ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Đã xây dựng được hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan cho vùng Tứ giác Long Xuyên; thành lập được bản đồ cảnh quan và làm rõ đặc điểm cảnh quan cho khu vực ng
Trang 1TRẦN THẾ ĐỊNH
ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2TRẦN THẾ ĐỊNH
ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: Địa lý tự nhiên
Mã số: 9.44.02.17
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TSKH PHẠM HOÀNG HẢI
2 TS ĐỖ VĂN THANH
HÀ NỘI, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này là trung thực, khách quan và được trích dẫn đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Thế Định
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án “Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất
nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu” là kết quả
của quá trình học tập và nghiên cứu nghiêm túc của NCS tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, NCS đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, thường xuyên động viên, khích lệ của GS TSKH Phạm Hoàng Hải và TS Đỗ Văn Thanh - những người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền dạy kiến thức và kĩ năng nghiên cứu khoa học giúp NCS trưởng thành hơn trong khoa học và hoàn thành luận án này Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Quý Thầy!
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả cũng nhận được sự đóng góp quý báu của Quý Thầy, Cô, Nhà khoa học trong và ngoài cơ sở đào tạo
Sự giúp đỡ của Quý vị về nguồn tài liệu tham khảo cùng những nhận xét, góp ý chuyên môn đã giúp tác giả có tư liệu để hoàn thành luận án, đồng thời mở rộng vốn kiến thức và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học Tác giả xin chân thành cảm
ơn Quý Thầy, Cô và Nhà khoa học!
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các cán bộ, nhân viên trong Khoa Địa lý, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã hỗ trợ tác giả trong quá trình thực hiện luận án
Tác giả xin cảm ơn tới các đồng nghiệp trong Bộ môn Địa lý, lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo, nhân viên các đơn vị Phòng ban, Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành khoá học
Cuối cùng, xin cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Trần Thế Định
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục ii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ảnh ix
Danh mục bản đồ x
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
4 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 4
5 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI 4
6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA ĐỀ TÀI 5
8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 6
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ sản xuất 12
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 14
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về vùng Tứ giác Long Xuyên 16
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.2.1 Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 18
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 27
1.2.3 Tác động của biến đổi khí hậu 31
Trang 61.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 34
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 34
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
1.4 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 41
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÙNG TỪ GIÁC LONG XUYÊN 43
2.1 KHÁI QUÁT VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 43
2.1.1 Nguồn gốc địa danh vùng Tứ giác Long Xuyên 43
2.1.2 Cơ sở xác định vị trí, phạm vi vùng nghiên cứu 43
2.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 45
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển tự nhiên lãnh thổ 45
2.2.2 Địa chất 47
2.2.3 Địa hình 49
2.2.4 Khí hậu 52
2.2.5 Thủy văn 55
2.2.6 Thổ nhưỡng 59
2.2.7 Thảm thực vật 65
2.2.8 Hoạt động nhân sinh 67
2.3 ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 70
2.3.1 Hệ thống phân loại và bản đồ cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 70
2.3.2 Phân vùng cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 79
2.3.3 Đặc điểm cấu trúc và sự đa dạng cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 87 2.3.4 Đặc điểm chức năng, động lực cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 100
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 101
3.1 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI CẢNH QUAN 101
3.1.1 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho sản xuất nông nghiệp 102
3.1.2 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển lâm nghiệp 111
3.1.3 Đánh giá thích nghi cảnh quan cho phát triển thủy sản 115
Trang 73.2 TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 121
3.2.1 Bối cảnh biến đổi khí hậu ở vùng Tứ giác Long Xuyên 121
3.2.2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở vùng Tứ giác Long Xuyên 129
3.2.3 Tác động biến đổi khí hậu đến cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên 130
3.3 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG, QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP CỦA VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 132
3.3.1 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 132
3.3.2 Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 133
3.3.3 So sánh kết quả đánh giá thích nghi với hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên 134
3.4 ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN 136
3.4.1 Mục tiêu và cơ sở của của định hướng 136
3.4.2 Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp theo loại cảnh quan 137
3.4.3 Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp theo tiểu vùng 142
3.4.4 Định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh 144
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 147
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148
1 KẾT LUẬN 148
2 KIẾN NGHỊ 150
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
DTĐG : Diện tích đánh giá DTTN : Diện tích tự nhiên ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long ĐGCQ : Đánh giá cảnh quan
ĐKTN : Điều kiện tự nhiên ĐVHC : Đơn vị hành chính GDP : Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa GIS :Geographic Information System
Hệ thống thông tin địa lý KTXH : Kinh tế - xã hội
NCCQ : Nghiên cứu cảnh quan
NTTS : Nuôi trồng thủy sản STCQ : Sinh thái cảnh quan TCLT : Tồ chức lãnh thổ TNTN : Tài nguyên thiên nhiên TGLX : Tứ giác Long Xuyên TVCQ : Tiểu vùng cảnh quan
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh cặp mức độ quan trọng các chỉ tiêu 38
Bảng 1.2 Trọng số thành phần và trọng số bình quân của các chỉ tiêu 38
Bảng 1.3: Chỉ số ngẫu nhiên ứng với số chỉ tiêu được lựa chọn 39
Bảng 2.1: Thống kê các kiểu địa hình ở vùng TGLX theo nguồn gốc hình thành 49
Bảng 2.2: Các giá trị bức xạ, số giờ nắng ở vùng TGLX 53
Bảng 2.3: Tốc độ gió ở vùng TGLX 54
Bảng 2.4: Số lượng và chiều dài kênh rạch ở vùng ĐBSCL và TGLX 56
Bảng 2.5: Lưu lượng nước ở các kênh, rạch nội đồng vùng TGLX 58
Bảng 2.6: Diện tích và phân bố các loại đất ở vùng TGLX 60
Bảng 2.7: Hiện trạng sử dụng đất ở vùng TGLX năm 2018 69
Bảng 2.8: Đóng góp của ngành nông nghiệp trong GDP của vùng TGLX 69
Bảng 2.9: Hệ thống phân loại cảnh vùng TGLX 71
Bảng 2.10: Tổng hợp các đơn vị CQ vùng TGLX 78
Bảng 2.11: Thống kê các loại cảnh quan theo nhóm ở vùng TGLX 79
Bảng 2.12: Hệ thống phân vùng CQ ở vùng TGLX cho bản đồ tỉ lệ 1:100.000 80
Bảng 2.13: Các chỉ số mô tả hình thái theo lớp, phụ lớp cảnh quan 88
Bảng 2.14: Các chỉ số mô tả hình thái theo nhóm loại cảnh quan 89
Bảng 2.15: Chỉ số phong phú, đa dạng cảnh quan theo cấu trúc 90
Bảng 2.16: Chỉ số phong phú, đa dạng cảnh quan theo chức năng 91
Bảng 2.17: Chỉ số phong phú, đa dạng của cảnh quan theo tiểu vùng 92
Bảng 2.18: Lượng mưa các tháng mùa mưa ở vùng TGLX 95
Bảng 2.19: Công thức tính và phân cấp chế độ nhiệt ẩm 96
Bảng 3 1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá thích nghi đối với cây lúa và khóm 105
Bảng 3.2 So sánh cặp mức độ quan trọng các chỉ tiêu đối với lúa và khóm 106
Bảng 3.3 Trọng số các chỉ tiêu thành phần và trọng số trung bình 106
Bảng 3.4: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá cho cây lúa và khóm 107
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa 108
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa theo TVCQ 109
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm 110
Bảng 3.8: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm theo TVCQ 111
Trang 10Bảng 3.9: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá thích nghi đối với rừng ngập nước 113Bảng 3.10: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá cho rừng ngập nước 113Bảng 3.11: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước 114Bảng 3.12: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước theo TVCQ 115Bảng 3.13: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá đối với NTTS nước lợ và NTTS ngọt 117Bảng 3.14: Trọng số các chỉ tiêu đánh giá đối với NTTS nước lợ và NTTS ngọt 117Bảng 3.15: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước lợ 118Bảng 3.16: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước lợ theo TVCQ 119Bảng 3.17: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước ngọt 120Bảng 3.18: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho NTTS nước ngọt theo TVCQ 121Bảng 3.19: Thống kê nhiệt độ ở trạm Châu Đốc và Rạch Giá, thời kỳ 1979 - 2018 122Bảng 3.20: Chuẩn sai nhiệt độ các thời kỳ so với thời kỳ cơ sở 123Bảng 3.21: Số liệu thống kê lượng mưa ở trạm Châu Đốc, thời kỳ 1979 - 2018 123Bảng 3.22: Chuẩn sai lượng mưa các thời kỳ so với thời kỳ cơ sở 124Bảng 3.23: Ngưỡng chỉ số SPI và mức độ hạn giai đoạn 1979 - 2018 127Bảng 3.24: Các khu vực ở TGLX chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn 4‰ 128Bảng 3.25: Phạm vi ngập các địa phương vùng TGLX theo kịch bản nước biển dâng 131Bảng 3.26: Thống kê cảnh quan ở TGLX bị tác động ứng với các mức nước biển dâng 132Bảng 3.27: So sánh kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan với hiện trạng, quy hoạch 136Bảng 3.28: Không gian ưu tiên phát triển nông nghiệp theo loại cảnh quan 141Bảng 3.29: Định hướng không gian phát triển nông nghiệp theo TVCQ 142Bảng 3.30: Định hướng phát triển vùng chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa theo ĐVHC 145Bảng 3.31: Định hướng phát triển vùng chuyên canh khóm theo ĐVHC 145Bảng 3.32: Định hướng phát triển vùng NTTS nước ngọt theo ĐVHC 146Bảng 3.33: Định hướng phát triển vùng NTTS nước lợ theo ĐVHC 146
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sơ đồ các bậc của một số hệ thống phân loại cảnh quan tiêu biểu 21
Hình 1.2: Cấu trúc đứng (trái) và cấu trúc ngang (phải) của cảnh quan 23
Hình 1.3: Sơ đồ định hướng tổ chức không gian sản xuất nông nghiệp vùng TGLX 30
Hình 1.4 Tuyến khảo sát thực tế 35
Hình 1.5: Thang điểm xác định mức độ quan trọng của các chỉ tiêu 38
Hình 1.6: Sơ đồ các bước nghiên cứu luận án 41
Hình 2.1: Phân vùng ở ĐBSCL 44
Hình 2.2: Quá trình phát triển tự nhiên của ĐBSCL và vùng TGLX 47
Hình 2.3: Chế độ nhiệt độ ở vùng TGLX 53
Hình 2.4: Chế độ mưa, ẩm, bốc hơi ở vùng TGLX 55
Hình 2.5: Lưu lượng nước ở trạm Tân Châu và Châu Đốc 57
Hình 2.6: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL1 75
Hình 2.7: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL2 75
Hình 2.8: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở PL3 76
Hình 2.9: Diện tích và số khoanh vi của CQ ở PL4 77
Hình 2.10: Diện tích và số khoanh vi CQ ở PL5 78
Hình 2.11: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 1 82
Hình 2.12: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 2 83
Hình 2.13: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 3 84
Hình 2.14: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 4 85
Hình 2.15: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 5 86
Hình 2.16: Diện tích và số lượng khoanh vi của CQ ở TVCQ 6 87
Hình 2.17: Sự thay đổi tương quan nhiệt ẩm theo mùa ở các trạm thuộc vùng TGLX 96
Hình 2.18: Tương quan lượng mưa và lưu lượng nước sông trạm Châu Đốc 97
Hình 3.1: Xu thế nhiệt độ trung bình năm ở vùng TGLX, giai đoạn 1979 - 2018 122 Hình 3.2: Xu thế lượng mưa năm ở trạm Châu Đốc, giai đoạn 1979 - 2018 124
Hình 3.3: Xu thế biến đổi mực nước trạm Rạch Giá giai đoạn 1982 - 2011 125
Hình 3.4: Xu thế biến đổi mực nước lũ tại 2 trạm thủy văn vùng TGLX 126
Hình 3.5: Chỉ số SPI tại 2 trạm Châu Đốc và Rạch Giá, giai đoạn 1979 - 2018 127
Hình 3.6 Định hướng phát triển ngành nông nghiệp theo TVCQ 143
Trang 12BĐ 2.9 Bản đồ phân vùng cảnh quan 81b
BĐ 3.1 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây lúa 108b
BĐ 3.2 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho cây khóm 110b
BĐ 3.3 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho rừng ngập nước 114b
BĐ 3.4 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho nuôi trồng thủy sản nước lợ 118b
BĐ 3.5 Bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan cho nuôi trồng thủy sản nước ngọt 121b
BĐ 3.6 Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp 137b
BĐ 3.7 Bản đồ định hướng không gian phát triển vùng chuyên canh nông nghiệp 147b
Trang 13MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được xem là những nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế và định hướng không gian sản xuất trên lãnh thổ, nhất là đối với những hoạt động kinh tế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên như sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong sản xuất nông nghiệp, mối
quan hệ qua lại giữa hệ thống "tự nhiên" và "kinh tế - xã hội" đã và đang bị biến đổi
nghiêm trọng [31] Nhiều loại tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, sinh vật đang bị khai thác triệt để phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của con người Sự tác động này có thể vượt quá khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của tự nhiên dẫn đến hậu quả là làm thay đổi điều kiện tự nhiên và suy thoái môi trường của lãnh thổ Song song đó, các yếu tố tự nhiên cũng luôn trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng gây ra những tác động khó lường cho các hoạt động sản xuất của con người nếu như không có giải pháp chủ động thích ứng Vì vậy, để giải quyết hài hòa mối quan hệ này, cần có sự đánh giá tổng hợp các nguồn lực cho phát
triển kinh tế theo hướng "thuận thiên" nhằm tìm ra các giải pháp khai thác, sử dụng
hợp lý lãnh thổ vừa phù hợp với tự nhiên, vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao vừa giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội và môi trường [22]
Ngày nay, biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, phá vỡ cấu trúc của nhiều cảnh quan tự nhiên và tác động đến tất cả các ngành kinh tế, trong đó nông nghiệp là ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ nhất [174] Đánh giá của Ngân hàng Thế giới cho biết, ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,70C, nước biển đã dâng lên 20cm trong khoảng 50 năm qua [179] Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc cũng cảnh báo rằng, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 12,2% diện tích đất của Việt Nam bị chìm ngập, 23% số dân mất nơi cư trú, 27% cảnh quan tự nhiên bị tác động nghiêm trọng, gần 50% đất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập chìm không còn khả năng canh tác [111] Chính vì vậy, việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất cần đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quát để đưa ra các giải pháp định hướng
tổ chức không gian sản xuất hợp lý cho lãnh thổ
Trang 14Vùng Tứ giác Long Xuyên nằm ở khu vực Tây Nam Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, có vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế -
xã hội của cả nước [108] Về mặt tự nhiên, Tứ giác Long Xuyên có địa hình tương đối đa dạng, bên cạnh khu vực đồng bằng trũng thấp rộng lớn còn có các khu vực địa hình bờ biển, bãi bồi và một số đồi núi sót; khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm điển hình; mạng lưới sông ngòi dày đặc, nguồn nước phong phú rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp [22] Tuy nhiên, vùng đang phải đối mặt với nhiều thách thức như sự thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, ngập lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, đất đai suy thoái,… [20], [21] Điều này cho thấy cảnh quan tự nhiên của vùng Tứ giác Long Xuyên có những nét đặc trưng riêng nhưng cũng rất dễ bị phá vỡ nếu không được con người khai thác hợp lý Do đó, để đảm bảo phát triển bền vững, cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện về
tự nhiên (nghiên cứu, đánh giá cảnh quan) nhằm khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ là vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
Với những lí do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Đánh giá cảnh quan
phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu” cho luận án Tiến sĩ của mình, với hi vọng
sẽ đóng góp phần nhỏ vào sự phát triển hướng nghiên cứu cảnh quan ứng dụng nói chung và nghiên cứu đánh giá cảnh quan ở vùng Tứ giác Long Xuyên nói riêng
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Để đạt được những mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những vấn đề lý luận về cảnh quan, đánh giá cảnh quan, tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu
- Xây dựng hệ thống phân loại, phân vùng cảnh quan, xác định đặc điểm và quy luật phân hóa của cảnh quan khu vực nghiên cứu
- Đánh giá thích nghi cảnh quan nhằm xem xét mức độ phù hợp của tự nhiên
Trang 15vùng Tứ giác Long Xuyên đối với một số loại hình sản xuất nông nghiệp
- Phân tích bối cảnh biến đổi khí hậu và xem xét ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên
- Định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp của vùng nghiên cứu
- Thành lập bản đồ cảnh quan, bản đồ đánh giá thích nghi cảnh quan, bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp cho vùng nghiên cứu
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Phạm vi không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian lãnh thổ vùng Tứ giác Long Xuyên với tổng diện tích tự nhiên là 4.983,66km2; trong đó, phần lãnh thổ thuộc tỉnh An Giang có diện tích 2.433,01km2, phần thuộc tỉnh Kiên Giang có diện tích 2.395,35km2
và phần nhỏ còn lại thuộc huyện Vĩnh Thạnh, Thành phố Cần Thơ có diện tích 155,3km2 Phạm vi lãnh thổ vùng Tứ giác Long Xuyên được giới hạn bởi sông Hậu ở phía Đông Bắc, bờ biển Kiên Giang ở phía Tây Nam, kênh Rạch Giá - Long Xuyên ở phía Đông Nam và biên giới Việt Nam - Campuchia ở phía Tây Bắc (xem bản đồ hành chính, trang 43b)
- Trong nội dung đánh giá thích nghi cảnh quan, luận án chỉ đánh giá cho một
số cây trồng và loại hình sản xuất nông nghiệp tiêu biểu của vùng (cây lúa, cây khóm, rừng ngập nước, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi trồng thủy sản nước ngọt), không đánh giá cho toàn bộ các loại hình sản xuất nông nghiệp hiện có
- Trong nội dung nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến vùng Tứ giác Long Xuyên, luận án chỉ dừng lại ở việc phân tích bối cảnh biến khí hậu và xem xét ảnh hưởng của nước biển dâng đến sự biến đổi của các loại cảnh quan ứng với các kịch bản khác nhau
Trang 16- Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp được đề cập trong luận án chỉ dừng ở việc định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan dưới góc độ cảnh quan học nhằm xác định không gian ưu tiên cho phát triển nông nghiệp của vùng, không chú trọng đề cập đến các hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
4 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA ĐỀ TÀI
Luận án thực hiện dựa trên việc tham khảo các nguồn tư liệu khác nhau:
- Các tài liệu do nghiên cứu sinh thực hiện: có liên quan đến lãnh thổ nghiên cứu và hướng nghiên cứu được công bố trên các Tạp chí khoa học trong nước và
các báo báo khoa học trong các Hội nghị, Hội thảo trong nước và quốc tế (được liệt
kê trong phần danh mục các công trình tác giả đã công bố)
- Các bài báo, sách, đề tài, dự án: của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và lãnh thổ nghiên cứu
- Nguồn số liệu: về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, dân cư và kinh
tế - xã hội vùng Tứ giác Long Xuyên được thu thập từ báo cáo của các đề tài, Niên giám thống kê của các địa phương qua các năm, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội các địa phương trong vùng, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ,
- Nguồn bản đồ: các bản đồ nền vùng Tứ giác Long Xuyên trong luận án được
ghép từ các bản đồ nền của các địa phương trong vùng hoặc cắt ra từ bản đồ cấp lớn hơn bằng các phần mềm GIS Tư liệu bản đồ nền bao gồm: bản đồ hành chính (thu thập từ website: https://gadm.org/index.html), bản đồ mạng lưới sông ngòi (http://opendata.arcgis.com), bản đồ địa mạo (Lê Đức An, Uông Đình Khanh & cs), bản đồ lượng mưa (Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ), bản đồ đất (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Miền Nam), bản đồ hiện trạng sử dụng đất (Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ)
5 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Đã xây dựng được hệ thống phân loại và phân vùng cảnh quan cho vùng Tứ giác Long Xuyên; thành lập được bản đồ cảnh quan và làm rõ đặc điểm cảnh quan cho khu vực nghiên cứu; đánh giá được mức độ thích nghi cảnh quan cho một số loại hình sản xuất nông nghiệp trong vùng
Trang 17- Đã định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất cho ngành nông nghiệp của vùng
Tứ giác Long Xuyên trên cơ sở đánh giá thích nghi cảnh quan, phân tích tác động biến đổi khí hậu, hiện trạng và quy hoạch phát triển nông nghiệp của vùng
6 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA ĐỀ TÀI
- Luận điểm 1: Tác động tương hỗ của các hợp phần, yếu tố tự nhiên và nhân sinh tạo nên sự phân hóa có quy luật về đặc điểm cấu trúc, chức năng, động lực của
cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên với 1 hệ, 1 phụ hệ, 1 kiểu, 2 lớp, 5 phụ lớp,
140 loại cảnh quan thuộc 6 tiểu vùng cảnh quan
- Luận điểm 2: Kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan cho ngành nông
nghiệp, có xét đến tác động biến đổi khí hậu kết hợp với phân tích hiện trạng, quy
hoạch nông nghiệp là cơ sở khoa học để định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông
nghiệp của vùng Tứ giác Long Xuyên
7 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
7.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hoàn thiện về lý luận nghiên cứu, đánh giá cảnh quan theo hướng tiếp cận định lượng trong đánh giá tiềm năng tự nhiên cho các mục đích định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp đối với vùng đồng bằng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở khoa học cho chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của các địa phương trong vùng Tứ giác Long Xuyên Ngoài
ra, luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập địa lý địa phương
8 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu đánh giá cảnh quan phục
vụ định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Chương 2: Đặc điểm cảnh quan vùng Tứ giác Long Xuyên
Chương 3: Đánh giá cảnh quan nhằm định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 18CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1 Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan
Học thuyết về cảnh quan (CQ) đầu tiên được ra đời vào năm 1913 bởi nhà bác học người Nga L.S Berg với tiền đề là học thuyết của V.V Docutraev về địa tổng thể và các đới thiên nhiên (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45] Từ khi ra đời đến nay, cảnh quan học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về lý luận cảnh quan
Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, nghiên cứu về lý luận CQ phát triển từ rất sớm và
được xem là một trong những nội dung nghiên cứu của địa lý tự nhiên Điều này được thể hiện trong công trình “Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô” [126] của L.S Berg
(1931), nghiên cứu cho rằng CQ là đối tượng nghiên cứu của địa lý, đồng thời xem
CQ như là một tổng hợp thể địa lý (địa tổng thể) và nêu lên mối tương quan giữa đới
cảnh quan và đới thiên nhiên; tác giả cũng cho rằng “đới thiên nhiên là những miền
ưu thế của cảnh quan và gọi chúng là đới cảnh quan” (dẫn theo Vũ Tự Lập, 1978)
[53] Trong bài báo “Nhiệm vụ địa lý và nghiên cứu địa lý ngoài thực địa” [47] công
bố năm 1940, S.V Kalesnik đã xem CQ như một lãnh thổ độc đáo và toàn diện, thống nhất về mặt phát sinh, mặc dù có sự khác nhau về hình thái Ngoài ra, F.N Milkov
(1967) đề cập đến cảnh quan như các tổng thể thiên nhiên trên Trái Đất với tên gọi là các tổng thể cộng sinh mà sau đó D.L Armand (1975) gọi là địa hệ trong công trình
“Khoa học về cảnh quan” [3] Những quan điểm về CQ của các tác giả trên là nền
tảng cho sự phát triển cơ sở lý luận về CQ của các công trình nghiên cứu sau này
Ở Tây Âu, lý luận về CQ không phát triển sớm và sôi nổi như ở Liên Xô (cũ),
đối tượng nghiên cứu của họ cũng mang dáng dấp các tổng hợp thể tự nhiên nhưng có
nhiều khác biệt về cách tiếp cận và nội dung biểu đạt Những quan niệm về CQ cũng
đã được một số nhà địa lý đề cập tới Nhà địa lý Anh A Geberson (1905) là người đầu tiên đề cập đến nghiên cứu tổng hợp trong nghiên cứu địa lý Theo ông, địa lý nên
nghiên cứu sự phân bố của các tổng hợp thể chứ không phải sự nghiên cứu riêng lẻ
Trang 19các thành phần (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45] Đây được xem là quan niệm về đối tượng nghiên cứu có nét tương đồng với quan niệm về đối tượng NCCQ của các
nhà khoa học Liên Xô (cũ) G Haase và R Schmid (1973), đã sử dụng lý thuyết địa
sinh thái (ecological geography) trong “Nghiên cứu và thành lập bản đồ nông nghiệp
ở Cộng hòa dân chủ Đức (cũ)” (dẫn theo Trần Văn Thành, 2007) [84] Lí thuyết địa sinh thái cũng đã được nhắc đến trong công trình “Phong cảnh địa lý tự nhiên toàn cầu” của nhà địa lý người Pháp G Bertran (1968), ông cũng cho rằng “Địa lý học tiến triển theo hướng sinh quần học, còn phong cảnh là một bộ phận sinh thái có thể nhận thấy được của cảnh quan” (dẫn bởi A G Isachenko 1969) [45] Chính vì thế, ở Pháp,
thuật ngữ “phong cảnh” được sử dụng thay cho thuật ngữ “cảnh quan” (dẫn theo Trần
Văn Thành, 2007) [84] Gần đây, sự kết hợp giữa các phương pháp truyền thống với các phương pháp hiện đại trong nghiên cứu địa lý giúp lý luận về nghiên cứu, đánh giá cảnh quan (ĐGCQ) ở Tây Âu có nhiều thay đổi đáng kể
Ở Mỹ, theo T.W Freeman (1971) - tác giả của công trình “A hundred years of geography” [137] - CQ học không thật sự phát triển, bởi các nhà địa lý Mỹ chú
trọng nhiều hơn vào nghiên cứu các thành phần CQ của môi trường địa lý hoặc địa
lý khu vực thay vì quan điểm nghiên cứu tổng hợp Đầu những năm 1980, hướng
nghiên cứu sinh thái cảnh quan (STCQ) phát triển nhanh chóng Bắc Mỹ sau khi bắt nguồn từ châu Âu Tiêu biểu là Kỷ yếu hội thảo quốc tế đầu tiên “Methodology in
Landscape Ecological Research and Planning” [152], công trình đã công bố những
bài viết về phương pháp nghiên cứu STCQ và phương pháp phân vùng, quy hoạch
STCQ; bài báo “Landscape ecology: directions and approaches” [161] của P
Risser, J Karr, R Forman (1984) nêu lên các hướng và cách tiếp cận nghiên cứu
STCQ; công trình “The beginnings of landscape ecology in America” [136] của R
Forman (1991) đã trình bày về nguồn gốc của STCQ, ứng dụng của nó trong các lĩnh vực sinh thái, địa lý, kiến trúc CQ, lâm nghiệp và các lĩnh vực khác ở Mỹ; bài
báo “Landscape ecology in North America: past, present, and future” [176] của M
G Turner (2005) đã mô tả sự phát triển của STCQ ở Bắc Mỹ trong quá khứ, những vấn đề trong hiện tại và các hướng nghiên cứu trong tương lai
Như vậy, có thể thấy rằng, trên thế giới, phổ biến hai hướng nghiên cứu lý luận
CQ khác nhau: hướng nghiên cứu cảnh quan đơn thuần và hướng nghiên cứu sinh thái
cảnh quan Sự phát triển của hai hướng nghiên cứu này hoàn toàn không mâu thuẫn mà
Trang 20bổ trợ nhau, làm đa dạng hơn sự phát triển về lý luận khoa học CQ và hướng đến những
nghiên cứu mang tính ứng dụng cao hơn Điều này thể hiện rất rõ trong bài viết “Future
landscapes and the future of landscape ecology” [143] của R Hobbs (1997) và
“Landscape ecology meets landscape science” [142] của J Helfenstein & cs (2014)
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về lý luận CQ chịu nhiều ảnh hưởng và
mang tính chất kế thừa các quan điểm CQ của Liên Xô (cũ) Cuốn sách “Địa lý tự
nhiên Việt Nam” [54] của Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1963), được xem là
công trình tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp, phần cuối của công trình này đưa ra các nguyên tắc cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên tổng hợp và áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam Ngoài ra, Vũ Tự Lập (1976) còn có công
trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” [52], nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý
luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp ở miền Bắc Việt Nam
Từ những năm 1990 đến nay, lý luận về cảnh quan và phương pháp nghiên cứu CQ ở
Việt Nam phát triển mạnh với các công trình tiêu biểu như: “Cơ sở cảnh quan học
của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” [31] của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
(1997), “Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái)” [38] của Nguyễn Cao Huần (2005), “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan Việt Nam - phương pháp luận và một
số kết quả thực tiễn nghiên cứu” [30] của Phạm Hoàng Hải (2006) Hướng nghiên
cứu lý luận về STCQ ở Việt Nam cũng ra đời và phát triển mạnh, mở đầu bằng Hội
thảo lần thứ nhất năm 1992 về “Sinh thái cảnh quan: quan điểm và phương pháp
luận” [12] của các nhà khoa học thuộc Chi hội sinh thái cảnh quan Việt Nam, sau đó
được mở rộng và vận dụng linh hoạt trong NCCQ ở Việt Nam thông qua các công trình của các tác giả Nguyễn Thế Thôn (1995), Trương Quang Hải và cộng sự (2008), Nguyễn An Thịnh (2007, 2014) [91], [34], [89], [90]
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về đặc điểm cảnh quan
Các công trình nghiên cứu đặc điểm cảnh quan chủ yếu tập trung vào nghiên cứu cấu trúc, chức năng, động lực của cảnh quan, đây là nhân tố quan trọng để đưa
ra các định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ
Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, nghiên cứu đặc điểm CQ đã phát triển mạnh mẽ
từ đầu thế kỉ XX và đạt được nhiều bước tiến quan trọng Tiêu biểu như công trình
“Các đới cảnh quan địa lý Liên Xô” của L.S Berg (1931) đã mở đầu cho nghiên
Trang 21cứu phân hoá cấu trúc và chức năng của CQ Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, từ
kết quả nghiên cứu ngoài thực địa, N.A Solnsev (1962) đề ra một nghĩa mới và rõ
ràng hơn về hình thái cảnh quan [166] hoặc phân tích đầy đủ hơn về các động lực
làm biến đổi của CQ như V.B Sochava (1978) [164] Một số công trình nghiên cứu
về sự phân loại, phân vùng và xây dựng bản đồ cảnh quan cũng phát triển trong thời
gian này như “Các nguyên tắc địa hóa trong phân loại cảnh quan” [158] của A.I Perel'man (1961), “Bản đồ cảnh quan vùng Tây Bắc của Đồng bằng Nga, tỷ lệ 1:
1.000.000” [145] của Isachenko (1960), “Phân vùng địa lý tự nhiên” [71] của A.E
Phedina (1973) Những công trình gần đây của K.N Dyakonov và cs (2007) [133],
M Balej (2012) [124], D Stejskalová và cs (2013) [167] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm cảnh quan theo hướng định lượng và ứng dụng công nghệ GIS đảm bảo tính khách quan và độ chính xác cao hơn Kết quả của những nghiên cứu này là chỉ dẫn quan trọng giúp định hướng quy hoạch sản xuất cho các ngành kinh tế
Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, nghiên cứu đặc điểm cảnh quan có tính ứng dụng thực
tiễn rất cao Tiêu biểu là nghiên cứu “Landscape functions in a changing
environment” [129] của J Bolliger và F Kienast (2010), công trình đã đề cập đến
vấn đề chức năng cảnh quan trong sự thay đổi môi trường, họ cho rằng đánh giá
không gian chức năng CQ là cơ sở nắm bắt thông tin để tham gia điều chỉnh sự phát triển CQ và là cơ sở đánh giá tiềm năng CQ cho các mục đích thực tiễn dựa vào những đặc trưng CQ đã được phân tích Một nghiên cứu khác về đặc điểm cảnh quan
là của R.M Röder và RU Syrbe (2014) “Relationship between land use changes, soil
degradation and landscape functions” [162] tại địa bàn vùng Kreba, phía Tây nước
Đức; với những dữ liệu đất đai thu thập từ năm 1938 - 1998 chứng minh rằng, chức năng CQ có quan hệ chặt chẽ với sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất và sự thoái hóa
đất Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu “Monitoring of landscape change
and functions in Saxony (Eastern Germany) - Methods and indicators”của U Walz
(2008) [178], tác giả đã trình bày các phương pháp và chỉ số nhằm giám sát sự thay đổi cảnh quan và chức năng cảnh quan ở Sachsen của CHLB Đức
Ở Việt Nam, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến công trình của
Phạm Hoàng Hải (1992, 2008) “Cơ sở phân tích chức năng và động lực phát triển
cảnh quan sinh thái Việt Nam” [28], “Nghiên cứu đa dạng cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam phục vụ mục đích sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường” [29];
Trang 22Nguyễn Văn Vinh (1996) “Đặc điểm cảnh quan - sinh thái và phương hướng sử
dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên vùng gò đồi Quảng Bình” [120] Các công trình
này đã phân tích đặc điểm CQ và chỉ ra các nhân tố tác động đến sự phân hóa trong cấu trúc CQ của một lãnh thổ cụ thể Ngoài ra, các nhà khoa học thuộc Viện Địa lý
do Nguyễn Văn Vinh (2005) làm chủ biên với công trình “Nghiên cứu chức năng và
cấu trúc cảnh quan sinh thái (lấy ví dụ ở tỉnh Quảng Trị)” [121] - khẳng định rằng
cấu trúc, chức năng là cơ sở để sử dụng hợp lý CQ vào các mục đích KTXH Gần đây, luận án tiến sĩ của Nguyễn An Thịnh (2007) [89] đã định lượng hóa, mô hình hóa trong phân tích cấu trúc, chức năng của CQ
1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về đánh giá cảnh quan
Ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, có nhiều nghiên cứu về đánh giá tổng hợp tự
nhiên hay ĐGCQ để giải quyết nhu cầu thực tiễn như phục vụ quy hoạch sử dụng
đất thể hiện trong các công trình của M Mojses và F Petrovič (2013) [153], I Solecka và cộng sự (2018) [165]; phục vụ phát triển, quy hoạch nông nghiệp trong
công trình của A Firmino (1999) [135], phục vụ mục đích phát triển tối ưu lãnh thổ
của M Ruzichka và M Miklas (1988) [75],
Ở Tây Âu và Bắc Mỹ, lý thuyết về ĐGCQ cũng được đề cập thông qua một số
công trình lý luận chung như “Themes in landscape assessment theory” của E H Zube (1984), [181], “Landscape balance and landscape assessment” [147] của R Krönert (2001), “Landscape assessment for sustainable planning” [150] của Mander
(2010) Bên cạnh việc nêu lên những quan điểm, hình thức và mục tiêu của ĐGCQ,
một số công trình đề cập đến sử dụng phương pháp ĐGCQ, tiêu biểu như “Use of
landscape classification as an essential prerequisite to landscape evaluation” [128] của
nhóm tác giả E.J Blankson, B.H Green (1991), nghiên cứu này đã tiến hành phân loại các nhóm CQ dễ nhận biết rồi đánh giá theo những tiêu chí cho hoạt động sản xuất, họ
cho rằng phân loại CQ như một điều kiện tiên quyết cần thiết để ĐGCQ; nghiên cứu
“Multicriteria optimization of landscapes using GIS-based functional assessments”
[139] của R Grabaum, B.C Meyer (1998) đã giới thiệu một phương pháp mới trong ĐGCQ là sử dụng GIS để tối ưu hóa các tiêu chí đánh giá cảnh quan giúp hỗ trợ việc ra quyết định và xây dựng các chỉ dẫn sử dụng hợp lý lãnh thổ, đây là phương pháp nghiên cứu định lượng, có tính đến các trọng số khác nhau của các kịch bản khi ĐGCQ
Trang 23Ở Việt Nam, hướng nghiên cứu ĐGCQ phục vụ mục đích phát triển kinh tế rất phổ biến Tiêu biểu là những công trình của các tác giả đương thời như Phạm Hoàng
Hải & cs “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển
Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm” (1990), “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên Tây Nguyên” (1993) Các công trình của
nhóm tác giả đã nghiên cứu đầy đủ với hướng tiếp cận khoa học về tổng hợp các điều kiện tự nhiên (ĐKTN) từ đó đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững lãnh thổ nghiên cứu Tác giả Nguyễn Cao Huần
(2005) với “Đánh giá cảnh quan (theo hướng tiếp cận kinh tế sinh thái)” [38], đã đề
cập nhiều đến những vấn đề lý luận, phương pháp luận NCCQ ứng dụng, những vấn đề
lý luận ĐGCQ cả định tính và định lượng Trong công trình này, ông cũng đã tổng quan các hướng ĐGCQ khác nhau, bao gồm [38]:
- Đánh giá mức độ thuận lợi: hay có tên gọi khác là đánh giá tiềm năng sản xuất
của các địa tổng thể, là cách đánh giá truyền thống, đặc trưng cho nghiên cứu địa lý
tự nhiên ứng dụng Mức độ thuận lợi của các địa tổng thể thường được thể hiện ở dạng điểm hoặc cấp
- Đánh giá kinh tế: của việc sử dụng CQ thường được tiến hành theo nhiều cách
nhưng phổ biến nhất là sử dụng công cụ phân tích chi phí - lợi ích để xác định hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên
- Đánh giá ảnh hưởng môi trường: là xác định và dự báo mức độ ảnh hưởng tốt xấu
của các hoạt động sử dụng CQ tới môi trường, đồng thời xác định khả năng chịu tải và độ bền vững của CQ với các hoạt động này
- Đánh giá ảnh hưởng xã hội: các khía cạnh xã hội trong địa lý ứng dụng hầu
như chưa được chú ý đến nhiều ở Việt Nam Tính bền vững xã hội được phân tích dựa vào truyền thống, tập quán sử dụng CQ và khả năng tiếp thu trình độ khoa học
kỹ thuật và định hướng phát triển kinh tế của địa phương
Tuỳ thuộc mục đích, đối tượng và yêu cầu mức độ chi tiết mà có thể đánh giá theo các cách khác nhau Tuy nhiên, hiện nay khi đề xuất các phương án quy hoạch lãnh thổ và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thì hướng đánh giá mức độ thuận lợi được xem là phổ biến nhất Nhiều đề tài, bài báo, luận án tiến sĩ đã tiến hành nghiên cứu theo hướng này
Trang 241.1.2 Các công trình nghiên cứu cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ sản xuất
Nghiên cứu thiết kế, quy hoạch lãnh thổ sản xuất dựa trên cơ sở lý luận của
CQ học là một trong những hướng NCCQ ứng dụng rất phát triển vào thập niên 80,
90 ở Liên Xô (cũ) Mở đầu là công trình “Địa lý và quy hoạch các vùng sản xuất nông
nghiệp” [49] của G.A Kuznetsov (1975), trong đó tác giả phân tích rõ ràng mối quan hệ giữa nghiên cứu địa lý và quy hoạch vùng sản xuất; ngoài ra, để quy hoạch không gian sản xuất nông nghiệp của lãnh thổ, tác giả nhấn mạnh vai trò của thổ nhưỡng và khí hậu, hai nhân tố quan trọng nhất trong phân vùng nông nghiệp I.P Geraximov (1979) cũng đã phân chia lãnh thổ Liên Bang Nga thành 17 miền khác nhau trên cơ sở địa lý học để quy hoạch phát triển KTXH [24] Cùng với hướng nghiên cứu trên còn có các công
trình tiêu biểu khác như: “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho các sơ đồ quy hoạch
vùng” của E.M Rakovskaia & I.R Dorphman (1980); “Thiết kế lãnh thổ sản xuất vùng đồng bằng Nam Ukraine” của Sichenko (1980) Các công trình này đã dựa
trên các nghiên cứu, ĐGCQ để giải quyết nhu cầu thực tiễn là phục vụ sản xuất và tổ chức lãnh thổ (TCLT) sản xuất (dẫn theo A.G.Ixatsenko, 1985) [44]
Ở Tây Âu và Bắc Mỹ cũng đã quan tâm đến ứng dụng NCCQ để quy hoạch các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, quy hoạch đô thị, quy hoạch môi
trường (dẫn theo [122]) Một trong số các công trình đó là “Phân loại cảnh quan khu
vực Sachsen (Đức) - một công cụ để quy hoạch vùng” [125] của O Bastian (2000)
Trong nghiên cứu này, các đơn vị CQ vùng Sachsen đã được thể hiện trên bản đồ
được mô tả, phân loại và được xử lý bằng một hệ thống điều tra dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin Qua đó, có thể đánh giá sự phù hợp của các đơn vị CQ tự nhiên đối với các hoạt động của con người để tiến hành quản lý, quy hoạch vùng sản xuất Tác giả I.I Schastnaya (2007) thông qua công trình “Đánh giá đa dạng cảnh quan
phục vụ tổ chức không gian du lịch: trường hợp nghiên cứu ở vùng Brest” cũng cho rằng quy hoạch không gian sản xuất cần dựa trên kết quả nghiên cứu, đánh giá CQ Thêm
nữa, nghiên cứu của J Kim, X Zhou (2012) về “Mối quan hệ của cấu trúc cảnh
quan, quy hoạch lãnh thổ và địa hình ở các khu dân cư ven đồi của Morgantown, Hoa Kỳ” [146] Mục đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ giữa cấu trúc
cảnh quan, quy luật phân vùng và các thuộc tính địa lý của khu vực nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp các nhà quy hoạch cảnh quan và các nhà quản lý lập
kế hoạch và thiết kế hoạt động sản xuất bền vững hơn về mặt sinh thái và xã hội
Trang 25Ở Việt Nam, mở đầu cho việc nghiên cứu địa lý tự nhiên tổng hợp phục vụ
phân vùng phải kể đến các công trình “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” [52],
“Cơ sở cảnh quan học và phân vùng địa lý tự nhiên” [53], “Phương pháp luận và
các phương pháp nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch lãnh thổ” [55] của Vũ Tự Lập Các công trình này đã trình bày nguyên tắc và
ý nghĩa của việc phân vùng địa lý tự nhiên Ngày nay, hướng nghiên cứu, ĐGCQ phục vụ định hướng quy hoạch lãnh thổ sản xuất, tổ chức không gian sản xuất hay
TCLT sản xuất đã và đang phát triển mạnh, tiêu biểu là các công trình "Quy hoạch
và TCLT trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá cảnh quan" [32], “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên” [25], “Tổ chức không gian phục vụ sử dụng hợp lý đất đai và bảo vệ môi trường theo các tiểu vùng chức năng thành phố Uông Bí” [140],
của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Ngọc Khánh, Trương Quang Hải Các công trình này
đã thực hiện quy trình quy hoạch và TCLT sản xuất trên cơ sở nghiên cứu, ĐGCQ Cũng liên quan đến NCCQ phục vụ TCLT sản xuất cho mục đích cụ thể như nông, lâm nghiệp và du lịch còn có các công trình tiêu biểu như Phạm Quang Anh (1996)
“Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh
Việt Nam” [2]; Nguyễn Thế Thôn (1993, 1995) với hai công trình “Tổng luận phân tích nghiên cứu và đánh giá cảnh quan cho việc quy hoạch và phát triển kinh tế” và
“Tổng luận phân tích những vấn đề cảnh quan sinh thái ứng dụng trong quy hoạch
và quản lí môi trường” [91]; Đỗ Văn Thanh (2011) “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” [81]; Lê Anh Hùng (2016) “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển bền vững lâm nông nghiệp vùng đồi núi lưu vực sông Thu Bồn” [41] Mặc dù, nghiên cứu CQ ở khía cạnh khác nhau nhưng các công trình
trên đều hướng đến mục tiêu quy hoạch, sử dụng hợp lý lãnh thổ cho phát triển kinh
tế và bảo vệ môi trường
Trong những năm gần đây, các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thúy Hằng [35], Nguyễn Ánh Hoàng [37], Nguyễn Thu Nhung [64], Phan Văn Phú [72], Đỗ Hà Thanh [82] cũng nghiên cứu, ĐGCQ theo hướng quy hoạch hoặc định hướng TCLT sản xuất Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy rằng, muốn tiến hành quy hoạch không gian sản xuất (TCLT sản xuất) thì trước hết cần phải phân tích đặc điểm về cấu
Trang 26trúc, chức năng cũng như động lực CQ nơi đó, đánh giá được mức độ phù hợp của các CQ cho các loại hình sản xuất cần quy hoạch để có thể khai thác sử dụng tài nguyên và bố trí lãnh thổ sản xuất hợp lý nhất
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến cảnh quan và tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
Cảnh quan là đối tượng chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu (BĐKH), các biểu hiện của BĐKH ảnh hưởng đến tất cả các thành phần của CQ như: địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật và cả con người, làm thay đổi mối quan
hệ của các thành phần CQ, từ đó làm biến đổi cấu trúc CQ
Nghiên cứu của P Opdam & cs (2009) về “Thay đổi cảnh quan để thích ứng
với các tác động của BĐKH” cho thấy những thay đổi lớn về nhiệt độ, lượng mưa,
cũng như tần suất và thời gian xuất hiện của các kiểu thời tiết cực đoan sẽ ảnh hưởng đến tất cả các CQ trên khắp thế giới ở các mức độ khác nhau BĐKH sẽ ảnh hưởng đến các loại hình sử dụng đất, các hệ sinh thái, cũng như hành vi của con người đối với tự nhiên, từ đó phá vỡ cấu trúc và và thay đổi chức năng CQ [156] Một công trình khác của I.D Thompson & cs (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với đa dạng CQ cho thấy các chỉ số về đa dạng CQ bị thay đổi dưới tác động của các yếu tố khí hậu, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ [172]
Öztürk & cs (2018) thì cho rằng, BĐKH đe dọa môi trường sống và hệ sinh thái ở các mức độ khác nhau trên khắp thế giới CQ cũng là môi trường sống và hệ sinh thái độc đáo nên cũng dễ bị tổn thương do hậu quả của BĐKH Vì vậy, sự thay đổi khí hậu gây ra những xáo trộn, thay đổi về đặc điểm trong các đơn vị phân loại
và phân vùng của CQ [157] Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về CQ ở khu vực trên thế giới và đưa ra kết luận về tác động của BĐKH đối với chức năng, động lực CQ, nghiên cứu tác động này là cơ sở để quy hoạch không gian, sử dụng hợp lý
lãnh thổ, tiêu biểu như: “Ảnh hưởng của BĐKH tiềm ẩn đối với động lực cảnh quan
rừng ở Tây - Trung Alberta” của Chao Li & cs (2000) [148], “Đánh giá tác động của BĐKH đối với hệ sinh thái rừng để lập quy hoạch không gian cảnh quan ở Nepal” của G.J Thapa (2016) [171], “Đánh giá mối liên hệ không gian giữa nhận thức về giá trị cảnh quan và rủi ro BĐKH để sử dụng trong quy hoạch BĐKH” của
C.M Raymond & G Brown (2011) [160],…
BĐKH tác động đến cảnh quan, làm biến đổi cảnh quan, đòi hỏi phải thay đổi các hoạt động sử dụng, khai thác cảnh quan, bố trí không gian sản xuất ngành nông
Trang 27nghiệp nhằm thích ứng với sự biến đổi không ngừng của khí hậu Điều này được
nhắc đến trong các “Báo cáo đánh giá lần 1,2,3” của Ủy ban Liên chính phủ về
Biến đổi khí hậu (IPCC, 2007), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994); Tổ chức các nước hợp tác kinh tế phát triển (OECD, 2009) [123], [127], [179], Các báo cáo đều cho rằng BĐKH sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vì vậy, cần có biện pháp khai thác hợp lý, thích ứng với BĐKH thay vì cố gắng giảm thiểu tác động của nó
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về tác động của BĐKH được trình bày một
cách khá đầy đủ trong các công trình như: “Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho
Việt Nam” của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009, 2012, 2016) [8], [9], [10];
"Báo cáo phân tích tác động của BĐKH đến nông nghiệp Việt Nam, đề xuất các
biện pháp thích ứng và chính sách giảm thiểu," Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (2010) [115]; “BĐKH và tác động ở Việt Nam” của Nguyễn Văn
Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục [36] Các công trình đã đề cập đến bối cảnh và xu hướng BĐKH và những biện pháp ứng phó với BĐKH ở nước ta Ngoài các giải pháp công trình trước mắt thì hầu hết các giải pháp lâu dài đều tập trung vào việc bố trí lại không gian sản xuất phù hợp với BĐKH
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất thấp của Việt Nam, được xem là nơi chịu ảnh hưởng sớm và mạnh nhất bởi sự BĐKH toàn cầu [144] Chính vì vậy, có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH đến thành
phần tự nhiên, đến các ngành kinh tế của vùng, tiêu biểu như: “ĐBSCL đối mặt
với thách thức kép của BĐKH” của Nguyễn Ngọc Trân (2010) [97]; “Tác động của BĐKH và nước biển dâng lên hệ thống nông nghiệp - nuôi trồng thủy sản tích hợp ở lưu vực sông Mêkông - Trường hợp nghiên cứu ở đồng bằng hạ lưu sông Mêkông” của Lê Anh Tuấn (2010) [174]; “Dự án Thích ứng với BĐKH cho phát triển bền vững Nông nghiệp và Nông thôn các tỉnh ven biển ĐBSCL” của
Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản cùng thực hiện (2013) [116] Các công trình đều tập trung vào phân tích, đánh giá tác động của BĐKH đến tự nhiên, đến các ngành sản xuất, đặc biệt là ngành nông
nghiệp và đề xuất một số hoạt động ứng phó với BĐKH ở vùng ĐBSCL Gần đây nhất, luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Trịnh (2018) “Nghiên cứu phân vùng
sinh thái nuôi trồng thủy sản ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu” [98]
Trang 28được xem là công trình nghiên cứu mới theo hướng phân vùng sinh thái cho ngành sản xuất dựa trên cơ sở đánh giá tổng hợp gắn với bối cảnh BĐKH
1.1.4 Các công trình nghiên cứu về vùng Tứ giác Long Xuyên
Tứ giác Long Xuyên (TGLX) là một vùng lãnh thổ tự nhiên rộng lớn thuộc ĐBSCL, là khu vực đặc biệt quan trọng liên quan đến khoảng 1,6 triệu dân cư đang sinh sống; ĐKTN có nhiều nét độc đáo Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học quan tâm nghiên cứu trực tiếp đến khu vực này hoặc đề cập đến thông qua những nghiên cứu ở phạm vi lớn hơn
Các công trình nghiên cứu tổng hợp đề cập đến vùng TGLX: Cuốn sách “Địa
lý đồng bằng Sông Cửu Long” [87] của Lê Bá Thảo (1986) được xem là một trong
những công trình đầu tiên nghiên cứu về ĐBSCL dưới góc độ địa lý Trong công trình này, tác giả đã dành một thời lượng đáng kể để phân tích đặc điểm tự nhiên vùng TGLX và coi đây là một tiểu vùng trong mối liên hệ với đơn vị địa tổng thể
lớn hơn là ĐBSCL Một công trình đồ sộ “Môi trường tài nguyên đất Việt Nam”
[4] với 1299 trang của Lê Huy Bá (2009) đã dành một chương để đề cập đến đặc trưng môi trường vùng đất ở TGLX, qua đó các ĐKTN và đất phèn đặc trưng của vùng này được phân tích cụ thể Năm 2018, Lê Xuân Thuyên công bố công trình
nghiên cứu về các ĐKTN và môi trường sinh thái Nam Bộ với 9 chuyên đề trình
bày đặc điểm tự nhiên của các bộ phận lãnh thổ, trong đó, TGLX cũng được đề cập như là một khu vực điển hình về ĐKTN và môi trường sinh thái độc đáo của vùng ĐBSCL [94]
Các công trình nghiên cứu trực tiếp về vùng TGLX: chủ yếu là các bài báo
khoa học liên quan đến các hợp phần tự nhiên như: “Chế độ ngập lụt ở TGLX” [177] của Nguyễn Thành Vinh (2010), “Mô hình thủy văn cho quy hoạch và quản lý
tài nguyên nước liên tỉnh: nghiên cứu trường hợp ở TGLX” [141] của P Hanington
& cs (2017), “Hình thái và tính chất lý hóa học đất phèn vùng TGLX” [42] của
nhóm tác giả Trần Văn Hùng & cs (2016) Các nghiên cứu này rất có giá trị về mặt
lý luận và thực tiễn, đây là nguồn tư liệu quan trọng để luận án kế thừa hoặc dùng
để đối chiếu với tư liệu mà tác giả thu thập ngoài thực địa
Các công trình nghiên cứu các địa phương trong vùng: TGLX là vùng nông
nghiệp trọng điểm của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung nên các đề tài nghiên cứu về khu vực này chủ yếu liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và sử dụng đất như:
Trang 29“Đánh giá các chiến lược thích ứng bền vững cho các vùng đồng bằng dễ bị tổn
thương bằng mô hình sản xuất động: trường hợp sản xuất lúa ở tỉnh An Giang” [130]
của A Chapman & S Darby (2016); “Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình canh tác
lúa-tôm sú và lúa-tôm sú-cua biển tại tỉnh Kiên Giang” [58] của Hoàng Văn Long
(2011) “Mối quan hệ của thay đổi rừng ngập mặn ven biển và sử dụng đất liền kề:
đánh giá ở Kiên Giang, Việt Nam” [155] của Nguyễn Hòa Hải (2014), Những công
trình này đều đã khái quát ĐKTN, hiện trạng, tiềm năng phát triển ngành nông nghiệp
và đưa ra định hướng phát triển cho từng khu vực cụ thể Tuy nhiên, việc nghiên cứu còn mang tính chất riêng lẻ cho từng nghành, chưa mang tính tổng hợp
Ngoài ra, còn có các báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội”, “Quy
hoạch phát triến nông nghiệp”, “Quy hoạch sử dụng đất” của các Sở ban ngành, UBND
các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ xây dựng Các công trình này cũng đánh giá tổng hợp ĐKTN và KTXH của các tỉnh - bộ phận của vùng TGLX, từ đó đề ra các giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và quy hoạch không giản sản xuất
Tóm lại, nghiên cứu, ĐGCQ đã được đề cập trong nhiều công trình của các tác
giả trên khắp thế giới, phổ biến nhất là ở các quốc gia như Liên Xô (cũ), Đức và Hoa Kỳ Ở Việt Nam, nghiên cứu về CQ bắt đầu phổ biến từ những năm 1980 trở lại đây, phát triển nhanh và dần được xem là một hướng nghiên cứu chủ đạo của địa
lý học ứng dụng Những công trình NCCQ phát triển theo nhiều hướng khác nhau, không chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà đã giải quyết các vấn đề thực tiễn, góp phần vào công cuộc phát triển KTXH của đất nước Việc tổng quan các công trình này giúp hệ thống các tư liệu quan trọng để tác giả kế thừa, xác định hướng tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu phù hợp cho đề tài, đồng thời phát triển hướng NCCQ ứng dụng vào khu vực nghiên cứu
Hướng nghiên cứu, ĐGCQ cho phát triển các ngành sản xuất và nghiên cứu tác động của BĐKH rất phát triển nhưng hiện nay vẫn rất ít công trình nghiên cứu
có sự kết hợp vừa đánh giá thích nghi cảnh quan vừa xét đến tác động của BĐKH đối với cảnh quan nhằm mục đích phát triển bền vững các ngành sản xuất Đây là khoảng trống khoa học để tác giả định hướng nội dung nghiên cứu của luận án sao cho có thể giải quyết được phần nào vấn đề trên
Ở vùng TGLX, hiện có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của vùng, tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu chỉ đề cập đến các hợp phần tự nhiên riêng
Trang 30lẻ hoặc chú ý đến điều kiện phát triển một lĩnh vực cụ thể mà chưa đề cập đến mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố tự nhiên với nhau, giữa các yếu tố tự nhiên với hoạt động sản xuất trên quan điểm hệ thống nhằm xác định tiềm năng của lãnh thổ Đặc biệt, vẫn còn rất hạn chế các công trình nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN cho phát triển một số lĩnh vực sản xuất nhằm sử dụng lãnh thổ một cách hợp lý, vừa phát huy hết thế mạnh vừa bảo vệ môi trường Ngoài ra, hướng NCCQ gắn với không gian sản xuất và BĐKH chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu về TGLX Đây cũng là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài luận
án“Đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
vùng Tứ giác Long Xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan
1.2.1.1 Quan niệm về cảnh quan
Trong khoa học địa lý, thuật ngữ cảnh quan được sử dụng đầu tiên vào cuối
thế kỷ 19 ở Đức và được phát triển, mở rộng bởi các nhà địa lý Liên Xô (cũ) [32], [38], [44] Hiện nay, cùng tồn tại 3 quan niệm khác nhau về CQ:
Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị địa tổng thể
Theo quan niệm này, cảnh quan là một khái niệm chung, có thể dùng để chỉ bất kỳ
đơn vị lớn, nhỏ nào trên bề mặt Trái Đất như CQ băng giá, CQ đồi núi, CQ sa mạc, CQ ven biển, CQ rừng rậm hay CQ đầm lầy Đại diện cho quan niệm này là:
S.S Neustruev (1930): “ Cảnh quan là tổng thể gồm những vật thể và những
hiện tượng tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện dưới dạng thể tổng hợp địa lý ở các cấp phân vị khác nhau, có lịch sử hình thành khác nhau và quá trình phát triển không ngừng” (dẫn theo D.L Armand, 1983 [3])
L.G Ramensky (1938) “Cảnh quan là một hệ thống lãnh thổ khá phức tạp, bao
gồm những thể tổng hợp tự nhiên cơ bản khác nhau, nhưng liên hệ với nhau một cách có quy luật và phát triển như một thể toàn vẹn” (dẫn theo A.G Isachenko, 1985) [44]
Quan niệm coi cảnh quan như là cá thể địa lý riêng biệt
Theo quan niệm này, cảnh quan được dùng để chỉ một khu vực cụ thể trên bề
mặt Trái Đất, có giới hạn và không gian lãnh thổ rõ ràng Tiêu biểu là các quan niệm của các tác giả:
Trang 31S.V Kalesnik (1940) “…cảnh quan có những điểm không lặp lại, không
ngừng liên hệ về mọi mặt với lớp vỏ địa lý…”(dẫn theo D.L Armand, 1983) [3]
A.G Isachenko (1969): “Cảnh quan là một lãnh thổ cụ thể, đồng nhất về
phát sinh và lịch sử phát triển, được đặc trưng bởi một nền địa chất, một kiểu khí hậu đồng nhất, một phức hợp thổ nhưỡng, sinh vật quần đồng nhất và có một cấu trúc xác định” [45]
Quan niệm coi cảnh quan là một đơn vị kiểu loại
Theo quan niệm này, cảnh quan được xem là một địa tổng thể, được lặp lại ở các
không gian khác nhau, trong điều kiện giống nhau về các yếu tố tự nhiên trội Tiêu biểu là:
Quan niệm của L.S Berg (1931): “Cảnh quan thiên nhiên như một miền, trong
đó đặc điểm địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhưỡng hợp nhất với nhau tạo thành một thể toàn vẹn, thống nhất, cân đối và lặp lại một cách điển hình trong phạm vi đới ấy trên Trái Đất” (dẫn theo A.G Isachenko, 1969) [45]
Theo A.I Pérelman (1974) "Cảnh quan là sự phối hợp biện chứng như một
tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, không phụ thuộc vào phạm vi lãnh thổ phân bố" [65]
Ở Việt Nam, các quan niệm khác nhau về cảnh quan cùng phát triển song
song, tuy nhiên, quan niệm kiểu loại là phổ biến hơn cả, đã được áp dụng trong rất
nhiều nghiên cứu về CQ Các nghiên cứu thường tiến hành xây dựng hệ thống phân loại CQ cho các lãnh thổ nghiên cứu, từ đó tiến hành đánh giá mức độ thích nghi các đơn vị phân loại CQ cho loại hình sản xuất Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải [31], [33], [38] Trong luận án này, NCS sử dụng kết hợp cả hai quan niệm vừa coi CQ là một
đơn vị kiểu loại trong hệ thống phân loại vừa coi CQ là một đơn vị cá thể trong hệ
thống phân vùng
1.2.1.2 Phân loại và phân vùng cảnh quan
a Phân loại cảnh quan
Phân loại CQ là sắp xếp các đơn vị CQ tương đối đồng nhất về ĐKTN cùng cấp vào một loại mà không xét đến sự phân hóa không gian của CQ, nhằm định hướng cho chúng một mục đích sử dụng giống nhau (dẫn theo [105]) Đây là một trong những khâu quan trọng trong NCCQ nhằm thành lập bản đồ CQ và đánh giá thích nghi cho việc sử dụng chúng Tuy nhiên, khi phân loại CQ cần đảm bảo các
Trang 32nguyên tắc sao cho số lượng bậc trong hệ thống cần hợp lý, mỗi bậc được phân biệt với nhau bởi một hoặc một số chỉ tiêu nhất định và đảm bảo bất kỳ khoanh vi CQ nào cũng phải nằm trong một bậc cụ thể trong hệ thống phân loại [52]
Một số hệ thống phân loại của tác giả trong và ngoài nước tiêu biểu, thuận lợi cho việc xác lập hệ thống phân loại phù hợp với lãnh thổ nghiên cứu:
- Hệ thống phân loại của các tác giả nước ngoài: Theo đánh giá của A.E
Fedina, ở Liên Xô (cũ) có ba hệ thống phân loại CQ được các nhà địa lý chấp nhận rộng rãi nhất, đó là hệ thống phân loại với 8 bậc của A.G Isachenko (1960), hệ thống phân loại 5 bậc N.A Gvozdetxky (1961) và hệ thống phân loại 12 bậc của V.A Nhikolaev (1966) áp dụng cho CQ đồng bằng [71]
- Hệ thống phân loại CQ của các tác giả Việt Nam: Hiện nay, có rất nhiều hệ
thống phân loại khác nhau được xây dựng nhằm phục vụ mục đích NCCQ của các khu vực cụ thể, tiêu biểu:
+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 7 bậc của Phạm Quang Anh và tập thể tác giả Phòng địa lý tự nhiên tổng hợp, thuộc Viện Khoa học Việt Nam (1983), áp dụng cho thành lập bản đồ CQ Việt Nam tỷ lệ 1:200.000
+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 10 bậc của Nguyễn Thành Long & cs (1993) [59]
+ Hệ thống phân loại CQ Việt Nam 7 bậc của Phạm Hoàng Hải, Nguyễn
Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) Hệ thống này áp dụng để xây dựng bản
đồ CQ Việt Nam tỉ lệ 1: 1.000.000 [31]
Trong các hệ thống phân loại CQ nêu trên, có thể nhận thấy rằng vì các tác giả xây dựng cho các mục đích và phạm vi lãnh thổ khác nhau nên các hệ thống này
không giống nhau về mức độ đa dạng cấp bậc Các bậc trong hệ thống như lớp, phụ
lớp, kiểu, phụ kiểu, loại được nhiều tác giả sử dụng; các bậc như thống, phụ loại, biến chủng được ít tác giả đề cập Tuy nhiên, thứ tự các bậc và dấu hiệu nhận biết cho mỗi
bậc CQ ở các hệ thống phân loại là không đồng nhất với nhau Do đó, khi NCCQ một lãnh thổ cần tìm hiểu bản chất, không thể chỉ dựa theo tên gọi của chúng
Trang 33Hình 1.1: Sơ đồ các bậc của một số hệ thống phân loại cảnh quan tiêu biểu
(Nguồn: Tổng hợp từ một số hệ thống phân loại CQ trong và ngoài nước)
Để xây dựng hệ thống phân loại và thành lập bản đồ CQ vùng TGLX, nghiên cứu dựa trên các chỉ tiêu và phân cấp các đơn vị theo hai hệ thống phân loại của V.A Nhikolaev (1966) và Phạm Hoàng Hải & cs (1997) có thay đổi và lược bỏ một
số bậc cho phù hợp với điều kiện địa phương
Để phân vùng CQ hiệu quả cần đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của phân vùng
địa lý tự nhiên, đó là: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc tổng
hợp, nguyên tắc đồng nhất tương đối, nguyên tắc cùng chung lãnh thổ [96]
V.A Nhikolaev
Thống Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Nhóm Kiểu Phụ kiểu Hạng Phụ hạng Loại Phụ loại
Phạm Quang Anh
& cộng sự
Khối Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Nhóm Kiểu
Nguyễn Thành Long
& cộng sự
Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Kiểu Phụ kiểu Hạng Loại Dạng Diện
Phạm Hoàng Hải
& cộng sự
Hệ Phụ hệ Lớp Phụ lớp Kiểu Phụ kiểu Loại
HỆ THỐNG PHÂN LOẠI CẢNH QUAN
Trang 34Một số hệ thống phân vùng CQ tiêu biểu:
- Hệ thống phân loại nhiều cấp của Vũ Tự Lập (1974): được xây dựng theo
quan điểm các đơn vị CQ là những cá thể, không lặp lại trong không gian Hệ thống phân vùng của tác giả được phân chia thành 16 cấp, thể hiện sự kết hợp nhịp nhàng giữa quy luật địa đới và quy luật phi địa đới để tạo nên các đơn vị phân vùng
- Hệ thống phân vùng CQ của Phạm Hoàng Hải: trên cơ sở phân tích các đặc
điểm đặc trưng của tự nhiên Việt Nam và trên cơ sở bản đồ CQ được xây dựng, Phạm Hoàng Hải đã đề xuất xây dựng hệ thống phân vùng và bản đồ phân vùng CQ
Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000 gồm 4 cấp: đới, á đới, miền, vùng Trong đó, cấp “Đới
CQ” là cấp PV bậc cao nhất được phân chia theo các chỉ tiêu nhiệt - ẩm “Vùng CQ” là cấp thấp nhất được phân chia trên cơ sở kết hợp các nhóm loại CQ gần gũi,
tương đồng với nhau theo các đặc trưng chung
Dựa trên các hệ thống phân vùng CQ của các tác giả khác nhau, tác giả nhận thấy rằng các chỉ tiêu phân vùng của Phạm Hoàng Hải phù hợp với đặc trưng tự nhiên vùng TGLX nên đây sẽ là căn cứ để luận án phân vùng CQ cho địa bàn
nghiên cứu
c Bản đồ cảnh quan
Bản đồ CQ lần đầu tiên xuất hiện ở Liên Xô (cũ) trong những năm 1920; tuy nhiên, phải đến những năm 1960, chúng mới trở nên phổ biến và được xuất bản như một phần của đánh giá tổng hợp Theo A.G Isachenko (1985), bản đồ CQ là loại bản
đồ thể hiện sự sắp xếp theo nhóm của các địa tổng thể trong không gian Tùy vào mục đích xây dựng mà mức độ chi tiết của bản đồ được thể hiện khác nhau (đơn vị cơ sở của bản đồ)
Bản đồ CQ là sản phẩm quan trọng của việc nghiên cứu tổng hợp, đồng thời
là nền tảng cho việc đánh giá, định hướng quy hoạch lãnh thổ một cách có cơ sở khoa học [27] Khi xây dựng bản đồ CQ, ngoài hệ thống phân loại thì phải chú ý đến việc thành lập bảng chú giải dạng ma trận Trong bảng chú giải, các cấp của hệ thống phân loại CQ được xếp vào 2 nhóm là: nền tảng nhiệt - ẩm và nền tảng vật chất rắn
- Nền tảng nhiệt - ẩm gồm: hệ CQ, phụ hệ CQ, kiểu CQ được sắp xếp theo hàng ngang thể hiện chế độ hoàn lưu gió mùa
Trang 35- Nền tảng vật chất rắn gồm: lớp CQ và phụ lớp CQ được xếp theo cột dọc thể hiện đặc điểm cấu trúc hình thái địa hình và tính phân tầng của các ĐKTN
Đối với bản đồ CQ vùng TGLX, loại CQ là cấp nhỏ nhất trong hệ thống phân loại,
đó là kết quả giao thoa giữa hàng (lớp phủ thảm thực vật trong kiểu CQ) và cột (loại đất trong phụ lớp CQ) trong bảng chú giải dạng ma trận của bản đồ CQ vùng TGLX
1.2.1.3 Cấu trúc, chức năng, động lực và đa dạng cảnh quan
a Cấu trúc cảnh quan
Theo S.V Kalesnik (1978) cấu trúc CQ “là tính tổ chức của các bộ phận cấu
thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian”, bao gồm: cấu
trúc đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc thời gian
- Cấu trúc đứng của CQ thể hiện mối quan hệ qua lại của các thành phần tạo
nên sự phân bố theo tầng của CQ Các bộ phận tạo đó bao gồm nền địa chất, cấu trúc địa hình, đặc điểm khí hậu, mạng lưới và chế độ thuỷ văn, tính chất thổ nhưỡng
và đặc trưng lớp phủ sinh vật; chúng tác động, chi phối lẫn nhau; tác động đến các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của con người nhưng đồng thời chịu ảnh hưởng chi phối bởi các hoạt động của con người (hình 1.2)
- Cấu trúc ngang của CQ là sự tác động tổng hợp của các quy luật tự nhiên
theo không gian tạo nên bức tranh thiên nhiên đặc thù cho một lãnh thổ Cấu trúc ngang của CQ thể hiện qua các đơn vị đồng cấp trong hệ thống phân loại và phân vùng của CQ Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc ngang của CQ chính là nghiên cứu đặc điểm, mối quan hệ qua lại của các đơn vị (khu vực) CQ đồng cấp trong hệ thống phân vùng và phân loại CQ (hình 1.2)
- Cấu trúc thời gian là sự biến động đặc điểm của CQ theo thời gian, được
biểu hiện ra ở động lực, nhịp điệu CQ
Hình 1.2: Cấu trúc đứng (trái) và cấu trúc ngang (phải) của cảnh quan (Dựa trên mô hình đơn hệ thống và đa hệ thống của V.X Preobrajenxki) [84]
Mối liên hệ giữa các thành phần
Trang 36Để nghiên cứu định lượng cấu trúc CQ, luận án sử dụng các chỉ số hình thái
CQ theo K McGarial & B.J Marks (1994), bao gồm: diện tích CQ (SA - cho biết tổng diện tích của toàn CQ), số khoanh vi (NL - thể hiện mức độ phân chia CQ thành các khoanh vi khác nhau), kích cỡ trung bình của khoanh vi hoặc CQ (MSA- cho biết diện tích trung bình của một khoanh vi, giá trị MSA càng thấp chứng tỏ CQ
bị phân chia thành nhiều khoanh vi), mật độ đường biên (PD - cho biết chiều dài cạnh của CQ trên mỗi đơn vị diện tích CQ), chỉ số chia cắt (K- cho biết độ phân mảnh hay hệ số chia cắt của CQ) [37], [151] Phương pháp tính toán các chỉ số trên
được trình bày trong mục 1.3.2.3
b Chức năng của cảnh quan
Theo A.G Isachenko chức năng của CQ“là tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan” [45], [46] Vì vậy, phân tích chức năng CQ là
một quy trình đánh giá các hoạt động sinh địa hóa của CQ của địa bàn nghiên cứu [173] Theo R.D Groot (2006), CQ được phân chia làm 3 nhóm chức năng chính:
chức năng tự nhiên (chức năng sinh thái), chức năng kinh tế (chức năng sản xuất), chức năng xã hội [132]
Theo Phạm Hoàng Hải (2004), việc xác định chức năng của CQ phải dựa trên các tiêu chí tự nhiên để có thể đảm nhiệm mục đích sử dụng của CQ Ví dụ: Đối với chức năng sản xuất nông nghiệp (chức năng bộ phận của nhóm chức năng kinh tế), các tiêu chí đảm bảo cho phát triển nông nghiệp bao gồm: địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật hiện tại và các điều kiện nhân tác [27]
Trong phạm vi luận án này, nghiên cứu tập trung phân tích chức năng kinh tế của CQ nghĩa là xác định những nhiệm vụ chủ yếu mà CQ sẽ đảm nhận trên địa bàn
nghiên cứu như: chức năng sản xuất nông nghiệp, chức năng phát triển lâm nghiệp,
chức năng NTTS và chức năng phát triển các loại hình nông nghiệp kết hợp
c Động lực cảnh quan
CQ luôn chịu sự tác động trong suốt quá trình hình thành, phát triển Động lực phát triển CQ phụ thuộc vào sự biến đổi của tự nhiên và hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Về mặt tự nhiên, nhịp điệu và xu thế biến đổi của CQ phụ thuộc
sự luân phiên tác động của chế độ mùa vào lãnh thổ, tác động này làm biến đổi CQ qua sự gia tăng các quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong nó, cả những tác động kìm hãm hay thúc đẩy các quá trình tự nhiên Tuy nhiên, yếu tố
Trang 37động lực có tính chất quyết định nhất đến biến đổi CQ là các hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Tác động của con người nếu theo hướng tích cực sẽ giúp khai thác hiệu quả tài nguyên mà vẫn đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường tự nhiên; nếu là những tác động tiêu cực làm biến đổi, suy thoái CQ theo chiều hướng xấu Vì vậy, nghiên cứu động lực CQ trong luận án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nhịp điệu và xu thế biến đổi CQ của địa bàn nghiên cứu
d Phong phú và đa dạng cảnh quan
Theo А.I Bacca & V.О Mokiev (1997), quan niệm về phong phú, đa dạng CQ được
hiểu là “sự biểu hiện vô số những thông tin của một cá thể hay một nhóm trên những
khoanh vi địa hình, mà sự biểu hiện bên ngoài của nó là sự tác động giữa tự nhiên với con người và sự tác động của chính các thành phần tự nhiên đó”(dẫn theo [37])
Theo Phạm Hoàng Hải (2006), nghiên cứu mức độ phong phú, đa dạng CQ là
xác định những đặc trưng đa dạng về cấu trúc, chức năng và phân hóa không gian của CQ [30] Thông qua đó, việc nghiên cứu đa dạng CQ sẽ giúp chúng ta có cái
nhìn toàn diện về các mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần tự nhiên, đồng thời phát hiện được đặc trưng riêng của mỗi đơn vị lãnh thổ, các tiềm năng tự nhiên của từng đơn vị CQ phù hợp với từng mục đích khai thác sử dụng khác nhau
Mức độ phong phú, đa dạng của CQ trong luận án được định lượng bằng các chỉ số: mật độ khoanh vi (LD) theo G Eiden & cs (2000) [134], độ phong phú (Dp)
và chỉ số đa dạng CQ (Dmn) được trình bày bởi Y.G Puzachenko (2002) [37], [159]
1.2.1.4 Đánh giá cảnh quan
a Bản chất của đánh giá cảnh quan
Theo Nguyễn Cao Huần (2005), bản chất của ĐGCQ là “đánh giá tổng hợp
các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó ” [38] hay nói khác đi là “xác định mức độ phù hợp của cảnh quan cho các đối tượng sử dụng cụ thể” (dẫn theo
[105]) Đối tượng của ĐGCQ không phải là các địa tổng thể hoặc các thành phần
riêng biệt mà là sự tác động qua lại giữa các hệ thống tự nhiên với hệ thống KTXH
Vì vậy, khi tiến hành đánh giá tổng hợp một lãnh thổ phải có sự hiểu biết về các quy
luật tự nhiên, mối liên quan giữa hệ thống tự nhiên và xã hội [38], [31]
Bất kỳ nghiên cứu địa lý ứng dụng nào đối với một lãnh thổ cụ thể cũng phải
có 3 giai đoạn: nghiên cứu cơ bản, đánh giá và kiến nghị, trong đó đánh giá là khâu
kết nối giữa hai giai đoạn đầu và giai đoạn cuối ĐGCQ có vị trí và vai trò rất quan
Trang 38trọng giúp các nhà quản lý trong việc quy hoạch lãnh thổ để phát triển KTXH bền vững dựa trên nguyên tắc sử dụng tối ưu các đặc điểm STCQ và thiết lập các quan
hệ hài hoà giữa con người và môi trường cho các đơn vị lãnh thổ cụ thể Vì vậy, có
thể xem ĐGCQ “là bước trung gian giữa nghiên cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng
hợp lý tài nguyên và BVMT” [38]
b Quy trình và nội dung đánh giá cảnh quan
Theo Phạm Hoàng Hải (2004), Nguyễn Cao Huần (2005), quy trình đánh giá được tiến hành theo các bước sau:
Xác định mục tiêu, đối tượng và đơn vị đánh giá: Mục tiêu đánh giá phải rõ
ràng, đây là căn cứ xác định đối tượng và lựa chọn đơn vị đánh giá thích hợp
Thống kê đặc điểm tự nhiên của đối tượng đánh giá: Để thống kê đặc điểm đối
tượng cần phải phân tích so sánh các yêu cầu sinh thái, yêu cầu kỹ thuật của các đối tượng đánh giá của lãnh thổ với đặc điểm các yếu tố tự nhiên, đặc điểm của các địa tổng thể
Lựa chọn và xác định trọng số chỉ tiêu đánh giá
- Lựa chọn chỉ tiêu: là khâu quan trọng trong quy trình đánh giá, nó phụ thuộc
vào đối tượng, mục đích đánh giá và ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả đánh giá Tuy nhiên, khi lựa chọn các chỉ tiêu phải đảm bảo rằng chỉ tiêu đó có sự phân hóa theo không gian lãnh thổ nghiên cứu và số lượng chỉ tiêu phù hợp với đối tượng đánh giá Ngoài ra, trong quá trình lựa chọn chỉ tiêu đánh giá cần xác định nhân tố giới hạn để loại bỏ, nghĩa là các nhân tố tạo nên điều kiện hoàn toàn bất lợi cho khai thác và sử dụng lãnh thổ thì không đưa vào đánh giá
- Xác định trọng số của chỉ tiêu: Trên thực tế, các chỉ tiêu lựa chọn thường có tính chất, mức độ và giá trị không đồng đều Vì thế để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả đánh giá cần xác định thêm hệ số (trọng số) cho các chỉ tiêu Trọng số có thể xác định bằng nhiều cách: theo ý kiến chuyên gia, phân tích hệ số hồi quy tuyến tính, phân tích chỉ số kinh tế, Trong đề tài này, trọng số của các chỉ tiêu được xác định bằng phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) của T.L Saaty [163]
Xây dựng thang điểm đánh giá: Để phân bậc thang điểm đánh giá của mỗi
chỉ tiêu phải dựa vào các ngưỡng sinh thái, kỹ thuật của các đối tượng lựa chọn, mỗi chỉ tiêu phân chia làm các bậc đánh giá và gán điểm số tương ứng Trong luận
án này, các bậc được xác định cho các cây trồng và loại hình sản xuất nông nghiệp
là: rất thích nghi, thích nghi trung bình, ít thích nghi và không thích nghi với điểm
số tương ứng là 3, 2, 1, 0
Trang 39 Đánh giá riêng cho từng địa tổng thể: Đánh giá riêng dựa trên cơ sở so sánh
đặc điểm của từng địa tổng thể với thang điểm đánh giá đã xây dựng ở giai đoạn trên Điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu là số điểm của các bậc đánh giá nhân với trọng số của chỉ tiêu đó
Đánh giá tổng hợp và phân cấp thích nghi
Điểm đánh giá tổng hợp được xác định bằng trung bình cộng hoặc nhân của các điểm đánh giá riêng của từng chỉ tiêu Trong thực hiện đề tài, NCS lấy điểm trung bình cộng để đánh giá kết quả Điểm trung bình cộng được xác định theo công thức được theo Nguyễn Cao Huần [38]
𝑋 = 1
Trong đó: X: Điểm trung bình cộng đánh giá
wi: Trọng số của chỉ tiêu thứ i xi: Điểm đánh giá của chỉ tiêu thứ i i: Chỉ tiêu đánh giá, i = 1,2,3 n
Căn cứ vào điểm trung bình cộng để phân cấp các mức độ đánh giá từ không thích nghi đến rất thích nghi, được xác định bởi công thức:
Phân tích các kết quả đánh giá: là bước cuối cùng trong ĐGCQ đối với tất cả
các chủ thể với mục đích lựa chọn được loại hình phù hợp nhất cho từng đơn vị CQ, đưa
ra những kiến nghị sử dụng hợp lý CQ và thành lập bản đồ định hướng sử dụng hợp
lý lãnh thổ nghiên cứu
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
1.2.2.1 Quan niệm về tổ chức lãnh thổ sản xuất nông nghiệp
Khái niệm về Tổ chức lãnh thổ (Territorial organization) hay Tổ chức không
gian (Spatial organization) được đề cập đầu tiên trong cơ sở lý thuyết kinh tế của S
Adam và R David trong thế kế kỷ 19, sau đó được ứng dụng vào thực tiễn từ những
Trang 40năm 1950 tại các nước châu Âu và ở Liên Xô (cũ) vào đầu những năm 1960 Từ đó đến nay, khái niệm này được nhiều nhà khoa học sử dụng trong nghiên cứu [122]
Ở Tây Âu, thuật ngữ Tổ chức không gian kinh tế xã hội được sử dụng phổ biến
bởi các nhà địa lý, họ xem đó là việc lựa chọn các phương án sử dụng lãnh thổ một
cách đúng đắn và có hiệu quả Theo Morrille (1970), “Tổ chức không gian là khái
niệm của loài người về sử dụng có hiệu quả không gian trên Trái Đất” Còn các tác
giả như R Tissen và F.L Deprez (2008) thì cho rằng tổ chức không gian liên quan
đến việc thiết kế và quản lý “sắp xếp không gian”, được xem như là một phần của
định hình và tổ chức cảnh quan Điểm chung của các nghiên cứu đều khẳng định việc thiết kế, tổ chức không gian là công cụ để sử dụng hiệu quả lãnh thổ (dẫn theo [63])
Ở Liên Xô (cũ), thuật ngữ TCLT sản xuất được thể hiện trong các nghiên cứu
của A.E Probxt và M.G Skolnicov vào giữa thập kỉ 60 của thế kỉ XX, theo đó TCLT
sản xuất là sự kết hợp cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động (bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng TNTN), được liên kết lại bởi cơ cấu quản lí với mục đích tái sản xuất cuộc sống xã hội, trên cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái KTXH nhất định
(dẫn theo [92])
Ở Việt Nam, Lê Bá Thảo quan niệm “TCLT là một hành động của địa lý học có
ý nhằm hướng tới một sự công bằng về mặt không gian” [86] Lê Thông, Nguyễn
Minh Tuệ, Đặng Văn Phan khi nghiên cứu về KTXH Việt Nam đã định nghĩa “TCLT
sản xuất là toàn bộ quá trình hay hành động của con người nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có tính đến các mối quan hệ, liên hệ của chúng, các sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng [66, 92, 103] Trong khi đó,
Phạm Hoàng Hải & cs thì nhìn nhận TCLT dưới góc độ CQ học, ông cho rằng
“TCLT là một phương pháp tiếp cận tổng hợp, xem xét, nghiên cứu để bố trí lại các
ngành sản xuất, kinh tế, xây dựng những định hướng phát triển một cách toàn diện cho từng vùng, từng miền lãnh thổ sao cho phù hợp với tiềm năng tự nhiên, đồng thời
dự báo xu thế phát triển trong một tương lai lâu dài và theo từng giai đoạn cụ thể, đảm bảo sự hài hoà trong phạm vi cả nước nói chung” [31] Theo Nguyễn Cao Huần,
để tổ chức không gian sản xuất của một lãnh thổ cần dựa trên cơ sở lý luận khoa học
về TCLT, CQ học ứng dụng và thực tiễn của hiện trạng nguồn lực tự nhiên, nhân văn
và định hưống phát triển kinh tế của lãnh thổ đó [39] Ngoài ra, ở nước ta khái niệm
“Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng” rất gần với khái niệm “Tổ chức không