1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp vùng tứ giác long xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu

219 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Cảnh Quan Phục Vụ Mục Đích Tổ Chức Lãnh Thổ Sản Xuất Nông Nghiệp Vùng Tứ Giác Long Xuyên Trong Bối Cảnh Biến Đổi Khí Hậu
Tác giả Trần Thế Định
Người hướng dẫn GS.TSKH. Phạm Hoàng Hải, TS. Đỗ Văn Thanh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Địa lý tự nhiên
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 219
Dung lượng 10,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Đã xây dựng được hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan cho vùng Tứ giác Long Xuyên; thành lập được bản đồ cảnh quan và làm rõ đặc điểm cảnh quan cho khu vực ng

Trang 1

TRẦN THẾ ĐỊNH

ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

TRẦN THẾ ĐỊNH

ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: Địa lý tự nhiên

Mã số: 9.44.02.17

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TSKH PHẠM HOÀNG HẢI

2 TS ĐỖ VĂN THANH

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này là trung thực, khách quan và được trích dẫn đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Thế Định

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án “Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất

nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu” là kết quả

của quá trình học tập và nghiên cứu nghiêm túc của NCS tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, NCS đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, thường xuyên động viên, khích lệ của GS TSKH Phạm Hoàng Hải và TS Đỗ Văn Thanh - những người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền dạy kiến thức và kĩ năng nghiên cứu khoa học giúp NCS trưởng thành hơn trong khoa học và hoàn thành luận án này Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Quý Thầy!

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả cũng nhận được sự đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô, Nhà khoa học trong và ngoài cơ sở đào tạo

Sự giúp đỡ của Quý vị về nguồn tài liệu tham khảo cùng những nhận xét, góp ý chuyên môn đã giúp tác giả có tư liệu để hoàn thành luận án, đồng thời mở rộng vốn kiến thức và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học Tác giả xin chân thành cảm

ơn Quý Thầy, Cô và Nhà khoa học!

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, nhân viên trong Khoa Địa lý, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã hỗ trợ tác giả trong quá trình thực hiện luận án

Tác giả xin cảm ơn tới các đồng nghiệp trong Bộ môn Địa lý, lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo, nhân viên các đơn vị Phòng ban, Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá học

Cuối cùng, xin cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận án

Trần Thế Định

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục ii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ảnh ix

Danh mục bản đồ x

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

4 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 4

5 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI 4

6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA ĐỀ TÀI 5

8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 6

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 6

1.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ sản xuất 12

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 14

1.1.4 Các công trình nghiên cứu về vùng Tứ giác Long Xuyên 16

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18

1.2.1 Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 18

1.2.2 Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 27

1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu 31

Trang 6

1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 34

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 34

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 35

1.4 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÙNG TỪ GIÁC LONG XUYÊN 43

2.1 KHÁI QUÁT VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 43

2.1.1 Nguồn gốc địa danh vùng Tứ giác Long Xuyên 43

2.1.2 Cơ sở xác định vị trí, phạm vi vùng nghiên cứu 43

2.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 45

2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển tự nhiên lãnh thổ 45

2.2.2 Địa chất 47

2.2.3 Địa hình 49

2.2.4 Khí hậu 52

2.2.5 Thủy văn 55

2.2.6 Thổ nhưỡng 59

2.2.7 Thảm thực vật 65

2.2.8 Hoạt động nhân sinh 67

2.3 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 70

2.3.1 Hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 70

2.3.2 Phân vùng cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 79

2.3.3 Đặc điểm cấu trúc và sự đa dạng cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 87 2.3.4 Đặc điểm chức năng, động lực cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 92

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 100

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 101

3.1 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI CẢNH QUAN 101

3.1.1 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho sản xuất nông nghiệp 102

3.1.2 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp 111

3.1.3 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển thủy sản 115

Trang 7

3.2 TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 121

3.2.1 Bối cảnh biến đổi khí hậu ở vùng Tứ giác Long Xuyên 121

3.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở vùng Tứ giác Long Xuyên 129

3.2.3 Tác động biến đổi khí hậu đến cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 130

3.3 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP CỦA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 132

3.3.1 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 132

3.3.2 Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 133

3.3.3 So sánh kết quả đánh giá thích nghi với hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 134

3.4 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 136

3.4.1 Mục tiêu và cơ sở của của định hướng 136

3.4.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp theo loại cảnh quan 137

3.4.3 Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp theo tiểu vùng 142

3.4.4 Định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh 144

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 147

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148

1 KẾT LUẬN 148

2 KIẾN NGHỊ 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BĐKH : Biến đổi khí hậu

DTĐG : Diện tích đánh giá DTTN : Diện tích tự nhiên ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long ĐGCQ : Đánh giá cảnh quan

ĐKTN : Điều kiện tự nhiên ĐVHC : Đơn vị hành chính GDP : Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm nội địa GIS :Geographic Information System

Hệ thống thông tin địa lý KTXH : Kinh tế - xã hội

NCCQ : Nghiên cứu cảnh quan

NTTS : Nuôi trồng thủy sản STCQ : Sinh thái cảnh quan TCLT : Tồ chức lãnh thổ TNTN : Tài nguyên thiên nhiên TGLX : Tứ giác Long Xuyên TVCQ : Tiểu vùng cảnh quan

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh cặp mức độ quan trọng các chỉ tiêu 38

Bảng 1.2 Trọng số thành phần và trọng số bình quân của các chỉ tiêu 38

Bảng 1.3: Chỉ số ngẫu nhiên ứng với số chỉ tiêu được lựa chọn 39

Bảng 2.1: Thống kê các kiểu địa hình ở vùng TGLX theo nguồn gốc hình thành 49

Bảng 2.2: Các giá trị bức xạ, số giờ nắng ở vùng TGLX 53

Bảng 2.3: Tốc độ gió ở vùng TGLX 54

Bảng 2.4: Số lượng và chiều dài kênh rạch ở vùng ĐBSCL và TGLX 56

Bảng 2.5: Lưu lượng nước ở các kênh, rạch nội đồng vùng TGLX 58

Bảng 2.6: Diện tích và phân bố các loại đất ở vùng TGLX 60

Bảng 2.7: Hiện trạng sử dụng đất ở vùng TGLX năm 2018 69

Bảng 2.8: Đóng góp của ngành nông nghiệp trong GDP của vùng TGLX 69

Bảng 2.9: Hệ thống phân loại cảnh vùng TGLX 71

Bảng 2.10: Tổng hợp các đơn vị CQ vùng TGLX 78

Bảng 2.11: Thống kê các loại cảnh quan theo nhóm ở vùng TGLX 79

Bảng 2.12: Hệ thống phân vùng CQ ở vùng TGLX cho bản đồ tỉ lệ 1:100.000 80

Bảng 2.13: Các chỉ số mô tả hình thái theo lớp, phụ lớp cảnh quan 88

Bảng 2.14: Các chỉ số mô tả hình thái theo nhóm loại cảnh quan 89

Bảng 2.15: Chỉ số phong phú, đa dạng cảnh quan theo cấu trúc 90

Bảng 2.16: Chỉ số phong phú, đa dạng cảnh quan theo chức năng 91

Bảng 2.17: Chỉ số phong phú, đa dạng của cảnh quan theo tiểu vùng 92

Bảng 2.18: Lượng mưa các tháng mùa mưa ở vùng TGLX 95

Bảng 2.19: Công thức tính và phân cấp chế độ nhiệt ẩm 96

Bảng 3 1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá thích nghi đối với cây lúa và khóm 105

Bảng 3.2 So sánh cặp mức độ quan trọng các chỉ tiêu đối với lúa và khóm 106

Bảng 3.3 Trọng số các chỉ tiêu thành phần và trọng số trung bình 106

Bảng 3.4: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá cho cây lúa và khóm 107

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa 108

Bảng 3.6: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa theo TVCQ 109

Bảng 3.7: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm 110

Bảng 3.8: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm theo TVCQ 111

Trang 10

Bảng 3.9: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá thích nghi đối với rừng ngập nước 113Bảng 3.10: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá cho rừng ngập nước 113Bảng 3.11: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước 114Bảng 3.12: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước theo TVCQ 115Bảng 3.13: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá đối với NTTS nước lợ và NTTS ngọt 117Bảng 3.14: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với NTTS nước lợ và NTTS ngọt 117Bảng 3.15: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước lợ 118Bảng 3.16: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước lợ theo TVCQ 119Bảng 3.17: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước ngọt 120Bảng 3.18: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước ngọt theo TVCQ 121Bảng 3.19: Thống kê nhiệt độ ở trạm Châu Đốc và Rạch Giá, thời kỳ 1979 - 2018 122Bảng 3.20: Chuẩn sai nhiệt độ các thời kỳ so với thời kỳ cơ sở 123Bảng 3.21: Số liệu thống kê lượng mưa ở trạm Châu Đốc, thời kỳ 1979 - 2018 123Bảng 3.22: Chuẩn sai lượng mưa các thời kỳ so với thời kỳ cơ sở 124Bảng 3.23: Ngưỡng chỉ số SPI và mức độ hạn giai đoạn 1979 - 2018 127Bảng 3.24: Các khu vực ở TGLX chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn 4‰ 128Bảng 3.25: Phạm vi ngập các địa phương vùng TGLX theo kịch bản nước biển dâng 131Bảng 3.26: Thống kê cảnh quan ở TGLX bị tác động ứng với các mức nước biển dâng 132Bảng 3.27: So sánh kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan với hiện trạng, quy hoạch 136Bảng 3.28: Không gian ưu tiên phát triển nông nghiệp theo loại cảnh quan 141Bảng 3.29: Định hướng không gian phát triển nông nghiệp theo TVCQ 142Bảng 3.30: Định hướng phát triển vùng chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa theo ĐVHC 145Bảng 3.31: Định hướng phát triển vùng chuyên canh khóm theo ĐVHC 145Bảng 3.32: Định hướng phát triển vùng NTTS nước ngọt theo ĐVHC 146Bảng 3.33: Định hướng phát triển vùng NTTS nước lợ theo ĐVHC 146

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Sơ đồ các bậc của một số hệ thống phân loại cảnh quan tiêu biểu 21

Hình 1.2: Cấu trúc đứng (trái) và cấu trúc ngang (phải) của cảnh quan 23

Hình 1.3: Sơ đồ định hướng tổ chức không gian sản xuất nông nghiệp vùng TGLX 30

Hình 1.4 Tuyến khảo sát thực tế 35

Hình 1.5: Thang điểm xác định mức độ quan trọng của các chỉ tiêu 38

Hình 1.6: Sơ đồ các bước nghiên cứu luận án 41

Hình 2.1: Phân vùng ở ĐBSCL 44

Hình 2.2: Quá trình phát triển tự nhiên của ĐBSCL và vùng TGLX 47

Hình 2.3: Chế độ nhiệt độ ở vùng TGLX 53

Hình 2.4: Chế độ mưa, ẩm, bốc hơi ở vùng TGLX 55

Hình 2.5: Lưu lượng nước ở trạm Tân Châu và Châu Đốc 57

Hình 2.6: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL1 75

Hình 2.7: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL2 75

Hình 2.8: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL3 76

Hình 2.9: Diện tích và số khoanh vi của CQ ở PL4 77

Hình 2.10: Diện tích và số khoanh vi CQ ở PL5 78

Hình 2.11: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 1 82

Hình 2.12: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 2 83

Hình 2.13: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 3 84

Hình 2.14: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 4 85

Hình 2.15: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 5 86

Hình 2.16: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 6 87

Hình 2.17: Sự thay đổi tương quan nhiệt ẩm theo mùa ở các trạm thuộc vùng TGLX 96

Hình 2.18: Tương quan lượng mưa và lưu lượng nước sông trạm Châu Đốc 97

Hình 3.1: Xu thế nhiệt độ trung bình năm ở vùng TGLX, giai đoạn 1979 - 2018 122 Hình 3.2: Xu thế lượng mưa năm ở trạm Châu Đốc, giai đoạn 1979 - 2018 124

Hình 3.3: Xu thế biến đổi mực nước trạm Rạch Giá giai đoạn 1982 - 2011 125

Hình 3.4: Xu thế biến đổi mực nước lũ tại 2 trạm thủy văn vùng TGLX 126

Hình 3.5: Chỉ số SPI tại 2 trạm Châu Đốc và Rạch Giá, giai đoạn 1979 - 2018 127

Hình 3.6 Định hướng phát triển ngành nông nghiệp theo TVCQ 143

Trang 12

BĐ 2.9 Bản đồ phân vùng cảnh quan 81b

BĐ 3.1 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa 108b

BĐ 3.2 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm 110b

BĐ 3.3 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước 114b

BĐ 3.4 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho nuôi trồng thủy sản nước lợ 118b

BĐ 3.5 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt 121b

BĐ 3.6 Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 137b

BĐ 3.7 Bản đồ định hướng không gian phát triển vùng chuyên canh nông nghiệp 147b

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được xem là những nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế và định hướng không gian sản xuất trên lãnh thổ, nhất là đối với những hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên như sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong sản xuất nông nghiệp, mối

quan hệ qua lại giữa hệ thống "tự nhiên" và "kinh tế - xã hội" đã và đang bị biến đổi

nghiêm trọng [31] Nhiều loại tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, sinh vật đang bị khai thác triệt để phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của con người Sự tác động này có thể vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của tự nhiên dẫn đến hậu quả là làm thay đổi điều kiện tự nhiên và suy thoái môi trường của lãnh thổ Song song đó, các yếu tố tự nhiên cũng luôn trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng gây ra những tác động khó lường cho các hoạt động sản xuất của con người nếu như không có giải pháp chủ động thích ứng Vì vậy, để giải quyết hài hòa mối quan hệ này, cần có sự đánh giá tổng hợp các nguồn lực cho phát

triển kinh tế theo hướng "thuận thiên" nhằm tìm ra các giải pháp khai thác, sử dụng

hợp lý lãnh thổ vừa phù hợp với tự nhiên, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội và môi trường [22]

Ngày nay, biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, phá vỡ cấu trúc của nhiều cảnh quan tự nhiên và tác động đến tất cả các ngành kinh tế, trong đó nông nghiệp là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất [174] Đánh giá của Ngân hàng Thế giới cho biết, ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,70C, nước biển đã dâng lên 20cm trong khoảng 50 năm qua [179] Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc cũng cảnh báo rằng, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 12,2% diện tích đất của Việt Nam bị chìm ngập, 23% số dân mất nơi cư trú, 27% cảnh quan tự nhiên bị tác động nghiêm trọng, gần 50% đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm không còn khả năng canh tác [111] Chính vì vậy, việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất cần đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quát để đưa ra các giải pháp định hướng

tổ chức không gian sản xuất hợp lý cho lãnh thổ

Trang 14

Vùng Tứ giác Long Xuyên nằm ở khu vực Tây Nam Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế -

xã hội của cả nước [108] Về mặt tự nhiên, Tứ giác Long Xuyên có địa hình tương đối đa dạng, bên cạnh khu vực đồng bằng trũng thấp rộng lớn còn có các khu vực địa hình bờ biển, bãi bồi và một số đồi núi sót; khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm điển hình; mạng lưới sông ngòi dày đặc, nguồn nước phong phú rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp [22] Tuy nhiên, vùng đang phải đối mặt với nhiều thách thức như sự thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, ngập lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, đất đai suy thoái,… [20], [21] Điều này cho thấy cảnh quan tự nhiên của vùng Tứ giác Long Xuyên có những nét đặc trưng riêng nhưng cũng rất dễ bị phá vỡ nếu không được con người khai thác hợp lý Do đó, để đảm bảo phát triển bền vững, cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện về

tự nhiên (nghiên cứu, đánh giá cảnh quan) nhằm khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ là vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Với những lí do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Đánh giá cảnh quan

phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu” cho luận án Tiến sĩ của mình, với hi vọng

sẽ đóng góp phần nhỏ vào sự phát triển hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng nói chung và nghiên cứu đánh giá cảnh quan ở vùng Tứ giác Long Xuyên nói riêng

2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Để đạt được những mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan những vấn đề lý luận về cảnh quan, đánh giá cảnh quan, tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu

- Xây dựng hệ thống phân loại, phân vùng cảnh quan, xác định đặc điểm và quy luật phân hóa của cảnh quan khu vực nghiên cứu

- Đánh giá thích nghi cảnh quan nhằm xem xét mức độ phù hợp của tự nhiên

Trang 15

vùng Tứ giác Long Xuyên đối với một số loại hình sản xuất nông nghiệp

- Phân tích bối cảnh biến đổi khí hậu và xem xét ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên

- Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp của vùng nghiên cứu

- Thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan, bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp cho vùng nghiên cứu

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Phạm vi không gian

Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian lãnh thổ vùng Tứ giác Long Xuyên với tổng diện tích tự nhiên là 4.983,66km2; trong đó, phần lãnh thổ thuộc tỉnh An Giang có diện tích 2.433,01km2, phần thuộc tỉnh Kiên Giang có diện tích 2.395,35km2

và phần nhỏ còn lại thuộc huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ có diện tích 155,3km2 Phạm vi lãnh thổ vùng Tứ giác Long Xuyên được giới hạn bởi sông Hậu ở phía Đông Bắc, bờ biển Kiên Giang ở phía Tây Nam, kênh Rạch Giá - Long Xuyên ở phía Đông Nam và biên giới Việt Nam - Campuchia ở phía Tây Bắc (xem bản đồ hành chính, trang 43b)

- Trong nội dung đánh giá thích nghi cảnh quan, luận án chỉ đánh giá cho một

số cây trồng và loại hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu của vùng (cây lúa, cây khóm, rừng ngập nước, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi trồng thủy sản nước ngọt), không đánh giá cho toàn bộ các loại hình sản xuất nông nghiệp hiện có

- Trong nội dung nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến vùng Tứ giác Long Xuyên, luận án chỉ dừng lại ở việc phân tích bối cảnh biến khí hậu và xem xét ảnh hưởng của nước biển dâng đến sự biến đổi của các loại cảnh quan ứng với các kịch bản khác nhau

Trang 16

- Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp được đề cập trong luận án chỉ dừng ở việc định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan dưới góc độ cảnh quan học nhằm xác định không gian ưu tiên cho phát triển nông nghiệp của vùng, không chú trọng đề cập đến các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp

4 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI

Luận án thực hiện dựa trên việc tham khảo các nguồn tư liệu khác nhau:

- Các tài liệu do nghiên cứu sinh thực hiện: có liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu và hướng nghiên cứu được công bố trên các Tạp chí khoa học trong nước và

các báo báo khoa học trong các Hội nghị, Hội thảo trong nước và quốc tế (được liệt

kê trong phần danh mục các công trình tác giả đã công bố)

- Các bài báo, sách, đề tài, dự án: của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài

nước liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và lãnh thổ nghiên cứu

- Nguồn số liệu: về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và kinh

tế - xã hội vùng Tứ giác Long Xuyên được thu thập từ báo cáo của các đề tài, Niên giám thống kê của các địa phương qua các năm, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế - xã hội các địa phương trong vùng, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ,

- Nguồn bản đồ: các bản đồ nền vùng Tứ giác Long Xuyên trong luận án được

ghép từ các bản đồ nền của các địa phương trong vùng hoặc cắt ra từ bản đồ cấp lớn hơn bằng các phần mềm GIS Tư liệu bản đồ nền bao gồm: bản đồ hành chính (thu thập từ website: https://gadm.org/index.html), bản đồ mạng lưới sông ngòi (http://opendata.arcgis.com), bản đồ địa mạo (Lê Đức An, Uông Đình Khanh & cs), bản đồ lượng mưa (Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ), bản đồ đất (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Miền Nam), bản đồ hiện trạng sử dụng đất (Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ)

5 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Đã xây dựng được hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan cho vùng Tứ giác Long Xuyên; thành lập được bản đồ cảnh quan và làm rõ đặc điểm cảnh quan cho khu vực nghiên cứu; đánh giá được mức độ thích nghi cảnh quan cho một số loại hình sản xuất nông nghiệp trong vùng

Trang 17

- Đã định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất cho ngành nông nghiệp của vùng

Tứ giác Long Xuyên trên cơ sở đánh giá thích nghi cảnh quan, phân tích tác động biến đổi khí hậu, hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp của vùng

6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA ĐỀ TÀI

- Luận điểm 1: Tác động tương hỗ của các hợp phần, yếu tố tự nhiên và nhân sinh tạo nên sự phân hóa có quy luật về đặc điểm cấu trúc, chức năng, động lực của

cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên với 1 hệ, 1 phụ hệ, 1 kiểu, 2 lớp, 5 phụ lớp,

140 loại cảnh quan thuộc 6 tiểu vùng cảnh quan

- Luận điểm 2: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho ngành nông

nghiệp, có xét đến tác động biến đổi khí hậu kết hợp với phân tích hiện trạng, quy

hoạch nông nghiệp là cơ sở khoa học để định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông

nghiệp của vùng Tứ giác Long Xuyên

7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

7.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần hoàn thiện về lý luận nghiên cứu, đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận định lượng trong đánh giá tiềm năng tự nhiên cho các mục đích định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp đối với vùng đồng bằng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của các địa phương trong vùng Tứ giác Long Xuyên Ngoài

ra, luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,

giảng dạy và học tập địa lý địa phương

8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục

vụ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Chương 2: Đặc điểm cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên

Chương 3: Đánh giá cảnh quan nhằm định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan

Học thuyết về cảnh quan (CQ) đầu tiên được ra đời vào năm 1913 bởi nhà bác học người Nga L.S Berg với tiền đề là học thuyết của V.V Docutraev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45] Từ khi ra đời đến nay, cảnh quan học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau

1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về lý luận cảnh quan

Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, nghiên cứu về lý luận CQ phát triển từ rất sớm và

được xem là một trong những nội dung nghiên cứu của địa lý tự nhiên Điều này được thể hiện trong công trình “Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô” [126] của L.S Berg

(1931), nghiên cứu cho rằng CQ là đối tượng nghiên cứu của địa lý, đồng thời xem

CQ như là một tổng hợp thể địa lý (địa tổng thể) và nêu lên mối tương quan giữa đới

cảnh quan và đới thiên nhiên; tác giả cũng cho rằng “đới thiên nhiên là những miền

ưu thế của cảnh quan và gọi chúng là đới cảnh quan” (dẫn theo Vũ Tự Lập, 1978)

[53] Trong bài báo “Nhiệm vụ địa lý và nghiên cứu địa lý ngoài thực địa” [47] công

bố năm 1940, S.V Kalesnik đã xem CQ như một lãnh thổ độc đáo và toàn diện, thống nhất về mặt phát sinh, mặc dù có sự khác nhau về hình thái Ngoài ra, F.N Milkov

(1967) đề cập đến cảnh quan như các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các tổng thể cộng sinh mà sau đó D.L Armand (1975) gọi là địa hệ trong công trình

“Khoa học về cảnh quan” [3] Những quan điểm về CQ của các tác giả trên là nền

tảng cho sự phát triển cơ sở lý luận về CQ của các công trình nghiên cứu sau này

Ở Tây Âu, lý luận về CQ không phát triển sớm và sôi nổi như ở Liên Xô (cũ),

đối tượng nghiên cứu của họ cũng mang dáng dấp các tổng hợp thể tự nhiên nhưng có

nhiều khác biệt về cách tiếp cận và nội dung biểu đạt Những quan niệm về CQ cũng

đã được một số nhà địa lý đề cập tới Nhà địa lý Anh A Geberson (1905) là người đầu tiên đề cập đến nghiên cứu tổng hợp trong nghiên cứu địa lý Theo ông, địa lý nên

nghiên cứu sự phân bố của các tổng hợp thể chứ không phải sự nghiên cứu riêng lẻ

Trang 19

các thành phần (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45] Đây được xem là quan niệm về đối tượng nghiên cứu có nét tương đồng với quan niệm về đối tượng NCCQ của các

nhà khoa học Liên Xô (cũ) G Haase và R Schmid (1973), đã sử dụng lý thuyết địa

sinh thái (ecological geography) trong “Nghiên cứu và thành lập bản đồ nông nghiệp

ở Cộng hòa dân chủ Đức (cũ)” (dẫn theo Trần Văn Thành, 2007) [84] Lí thuyết địa sinh thái cũng đã được nhắc đến trong công trình “Phong cảnh địa lý tự nhiên toàn cầu” của nhà địa lý người Pháp G Bertran (1968), ông cũng cho rằng “Địa lý học tiến triển theo hướng sinh quần học, còn phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy được của cảnh quan” (dẫn bởi A G Isachenko 1969) [45] Chính vì thế, ở Pháp,

thuật ngữ “phong cảnh” được sử dụng thay cho thuật ngữ “cảnh quan” (dẫn theo Trần

Văn Thành, 2007) [84] Gần đây, sự kết hợp giữa các phương pháp truyền thống với các phương pháp hiện đại trong nghiên cứu địa lý giúp lý luận về nghiên cứu, đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) ở Tây Âu có nhiều thay đổi đáng kể

Ở Mỹ, theo T.W Freeman (1971) - tác giả của công trình “A hundred years of geography” [137] - CQ học không thật sự phát triển, bởi các nhà địa lý Mỹ chú

trọng nhiều hơn vào nghiên cứu các thành phần CQ của môi trường địa lý hoặc địa

lý khu vực thay vì quan điểm nghiên cứu tổng hợp Đầu những năm 1980, hướng

nghiên cứu sinh thái cảnh quan (STCQ) phát triển nhanh chóng Bắc Mỹ sau khi bắt nguồn từ châu Âu Tiêu biểu là Kỷ yếu hội thảo quốc tế đầu tiên “Methodology in

Landscape Ecological Research and Planning” [152], công trình đã công bố những

bài viết về phương pháp nghiên cứu STCQ và phương pháp phân vùng, quy hoạch

STCQ; bài báo “Landscape ecology: directions and approaches” [161] của P

Risser, J Karr, R Forman (1984) nêu lên các hướng và cách tiếp cận nghiên cứu

STCQ; công trình “The beginnings of landscape ecology in America” [136] của R

Forman (1991) đã trình bày về nguồn gốc của STCQ, ứng dụng của nó trong các lĩnh vực sinh thái, địa lý, kiến trúc CQ, lâm nghiệp và các lĩnh vực khác ở Mỹ; bài

báo “Landscape ecology in North America: past, present, and future” [176] của M

G Turner (2005) đã mô tả sự phát triển của STCQ ở Bắc Mỹ trong quá khứ, những vấn đề trong hiện tại và các hướng nghiên cứu trong tương lai

Như vậy, có thể thấy rằng, trên thế giới, phổ biến hai hướng nghiên cứu lý luận

CQ khác nhau: hướng nghiên cứu cảnh quan đơn thuần và hướng nghiên cứu sinh thái

cảnh quan Sự phát triển của hai hướng nghiên cứu này hoàn toàn không mâu thuẫn mà

Trang 20

bổ trợ nhau, làm đa dạng hơn sự phát triển về lý luận khoa học CQ và hướng đến những

nghiên cứu mang tính ứng dụng cao hơn Điều này thể hiện rất rõ trong bài viết “Future

landscapes and the future of landscape ecology” [143] của R Hobbs (1997) và

“Landscape ecology meets landscape science” [142] của J Helfenstein & cs (2014)

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lý luận CQ chịu nhiều ảnh hưởng và

mang tính chất kế thừa các quan điểm CQ của Liên Xô (cũ) Cuốn sách “Địa lý tự

nhiên Việt Nam” [54] của Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1963), được xem là

công trình tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp, phần cuối của công trình này đưa ra các nguyên tắc cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam Ngoài ra, Vũ Tự Lập (1976) còn có công

trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” [52], nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý

luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp ở miền Bắc Việt Nam

Từ những năm 1990 đến nay, lý luận về cảnh quan và phương pháp nghiên cứu CQ ở

Việt Nam phát triển mạnh với các công trình tiêu biểu như: “Cơ sở cảnh quan học

của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” [31] của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh

(1997), “Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái)” [38] của Nguyễn Cao Huần (2005), “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam - phương pháp luận và một

số kết quả thực tiễn nghiên cứu” [30] của Phạm Hoàng Hải (2006) Hướng nghiên

cứu lý luận về STCQ ở Việt Nam cũng ra đời và phát triển mạnh, mở đầu bằng Hội

thảo lần thứ nhất năm 1992 về “Sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp

luận” [12] của các nhà khoa học thuộc Chi hội sinh thái cảnh quan Việt Nam, sau đó

được mở rộng và vận dụng linh hoạt trong NCCQ ở Việt Nam thông qua các công trình của các tác giả Nguyễn Thế Thôn (1995), Trương Quang Hải và cộng sự (2008), Nguyễn An Thịnh (2007, 2014) [91], [34], [89], [90]

1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về đặc điểm cảnh quan

Các công trình nghiên cứu đặc điểm cảnh quan chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cấu trúc, chức năng, động lực của cảnh quan, đây là nhân tố quan trọng để đưa

ra các định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ

Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, nghiên cứu đặc điểm CQ đã phát triển mạnh mẽ

từ đầu thế kỉ XX và đạt được nhiều bước tiến quan trọng Tiêu biểu như công trình

“Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô” của L.S Berg (1931) đã mở đầu cho nghiên

Trang 21

cứu phân hoá cấu trúc và chức năng của CQ Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, từ

kết quả nghiên cứu ngoài thực địa, N.A Solnsev (1962) đề ra một nghĩa mới và rõ

ràng hơn về hình thái cảnh quan [166] hoặc phân tích đầy đủ hơn về các động lực

làm biến đổi của CQ như V.B Sochava (1978) [164] Một số công trình nghiên cứu

về sự phân loại, phân vùng và xây dựng bản đồ cảnh quan cũng phát triển trong thời

gian này như “Các nguyên tắc địa hóa trong phân loại cảnh quan” [158] của A.I Perel'man (1961), “Bản đồ cảnh quan vùng Tây Bắc của Đồng bằng Nga, tỷ lệ 1:

1.000.000” [145] của Isachenko (1960), “Phân vùng địa lý tự nhiên” [71] của A.E

Phedina (1973) Những công trình gần đây của K.N Dyakonov và cs (2007) [133],

M Balej (2012) [124], D Stejskalová và cs (2013) [167] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm cảnh quan theo hướng định lượng và ứng dụng công nghệ GIS đảm bảo tính khách quan và độ chính xác cao hơn Kết quả của những nghiên cứu này là chỉ dẫn quan trọng giúp định hướng quy hoạch sản xuất cho các ngành kinh tế

Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nghiên cứu đặc điểm cảnh quan có tính ứng dụng thực

tiễn rất cao Tiêu biểu là nghiên cứu “Landscape functions in a changing

environment” [129] của J Bolliger và F Kienast (2010), công trình đã đề cập đến

vấn đề chức năng cảnh quan trong sự thay đổi môi trường, họ cho rằng đánh giá

không gian chức năng CQ là cơ sở nắm bắt thông tin để tham gia điều chỉnh sự phát triển CQ và là cơ sở đánh giá tiềm năng CQ cho các mục đích thực tiễn dựa vào những đặc trưng CQ đã được phân tích Một nghiên cứu khác về đặc điểm cảnh quan

là của R.M Röder và RU Syrbe (2014) “Relationship between land use changes, soil

degradation and landscape functions” [162] tại địa bàn vùng Kreba, phía Tây nước

Đức; với những dữ liệu đất đai thu thập từ năm 1938 - 1998 chứng minh rằng, chức năng CQ có quan hệ chặt chẽ với sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất và sự thoái hóa

đất Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu “Monitoring of landscape change

and functions in Saxony (Eastern Germany) - Methods and indicators”của U Walz

(2008) [178], tác giả đã trình bày các phương pháp và chỉ số nhằm giám sát sự thay đổi cảnh quan và chức năng cảnh quan ở Sachsen của CHLB Đức

Ở Việt Nam, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến công trình của

Phạm Hoàng Hải (1992, 2008) “Cơ sở phân tích chức năng và động lực phát triển

cảnh quan sinh thái Việt Nam” [28], “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam phục vụ mục đích sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường” [29];

Trang 22

Nguyễn Văn Vinh (1996) “Đặc điểm cảnh quan - sinh thái và phương hướng sử

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng gò đồi Quảng Bình” [120] Các công trình

này đã phân tích đặc điểm CQ và chỉ ra các nhân tố tác động đến sự phân hóa trong cấu trúc CQ của một lãnh thổ cụ thể Ngoài ra, các nhà khoa học thuộc Viện Địa lý

do Nguyễn Văn Vinh (2005) làm chủ biên với công trình “Nghiên cứu chức năng và

cấu trúc cảnh quan sinh thái (lấy ví dụ ở tỉnh Quảng Trị)” [121] - khẳng định rằng

cấu trúc, chức năng là cơ sở để sử dụng hợp lý CQ vào các mục đích KTXH Gần đây, luận án tiến sĩ của Nguyễn An Thịnh (2007) [89] đã định lượng hóa, mô hình hóa trong phân tích cấu trúc, chức năng của CQ

1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về đánh giá cảnh quan

Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, có nhiều nghiên cứu về đánh giá tổng hợp tự

nhiên hay ĐGCQ để giải quyết nhu cầu thực tiễn như phục vụ quy hoạch sử dụng

đất thể hiện trong các công trình của M Mojses và F Petrovič (2013) [153], I Solecka và cộng sự (2018) [165]; phục vụ phát triển, quy hoạch nông nghiệp trong

công trình của A Firmino (1999) [135], phục vụ mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ

của M Ruzichka và M Miklas (1988) [75],

Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, lý thuyết về ĐGCQ cũng được đề cập thông qua một số

công trình lý luận chung như “Themes in landscape assessment theory” của E H Zube (1984), [181], “Landscape balance and landscape assessment” [147] của R Krönert (2001), “Landscape assessment for sustainable planning” [150] của Mander

(2010) Bên cạnh việc nêu lên những quan điểm, hình thức và mục tiêu của ĐGCQ,

một số công trình đề cập đến sử dụng phương pháp ĐGCQ, tiêu biểu như “Use of

landscape classification as an essential prerequisite to landscape evaluation” [128] của

nhóm tác giả E.J Blankson, B.H Green (1991), nghiên cứu này đã tiến hành phân loại các nhóm CQ dễ nhận biết rồi đánh giá theo những tiêu chí cho hoạt động sản xuất, họ

cho rằng phân loại CQ như một điều kiện tiên quyết cần thiết để ĐGCQ; nghiên cứu

“Multicriteria optimization of landscapes using GIS-based functional assessments”

[139] của R Grabaum, B.C Meyer (1998) đã giới thiệu một phương pháp mới trong ĐGCQ là sử dụng GIS để tối ưu hóa các tiêu chí đánh giá cảnh quan giúp hỗ trợ việc ra quyết định và xây dựng các chỉ dẫn sử dụng hợp lý lãnh thổ, đây là phương pháp nghiên cứu định lượng, có tính đến các trọng số khác nhau của các kịch bản khi ĐGCQ

Trang 23

Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu ĐGCQ phục vụ mục đích phát triển kinh tế rất phổ biến Tiêu biểu là những công trình của các tác giả đương thời như Phạm Hoàng

Hải & cs “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển

Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm” (1990), “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên Tây Nguyên” (1993) Các công trình của

nhóm tác giả đã nghiên cứu đầy đủ với hướng tiếp cận khoa học về tổng hợp các điều kiện tự nhiên (ĐKTN) từ đó đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo

vệ môi trường và phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu Tác giả Nguyễn Cao Huần

(2005) với “Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái)” [38], đã đề

cập nhiều đến những vấn đề lý luận, phương pháp luận NCCQ ứng dụng, những vấn đề

lý luận ĐGCQ cả định tính và định lượng Trong công trình này, ông cũng đã tổng quan các hướng ĐGCQ khác nhau, bao gồm [38]:

- Đánh giá mức độ thuận lợi: hay có tên gọi khác là đánh giá tiềm năng sản xuất

của các địa tổng thể, là cách đánh giá truyền thống, đặc trưng cho nghiên cứu địa lý

tự nhiên ứng dụng Mức độ thuận lợi của các địa tổng thể thường được thể hiện ở dạng điểm hoặc cấp

- Đánh giá kinh tế: của việc sử dụng CQ thường được tiến hành theo nhiều cách

nhưng phổ biến nhất là sử dụng công cụ phân tích chi phí - lợi ích để xác định hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên

- Đánh giá ảnh hưởng môi trường: là xác định và dự báo mức độ ảnh hưởng tốt xấu

của các hoạt động sử dụng CQ tới môi trường, đồng thời xác định khả năng chịu tải và độ bền vững của CQ với các hoạt động này

- Đánh giá ảnh hưởng xã hội: các khía cạnh xã hội trong địa lý ứng dụng hầu

như chưa được chú ý đến nhiều ở Việt Nam Tính bền vững xã hội được phân tích dựa vào truyền thống, tập quán sử dụng CQ và khả năng tiếp thu trình độ khoa học

kỹ thuật và định hướng phát triển kinh tế của địa phương

Tuỳ thuộc mục đích, đối tượng và yêu cầu mức độ chi tiết mà có thể đánh giá theo các cách khác nhau Tuy nhiên, hiện nay khi đề xuất các phương án quy hoạch lãnh thổ và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thì hướng đánh giá mức độ thuận lợi được xem là phổ biến nhất Nhiều đề tài, bài báo, luận án tiến sĩ đã tiến hành nghiên cứu theo hướng này

Trang 24

1.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ sản xuất

Nghiên cứu thiết kế, quy hoạch lãnh thổ sản xuất dựa trên cơ sở lý luận của

CQ học là một trong những hướng NCCQ ứng dụng rất phát triển vào thập niên 80,

90 ở Liên Xô (cũ) Mở đầu là công trình “Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông

nghiệp” [49] của G.A Kuznetsov (1975), trong đó tác giả phân tích rõ ràng mối quan hệ giữa nghiên cứu địa lý và quy hoạch vùng sản xuất; ngoài ra, để quy hoạch không gian sản xuất nông nghiệp của lãnh thổ, tác giả nhấn mạnh vai trò của thổ nhưỡng và khí hậu, hai nhân tố quan trọng nhất trong phân vùng nông nghiệp I.P Geraximov (1979) cũng đã phân chia lãnh thổ Liên Bang Nga thành 17 miền khác nhau trên cơ sở địa lý học để quy hoạch phát triển KTXH [24] Cùng với hướng nghiên cứu trên còn có các công

trình tiêu biểu khác như: “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch

vùng” của E.M Rakovskaia & I.R Dorphman (1980); “Thiết kế lãnh thổ sản xuất vùng đồng bằng Nam Ukraine” của Sichenko (1980) Các công trình này đã dựa

trên các nghiên cứu, ĐGCQ để giải quyết nhu cầu thực tiễn là phục vụ sản xuất và tổ chức lãnh thổ (TCLT) sản xuất (dẫn theo A.G.Ixatsenko, 1985) [44]

Ở Tây Âu và Bắc Mỹ cũng đã quan tâm đến ứng dụng NCCQ để quy hoạch các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, quy hoạch đô thị, quy hoạch môi

trường (dẫn theo [122]) Một trong số các công trình đó là “Phân loại cảnh quan khu

vực Sachsen (Đức) - một công cụ để quy hoạch vùng” [125] của O Bastian (2000)

Trong nghiên cứu này, các đơn vị CQ vùng Sachsen đã được thể hiện trên bản đồ

được mô tả, phân loại và được xử lý bằng một hệ thống điều tra dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin Qua đó, có thể đánh giá sự phù hợp của các đơn vị CQ tự nhiên đối với các hoạt động của con người để tiến hành quản lý, quy hoạch vùng sản xuất Tác giả I.I Schastnaya (2007) thông qua công trình “Đánh giá đa dạng cảnh quan

phục vụ tổ chức không gian du lịch: trường hợp nghiên cứu ở vùng Brest” cũng cho rằng quy hoạch không gian sản xuất cần dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá CQ Thêm

nữa, nghiên cứu của J Kim, X Zhou (2012) về “Mối quan hệ của cấu trúc cảnh

quan, quy hoạch lãnh thổ và địa hình ở các khu dân cư ven đồi của Morgantown, Hoa Kỳ” [146] Mục đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc

cảnh quan, quy luật phân vùng và các thuộc tính địa lý của khu vực nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp các nhà quy hoạch cảnh quan và các nhà quản lý lập

kế hoạch và thiết kế hoạt động sản xuất bền vững hơn về mặt sinh thái và xã hội

Trang 25

Ở Việt Nam, mở đầu cho việc nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp phục vụ

phân vùng phải kể đến các công trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” [52],

“Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên” [53], “Phương pháp luận và

các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch lãnh thổ” [55] của Vũ Tự Lập Các công trình này đã trình bày nguyên tắc và

ý nghĩa của việc phân vùng địa lý tự nhiên Ngày nay, hướng nghiên cứu, ĐGCQ phục vụ định hướng quy hoạch lãnh thổ sản xuất, tổ chức không gian sản xuất hay

TCLT sản xuất đã và đang phát triển mạnh, tiêu biểu là các công trình "Quy hoạch

và TCLT trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá cảnh quan" [32], “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên” [25], “Tổ chức không gian phục vụ sử dụng hợp lý đất đai và bảo vệ môi trường theo các tiểu vùng chức năng thành phố Uông Bí” [140],

của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, Trương Quang Hải Các công trình này

đã thực hiện quy trình quy hoạch và TCLT sản xuất trên cơ sở nghiên cứu, ĐGCQ Cũng liên quan đến NCCQ phục vụ TCLT sản xuất cho mục đích cụ thể như nông, lâm nghiệp và du lịch còn có các công trình tiêu biểu như Phạm Quang Anh (1996)

“Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh

Việt Nam” [2]; Nguyễn Thế Thôn (1993, 1995) với hai công trình “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” và

“Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch

và quản lí môi trường” [91]; Đỗ Văn Thanh (2011) “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” [81]; Lê Anh Hùng (2016) “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển bền vững lâm nông nghiệp vùng đồi núi lưu vực sông Thu Bồn” [41] Mặc dù, nghiên cứu CQ ở khía cạnh khác nhau nhưng các công trình

trên đều hướng đến mục tiêu quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển kinh

tế và bảo vệ môi trường

Trong những năm gần đây, các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thúy Hằng [35], Nguyễn Ánh Hoàng [37], Nguyễn Thu Nhung [64], Phan Văn Phú [72], Đỗ Hà Thanh [82] cũng nghiên cứu, ĐGCQ theo hướng quy hoạch hoặc định hướng TCLT sản xuất Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy rằng, muốn tiến hành quy hoạch không gian sản xuất (TCLT sản xuất) thì trước hết cần phải phân tích đặc điểm về cấu

Trang 26

trúc, chức năng cũng như động lực CQ nơi đó, đánh giá được mức độ phù hợp của các CQ cho các loại hình sản xuất cần quy hoạch để có thể khai thác sử dụng tài nguyên và bố trí lãnh thổ sản xuất hợp lý nhất

1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp

Cảnh quan là đối tượng chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu (BĐKH), các biểu hiện của BĐKH ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của CQ như: địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật và cả con người, làm thay đổi mối quan

hệ của các thành phần CQ, từ đó làm biến đổi cấu trúc CQ

Nghiên cứu của P Opdam & cs (2009) về “Thay đổi cảnh quan để thích ứng

với các tác động của BĐKH” cho thấy những thay đổi lớn về nhiệt độ, lượng mưa,

cũng như tần suất và thời gian xuất hiện của các kiểu thời tiết cực đoan sẽ ảnh hưởng đến tất cả các CQ trên khắp thế giới ở các mức độ khác nhau BĐKH sẽ ảnh hưởng đến các loại hình sử dụng đất, các hệ sinh thái, cũng như hành vi của con người đối với tự nhiên, từ đó phá vỡ cấu trúc và và thay đổi chức năng CQ [156] Một công trình khác của I.D Thompson & cs (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với đa dạng CQ cho thấy các chỉ số về đa dạng CQ bị thay đổi dưới tác động của các yếu tố khí hậu, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ [172]

Öztürk & cs (2018) thì cho rằng, BĐKH đe dọa môi trường sống và hệ sinh thái ở các mức độ khác nhau trên khắp thế giới CQ cũng là môi trường sống và hệ sinh thái độc đáo nên cũng dễ bị tổn thương do hậu quả của BĐKH Vì vậy, sự thay đổi khí hậu gây ra những xáo trộn, thay đổi về đặc điểm trong các đơn vị phân loại

và phân vùng của CQ [157] Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về CQ ở khu vực trên thế giới và đưa ra kết luận về tác động của BĐKH đối với chức năng, động lực CQ, nghiên cứu tác động này là cơ sở để quy hoạch không gian, sử dụng hợp lý

lãnh thổ, tiêu biểu như: “Ảnh hưởng của BĐKH tiềm ẩn đối với động lực cảnh quan

rừng ở Tây - Trung Alberta” của Chao Li & cs (2000) [148], “Đánh giá tác động của BĐKH đối với hệ sinh thái rừng để lập quy hoạch không gian cảnh quan ở Nepal” của G.J Thapa (2016) [171], “Đánh giá mối liên hệ không gian giữa nhận thức về giá trị cảnh quan và rủi ro BĐKH để sử dụng trong quy hoạch BĐKH” của

C.M Raymond & G Brown (2011) [160],…

BĐKH tác động đến cảnh quan, làm biến đổi cảnh quan, đòi hỏi phải thay đổi các hoạt động sử dụng, khai thác cảnh quan, bố trí không gian sản xuất ngành nông

Trang 27

nghiệp nhằm thích ứng với sự biến đổi không ngừng của khí hậu Điều này được

nhắc đến trong các “Báo cáo đánh giá lần 1,2,3” của Ủy ban Liên chính phủ về

Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994); Tổ chức các nước hợp tác kinh tế phát triển (OECD, 2009) [123], [127], [179], Các báo cáo đều cho rằng BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vì vậy, cần có biện pháp khai thác hợp lý, thích ứng với BĐKH thay vì cố gắng giảm thiểu tác động của nó

Ở Việt Nam, những nghiên cứu về tác động của BĐKH được trình bày một

cách khá đầy đủ trong các công trình như: “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho

Việt Nam” của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009, 2012, 2016) [8], [9], [10];

"Báo cáo phân tích tác động của BĐKH đến nông nghiệp Việt Nam, đề xuất các

biện pháp thích ứng và chính sách giảm thiểu," Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn (2010) [115]; “BĐKH và tác động ở Việt Nam” của Nguyễn Văn

Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục [36] Các công trình đã đề cập đến bối cảnh và xu hướng BĐKH và những biện pháp ứng phó với BĐKH ở nước ta Ngoài các giải pháp công trình trước mắt thì hầu hết các giải pháp lâu dài đều tập trung vào việc bố trí lại không gian sản xuất phù hợp với BĐKH

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất thấp của Việt Nam, được xem là nơi chịu ảnh hưởng sớm và mạnh nhất bởi sự BĐKH toàn cầu [144] Chính vì vậy, có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH đến thành

phần tự nhiên, đến các ngành kinh tế của vùng, tiêu biểu như: “ĐBSCL đối mặt

với thách thức kép của BĐKH” của Nguyễn Ngọc Trân (2010) [97]; “Tác động của BĐKH và nước biển dâng lên hệ thống nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản tích hợp ở lưu vực sông Mêkông - Trường hợp nghiên cứu ở đồng bằng hạ lưu sông Mêkông” của Lê Anh Tuấn (2010) [174]; “Dự án Thích ứng với BĐKH cho phát triển bền vững Nông nghiệp và Nông thôn các tỉnh ven biển ĐBSCL” của

Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản cùng thực hiện (2013) [116] Các công trình đều tập trung vào phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến tự nhiên, đến các ngành sản xuất, đặc biệt là ngành nông

nghiệp và đề xuất một số hoạt động ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL Gần đây nhất, luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Trịnh (2018) “Nghiên cứu phân vùng

sinh thái nuôi trồng thủy sản ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu” [98]

Trang 28

được xem là công trình nghiên cứu mới theo hướng phân vùng sinh thái cho ngành sản xuất dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp gắn với bối cảnh BĐKH

1.1.4 Các công trình nghiên cứu về vùng Tứ giác Long Xuyên

Tứ giác Long Xuyên (TGLX) là một vùng lãnh thổ tự nhiên rộng lớn thuộc ĐBSCL, là khu vực đặc biệt quan trọng liên quan đến khoảng 1,6 triệu dân cư đang sinh sống; ĐKTN có nhiều nét độc đáo Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học quan tâm nghiên cứu trực tiếp đến khu vực này hoặc đề cập đến thông qua những nghiên cứu ở phạm vi lớn hơn

Các công trình nghiên cứu tổng hợp đề cập đến vùng TGLX: Cuốn sách “Địa

lý đồng bằng Sông Cửu Long” [87] của Lê Bá Thảo (1986) được xem là một trong

những công trình đầu tiên nghiên cứu về ĐBSCL dưới góc độ địa lý Trong công trình này, tác giả đã dành một thời lượng đáng kể để phân tích đặc điểm tự nhiên vùng TGLX và coi đây là một tiểu vùng trong mối liên hệ với đơn vị địa tổng thể

lớn hơn là ĐBSCL Một công trình đồ sộ “Môi trường tài nguyên đất Việt Nam”

[4] với 1299 trang của Lê Huy Bá (2009) đã dành một chương để đề cập đến đặc trưng môi trường vùng đất ở TGLX, qua đó các ĐKTN và đất phèn đặc trưng của vùng này được phân tích cụ thể Năm 2018, Lê Xuân Thuyên công bố công trình

nghiên cứu về các ĐKTN và môi trường sinh thái Nam Bộ với 9 chuyên đề trình

bày đặc điểm tự nhiên của các bộ phận lãnh thổ, trong đó, TGLX cũng được đề cập như là một khu vực điển hình về ĐKTN và môi trường sinh thái độc đáo của vùng ĐBSCL [94]

Các công trình nghiên cứu trực tiếp về vùng TGLX: chủ yếu là các bài báo

khoa học liên quan đến các hợp phần tự nhiên như: “Chế độ ngập lụt ở TGLX” [177] của Nguyễn Thành Vinh (2010), “Mô hình thủy văn cho quy hoạch và quản lý

tài nguyên nước liên tỉnh: nghiên cứu trường hợp ở TGLX” [141] của P Hanington

& cs (2017), “Hình thái và tính chất lý hóa học đất phèn vùng TGLX” [42] của

nhóm tác giả Trần Văn Hùng & cs (2016) Các nghiên cứu này rất có giá trị về mặt

lý luận và thực tiễn, đây là nguồn tư liệu quan trọng để luận án kế thừa hoặc dùng

để đối chiếu với tư liệu mà tác giả thu thập ngoài thực địa

Các công trình nghiên cứu các địa phương trong vùng: TGLX là vùng nông

nghiệp trọng điểm của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung nên các đề tài nghiên cứu về khu vực này chủ yếu liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và sử dụng đất như:

Trang 29

“Đánh giá các chiến lược thích ứng bền vững cho các vùng đồng bằng dễ bị tổn

thương bằng mô hình sản xuất động: trường hợp sản xuất lúa ở tỉnh An Giang” [130]

của A Chapman & S Darby (2016); “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình canh tác

lúa-tôm sú và lúa-tôm sú-cua biển tại tỉnh Kiên Giang” [58] của Hoàng Văn Long

(2011) “Mối quan hệ của thay đổi rừng ngập mặn ven biển và sử dụng đất liền kề:

đánh giá ở Kiên Giang, Việt Nam” [155] của Nguyễn Hòa Hải (2014), Những công

trình này đều đã khái quát ĐKTN, hiện trạng, tiềm năng phát triển ngành nông nghiệp

và đưa ra định hướng phát triển cho từng khu vực cụ thể Tuy nhiên, việc nghiên cứu còn mang tính chất riêng lẻ cho từng nghành, chưa mang tính tổng hợp

Ngoài ra, còn có các báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội”, “Quy

hoạch phát triến nông nghiệp”, “Quy hoạch sử dụng đất” của các Sở ban ngành, UBND

các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ xây dựng Các công trình này cũng đánh giá tổng hợp ĐKTN và KTXH của các tỉnh - bộ phận của vùng TGLX, từ đó đề ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và quy hoạch không giản sản xuất

Tóm lại, nghiên cứu, ĐGCQ đã được đề cập trong nhiều công trình của các tác

giả trên khắp thế giới, phổ biến nhất là ở các quốc gia như Liên Xô (cũ), Đức và Hoa Kỳ Ở Việt Nam, nghiên cứu về CQ bắt đầu phổ biến từ những năm 1980 trở lại đây, phát triển nhanh và dần được xem là một hướng nghiên cứu chủ đạo của địa

lý học ứng dụng Những công trình NCCQ phát triển theo nhiều hướng khác nhau, không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà đã giải quyết các vấn đề thực tiễn, góp phần vào công cuộc phát triển KTXH của đất nước Việc tổng quan các công trình này giúp hệ thống các tư liệu quan trọng để tác giả kế thừa, xác định hướng tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp cho đề tài, đồng thời phát triển hướng NCCQ ứng dụng vào khu vực nghiên cứu

Hướng nghiên cứu, ĐGCQ cho phát triển các ngành sản xuất và nghiên cứu tác động của BĐKH rất phát triển nhưng hiện nay vẫn rất ít công trình nghiên cứu

có sự kết hợp vừa đánh giá thích nghi cảnh quan vừa xét đến tác động của BĐKH đối với cảnh quan nhằm mục đích phát triển bền vững các ngành sản xuất Đây là khoảng trống khoa học để tác giả định hướng nội dung nghiên cứu của luận án sao cho có thể giải quyết được phần nào vấn đề trên

Ở vùng TGLX, hiện có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của vùng, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu chỉ đề cập đến các hợp phần tự nhiên riêng

Trang 30

lẻ hoặc chú ý đến điều kiện phát triển một lĩnh vực cụ thể mà chưa đề cập đến mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố tự nhiên với nhau, giữa các yếu tố tự nhiên với hoạt động sản xuất trên quan điểm hệ thống nhằm xác định tiềm năng của lãnh thổ Đặc biệt, vẫn còn rất hạn chế các công trình nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN cho phát triển một số lĩnh vực sản xuất nhằm sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý, vừa phát huy hết thế mạnh vừa bảo vệ môi trường Ngoài ra, hướng NCCQ gắn với không gian sản xuất và BĐKH chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu về TGLX Đây cũng là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài luận

án“Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp

vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu”

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.2.1 Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan

1.2.1.1 Quan niệm về cảnh quan

Trong khoa học địa lý, thuật ngữ cảnh quan được sử dụng đầu tiên vào cuối

thế kỷ 19 ở Đức và được phát triển, mở rộng bởi các nhà địa lý Liên Xô (cũ) [32], [38], [44] Hiện nay, cùng tồn tại 3 quan niệm khác nhau về CQ:

 Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị địa tổng thể

Theo quan niệm này, cảnh quan là một khái niệm chung, có thể dùng để chỉ bất kỳ

đơn vị lớn, nhỏ nào trên bề mặt Trái Đất như CQ băng giá, CQ đồi núi, CQ sa mạc, CQ ven biển, CQ rừng rậm hay CQ đầm lầy Đại diện cho quan niệm này là:

S.S Neustruev (1930): “ Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những

hiện tượng tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng thể tổng hợp địa lý ở các cấp phân vị khác nhau, có lịch sử hình thành khác nhau và quá trình phát triển không ngừng” (dẫn theo D.L Armand, 1983 [3])

L.G Ramensky (1938) “Cảnh quan là một hệ thống lãnh thổ khá phức tạp, bao

gồm những thể tổng hợp tự nhiên cơ bản khác nhau, nhưng liên hệ với nhau một cách có quy luật và phát triển như một thể toàn vẹn” (dẫn theo A.G Isachenko, 1985) [44]

 Quan niệm coi cảnh quan như là cá thể địa lý riêng biệt

Theo quan niệm này, cảnh quan được dùng để chỉ một khu vực cụ thể trên bề

mặt Trái Đất, có giới hạn và không gian lãnh thổ rõ ràng Tiêu biểu là các quan niệm của các tác giả:

Trang 31

S.V Kalesnik (1940) “…cảnh quan có những điểm không lặp lại, không

ngừng liên hệ về mọi mặt với lớp vỏ địa lý…”(dẫn theo D.L Armand, 1983) [3]

A.G Isachenko (1969): “Cảnh quan là một lãnh thổ cụ thể, đồng nhất về

phát sinh và lịch sử phát triển, được đặc trưng bởi một nền địa chất, một kiểu khí hậu đồng nhất, một phức hợp thổ nhưỡng, sinh vật quần đồng nhất và có một cấu trúc xác định” [45]

 Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị kiểu loại

Theo quan niệm này, cảnh quan được xem là một địa tổng thể, được lặp lại ở các

không gian khác nhau, trong điều kiện giống nhau về các yếu tố tự nhiên trội Tiêu biểu là:

Quan niệm của L.S Berg (1931): “Cảnh quan thiên nhiên như một miền, trong

đó đặc điểm địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhưỡng hợp nhất với nhau tạo thành một thể toàn vẹn, thống nhất, cân đối và lặp lại một cách điển hình trong phạm vi đới ấy trên Trái Đất” (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45]

Theo A.I Pérelman (1974) "Cảnh quan là sự phối hợp biện chứng như một

tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân bố" [65]

Ở Việt Nam, các quan niệm khác nhau về cảnh quan cùng phát triển song

song, tuy nhiên, quan niệm kiểu loại là phổ biến hơn cả, đã được áp dụng trong rất

nhiều nghiên cứu về CQ Các nghiên cứu thường tiến hành xây dựng hệ thống phân loại CQ cho các lãnh thổ nghiên cứu, từ đó tiến hành đánh giá mức độ thích nghi các đơn vị phân loại CQ cho loại hình sản xuất Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải [31], [33], [38] Trong luận án này, NCS sử dụng kết hợp cả hai quan niệm vừa coi CQ là một

đơn vị kiểu loại trong hệ thống phân loại vừa coi CQ là một đơn vị cá thể trong hệ

thống phân vùng

1.2.1.2 Phân loại và phân vùng cảnh quan

a Phân loại cảnh quan

Phân loại CQ là sắp xếp các đơn vị CQ tương đối đồng nhất về ĐKTN cùng cấp vào một loại mà không xét đến sự phân hóa không gian của CQ, nhằm định hướng cho chúng một mục đích sử dụng giống nhau (dẫn theo [105]) Đây là một trong những khâu quan trọng trong NCCQ nhằm thành lập bản đồ CQ và đánh giá thích nghi cho việc sử dụng chúng Tuy nhiên, khi phân loại CQ cần đảm bảo các

Trang 32

nguyên tắc sao cho số lượng bậc trong hệ thống cần hợp lý, mỗi bậc được phân biệt với nhau bởi một hoặc một số chỉ tiêu nhất định và đảm bảo bất kỳ khoanh vi CQ nào cũng phải nằm trong một bậc cụ thể trong hệ thống phân loại [52]

Một số hệ thống phân loại của tác giả trong và ngoài nước tiêu biểu, thuận lợi cho việc xác lập hệ thống phân loại phù hợp với lãnh thổ nghiên cứu:

- Hệ thống phân loại của các tác giả nước ngoài: Theo đánh giá của A.E

Fedina, ở Liên Xô (cũ) có ba hệ thống phân loại CQ được các nhà địa lý chấp nhận rộng rãi nhất, đó là hệ thống phân loại với 8 bậc của A.G Isachenko (1960), hệ thống phân loại 5 bậc N.A Gvozdetxky (1961) và hệ thống phân loại 12 bậc của V.A Nhikolaev (1966) áp dụng cho CQ đồng bằng [71]

- Hệ thống phân loại CQ của các tác giả Việt Nam: Hiện nay, có rất nhiều hệ

thống phân loại khác nhau được xây dựng nhằm phục vụ mục đích NCCQ của các khu vực cụ thể, tiêu biểu:

+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 7 bậc của Phạm Quang Anh và tập thể tác giả Phòng địa lý tự nhiên tổng hợp, thuộc Viện Khoa học Việt Nam (1983), áp dụng cho thành lập bản đồ CQ Việt Nam tỷ lệ 1:200.000

+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 10 bậc của Nguyễn Thành Long & cs (1993) [59]

+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 7 bậc của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn

Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) Hệ thống này áp dụng để xây dựng bản

đồ CQ Việt Nam tỉ lệ 1: 1.000.000 [31]

Trong các hệ thống phân loại CQ nêu trên, có thể nhận thấy rằng vì các tác giả xây dựng cho các mục đích và phạm vi lãnh thổ khác nhau nên các hệ thống này

không giống nhau về mức độ đa dạng cấp bậc Các bậc trong hệ thống như lớp, phụ

lớp, kiểu, phụ kiểu, loại được nhiều tác giả sử dụng; các bậc như thống, phụ loại, biến chủng được ít tác giả đề cập Tuy nhiên, thứ tự các bậc và dấu hiệu nhận biết cho mỗi

bậc CQ ở các hệ thống phân loại là không đồng nhất với nhau Do đó, khi NCCQ một lãnh thổ cần tìm hiểu bản chất, không thể chỉ dựa theo tên gọi của chúng

Trang 33

Hình 1.1: Sơ đồ các bậc của một số hệ thống phân loại cảnh quan tiêu biểu

(Nguồn: Tổng hợp từ một số hệ thống phân loại CQ trong và ngoài nước)

Để xây dựng hệ thống phân loại và thành lập bản đồ CQ vùng TGLX, nghiên cứu dựa trên các chỉ tiêu và phân cấp các đơn vị theo hai hệ thống phân loại của V.A Nhikolaev (1966) và Phạm Hoàng Hải & cs (1997) có thay đổi và lược bỏ một

số bậc cho phù hợp với điều kiện địa phương

Để phân vùng CQ hiệu quả cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của phân vùng

địa lý tự nhiên, đó là: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc tổng

hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối, nguyên tắc cùng chung lãnh thổ [96]

V.A Nhikolaev

Thống Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Nhóm Kiểu Phụ kiểu Hạng Phụ hạng Loại Phụ loại

Phạm Quang Anh

& cộng sự

Khối Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Nhóm Kiểu

Nguyễn Thành Long

& cộng sự

Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Kiểu Phụ kiểu Hạng Loại Dạng Diện

Phạm Hoàng Hải

& cộng sự

Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Kiểu Phụ kiểu Loại

HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN

Trang 34

Một số hệ thống phân vùng CQ tiêu biểu:

- Hệ thống phân loại nhiều cấp của Vũ Tự Lập (1974): được xây dựng theo

quan điểm các đơn vị CQ là những cá thể, không lặp lại trong không gian Hệ thống phân vùng của tác giả được phân chia thành 16 cấp, thể hiện sự kết hợp nhịp nhàng giữa quy luật địa đới và quy luật phi địa đới để tạo nên các đơn vị phân vùng

- Hệ thống phân vùng CQ của Phạm Hoàng Hải: trên cơ sở phân tích các đặc

điểm đặc trưng của tự nhiên Việt Nam và trên cơ sở bản đồ CQ được xây dựng, Phạm Hoàng Hải đã đề xuất xây dựng hệ thống phân vùng và bản đồ phân vùng CQ

Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 gồm 4 cấp: đới, á đới, miền, vùng Trong đó, cấp “Đới

CQ” là cấp PV bậc cao nhất được phân chia theo các chỉ tiêu nhiệt - ẩm “Vùng CQ” là cấp thấp nhất được phân chia trên cơ sở kết hợp các nhóm loại CQ gần gũi,

tương đồng với nhau theo các đặc trưng chung

Dựa trên các hệ thống phân vùng CQ của các tác giả khác nhau, tác giả nhận thấy rằng các chỉ tiêu phân vùng của Phạm Hoàng Hải phù hợp với đặc trưng tự nhiên vùng TGLX nên đây sẽ là căn cứ để luận án phân vùng CQ cho địa bàn

nghiên cứu

c Bản đồ cảnh quan

Bản đồ CQ lần đầu tiên xuất hiện ở Liên Xô (cũ) trong những năm 1920; tuy nhiên, phải đến những năm 1960, chúng mới trở nên phổ biến và được xuất bản như một phần của đánh giá tổng hợp Theo A.G Isachenko (1985), bản đồ CQ là loại bản

đồ thể hiện sự sắp xếp theo nhóm của các địa tổng thể trong không gian Tùy vào mục đích xây dựng mà mức độ chi tiết của bản đồ được thể hiện khác nhau (đơn vị cơ sở của bản đồ)

Bản đồ CQ là sản phẩm quan trọng của việc nghiên cứu tổng hợp, đồng thời

là nền tảng cho việc đánh giá, định hướng quy hoạch lãnh thổ một cách có cơ sở khoa học [27] Khi xây dựng bản đồ CQ, ngoài hệ thống phân loại thì phải chú ý đến việc thành lập bảng chú giải dạng ma trận Trong bảng chú giải, các cấp của hệ thống phân loại CQ được xếp vào 2 nhóm là: nền tảng nhiệt - ẩm và nền tảng vật chất rắn

- Nền tảng nhiệt - ẩm gồm: hệ CQ, phụ hệ CQ, kiểu CQ được sắp xếp theo hàng ngang thể hiện chế độ hoàn lưu gió mùa

Trang 35

- Nền tảng vật chất rắn gồm: lớp CQ và phụ lớp CQ được xếp theo cột dọc thể hiện đặc điểm cấu trúc hình thái địa hình và tính phân tầng của các ĐKTN

Đối với bản đồ CQ vùng TGLX, loại CQ là cấp nhỏ nhất trong hệ thống phân loại,

đó là kết quả giao thoa giữa hàng (lớp phủ thảm thực vật trong kiểu CQ) và cột (loại đất trong phụ lớp CQ) trong bảng chú giải dạng ma trận của bản đồ CQ vùng TGLX

1.2.1.3 Cấu trúc, chức năng, động lực và đa dạng cảnh quan

a Cấu trúc cảnh quan

Theo S.V Kalesnik (1978) cấu trúc CQ “là tính tổ chức của các bộ phận cấu

thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian”, bao gồm: cấu

trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc thời gian

- Cấu trúc đứng của CQ thể hiện mối quan hệ qua lại của các thành phần tạo

nên sự phân bố theo tầng của CQ Các bộ phận tạo đó bao gồm nền địa chất, cấu trúc địa hình, đặc điểm khí hậu, mạng lưới và chế độ thuỷ văn, tính chất thổ nhưỡng

và đặc trưng lớp phủ sinh vật; chúng tác động, chi phối lẫn nhau; tác động đến các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người nhưng đồng thời chịu ảnh hưởng chi phối bởi các hoạt động của con người (hình 1.2)

- Cấu trúc ngang của CQ là sự tác động tổng hợp của các quy luật tự nhiên

theo không gian tạo nên bức tranh thiên nhiên đặc thù cho một lãnh thổ Cấu trúc ngang của CQ thể hiện qua các đơn vị đồng cấp trong hệ thống phân loại và phân vùng của CQ Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc ngang của CQ chính là nghiên cứu đặc điểm, mối quan hệ qua lại của các đơn vị (khu vực) CQ đồng cấp trong hệ thống phân vùng và phân loại CQ (hình 1.2)

- Cấu trúc thời gian là sự biến động đặc điểm của CQ theo thời gian, được

biểu hiện ra ở động lực, nhịp điệu CQ

Hình 1.2: Cấu trúc đứng (trái) và cấu trúc ngang (phải) của cảnh quan (Dựa trên mô hình đơn hệ thống và đa hệ thống của V.X Preobrajenxki) [84]

Mối liên hệ giữa các thành phần

Trang 36

Để nghiên cứu định lượng cấu trúc CQ, luận án sử dụng các chỉ số hình thái

CQ theo K McGarial & B.J Marks (1994), bao gồm: diện tích CQ (SA - cho biết tổng diện tích của toàn CQ), số khoanh vi (NL - thể hiện mức độ phân chia CQ thành các khoanh vi khác nhau), kích cỡ trung bình của khoanh vi hoặc CQ (MSA- cho biết diện tích trung bình của một khoanh vi, giá trị MSA càng thấp chứng tỏ CQ

bị phân chia thành nhiều khoanh vi), mật độ đường biên (PD - cho biết chiều dài cạnh của CQ trên mỗi đơn vị diện tích CQ), chỉ số chia cắt (K- cho biết độ phân mảnh hay hệ số chia cắt của CQ) [37], [151] Phương pháp tính toán các chỉ số trên

được trình bày trong mục 1.3.2.3

b Chức năng của cảnh quan

Theo A.G Isachenko chức năng của CQ“là tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan” [45], [46] Vì vậy, phân tích chức năng CQ là

một quy trình đánh giá các hoạt động sinh địa hóa của CQ của địa bàn nghiên cứu [173] Theo R.D Groot (2006), CQ được phân chia làm 3 nhóm chức năng chính:

chức năng tự nhiên (chức năng sinh thái), chức năng kinh tế (chức năng sản xuất), chức năng xã hội [132]

Theo Phạm Hoàng Hải (2004), việc xác định chức năng của CQ phải dựa trên các tiêu chí tự nhiên để có thể đảm nhiệm mục đích sử dụng của CQ Ví dụ: Đối với chức năng sản xuất nông nghiệp (chức năng bộ phận của nhóm chức năng kinh tế), các tiêu chí đảm bảo cho phát triển nông nghiệp bao gồm: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật hiện tại và các điều kiện nhân tác [27]

Trong phạm vi luận án này, nghiên cứu tập trung phân tích chức năng kinh tế của CQ nghĩa là xác định những nhiệm vụ chủ yếu mà CQ sẽ đảm nhận trên địa bàn

nghiên cứu như: chức năng sản xuất nông nghiệp, chức năng phát triển lâm nghiệp,

chức năng NTTS và chức năng phát triển các loại hình nông nghiệp kết hợp

c Động lực cảnh quan

CQ luôn chịu sự tác động trong suốt quá trình hình thành, phát triển Động lực phát triển CQ phụ thuộc vào sự biến đổi của tự nhiên và hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Về mặt tự nhiên, nhịp điệu và xu thế biến đổi của CQ phụ thuộc

sự luân phiên tác động của chế độ mùa vào lãnh thổ, tác động này làm biến đổi CQ qua sự gia tăng các quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong nó, cả những tác động kìm hãm hay thúc đẩy các quá trình tự nhiên Tuy nhiên, yếu tố

Trang 37

động lực có tính chất quyết định nhất đến biến đổi CQ là các hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Tác động của con người nếu theo hướng tích cực sẽ giúp khai thác hiệu quả tài nguyên mà vẫn đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường tự nhiên; nếu là những tác động tiêu cực làm biến đổi, suy thoái CQ theo chiều hướng xấu Vì vậy, nghiên cứu động lực CQ trong luận án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nhịp điệu và xu thế biến đổi CQ của địa bàn nghiên cứu

d Phong phú và đa dạng cảnh quan

Theo А.I Bacca & V.О Mokiev (1997), quan niệm về phong phú, đa dạng CQ được

hiểu là “sự biểu hiện vô số những thông tin của một cá thể hay một nhóm trên những

khoanh vi địa hình, mà sự biểu hiện bên ngoài của nó là sự tác động giữa tự nhiên với con người và sự tác động của chính các thành phần tự nhiên đó”(dẫn theo [37])

Theo Phạm Hoàng Hải (2006), nghiên cứu mức độ phong phú, đa dạng CQ là

xác định những đặc trưng đa dạng về cấu trúc, chức năng và phân hóa không gian của CQ [30] Thông qua đó, việc nghiên cứu đa dạng CQ sẽ giúp chúng ta có cái

nhìn toàn diện về các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần tự nhiên, đồng thời phát hiện được đặc trưng riêng của mỗi đơn vị lãnh thổ, các tiềm năng tự nhiên của từng đơn vị CQ phù hợp với từng mục đích khai thác sử dụng khác nhau

Mức độ phong phú, đa dạng của CQ trong luận án được định lượng bằng các chỉ số: mật độ khoanh vi (LD) theo G Eiden & cs (2000) [134], độ phong phú (Dp)

và chỉ số đa dạng CQ (Dmn) được trình bày bởi Y.G Puzachenko (2002) [37], [159]

1.2.1.4 Đánh giá cảnh quan

a Bản chất của đánh giá cảnh quan

Theo Nguyễn Cao Huần (2005), bản chất của ĐGCQ là “đánh giá tổng hợp

các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó ” [38] hay nói khác đi là “xác định mức độ phù hợp của cảnh quan cho các đối tượng sử dụng cụ thể” (dẫn theo

[105]) Đối tượng của ĐGCQ không phải là các địa tổng thể hoặc các thành phần

riêng biệt mà là sự tác động qua lại giữa các hệ thống tự nhiên với hệ thống KTXH

Vì vậy, khi tiến hành đánh giá tổng hợp một lãnh thổ phải có sự hiểu biết về các quy

luật tự nhiên, mối liên quan giữa hệ thống tự nhiên và xã hội [38], [31]

Bất kỳ nghiên cứu địa lý ứng dụng nào đối với một lãnh thổ cụ thể cũng phải

có 3 giai đoạn: nghiên cứu cơ bản, đánh giá và kiến nghị, trong đó đánh giá là khâu

kết nối giữa hai giai đoạn đầu và giai đoạn cuối ĐGCQ có vị trí và vai trò rất quan

Trang 38

trọng giúp các nhà quản lý trong việc quy hoạch lãnh thổ để phát triển KTXH bền vững dựa trên nguyên tắc sử dụng tối ưu các đặc điểm STCQ và thiết lập các quan

hệ hài hoà giữa con người và môi trường cho các đơn vị lãnh thổ cụ thể Vì vậy, có

thể xem ĐGCQ “là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng

hợp lý tài nguyên và BVMT” [38]

b Quy trình và nội dung đánh giá cảnh quan

Theo Phạm Hoàng Hải (2004), Nguyễn Cao Huần (2005), quy trình đánh giá được tiến hành theo các bước sau:

 Xác định mục tiêu, đối tượng và đơn vị đánh giá: Mục tiêu đánh giá phải rõ

ràng, đây là căn cứ xác định đối tượng và lựa chọn đơn vị đánh giá thích hợp

 Thống kê đặc điểm tự nhiên của đối tượng đánh giá: Để thống kê đặc điểm đối

tượng cần phải phân tích so sánh các yêu cầu sinh thái, yêu cầu kỹ thuật của các đối tượng đánh giá của lãnh thổ với đặc điểm các yếu tố tự nhiên, đặc điểm của các địa tổng thể

 Lựa chọn và xác định trọng số chỉ tiêu đánh giá

- Lựa chọn chỉ tiêu: là khâu quan trọng trong quy trình đánh giá, nó phụ thuộc

vào đối tượng, mục đích đánh giá và ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả đánh giá Tuy nhiên, khi lựa chọn các chỉ tiêu phải đảm bảo rằng chỉ tiêu đó có sự phân hóa theo không gian lãnh thổ nghiên cứu và số lượng chỉ tiêu phù hợp với đối tượng đánh giá Ngoài ra, trong quá trình lựa chọn chỉ tiêu đánh giá cần xác định nhân tố giới hạn để loại bỏ, nghĩa là các nhân tố tạo nên điều kiện hoàn toàn bất lợi cho khai thác và sử dụng lãnh thổ thì không đưa vào đánh giá

- Xác định trọng số của chỉ tiêu: Trên thực tế, các chỉ tiêu lựa chọn thường có tính chất, mức độ và giá trị không đồng đều Vì thế để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả đánh giá cần xác định thêm hệ số (trọng số) cho các chỉ tiêu Trọng số có thể xác định bằng nhiều cách: theo ý kiến chuyên gia, phân tích hệ số hồi quy tuyến tính, phân tích chỉ số kinh tế, Trong đề tài này, trọng số của các chỉ tiêu được xác định bằng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) của T.L Saaty [163]

 Xây dựng thang điểm đánh giá: Để phân bậc thang điểm đánh giá của mỗi

chỉ tiêu phải dựa vào các ngưỡng sinh thái, kỹ thuật của các đối tượng lựa chọn, mỗi chỉ tiêu phân chia làm các bậc đánh giá và gán điểm số tương ứng Trong luận

án này, các bậc được xác định cho các cây trồng và loại hình sản xuất nông nghiệp

là: rất thích nghi, thích nghi trung bình, ít thích nghi và không thích nghi với điểm

số tương ứng là 3, 2, 1, 0

Trang 39

 Đánh giá riêng cho từng địa tổng thể: Đánh giá riêng dựa trên cơ sở so sánh

đặc điểm của từng địa tổng thể với thang điểm đánh giá đã xây dựng ở giai đoạn trên Điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu là số điểm của các bậc đánh giá nhân với trọng số của chỉ tiêu đó

 Đánh giá tổng hợp và phân cấp thích nghi

Điểm đánh giá tổng hợp được xác định bằng trung bình cộng hoặc nhân của các điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu Trong thực hiện đề tài, NCS lấy điểm trung bình cộng để đánh giá kết quả Điểm trung bình cộng được xác định theo công thức được theo Nguyễn Cao Huần [38]

𝑋 = 1

Trong đó: X: Điểm trung bình cộng đánh giá


wi: Trọng số của chỉ tiêu thứ i
 xi: Điểm đánh giá của chỉ tiêu thứ i i: Chỉ tiêu đánh giá, i = 1,2,3 n

Căn cứ vào điểm trung bình cộng để phân cấp các mức độ đánh giá từ không thích nghi đến rất thích nghi, được xác định bởi công thức:

 Phân tích các kết quả đánh giá: là bước cuối cùng trong ĐGCQ đối với tất cả

các chủ thể với mục đích lựa chọn được loại hình phù hợp nhất cho từng đơn vị CQ, đưa

ra những kiến nghị sử dụng hợp lý CQ và thành lập bản đồ định hướng sử dụng hợp

lý lãnh thổ nghiên cứu

1.2.2 Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp

1.2.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp

Khái niệm về Tổ chức lãnh thổ (Territorial organization) hay Tổ chức không

gian (Spatial organization) được đề cập đầu tiên trong cơ sở lý thuyết kinh tế của S

Adam và R David trong thế kế kỷ 19, sau đó được ứng dụng vào thực tiễn từ những

Trang 40

năm 1950 tại các nước châu Âu và ở Liên Xô (cũ) vào đầu những năm 1960 Từ đó đến nay, khái niệm này được nhiều nhà khoa học sử dụng trong nghiên cứu [122]

Ở Tây Âu, thuật ngữ Tổ chức không gian kinh tế xã hội được sử dụng phổ biến

bởi các nhà địa lý, họ xem đó là việc lựa chọn các phương án sử dụng lãnh thổ một

cách đúng đắn và có hiệu quả Theo Morrille (1970), “Tổ chức không gian là khái

niệm của loài người về sử dụng có hiệu quả không gian trên Trái Đất” Còn các tác

giả như R Tissen và F.L Deprez (2008) thì cho rằng tổ chức không gian liên quan

đến việc thiết kế và quản lý “sắp xếp không gian”, được xem như là một phần của

định hình và tổ chức cảnh quan Điểm chung của các nghiên cứu đều khẳng định việc thiết kế, tổ chức không gian là công cụ để sử dụng hiệu quả lãnh thổ (dẫn theo [63])

Ở Liên Xô (cũ), thuật ngữ TCLT sản xuất được thể hiện trong các nghiên cứu

của A.E Probxt và M.G Skolnicov vào giữa thập kỉ 60 của thế kỉ XX, theo đó TCLT

sản xuất là sự kết hợp cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng TNTN), được liên kết lại bởi cơ cấu quản lí với mục đích tái sản xuất cuộc sống xã hội, trên cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái KTXH nhất định

(dẫn theo [92])

Ở Việt Nam, Lê Bá Thảo quan niệm “TCLT là một hành động của địa lý học có

ý nhằm hướng tới một sự công bằng về mặt không gian” [86] Lê Thông, Nguyễn

Minh Tuệ, Đặng Văn Phan khi nghiên cứu về KTXH Việt Nam đã định nghĩa “TCLT

sản xuất là toàn bộ quá trình hay hành động của con người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng [66, 92, 103] Trong khi đó,

Phạm Hoàng Hải & cs thì nhìn nhận TCLT dưới góc độ CQ học, ông cho rằng

“TCLT là một phương pháp tiếp cận tổng hợp, xem xét, nghiên cứu để bố trí lại các

ngành sản xuất, kinh tế, xây dựng những định hướng phát triển một cách toàn diện cho từng vùng, từng miền lãnh thổ sao cho phù hợp với tiềm năng tự nhiên, đồng thời

dự báo xu thế phát triển trong một tương lai lâu dài và theo từng giai đoạn cụ thể, đảm bảo sự hài hoà trong phạm vi cả nước nói chung” [31] Theo Nguyễn Cao Huần,

để tổ chức không gian sản xuất của một lãnh thổ cần dựa trên cơ sở lý luận khoa học

về TCLT, CQ học ứng dụng và thực tiễn của hiện trạng nguồn lực tự nhiên, nhân văn

và định hưống phát triển kinh tế của lãnh thổ đó [39] Ngoài ra, ở nước ta khái niệm

“Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng” rất gần với khái niệm “Tổ chức không

Ngày đăng: 15/06/2021, 08:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, Uông Đình Khanh, cộng sự (2012), Bản đồ địa mạo Việt Nam, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ địa mạo Việt Nam
Tác giả: Lê Đức An, Uông Đình Khanh, cộng sự
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2012
2. Phạm Quang Anh (1996), "Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam", Luận án Phó tiến sĩ Địa lý - Địa chất. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Anh
Năm: 1996
3. DL Armand (1983), Khoa học về cảnh quan (Người dịch: Nguyễn Ngọc Sinh và Nguyễn Xuân Mậu), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học về cảnh quan (Người dịch: Nguyễn Ngọc Sinh và Nguyễn Xuân Mậu)
Tác giả: DL Armand
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1983
5. Trần Quang Bảo, Phạm Văn Duẩn (2011), "Đặc điểm sinh trưởng và tăng trưởng của rừng tràm phục hồi sau cháy ở vườn quốc gia U Minh Thượng", Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. Số 24, tr. 91-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh trưởng và tăng trưởng của rừng tràm phục hồi sau cháy ở vườn quốc gia U Minh Thượng
Tác giả: Trần Quang Bảo, Phạm Văn Duẩn
Năm: 2011
6. Nguyễn Thị Song Bình, Ngô Thị Thanh Hằng (2013), "Hiệu quả kinh tế xã hội các mô hình canh tác triển vọng trên vùng đất phèn tại xã vĩnh thắng, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang", Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ. Số 26, tr. 149-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế xã hội các mô hình canh tác triển vọng trên vùng đất phèn tại xã vĩnh thắng, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Song Bình, Ngô Thị Thanh Hằng
Năm: 2013
7. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2008), Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2008
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2016
11. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ Chương trình môi trường Quốc gia ứng phó với BĐKH, Mã số đề tài: BĐKH05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở khoa học xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2013
12. Chi hội Sinh thái Cảnh quan Việt Nam (1992), "Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận", Tuyển tập các báo cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp luận
Tác giả: Chi hội Sinh thái Cảnh quan Việt Nam
Năm: 1992
13. Nguyễn Văn Công (2017), Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam: Ngành Thủy Sản, Ngân hàng Thế giới (World Bank) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về Ô nhiễm Nông nghiệp ở Việt Nam: Ngành Thủy Sản
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Năm: 2017
14. Cục Thống kê tỉnh An Giang (2000 - 2018), Niên giám thống kê tỉnh An Giang các năm 2000, 2005, 2010, 2015, 2018, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh An Giang các năm 2000, 2005, 2010, 2015, 2018
Nhà XB: NXB Thống kê
15. Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang (2000 - 2018), Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang các năm 2000, 2005, 2010, 2015, 2018, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang các năm 2000, 2005, 2010, 2015, 2018
Nhà XB: NXB Thanh Niên
16. Đường Hồng Dật (2003), Cây dứa và kĩ thuật trồng dứa, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây dứa và kĩ thuật trồng dứa
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2003
18. Lê Xuân Diệm (2008), Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long, (Tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học), VHOE&VQPN (năm 2004), NXB Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình hình thành châu thổ sông Cửu Long, (Tiếp cận từ địa sử học và thư tịch học)
Tác giả: Lê Xuân Diệm
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2008
19. Trần Thế Định (2016), "Đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại các khu vực nuôi trồng thủy sản tỉnh An Giang", Kỷ yếu Hội nghị khoa học Địa lý toàn quốc lần thứ 9, tr. 770-779 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại các khu vực nuôi trồng thủy sản tỉnh An Giang
Tác giả: Trần Thế Định
Năm: 2016
20. Trần Thế Định (2016), "Đánh giá tác động của sản xuất nông nghiệp đến suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đất tỉnh An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu", Kỷ yếu Hội thảo "Khoa học Địa lý trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo và Phát triển kinh tế - xã hội đất nước", tr. 129-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của sản xuất nông nghiệp đến suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường đất tỉnh An Giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu", Kỷ yếu Hội thảo "Khoa học Địa lý trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo và Phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Tác giả: Trần Thế Định
Năm: 2016
21. Trần Thế Định (2017), "Xâm nhập mặn ở vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất một số giải pháp khắc phục", Hội thảo khoa học“Những thách thức cho sự phát triển bền vững Đồng bằng Sông Cửu Long”. NXB.Đại học Quốc gia TP. HCM, tr. 293-308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xâm nhập mặn ở vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất một số giải pháp khắc phục", Hội thảo khoa học “Những thách thức cho sự phát triển bền vững Đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Trần Thế Định
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia TP. HCM
Năm: 2017
22. Trần Thế Định, Phạm Hoàng Hải, Đỗ Văn Thanh, Nguyễn Thị Nhàn (2020), "Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên", Tạp chí nghiên cứu Địa lý nhân văn. Số 1(28), tr. 26-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm các nhân tố thành tạo cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên
Tác giả: Trần Thế Định, Phạm Hoàng Hải, Đỗ Văn Thanh, Nguyễn Thị Nhàn
Năm: 2020

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w