ngôn ngữ mở như "Kể cho cô nghe tiếp nào", "Tiếp theo thì sao?" Hoặc "Và sau đó thì sao?" Mời trẻ
Trang 9phát biểu ý kiến, để tất cả trẻ thấy rằng chúng có đóng góp trong lớp học Điều này có nghĩa là dành thời gian để lắng nghe và phản ứng tích cực với tất cả các trẻ.
Ví dụ, nếu một đứa trẻ 3 tuổi làm đổ một tác phẩm ghép hình của một trẻ khác, bạn có thể nói với đứa trẻ đã xây tác phẩm ghép hình là "Ồ, hình như bạn đang muốn chơi cùng với con đó" Đây là một cách xử lý tích cực không chỉ với đứa trẻ đã xây hình ghép, mà còn tích cực với đứa trẻ làm đổ hình, cả hai trẻ đều giảithích được nguyên nhân là do mong muốn được chơi
- Hãy hỏi trẻ nhiều câu hỏi.
+ Đưa ra câu hỏi khuyến khích trẻ suy nghĩ và câu hỏi mà bạn đang thực sự tò
mò và muốn biết câu trả lời Câu hỏi mở là câu hỏi mà câu trả lời gồm nhiều hơnmột hay hai từ
Ví dụ, hãy hỏi đứa trẻ đang chơi con lăn, "Làm thế nào con có thể làm nó đi nhanh/chậm/xa hơn?" Đừng hỏi những câu hỏi tu từ hoặc câu hỏi không cần câutrả lời Một câu hỏi như, "Con có muốn khỏi ra ngoài chơi hôm nay để ở nhà dọn đồ chơi không?" đây không phải là câu hỏi mà người lớn muốn trẻ trả lời Hiểu sự sáng tạo của trẻ em cho phép người lớn đặt ra những câu hỏi hay hơn + Hãy ủng hộ bằng cách hỏi các câu hỏi mở về các hoạt động sáng tạo của chúng, chẳng hạn như, "Con có thể kể cô/thầy nghe về bức tranh này không?" chứ không nên hỏi "bức tranh này vẽ gì?"
- Sử dụng lời khen thích hợp để khuyến khích trẻ.
+ Lời khen thích hợp là lời khen chân thành, có tính xây dựng và khuyến khích Trẻ em phát triển mạnh khi người lớn chú ý, ghi nhận nỗ lực của chúng cũng như kết quả đạt được và ghi nhận những thay đổi tích cực trong hành vi và khả năng của trẻ theo thời gian
Ví dụ, tôi có thể sử dụng cạnh tranh để thúc đẩy hành vi "Bất cứ ai dọn dẹp nhanh nhất có thể ngồi bên cạnh cô trong giờ ăn "
- Nêu ra rõ ràng các mong muốn của mình.
+ Thay vì nói "Không được chạy," hãy nói "Chúng ta đi bộ đi." Tránh dùng từ
"không" và "dừng lại", thay vào đó hãy tập trung vào những gì mà bạn muốn trẻ làm
Ví dụ, gợi ý cho trẻ, như "Con hãy nói với Thanh Mai là bạn có thể đi xe ba bánh của mình khi mình đi xong" thay vì chỉ nói "Con tự nói với bạn đi" Trẻ emhiểu được mong đợi của người lớn khi người lớn giải thích được mục đích của các quy định và hướng dẫn
- Tôn trọng khả năng của trẻ
Trang 10+ Trong những năm đầu đời và mẫu giáo, trẻ em ngày càng muốn được tự chủ Tôi luôn để trẻ tự làm việc của mình Trẻ có thể tự lau sạch nước trái cây bị đổ
và rửa tay
Ví dụ, nói với một đứa bé 3 tuổi, "Lại đây con, cô mặc áo khoác cho con nhé" Điều này đồng nghĩa bạn đã gửi một thông điệp là bạn nghi ngờ khả năng của trẻ, và khi nói như vậy liên tục trong một thời gian sẽ củng cố cảm giác ở trẻ là mình vô dụng Hãy cẩn thận đặc biệt khi bạn bảo vệ quá mức một đứa trẻ nhút nhát và các trẻ em có khả năng khác nhau
- Để trẻ học hỏi từ những hoạt động của chúng
+ Trẻ em là những người học tích cực, chúng xây dựng nhận thức về thế giới từ việc tương tác với thế giới
Ví dụ, nếu một đứa trẻ cố tình phá vỡ một món đồ chơi, hậu quả tự nhiên là nó
sẽ không còn đồ chơi để chơi Tất nhiên, nếu hành động của một đứa trẻ có thể gây tổn hại hoặc về thể chất hoặc tình cảm - với chính nó hoặc người khác, thì giáo viên phải can thiệp, và kết quả tự nhiên sẽ không diễn ra
- Cho trẻ lựa chọn
+ Hãy cho trẻ có nhiều lựa chọn thật sự và cho phép chúng tự quyết định Chỉ cung cấp những lựa chọn trong khả năng và sẽ cho phép trẻ làm
- Lôi kéo gia đình cùng tham gia
+Lớp học với môi trường giao tiếp tích cực là những nơi mà gia đình cảm thấy được tham gia và được chào đón Các kỹ thuật sử dụng để giao tiếp với trẻ em
có thể được áp dụng trong gia đình Cần tương tác với cha mẹ thường xuyên, hoặc trực tiếp gặp gỡ hoặc thông qua các thư hoặc các phương tiện khác
- Bất cứ nơi đâu và giờ hoạt động nào cũng là giờ trẻ được nói, thể hiện ý kiến,
mong muốn của bản thân mình
*Cách thực hiện
3.3.1- Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động học
*Thông qua giờ thơ, truyện:
Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngônngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà
Trang 11muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻcũng được học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.
Để giờ thơ, truyện đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì
đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo :
+ Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn và vệ sinh chotrẻ
+ Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu truyện, phía dưới phải có chữ
to giúp cho việc phát triển vốn từ của trẻ được thuận lợi
+ Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng,giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật
VD1: Trẻ nghe câu truyện “ Đôi bạn nhỏ” Tôi cung cấp vốn từ cho
trẻ đó là từ “ Bới đất” Cô có thể cho trẻ xem tranh mô hình một chú gà đang lấychân để bới đất tìm giun và giải thích cho trẻ hiểu từ “ Bới đất”
( Các con ạ , bản năng của những chú gà là mỗi khi đi kiếm ăn các chúphải lấy chân để bới đất, đào đất lên để tìm thức ăn cho mình , khi kiếm đượcthức ăn chú gà sẽ lấy mỏ để ăn đấy.) Sau khi giải thích tôi cũng chuẩn bị một
hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học:
+ Hai bạn Gà và Vịt trong câu truyện cô kể rủ nhau đi đâu?
( Đi kiếm ăn ạ)
+ Vịt kiếm ăn ở đâu? ( Dưới ao ạ)
+ Thế còn bạn Gà kiếm ăn ở đâu? ( Trên bãi cỏ ạ)
+ Bạn Gà kiếm ăn như thế nào? ( Bới đất tìm giun ạ)
+ Khi hai bạn đang kiếm ăn thì con gì xuất hiện đuổi bắt Gà con? ( ConCáo ạ)
+ Vịt con đã cứu Gà con như thế nào? ( Gà nhảy phốc lên lưng Vịt , Vịtbơi ra xa)
+ Qua câu truyện con thấy tình bạn của hai bạn Gà và Vịt ra sao?
( Thương yêu nhau)
+ Nếu như bạn gặp khó khăn thì các con phải làm gì? ( Giúp đỡ bạn ạ)
- Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấynhân vật để giáo dục trẻ phải biết yêu thương và giúp đỡ bạn trong lúc gặp khókhăn
VD2: Qua bài thơ “ Cây bắp cải ” tôi muốn cung cấp cho trẻ từ “ Sắp vòng
quanh” Tôi chuẩn bị một chiếc bắp cải thật để cho trẻ quan sát, trẻ phải đượcnhìn, sờ, ngửi… và qua vật thật tôi sẽ giải thích cho trẻ từ “ sắp vòng quanh”
Trang 12- Tôi giải thích cho trẻ : Các con nhìn này đây là cây bắp cải mà hàng ngày
mẹ vẫn mua về để nấu cho các con ăn đấy Các con nhìn xem lá bắp cải rất to
có màu xanh và khi cây bắp cải càng lớn thì lá càng cuộn thành vòng tròn xếptrồng lên nhau lá non thì nằm ở bên trong được bao bọc bằng những lớp lá già ởngoài Bên cạnh đó tôi cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời:
+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? (Cây bắp cải ạ)
+ Cây bắp cải trong bài thơ được miêu tả đẹp như thế nào?
( Xanh man mát )
+ Còn lá bắp cải được nhà thơ miêu tả ra sao? ( Sắp vòng quanh ạ)
+ Búp cải non thì nằm ở đâu? ( Nằm ở giữa ạ)
- Như vậy qua bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết lại cung cấp thêm vốn từmới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú
- Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắpcũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chútrọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ
VD3: Trong câu truyện “ Thỏ ngoan” ngoài việc giúp trẻ thể hiện ngữ điệu, sắc
thái tình cảm của các nhân vật trong truyện tôi còn sửa sai những từ trẻ hay nóingọng để giúp trẻ phát âm chuẩn và động viên những trẻ nhút nhát mạnh dạnhơn khi trả lời
+ Trẻ hay nói ô tô - ô chô
+ Trẻ nói Thỏ ngoan - Thỏ ngan
- Tôi cho trẻ thể hiện ngữ điệu của các nhân vật trong truyện “ Thỏ ngoan” + Giọng Bác Gấu bị mưa rét thì ồm ồm và run, nét mặt buồn
+ Giọng con Cáo thì gắt gỏng, nét mặt kênh kiệu
+ Giọng Thỏ thì ân cần , niềm nở
- Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ
mà còn phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách toàn diện Trẻ nhớ nội dung câutruyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức