1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tai nguyen va khai thac tai nguyen bien dao Viet nam

63 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Nguyên Và Khai Thác Tài Nguyên Biển – Đảo Việt Nam
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 9,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, quần thể rùa biển ở Côn Đảo rất nhiều, hằng năm vào mùa sinh sản, có hàng ngàn rùa biển lên các bãi cát để đẻ trứng,… Nhắc đến Côn Đảo cũng phải kể đến những truyền thuyết gắn [r]

Trang 1

CHỦ ĐỀ 2 TÀI NGUYÊN VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN BIỂN – ĐẢO VIỆT

NAM

Trang 2

Hình 2.1 Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển

1 Tài nguyên sinh vật biển, đảo phong phú và đa dạng

1.1 Thực vật

a) Rừng ngập mặn

Việt Nam có diện tích rừng ngập mặn đứng thứ hai thế giới, sau rừngngập mặn ở cửa sông Amazôn (Nam Mỹ) Rừng ngập mặn không chỉ hấpdẫn các nhà nghiên cứu thực vật, mà còn cả những nhà nghiên cứu động vật,thổ nhưỡng, sinh thái, môi trường, du lịch

Rừng ngập mặn có vai trò rất to lớn trong việc mở rộng diện tích đấtven biển, bảo vệ đê, hạn chế xói lở, chống gió bão, chống nạn cát bay Trong trận sóng thần ở Nam Á (tháng 12 năm 2004) cho thấy, những nơinào có rừng ngập mặn hay rừng ven biển tươi tốt thì những nơi đó tổn thấtgiảm bớt khá nhiều

Về mặt kinh tế, rừng ngập mặn là nguồn cung cấp gỗ, chất đốt, các sảnphẩm cho ngành công nghiệp, dược liệu Ngoài ra, đây còn là địa bàn cư trúcủa nhiều loài côn trùng, chim, bò sát, thú có vú, tôm, cua, cá

Ở nước ta, rừng ngập mặn tập trung chủ yếu ở Nam Bộ, nhất là ở tỉnh

Cà Mau Miền Bắc do có mùa đông lạnh, đồng thời các vùng cửa sông cũnghẹp hơn, nên diện tích rừng ngập mặn và cây cũng nhỏ hơn Còn dọc miềnTrung rất ít bãi lầy ven biển, các cồn cát chiếm diện tích đáng kể, suốt chiềudài trên 1000km chỉ có những đốm nhỏ rừng ngập mặn

- Rừng ngập mặn miền Bắc phát triển từ Móng Cái đến Cửa Đáy

+ Vùng Quảng Ninh ít sông hơn, ngoài khơi có các đảo che chắn gióbão, độ mặn nước biển tương đối cao và ít biến động, do đó có nhiều loàicây chịu mặn, nhưng chỉ cao khoảng 3 – 4m Ở đây phổ biến là các cây mắmđen, cỏ gà, muối biển, sú, đâng, trang, vẹt, tra, cóc, giá…

Động vật phong phú, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như hầu,

sò, ngao, phi, ngán, don Quảng Ninh còn có bãi sá sùng (một loài giun) diệntích hàng nghìn hec ta, trữ lượng hàng nghìn tấn, là một thực phẩm xuấtkhẩu được ưa chuộng Bào ngư, trai ngọc sống bám trên các bãi đá ngầm Ở

Trang 3

vùng cửa sông có nhiều tôm rảo Cua bể, ghẹ cũng khá nhiều ở rừng ngậpmặn Quảng Ninh.

+ Rừng ngập mặn từ cửa Bạch Đằng (Hải Phòng) đến cửa Thái Bình,nằm trong vùng cửa sông Thái Bình, thủy triều vào sâu, nhưng do sông đãnhiều nước nên cây bần chua trở thành loài chiếm ưu thế, sau đó đến sú,trang, còn các loài ưa nước mặn như mắm đen, đâng, vẹt giảm sút mạnh vàkhẳng khiu hơn ở Quảng Ninh Động vật cũng nghèo hơn, đáng kể là don ởVĩnh Bảo, Tiên Lãng, vẹm xanh ở Đồ Sơn, giá biển ở Đình Vũ, An Thụy,ngoài ra còn có tôm rảo và cua bể

Hình 2.2 Rừng ngập mặn

+ Ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình thuộc phạm vi tam giác châu thổsông Hồng, rừng ngập mặn rất hiếm do: lượng nước sông Hồng rất lớn, nênphạm vi diện tích nước hơi lợ (0,5-5‰) rất rộng, không thích hợp với nhiềuloài sinh vật cần độ mặn cao hơn; mặt khác, vùng này còn bị tác động củasóng, gió, bão rất mạnh, cây cũng khó phát triển, nhưng nguyên nhân chính

là quai đê lấn biển và phá rừng Cây tiên phong ở đây là cỏ ngạn che kín cảbãi hoặc xen với cỏ gấu, cỏ gà, sau đến sú, vẹt, ô rô, vào sâu bên trong cóbần chua Hiện nay nhân dân đang trồng thêm trang làm dải rừng chắn sóng

Trang 4

bảo vệ đê biển Tuy nhiên, trên các bãi triều vẫn có một số loài thân mềm, cótrữ lượng cao, như vọp với diện tích phân bố đến 2600ha, trữ lượng 12000tấn và ngao với diện tích 1800ha, trữ lượng 2500 tấn ở Xuân Thủy (NamĐịnh) và Kim Sơn (Ninh Bình) Các loài khác như don, sò lông không đáng

kể Nhưng điều lí thú nhất là có cỏ ngạn, nguồn thức ăn cho nhiều loài chimnước mà vùng cửa sông Hồng là nơi tập trung rất đông chim di cư đến trúđông hoặc tạm dừng chân trên đường bay đi và bay về giữa vùng ôn đới báncầu Bắc và châu Đại Dương ở bán cầu Nam, vì mùa khí h u hai bán c uậ ở ầtrái ngược nhau Theo k t qu nghiên c u, có kho ng 150 lo i chim di c ế ả ứ ả à ư

Th i gian chúng xu t hi n l v o hai th i kì, cu i thu (tháng 9 – 11) vờ ấ ệ à à ờ ố à

u xuân (tháng 3 – 4) Trong s lo i chim di c có c lo i quý hi m,

nh b nông chân h ng, mòng bi n ư ồ ồ ể đầ đu en, cò thìa, cò tr ng Trungắ

Qu c, cho t chân m ng, choi choi m thìa ố ắ à ỏ được ghi v o Sách à đỏ ủ c a Tổ

ch c b o v chim qu c t Ng y 20 – 9 – 1988, vùng ứ ả ệ ố ế à đất ng p m nậ ặXuân Th y l vùng ủ à đất ng p m n ậ ặ đầu tiên c a Vi t Nam ủ ệ được ghi v oàCông ước qu c t b o v ố ế ả ệ đất ng p nậ ước (Ramsar)

BẢNG 2.1: VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦYVườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) là rừng ngập mặn ở Việt Namđược quốc tế công nhận là rừng ngập mặn thứ 50 của Công ước Ramsar vềcác vùng đất ngập nước trên thế giới

Vườn quốc gia Xuân Thủy cách Hà Nội khoảng 150 km (thuộc địa phậnThái Bình, Nam Định), có diện tích tự nhiên 7.100 ha, là điểm dừng châncủa các loài

chim di trú quốc tế Ước tính cótới 215 loài chim nước hiện đangsinh sống tại đây, trong đó cónhững loài gần như tuyệt chủngnằm trong sách đỏ quốc tế như:

cò thìa, bồ nông, mòng biển,choi choi, mỏ thìa, diệc đầuđỏ… Với những ưu đãi mà thiênnhiên đã ban tặng, vườn quốcgia Xuân Thuỷ là rừng ngập mặnđộc đáo, là tài nguyên thiênnhiên quý báu của quốc gia, nơi đây đang chứa đựng những tiềm năng biển

vô cùng quý giá về sinh thái biển, du lịch biển Tuy nhiên vườn đang gặp rất

Hình 2.3 Cò mỏ thìa mặt đen, một

trong những loài chim quý hiếm có mặt

tại Vườn quốc gia Xuân Thuỷ

Trang 5

nhiều thách thức do mất cân bằng sinh thái, mà nguyên nhân chủ yếu là sựtác động của con người.

Sự xuất hiện của loại cò thìa ở vườn quốc gia Xuân Thủy là điểm khácbiệt so với các khu vực rừng ngập nước trên thế giới Theo các nhân viên củavườn quốc gia Xuân Thủy, có tới 65 con cò thìa và hơn 20 con choi choi mỏthìa thường xuyên di trú tại vườn Thế nhưng đó là con số thống kê cách đâyhơn 10 năm, còn hiện nay con số này chỉ đếm trên đầu ngón tay Có rấtnhiều nguyên nhân dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái của khu vực vườnquốc gia Việc thay đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường đã hạn chế sựsinh trưởng và thay đổi môi sinh, nguồn thức ăn cho các loài chim, thú.Nhưng nguyên nhân chủ yếu là những hoạt động của con người đã ảnhhưởng trực tiếp tới các môi trường sống của các loài chim có nguy cơ tuyệtchủng như hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, hoạt động sản xuất -kinh doanh của các hộ nuôi tôm, việc đào đắp các đầm nuôi tôm, sản xuấtthức ăn cho tôm, nước thải, đánh bắt hải sản tự do, săn bẫy chim…

- Rừng ngập mặn miền Trung, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, không pháttriển thuận lợi do ít bãi lầy ven biển, nhiều cát và đụn cát, đồng thời sóng, gió,bão cũng mạnh, cho nên rừng chỉ tập trung thành dải hẹp phía trong các cửasông

+ Phía Bắc đèo Hải Vân, cây tiên phong là mắm, sau đến đâng, trang,rồi sú, vẹt, trong cùng làn bần, ô rô, cói, những loài nước lợ nên có thể vàosâu trong sông đến 30km

+ Từ đèo Hải Vân trở vào, cây rừng ngập mặn phong phú hơn và caohơn, khoảng 4 – 5m, do không còn mùa đông lạnh Đước trở thành cây ưuthế với các loài đước xanh, đước đôi, rồi đến vẹt dù, vẹt tách, trên đất là côi,cóc đỏ, dà vôi, giá, su, chà là Nơi nước lợ có bần chua và ô rô

Động vật chiếm ưu thế là các loài thân mềm tại các bãi triều và tôm,cua, ghẹ tại các lạch triều Ở Bắc Trung Bộ chủ yếu là phi, hầu, ngao, vẹm;Nam Trung Bộ là sò, điệp, móng tay, sút, vẹm xanh, ngao

- Rừng rậm ngập mặn ở miền Nam có sinh khối (1) thực vật và động vậtphong phú và đa dạng Năng suất trung bình của vùng cửa sông tới 20tấn/ha/năm với mức dao động từ 5 đến 40 tấn, gấp 3 lần đất nông nghiệp, gấp5,7 lần thềm lục địa và 16 lần biển sâu Tại vùng của sông Cửu Long, năng1() Sinh khối là khối lượng chất hữu cơ của tất cả các sinh vật có trong hệ sinh thái ở thời điểm quan sát và được tính bằng số lượng cá thể, bằng trọng lượng hoặc bằng đơn vị năng lượng.

Trang 6

suất của rừng ngập mặn khoảng 10 – 12 tấn/ha/năm, ngao sò có thể tới 30tấn/ha/năm, tôm 500 kg/ha/năm Nếu tính cả chim, thú thì tổng sinh khối thật

là lớn

Động vật bao gồm nhiều loài như ngao, sò, ốc, hến, tôm, cua, ghẹ, cá…Trong rừng, ta còn gặp đủ các loài sống trên cây, trên đất, ăn lá, mật hoa, quả

và hạt như khỉ, sóc, chuột, lợn rừng, ong, ngoài ra các loài ăn sâu bọ, ăn thịt

và ăn tạp khác như rái cá, mèo cá, rắn, kì đà, cá sấu, dơi, nhiều nhất là chim,sống tập trung thành những sân chim hàng chục vạn con như cò, ngỗng, bồnông, sếu, mòng biển…

Rừng ngập mặn ở miền Nam phát triển từ cửa sông Đồng Nai tới HàTiên, nhưng tốt nhất là ở vùng 9 cửa sông (2) và bán đảo Cà Mau Ở Cà Maucây tiên phong là mắm trắng, rồi đến đước, cao tới 30m, đường kính 30-40

cm, rễ to chẵng chịt cắm sâu trong lớp bùn dày hàng chục mét, mọc lẫn vớivẹt, dà vôi Trên đất cao là dà quánh, cóc trắng, cóc đỏ, cui biển, giá, tra,mướp xát, cuối cùng là chà la, rang Cây nước lợ ngoài cửa sông là bần, khi

đi sâu vào trong các kênh rạch là dừa nước rất đặc trưng, mọc xen có máidầm, ô rô

Động vật rừng đước Cà Mau vô cùng phong phú Dưới nước có cá đối,

cá bống, cá nhụ, tôm thẻ, tôm sú, tôm càng xanh Về chim, có sân chim CáiNước, Đầm Rơi với hàng chục loài và hàng chục vạn con, trong đó có diều

cá, cò bợ, cò lửa, cò quăm đầu đen, diệc xumatra, gà đẫy java, hạc cổtrắng… Về bò sát có kì đà hoa, trăm mốc, trăm gấm, rắn sọc dưa, cá sấunước lợ, rùa hộp lưng đen, rùa ba gờ Về thú có cầy lỏn, rái cá họng trắng,dơi đen, khỉ nước…

Bảng 2.1 VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAUVườn quốc gia Mũi Cà Mau cách thành phố Cà Mau 120km về phía TâyNam Vùng đất Mũi Cà Mau ngoài giá trị văn hóa, lịch sử, vẻ đẹp nên thơ,bên trong nó còn chứa đựng sự đa dạng về cảnh quan, môi trường, tàinguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học hiếm có Sự độc đáo của Mũi CàMau là vùng sinh thái bãi bồi, rừng ngập mặn ven biển, vùng sinh sản và trúngụ của các loài thủy sinh vịnh Thái Lan, điểm dừng chân và trú ngụ củanhiều loài chim di trú quí hiếm trên thế giới

2() Cửa Soi Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiêu, cửa Cung Hầu, cửa Định

An và cửa Tranh Đề.

Trang 7

Ngày 26/5/2009 tại Hàn Quốc, UNESCO đã công nhận Vườn quốc giaMũi Cà Mau là khu dự trữ sinh quyển thế giới thứ tám ở Việt Nam

Đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị cao về đa dạng sinhhọc, cảnh quan thiên nhiên, môi trường và rất quan trọng trong phòng hộ bờbiển, chắn gió, chắn sóng chống xói lở, cố định đất trong quá trình hìnhthành đất liền tiến ra Biển Đông Đây là một trong những địa điểm quantrọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học của nước ta,nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương Tạo nên một vùng sinh thái cửa sông, ven biểnduy nhất ở Việt Nam với những nét đặc trưng của hệ động thực vật rừngngập mặn

Hình 2.4 Trồng rừng ngập mặn

Hệ thực vật ở đây có 22 loài ngập mặn đã được phát hiện, trong đó chiếm

ưu thế thuộc về loài đước, mắm trắng, mắm, mắm ổi, trang với quần thể thựcvật gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây đước, cây vẹt và rừng mấm.Cây mấm là loài tiên phong lấn biển có hệ thống rễ đặc biệt giữ đất bãi bồi,chống xói lở và hình thành các dãy rừng phòng hộ ven biển Ngoài cây đước,thảm thực vật ở rừng ngập mặn Vườn quốc gia Mũi Cà Mau còn có vẹt, sú,bần, cóc, chà là, dương xỉ, nhiều loại dây leo…Theo các nhà khoa học, hệthống rừng ngập mặn ở đây được cho là đa dạng thứ hai thế giới, chỉ kémrừng ngập mặn Amazôn ở Nam Mĩ

Trang 8

Hệ động vật, với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ Trong đó có một số loàinằm trong Sách Đỏ thế giới như: khỉ đuôi dài, voọc bạc (cà khu), nhọ nồi vànhiều loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam; lớp chim có 74 loài thuộc 23 họ,trong đó có một số loài quí hiếm như cò trắng Trung Quốc, choắt mỏ conghông nâu, rẽ mỏ rộng, bồ nông chân xám - còn gọi là chàng bè, cò lạo Ấn Độ(giang sen), diệc mốc và quắm đầu đen; quần xã chim trong sinh cảnh rừngngập mặn đặc trưng với các loài phổ biến như chích bông nâu, vành khuyênhọng vàng và rẻ quạt java; bò sát có 17 loài thuộc 9 họ, nhiều loài bò sát ởVườn quốc gia Mũi Cà Mau có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới Có

5 loài lưỡng cư thuộc 3 họ; 14 loài tôm; 175 loài cá thuộc 116 giống và 77họ; 133 loài động, thực vật phiêu sinh Động vật ở đây không những phongphú về thành phần loài mà còn có số lượng cá thể từng loài lớn Đến Vườnquốc gia Mũi Cà Mau, quí khách có thể dễ dàng bắt gặp nhiều loại đặc sảncủa Cà Mau như: rắn, rùa, trăn, cua biển, ba khía, ốc len, dọp, sò huyết,nghêu, cá ngát, cá đuối, cá nâu, cá mú, cá thòi lòi

Đặc biệt, diện tích đất liền của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không ngừngđược mở rộng một cách tự nhiên, hàng năm Mũi Cà Mau lấn ra biển hàngvài chục mét bằng nguồn phù sa do hệ thống sông, kênh, rạch bồi đắp dưới

sự giúp sức của bộ rễ phù sinh của rừng mắm, đước ven biển Với những đặctính quí giá về sự đa dạng sinh học và điều kiện lập địa hiếm có nên Vườnquốc gia Mũi Cà Mau xứng đáng được công nhận là khu dự trữ sinh quyểnthế giới

- Mối đe dọa đối với rừng ngập mặn

Trước năm 1945, rừng ngập mặn chiếm khoảng 400.000ha, chủ yếuphân bố ở Nam Bộ (Cà Mau trên 150.000ha) Trải qua hai cuộc chiến tranh,khai thác quá mức, chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động du lịch làmdiện tích rừng ngập mặn giảm sút nhanh Năm 1982 còn 252.000ha, năm

1999 xuống còn khoảng 200.000ha, 2002 chỉ còn lại trên 155.000 ha Rừngngập mặn bị tàn phá, chúng ta không những mất đi nguồn lợi hải sản và cácnguồn lợi khác do rừng mang lại mà còn phải hứng chịu nạn xói lở, sạt bờbiển… do không còn tấm lá chắn rừng ngập mặn bảo vệ Dự án Biển Đông

do UNEP (Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc) xây dựng trongkhuôn khổ hỗ trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu, với sự tham gia của 7 nước:Campuchia, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc và ViệtNam Theo kế hoạch hành động cho hợp phần Rừng ngập mặn trong dự án

Trang 9

Biển Đông, mục tiêu đặt ra là năm 2010 diện tích rừng ngập mặn được khôiphục bằng 85% diện tích của năm 1982 (http://vnexpress.net).

- Biện pháp bảo vệ rừng ngập mặn

+ Ngăn chặn việc khai thác tài nguyên rừng trái phép Phòng chốngcháy rừng Tăng cường trồng rừng Nâng cao ý thức của người dân trongviệc bảo vệ rừng ngập mặn

+ Cần phải tính toán kĩ lưỡng khi nuôi tôm trong rừng ngập mặn làmsao không ảnh hưởng đến rừng ngập mặn, đồng thời giúp cải thiện kinh tếcho nhân dân Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp với các

tổ chức quốc tế khác đã đưa ra các nguyên tắc nuôi tôm bền vững mà khôngảnh hưởng sâu sắc, lâu dài đến rừng ngập mặn

Lựa chọn vị trí nuôi tôm phù hợp

Thiết kế và xây dựng khu vực nuôi tôm nhằm giảm thiệt hại môitrường

Sử dụng nước sao cho giảm tác động của nước thải nuôi tôm đến nguồnnước

Lựa chọn nguồn giống tôm nuôi địa phương không bị dịch bệnh

Lựa chọn và quản lí thức ăn của tôm sao cho hiệu quả và ít xả thải ra môitrường

Chăm sóc tôm nuôi bằng các phương pháp không gây hại cho các sinhvật hoang dã

Đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng tôm nuôi Không sử dụngcác hóa chất gây hại cho hệ sinh thái và sức khỏe con người

+ Tránh phát triển du lịch ồ ạt ở vùng rừng ngập mặn, nếu không sẽ ảnhhưởng đến môi trường sống của nhiều loài sinh vật, gây ô nhiễm môitrường

Trang 10

mềm nhiều bùn Rong biển sinh sản và phát triển từ tháng 11 đến tháng 5 vàtàn lụi vào mùa hè (tháng 6 - 7).

- Số loài rong biển có giá trị kinh tế khoảng 90 loài, chiếm 13,7% trongtổng số 653 loài, trong đó rong mơ và rong câu là quan trọng nhất

+ Rong mơ có trữ lượng khoảng 35.000 tấn, tập trung nhiều ở phía Nam(chiếm 61,42%), nhất là từ Phú Yên đến Bình Thuận, còn ở miền Bắc(chiếm 38,58%), tập trung hầu hết ở Quảng Ninh

+ Rong câu có trữ lượng khoảng 9300 tấn, vịnh Bắc Bộ có khoảng 5500tấn chiếm 59,1%, còn miền Nam có 3800 tấn, chiếm 48,9% Các tỉnh cónhiều rong câu là Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên

- Về sản lượng khai thác: rong câu có sản lượng khai thác khoảng 7000tấn, trong đó rong câu chỉ vàng chiếm tuyệt đại đa số (trên 90%) Sản lượngrong mơ khai thác chỉ được khoảng 2000 tấn

- Rong biển có rất nhiều công dụng

+ Nhóm dùng làm thực phẩm chiếm đa số (33%) do rong biển giàuprotein, chủ yếu gồm các loài như rong cải biển, rong mứt, rong đông, ronggiấy, rong cạo, rong thun thút dùng để làm nộm hoặc nấu thạch, chế biếnnước giải khát, có thể phơi khô để dùng dần

+ Nhóm dùng trong công nghiệp chiếm 27%, chủ yếu để chế biến agar,alginate Agar được chế biến từ rong câu có trên 50 công dụng, như làm tăng

độ trong của rượu, làm xốp bánh mì, lấy giấy bọc kẹo, vỏ bọc thuốc, hồ tơlụa, làm thuốc đánh răng Alginate chế biến từ rong mơ cũng được dùng đểsản xuất cao su, xà phòng, keo dính, giấy không thấm nước, kem bôi da,thuốc nhuộm tóc, dầu bôi trơn

+ Nhóm dùng trong y dược chiếm 20% để chế thuốc giun, thuốc điềutiết sinh sản, điều trị huyết áp, điều chế thuốc gây mê, chữa bệnh bướu cổ,làm chỉ khâu vết thương

+ Ngoài ra, rong biển còn được khai thác làm thức ăn cho gia súc, làmphân bón hữu cơ …

- Rong biển có dạng thân bụi sống bám vào các riềm đá, rạn san hô Rongbiển đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng hệ sinh thái venbiển Rong biển hấp thụ chất dinh dưỡng, làm sạch nước, là nơi cư ngụ, ươm

Trang 11

nuôi ấu trùng, sinh trưởng và sinh sản của rất nhiều loài thủy hải sản như cáchuồn, cá dìa, mực…

Hình 2.5 Rong được phơi dọc bờ

biển Quảng Ngãi

(http://dantri.com.vn)

Hình 2.6 Phơi rong biển ở đảo Cô

Tô, Quảng Ninh (http://baoquangninh.com.vn)

- Do rong biển có nhiều giá trị, cho nên trong những năm gần đây,người dân vùng ven biển đã ồ ạt khai thác cây rong biển Nhiều nơi rongbiển khai thác lên được phơi trên cát hoặc chất thành từng đống Trước kia,mỗi năm người ta chỉ vớt rong vào tháng 5 và 6, còn bây giờ, nhiều nơi rongđược khai thác từ tháng 3 tháng 4; thay vì chỉ vớt ven bờ ở độ sâu khoảng 3mét nước thì nhiều người khai thác lặn xuống lấy rong cả ở những nơi rấtsâu, kể cả ở các rạn san hô quý hiếm Với việc khai thác rong một cách vôtội vạ như vậy sẽ khiến môi trường sinh thái biển bị tổn hại, các rạn san hô

bị phá hủy và tôm, cá không còn nơi trú ngụ, sinh sản

Bảng 2.2 KHAI THÁC RONG MƠ ĐƯỢC GÌ, MẤT GÌ?

Do chưa nhận thấy được những giá trị to lớn về mặt sinh thái của rong mơcũng như mong muốn tìm được một nguồn thu cho gia đình vào những lúcbiển giả khó khăn, đã có những thời điểm, người dân đảo Cù Lao Chàm khaithác rong mơ một cách rầm rộ để bán cho các thương lái Nguy hiểm hơn, ngưdân lại khai thác vào thời điểm rong đang độ phát triển mạnh, đây là thời điểm

mà trên các nhánh rong chứa vô số trứng của các loài cá chuồn, cá dìa, mực vàrất nhiều loài hải sản khác trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Trang 12

Hình 2.7 Rong mơ mang nhiều trứng các loài thủy sản bị giật cả gốc,

mang theo cả san hô (Ảnh: Chu Mạnh Trinh, 7/2011)

Để khai thác rong mơ, người dân lặn xuống và giật mạnh từng bụi ronglàm vỡ nát, hư hại nhiều diện tích san hô, các riềm đá, kéo theo sự hủy hoạicác hợp phần đáy và các quần xã sinh vật sống cùng Với cách khai thác nhưvậy, ngư dân đã vô tình làm hủy hoại nghiêm trọng môi trường sống, cắt đứtnhiều mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên Việc khai thác rong

mơ đồng nghĩa với việc mất đi một số lượng lớn trứng các loài thủy sản dochúng dính vào rong Một số trứng bị tách khỏi giá thể (cành rong), trôi lơlửng làm mồi cho địch hại Cá thể nhỏ không có nơi cư trú, cá trưởng thànhkhông có nơi sinh sản… và toàn bộ ngôi nhà sinh thái của chúng bị đảo lộnhoàn toàn

Rong mơ phơi khô được các thương lái mua với giá 5000 đ/kg Theo cácnhà khoa học ước tính trong 1 kg rong mơ đó có hàng ngàn trứng các loài thủysản mà theo tự nhiên chúng sẽ phát triển cung cấp cho ngư trường hàng tạ sảnlượng thủy sản vào năm sau Qua đó chúng ta có thể thấy được kết quả củamột bài toán nhỏ: Khai thác 1 kg rong mơ người dân thu được vài ngàn đồngnhưng đã làm mất đi hàng triệu đồng! Nhìn rong được khai thác chất thànhtừng đống lớn trên bãi biển, phơi trên các triền đá, một lão ngư với hơn 50năm gắn bó với nghề biển tại Cù Lao Chàm thở dài: “Khai thác rong mơ kiểu

ni thì còn chỗ mô cho con cá, con tôm, con mực nó “rạy” (trú ẩn, sinh sản)?

Trang 13

Sang năm chắc chắn sẽ mất mùa cá chuồn, cá dìa, mực!”

Lê Ngọc Thảo - Ban quản lí khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

- Rong biển mang lại nhiều lợi ích cho con người, nhưng là loài cóchu trình đời sống 1 năm, nếu không được khai thác thì chúng cũng bị tànlụi, thối rữa trong tự nhiên Vì thế cần phải bảo vệ, có biện pháp khai tháchợp lí, tránh sử dụng lãng phí bằng cách:

+ Qui hoạch vùng khai thác, ấn định thời gian khai thác rong biển đểtránh tác động xấu đến môi trường biển, làm giảm nguồn lợi thuỷ sản

+ Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khai thác rong biển

+ Khuyến cáo người dân tuân thủ những nguyên tắc chung khi tiếnhành khai thác rong biển

+ Tổ chức tuyên truyền đến cộng đồng dân cư về nguồn lợi, giá trị củarong biển đối với môi trường, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển

c) Cỏ biển

Cỏ biển là môi

trường sống của nhiều

loài sinh vật biển Cỏ

biển là nguồn thức ăn

của một số loài cá, loài

giáp xác, chim biển,

rùa biển, bò biển Cỏ

biển chết được phân

hủy và trở thành thức

ăn cho các loài giun

biển, hải sâm, cua, hải

biển còn có ích đối với

con người do chúng giúp chống xói mòn bờ biển trong các cơn bão Cỏ biểncũng bảo vệ các dải đá ngầm san hô, làm sạch nước

Hình 2.8 Cỏ biển dưới đáy đại dương

Trang 14

Hiện nay cỏ biển đang bị huỷ hoại dần dần bởi các chất ô nhiễm docon người đổ ra biển, làm cho nước biển đục khiến cỏ biển không có đủ ánhsáng mặt trời để quang hợp và chết Tại nhiều nơi ở miền Trung, cỏ biển bịkhai thác quá mức làm phân bón và thức ăn cho gia súc Các hoạt động đánhbắt cá bằng lưới kéo và thuyền máy cũng làm đục nước biển hoặc nhổ bật cỏbiển khỏi môi trường sống của chúng Các hoạt động du lịch trên biển như đithuyền trên khu vực có cỏ biển hoặc xả rác trên bãi biển cũng là nguyênnhân khiến cỏ biển chết Việc hủy hoại cỏ biển đương nhiên sẽ ảnh hưởngđến nguồn lợi thủy sản biển

Cần có biện pháp bảo vệ cỏ biển bằng cách hạn chế thải các chất ônhiễm vào biển, thành lập khu bảo tồn biển là phương thức hiệu quả và ít tốnkém để duy trì và quản lý nguồn lợi cỏ biển, và đáp ứng những mục tiêu bảotồn khác cũng như nhu cầu sinh kế của con người Việc thiết lập khu bảo tồnbiển sẽ làm mật độ sinh vật biển tăng gấp đôi, sinh khối tăng ba lần, kíchthước của sinh vật và đa dạng sinh học tăng lên 20-30% so với vùng khôngnằm trong khu bảo tồn Trong các khu bảo tồn, trữ lượng hải sản tăng lênsau một thời gian thiết lập (thường sau 5 năm) sẽ cung cấp các ấu trùng hảisản cho các bãi cá bên ngoài nhờ các dòng chảy biển và đại dương

Như vậy thành lập các khu bảo tồn biển không chỉ góp phần đảm bảocân bằng sinh thái vùng biển, đa dạng sinh học, điều hòa môi trường vànguồn giống hải sản mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế lâudài, với nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái Đồng thời, nó còn là cơ sở,

là công cụ hành chính và pháp luật trong việc đấu tranh và bảo vệ an ninh,chủ quyền quốc gia trong phạm vi đặc quyền kinh tế của nước ra

d) Các loại tảo

Tảo lục, tảo lam, tảo nâu, tảo giáp, tảo silic, tảo bánh xe sống trôinổi trong tầng nước mặt Tảo có vai trò rất lớn trong biển và đại dương

Chúng là nguồn thức ăn cho nhiều giống loài động vật ở biển Cho đến nay

người ta biết khoảng 103 giống loài của tảo giáp, tảo silic trong vùng vịnhBắc Bộ Ở vùng biển các tỉnh phía Nam phát hiện được khoảng 300 loài,trong đó 2/3 là tảo silic Trên bản đồ phân bố sản lượng thực vật nổi của cácbiển và đại dương thế giới thì hầu hết diện tích vùng nước thềm lục địa BiểnĐông có sản lượng thực vật nổi vào loại cao

1.2 Động vật

Trang 15

Động vật ở vùng biển Việt Nam rất phong phú và đa dạng, từ động vậtbậc thấp đến động vật bậc cao, từ động vật nổi đến động vật đáy Nhiều loàiquý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao.

a) Cá biển và các loài giáp xác, nhuyễn thể

cá úc

Trữ lượng cá nổi khoảng trên 1,7 triệu tấn và khả năng khai thác hàngnăm đạt khoảng 700.000 tấn Nơi khai thác nhiều nhất là vùng biển phíađông Nam Bộ chiếm 30,3%, sau đó đến miền Trung khoảng 28,9%, vịnhBắc Bộ 22,5% và sau cùng là vùng biển phía tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan)18,3%

Trữ lượng cá tầng đáy khoảng hơn 1 triệu tấn với khả năng khai tháckhoảng trên 400000 tấn/năm Vùng biển phía đông Nam Bộ cũng là nơinhiều cá tầng đáy nhất, chiếm tới 67,91% trữ lượng và khả năng khai thác,sau đến vịnh Thái Lan chiếm 18,5%, vịnh Bắc Bộ chiếm 7,6% và cuối cùng

là miền Trung chiếm 6%

Như vậy tổng trữ lượng cá biển trên biển Đông Việt Nam là khoảnghơn 2,7 triệu tấn, với khả năng khai thác khoảng 1,1 triệu tấn, trong đó cánổi chiếm 62,8%, cá tầng đáy 37,2% Nơi giàu nhất là khu vực đi từ NinhThuận đến Kiên Giang, sau đó đến vịnh Bắc Bộ, nghèo nhất từ Đà Nẵng đếnNha Trang

Nước ta có nhiều bãi cá, trong đó cá tập trung nhiều ở bốn ngư trườngtrọng điểm, đó là ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh TháiLan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngưtrường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trườngquần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa

Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá

ở các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ có vai trò lớn hơn Các tỉnhdẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình

Trang 16

Thuận và Cà Mau Riêng 4 tỉnh này chiếm 38% sản lượng thủy sản khai tháccủa cả nước

Trong những năm gần đây, số lượng tàu đánh bắt tăng, phương tiệnngày càng hiện đại (xem bảng dưới đây), đường lối chính sách khuyến ngư,thị trường mở rộng nên sản lượng đánh bắt (chủ yếu là cá biển) tăng

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010, Tổng cục Thống kê.

Mặc dù phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại nhưng vẫn còn nhiềuphương tiện đánh bắt lạc hậu, nên việc đánh bắt ven bờ vẫn diễn ra phổ biếnlàm cho nguồn lợi hải sản ven bờ bị suy giảm nhanh chóng Trong khi ngoàikhơi, tiềm năng còn nhiều nhưng sản lượng đánh bắt vẫn còn hạn chế

Trang 17

Việc sử dụng chất độc hoặc nổ mìn không những tận diệt loại hải sảnđang khai thác mà còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các loài sinhvật khác.

Đánh bắt xa bờ là cần thiết, góp phần bảo vệ môi trường biển và chủquyền đất nước

Trong số hơn 100 loài tôm, loài có giá trị kinh tế chiếm khoảng 50%, đa

số sống ở vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt.Hầu hết tôm biển đều ưa thích nền đáy bùn hoặc bùn cát, vì thế thường tậptrung ở các vùng cửa sông Cũng có loài sống ở ngoài khơi, xa vùng cửasông, nhưng ở các thời kì tôm con và lớn lên chúng vẫn thường cư trú ở cácbãi triều cửa sông ven biển Nếu chúng ta cứ khai thác ven bờ, sử dụngphương tiện đánh bắt lạc hậu, hình thức đánh bắt hủy diệt sẽ dẫn đến nguồntôm bị cạn kiệt

Tôm tập trung nhiều nhất ở vùng biển Nam Bộ Sản lượng đánh bắthàng năm ở đây đạt trên 80% tổng sản lượng cả nước (khoảng 50.000 tấn) Tôm he tập trung nhiều nhất từ Vũng Tàu đến Phú Quốc, thứ hai là vùngven biển Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, thứ ba là ngoài khơi Ninh Thuận – BìnhThuận Các loài tôm he có giá trị kinh tế cao là tôm he bạc, tôm rảo, tôm bộp,tôm sắt, tôm thẻ rằn, tôm sú, tôm vàng, tôm đuôi xanh Tôm sú có kích thướclớn nhất, dài trung bình 20cm, năng 150g, tối đa có thể đạt đến 30cm, nặng250g

Tôm hùm và tôm rồng tập trung ở vùng duyên hải Trung Bộ từ QuảngBình đến Ninh Thuận Các loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao là tôm hùmsao (loài lớn nhất, tối đa dài đến 36cm, năng 3,4kg, còn trung bình dàikhoảng 23cm, năng 2kg), tôm hùm ma, tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi, tôm hùmxanh, tôm hùm lông Tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi chiếm khoảng 70% tổngsản lượng tôm hùm

Trang 18

Tôm vỗ tập trung ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ngoài khơi Quảng Ngãi –Bình Định – Phú Yên, ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận và vùng Côn Đảo Khả năng khai thác tôm ở vùng biển nước ta khoảng 55 – 70 ngàntấn/năm, trong đó (3):

Bảng 2.5 Kh n ng khai thác tôm các vùng ven b v xa bả ă ở ờ à ờ

Có giá trị nhất là nhóm cua bể, ghẹ Nhìn chung chúng có mặt ở hầu hếtcác vùng bờ biển, nhưng ít tập trung thành các bãi lớn Vì vậy việc khai thácthường là thủ công, cho năng suất thấp

Theo những kết quả nghiên cứu, ở vịnh Bắc Bộ có khoảng 400 loài cua,phân bố tới độ sâu 40 – 50m

Ngoài ra, nhân dân vùng ven biển còn khai thác cáy rạn, cùm cụp, cáyxanh làm thực phẩm

có số lượng lớn và phân bố rộng Mực phân bố ở độ sâu khoảng 10 - 70m,

có nồng độ muối khoảng 30‰ và nhiệt độ nước biển trên 200C Mực rấtthích ánh sáng, cho nên ngư dân thường hay thả lưới đèn và câu bằng đèn.3() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 19

Mùa lạnh, mực lẩn xuống tầng đáy, sang mùa hạ mực cũng xuống sâu đểtránh nắng vào ban ngày, chỉ đến đêm mực mới lên kiếm ăn hàng đàn ở tầngtrên Do đó thời gian câu mực là vào ban đêm và dung đèn sáng để thu húttập trung mực

Những nơi mực tập trung thành các ngư trường lớn phân bố ở vùng đảoCái Chiên – Vĩnh Thực, quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (HảiPhòng) Hòn Mê (Thanh Hóa), Hòn Mắt (Nghệ An), vùng biển Phan Thiết –Hàm Tân (Bình Thuận) Ngoài ra, mực còn có ở vùng biển Nha Trang(Khánh Hòa), Phan Rang (Ninh Thuận), Côn Đảo, Cà Mau nhưng số lượngkhông lớn

Mùa khai thác mực: ở vịnh Bắc Bộ, mực ống khai thác từ tháng 5 đếntháng 10 (đỉnh cao là tháng 8 -10), còn đối với mực nang là tháng 11 - 2 Tạiphía nam, mùa mực ống từ tháng 5 đến tháng 12 (đỉnh cao vào tháng 7 - 9),còn mực nang là tháng 1 - 3

Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60 nghìn tấn, trong đókhả năng đánh bắt khoảng gần 24 ngàn tấn, chiếm 40% trữ lượng

Bảng 2.6 Trữ lượng mực ở các vùng biển (đơn vị: tấn) (4)

Loại mực Vịnh Bắc

Bộ

Biển miềnTrung

Đông NamBộ

Tây Nam Bộ

- Ốc, trai, sò, hàu, vẹm

+ Ốc: có mặt ở hầu hết các vùng ven biển nước nông Ở vịnh Bắc Bộ,

trong nhóm các loài ốc thì có giá trị kinh tế cao là bào ngư Bào ngư phân bố

ở nhiều quần đảo Cô Tô, Ba Mùn, Thượng Mai (Quảng Ninh) Bạch Long Vĩ(Hải Phòng), ven biển Hà Tĩnh, Quảng Trị, quần đảo Côn Sơn

Ở ngoài khơi, trên các rạn san hô của Hoàng Sa, Trường Sa và vùngbiển phía Nam có nhiều loài ốc kích thước lớn, vỏ có nhiều vân đẹp như: ốcđụn, ốc xà cừ, ốc gáo, ốc lam, vú nàng không chỉ làm thực phẩm mà cònkhai thác vỏ để làm hàng mĩ nghệ

4() Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 20

+ Trai, sò, hàu, vẹm chúng có mặt khắp vùng ven biển Trong nhómnày, các loài có giá trị kinh tế cao là: trai ngọc, sò huyết, hàu.

Trai ngọc: chủ yếu khai thác để lấy ngọc sản xuất các mặt hàng mĩ

nghệ xuất khẩu Chúng thường phân bố ở các rạn đá, rạn san hô của vùngđảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nam Trung Bộ, Côn Đảo Hiện nay, ngoài khaithác trai ngọc trong tự nhiên, nghề nuôi thả trai ngọc đang được phát triển ởCái Bầu, Cô Tô (Quảng Ninh), Côn Đảo, Phú Quốc

Sò huyết: là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Những vùng sò huyết

có hàm lượng và chất lượng cao phân bố ở Quảng Ninh, Lăng Cô (ThừaThiên – Huế), Ô Loan (Khánh Hòa), ven biển Đông Nam Bộ

Hàu: thường phân bố trong vùng biển có rạn đá quanh các đảo, các vùng

cửa sông Tại những vùng nước lợ có mực triều cao, giàu thức ăn, hàu pháttriển nhanh Nhiều địa phương không chỉ khai thác hàu trong tự nhiên mà cònnuôi, thả để khai thác làm mặt hàng xuất khẩu như ở Hải Phòng, Hà Tiên(Kiên Giang)

Ngoài ra còn các loài như vẹm xanh, trai tai tượng, hến biển chỉ thấyphân bố ở vùng biển Nam Trung Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Những loài có kích thước lớn, cho sản lượng thịt cao

Những giống loài khác như: tu hài, don, dắt, móng tay, quéo bùn cũngđược nhân dân ta khai thác làm thực phẩm

b) Bò sát

- Rùa biển: là tên gọi chung

của một số loài rùa sống trong môi

trường biển Ở Việt Nam hiện có

ba loài rùa biển không chỉ có giá trị

kinh tế cao về thực phẩm mà còn

để sản xuất các hàng mĩ nghệ là bà

tam, vích, đồi mồi

+ Bà tam: có kích thước lớn

Chiều dài của mai đạt tới 2m, trọng

lượng đạt tới 600kg Bà tam phân

bố ở vùng biển phía nam, gần các

đảo và quần đảo: Phú Quốc, Thổ

Chu, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường

Hình 2.10 Con vích này có chiều dài 1,8m, chiều ngang lưng 1m, nặng khoảng 200kg Toàn bộ cơ thể vích chỉ một màu đen, đã được ngư dân huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) thả về biển tháng 5/2011

Trang 21

Sa Người ta khai thác trứng và thịt của bà tam làm thực phẩm, mai dùng đểnấu cao hoặc là đồ mĩ nghệ.

+ Vích: có kích thước nhỏ hơn bà tam, phân bố ngoài khơi gần các đảo

và quần đảo vùng vịnh Bắc Bộ, Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Sơn, Hoàng Sa,Trường Sa Người ta khai thác thịt và

trứng vích làm thực phẩm, mai vích

để sản xuất hàng mĩ nghệ

Ngoài khai thác trong tự nhiên,

hiện nay nhiều nơi có quy hoạch nuôi

thả vích như ở Cát Bà (Hải Phòng),

Cái Bầu (Quảng Ninh), Phú Quốc,

Côn Đảo

+ Đồi mồi: có kích thước nhỏ,

chiều dài thân trung bình khoảng

90cm, trọng lượng từ 70kg đến 80kg

Không chỉ có giá trị về mặt thực

phẩm, đồi mồi còn là nguyên liệu để

sản xuất các mặt hàng mĩ nghệ cao cấp Đồi mồi phân bố chủ yếu ở CônĐảo, Thổ Chu, Phú Quốc

Cũng như vích, ngoài việc khai thác trong tự nhiên, nhiều địa phương

đã tiến hành nuôi thả đồi mồi ở các đầm nước mặn để tăng sản lượng và bảo

vệ chúng, như Bãi Đầm (Côn Đảo), đầm Ba Hòn (Hà Tiên – Kiên Giang)

- Rắn biển:

Đây là nhóm rắn sống trong môi trường biển Số lượng rắn biển ở nước tarất phong phú Chúng sống ở những nơi mà bờ biển có nhiều hốc đá hoặc trongcác vùng rừng ngập mặn Kích thước của rắn biển từ 1m đến 1,5m, có khi đạttới 2,5m

Tất cả rắn biển đều có nọc độc Người ta dùng thịt rắn biển để làm thựcphẩm, nọc dùng để sản xuất thuốc giảm đau, viêm thần kinh, giảm áphuyết , da dùng để sản xuất các mặt hàng như ví, túi xách, thắt lưng

c) Thú có vú

- Cá voi thường gặp với các loài cá voi xanh, cá voi không răng, cá voi

khoang Chúng là những loài có nguồn gốc Thái Bình Dương, xâm nhập

Hình 2.11 Đồi mồi

Trang 22

vào Biển Đông trong quá trình di cư tránh mùa đông ở phương Bắc hoặctheo dòng biển đi kiếm ăn.

- Cá heo, cá ông sư là nhóm có nguồn gốc bản địa, ở vùng khơi của

Biển Đông Cá heo sống theo đàn từ 5 đến 7 con, xâm nhập vào vùng biểngần các cửa sông để kiếm ăn Người ta thường gặp chúng ở vùng của Ba Lạt(sông Hồng), vùng biển miền Trung, vùng cửa sông Cửu Long và vùng biểnđảo Côn Sơn Hiện nay nhóm động vật có vú sống ở môi trường biển nước

ta chưa được nghiên cứu, đánh giá đúng mức về thành phần giống loài và sốlượng

- Bò biển hay cá cúi, còn được gọi là Dugon, là động vật có vú, chúng

đẻ con và nuôi con bằng sữa mẹ Loài động vật hiền lành và từ tốn này cóchiều dài đến 3m và nặng từ 250 - 500kg, da màu xám, chúng sống thànhđàn khoảng 100 con Bò biển sống dưới nước nhưng lại hít thở khí trời.Chúng có thể nhịn thở vài phút dưới nước, đặc biệt lúc bơi nhanh Bò biểnbơi chậm, vận tốc trung bình khoảng 10km/giờ, tối đa là 25km/giờ Bò biểngiao tiếp với nhau bằng tiếng kêu khe khẽ Chúng thường sống ở vùng nướcnông ven biển, nơi có thảm cỏ biển Bò biển là loài khó tính về thức ăn.Thức ăn chính là cỏ biển, nhưng không phải loài cỏ nào cũng là thức ăn củachúng Khi ăn chúng thường kéo cả mảng cỏ biển lên, vì vậy tạo nên nhữngvệt ăn dài và rất khác biệt trên các bãi cỏ biển

Bò biển có thể sống được 70 năm Khoảng 6 - 17 tuổi, bò biển bắt đầu

có khả năng sinh sản Chúng mang thai 13 - 15 tháng và đẻ 1 con, dàikhoảng 1m Cách 2 - 3 năm bò biển đẻ một lần Trong một năm đầu, bò biểncon bú mẹ và luôn đi theo mẹ Bò biển mẹ luôn chú ý đến con và nói chuyệnvới con

Bò biển tuy phân bố rộng (ở hơn 30 nước trên thế giới), nhưng hiện nayloài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Hiện nay tại Việt Nam, PhúQuốc và Côn Đảo là hai nơi duy nhất có bò biển với số lượng khoảng 100con.5

Trang 23

Các nhóm bồ nông, rẽ, mòng biển thường sống ở vùng ven bờ nơi córừng ngập mặn Còn hải âu và yến thường sống trên bờ vách đá hoặc đảo đá(Khánh Hòa, Trường Sa, Hoàng Sa, vịnh Hạ Long ).

Ở các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và đảo Hòn Trứng (Côn Đảo)chim tập trung đông tới hàng vạn con Ở nhiều đảo, phân chim phủ trắngnhư đảo Hòn Trứng, nhân dân gọi là Hòn Đá Trắng Phân chim ở các vùngđảo này là nguồn phân bón, trữ lượng đạt tới hàng vạn tấn, có thể khai thácphục vụ nông nghiệp

Hiện nay các sân chim đang được quy hoạch để bảo vệ và tổ chức thànhnơi tham quan du lịch, nghiên cứu môi trường sinh thái Một số sân chim đãhình thành trong rừng ngập mặn Tây Nam Bộ như ở Thới Bình, Ngọc Hiển,Năm Căn

Trong số 200 loài chim ở vùng biển nước ta, loài yến có giá trị kinh tếlớn hơn cả, do chúng cung cấp thực phẩm quý, có hàm lượng dinh dưỡngcao là tổ yến Tổ yến có 4 loại: yến huyết, yến quan, yến thiên, yến địa Tổyến huyết có giá trị dinh dưỡng cao nhất Sản lượng tổ yến trong vài năm trởlại đây đạt khoảng 1000kg/năm

Nha Trang là nơi có truyền thống khai thác tổ yến lâu đời với sản lượng

và chất lượng cao bậc nhất cả nước Tổ yến được khai thác trong hang Trốngthuộc Hòn Ngoại nằm trong vịnh Nha Trang Ngoài ra tổ yến còn được khaithác ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Đồng Hới (Quảng Bình), Cù Lao Chàm(Quảng Nam), Côn Đảo, Phú Quốc

e) San hô

Ở vùng biển Việt Nam, san hô

rất phong phú và đa dạng về giống

loài với 303 loài san hô đá, 200 loài

san hô sừng và san hô mềm San hô

đá phân bố ở vùng bờ tây vịnh Bắc

Bộ (Quảng Ninh, Hải Phòng) quần

đảo Trường Sa, Hoàng Sa, ven bờ

biển Phú Yên, Khánh Hòa, Hòn

Thu, đảo Nam Du, đảo Côn Sơn,

Thổ Chu, Phú Quốc

San hô là nhóm sinh vật tạo ra

sinh khối lớn nhất ở biển nhiệt đới Hình 2.12 Rạn san hô ở Phú Quốc

Trang 24

nói chung, trong đó có vùng biển Việt Nam Chúng còn tạo ra hệ sinh tháirạn san hô là một trong những hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhấttrên Trái Đất.

Trên các rạn san hô là nơi tập trung nhiều giống loài sinh vật có giá trịnhư: rong biển, tôm, cua, trai, hến biển có kích thước lớn, cùng với các loài

cá là đối tượng khai thác kinh tế của con người Nếu làm thoái hóa san hô domột nguyên nhân nào đó (như giảm độ trong và độ mặn của nước biển dosông và bùn từ lục địa ra, giảm sự lưu thông nước do các công trình xây dựngven biển, sự khai thác san hô quá mức làm đồ mỹ nghệ, sự đánh bắt trai, ốc,

cá, tôm một cách không khoa học (đánh mìn, dung thuốc độc ) thì nguồn lợicác sinh vật biển khác cũng giảm theo Điều này đang diễn ra ở nhiều vùngrạn san hô nước ta Tại vịnh Hạ Long, nhiều bãi san hô ngầm rậm rạp, màusắc sặc sỡ trước kia, nay chỉ là những đống vụn san hô chết, trên phủ bùn Tạiven biển miền Trung, nhiều rạn san hô còn bị khai thác làm vật liệu xây dựng.Khi rạn san hô suy thoái, nhất là san hô dạng cành, thì thành phần loài giảm

Do đó cần phải có ngay các biện pháp để bảo vệ các rạn san hô, như nghiêmcấm mọi hình thức khai thác không khoa học và quá mức, đồng thời thành lậpcác khu bảo tồn san hô

Bảng 2.7 ĐỪNG ĐỂ SAN HÔ BIẾN MẤT TỪNG NGÀY

Tiến sĩ khoa học Nguyễn Tác An, nguyên Viện trưởng Viện Hải Dươnghọc Việt Nam từng cảnh báo: "Chưa bao giờ nguồn san hô nước ta lại đứngtrước thách thức sống còn như hiện

nay Mỗi năm, mất hơn 50 tấn san hô

chưa kể mất san hô đen ở Quảng Bình,

Quảng Trị, Quảng Ninh, Hải Phòng

Theo đà này, 20 năm nữa san hô không

còn trong vùng biển Việt Nam"

Trước đây, con người không bao

giờ hại đến san hô nhưng nay nhu cầu

xây dựng đá mỹ nghệ, hòn non bộ,

trang trí nhà cửa ngày càng lớn nên

tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn

bán san hô ở các địa phương trên đang

diễn ra rất phức tạp Người ta không

Hình 2.13 Rạn san hô ở Nha Trang

Trang 25

phải bẻ san hô mà đặt mìn Từng mảng san hô tan ra, nát gãy, hốt lên ghechở về nấu vôi.

Chưa bao giờ nguồn san hô nước ta lại đứng trước thách thức sống cònnhư hiện nay Những rạn san hô mất đi, đồng nghĩa với sự cạn kiệt cácnguồn lợi thủy sản San hô bị tận diệt bằng thủ công và bằng mìn thì rạn nàocũng tan tành Biển miền Trung ngày nào cũng có ngư dân đi lấy san hô.Từng ngày biển mất san hô, tiếc vô cùng!

Và một nghịch lý đang xảy ra Đó là trong khi các nhà khoa học của ViệnHải dương học ngày đêm nghiên cứu vai trò của san hô với sinh thái biển,trằn trọc tìm cách bảo vệ thì ở Nha Trang, thành phố tỉnh lỵ Khánh Hòa lạibày bán la liệt san hô San hô cũng được bày bán khắp các trung tâm du lịchbiển từ Đà Nẵng vào Bình Thuận

Ở Đà Nẵng, tình trạng khai thác san hô làm hòn non bộ diễn ra trong thờigian khá dài Việc đánh bắt hải sản, neo đậu tàu thuyền ở khu vực giàu san

hô là chuyện thường ngày, ít bị ngăn cản Đó là chưa nói khách du lịch, mỗikhi đến khu vực này, có điều kiện lặn chiêm ngưỡng vẻ đẹp mê hồn của đáybiển, vô tư bẻ cành san hô đưa về làm quà mà không có lực lượng nào nhắcnhở

Các công trình xây dựng gần biển san lấp đổ đất đá, xả nước thải xuốngtầng san hô làm hệ sinh thái biển khu vực này ô nhiễm nặng Theo khảo sátcủa Chi cục thủy sản Đà Nẵng, ít nhất 5 ha san hô quanh bán đảo Sơn Trà,nhất là khu vực Bãi Bụt, Bãi Nam bị trầm tích gây chết Ngoài ra, việc nuôitrồng thủy sản tự phát ở vùng biển gần bờ cũng tác động xấu đến các rạn san

hô và hệ sinh thái liên quan khu vực gần bờ

Còn phải kể đến bờ Đông Nam của đảo Cồn Cỏ từng bị các đối tượng lặnxuống và dùng cưa để khai thác san hô đen bán sang Trung Quốc với giákhông dưới 2 triệu đồng/kg Chính vì siêu lợi nhuận, các đối tượng càng liềulĩnh để khai thác loại san hô này, do đó đã làm ảnh hưởng đến sự hình thành

tự nhiên của dải san hô đồng thời gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.Nguy hại hơn, các đối tượng còn sử dụng bộc phá, thuốc nổ để đánh bắt cá ởvùng biển này làm cho dải san hô bị vỡ và chết khá nhiều Theo Viện nghiêncứu Hải sản, dải san hô bờ Đông Nam của đảo Cồn Cỏ chỉ còn 40% sự đadạng so với trước và không còn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ như ban đầu vốn

có của nó

Trước thực trạng khai thác trái phép rạn san hô dẫn tới nguy cơ hủy diệt đa

Trang 26

dạng sinh thái biển, UBND TP Đà Nẵng vừa quyết định khoanh vùng bảo vệ

và ra lệnh cấm đánh bắt hải sản, khai thác san hô khu vực biển thuộc bán đảoSơn Trà, trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi) 82ha thuộc khu vực HònSụp, Bãi Bụt, Hục Lỡ, Vũng Đá và Đông Bãi Bắc từ bờ ra 300 mét ở độ sâutrung bình 12 mét

Cần nói thêm rằng, qua khảo sát mới nhất do Công ty Coral Reef Center thựchiện tại 4,5ha ở vùng biển Mũi Nghê (Sơn Trà), tiềm năng san hô vẫn rất phongphú với 42 loài màu sắc sặc sỡ hơn cả khu vực Hòn Mun của vịnh Nha Trang,rất lý tưởng cho các tour du lịch lặn chiêm ngưỡng cảnh sắc như thủy cung ở đáybiển Hiện ngành du lịch đã triển khai tour du lịch lặn biển ngắm san hô ở khuvực này

Quyết định của UBND TP Đà Nẵng tuy muộn nhưng vẫn còn kịp, bởichúng ta muốn biển và đại dương sống chứ không phải chết Các cơ quanchức năng và chính quyền địa phương sẽ đẩy mạnh việc tuyên truyền trongcộng đồng dân cư ven biển và khách du lịch về trách nhiệm bảo vệ tàinguyên quý báu này Từ năm 2010 trở đi, ngoài việc bảo vệ nghiêm ngặt cácrạn san hô, Đà Nẵng sẽ triển khai việc phục hồi hệ sinh thái gần bờ, bảo đảm

đa dạng sinh học và làm giàu nguồn lợi thủy sản tự nhiên, phục vụ cho việcphát triển du lịch sinh thái biển

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường

Nhìn chung, trong những năm gần đây, tài nguyên sinh vật biển ở nước ta

bị khai thác quá mức, phương tiện đánh bắt thô sơ còn nhiều, sử dụng nhiềuhình thức đánh bắt mang tính hủy diệt, môi trường ô nhiễm, nên nguồn lợi sinhvật biển, nhất là ở ven bờ có nguy cơ giảm sút, nhiều loài quý hiếm có nguy cơtuyệt chủng

Cần khai thác tài nguyên sinh vật biển một cách hợp lí để đảm bảo pháttriển bền vững Cần vươn ra biển lớn khai thác hải sản góp phần khẳng địnhchủ quyền biển đảo quê hương

2 Vùng biển, đảo có nhiều tiềm năng về khoáng sản

2.1 Tài nguyên dầu khí

Tài nguyên dầu khí của nước ta phong phú với trữ lượng khoảng vài tỉtấn dầu và hàng trăm tỉ m3 khí Hầu hết các diện tích chứa dầu đều nằm trênthềm lục địa với độ sâu không lớn Đây là những điều kiện thuận lợi trongcông tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí

Trang 27

Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò trong thời gian qua đã xác định ởvùng thềm lục địa nước ta có 8 bể trầm tích Đệ tam (có thời gian cách ngàynay khoảng 23 triệu năm) là : Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam CônSơn, Thổ Chu – Mã lai, Tư Chính – Vũng Mây, Hoàng Sa và nhóm bểTrường Sa, với diện tích gần 1 triệu km2 Trong số này, công tác tìm kiếm,thăm dò mới chỉ tập trung ở các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu – MãLai, Sông Hồng

- Bể Sông Hồng: Chiếm phần lớn vịnh Bắc Bộ và kéo dài một phần ở

vùng biển miền Trung Đã khoan vài chục giếng, trong đó hàng chục giếngphát hiện thấy khí Kết quả thăm dò thì bể Sông Hồng có triển vọng chứadầu khí, trong đó tiềm năng sinh khí là chủ yếu Mỏ khí tự nhiên đã đượcđưa vào khai thác ở Tiền Hải, Thái Bình

- Bể Phú Khánh: Phân bố dọc biển Trung Bộ, phần lớn phân bố ở độ

sâu 200m Do nằm kề với bể trầm tích Cửu Long, nên nó được đánh giá là

có triển vọng về dầu khí

- Bể Cửu Long: Phân bố dọc vùng biển Đông Nam Bộ Đây là bể được

tiến hành khoan thăm dò sớm (từ đầu những năm 1970) Tại bể Cửu Longhiện nay có một số mỏ đang được khai thác: Bạch Hổ và Rồng, Rạng Đông,Hồng Ngọc

Hàng chục giếng khoan khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ và Rồng có lưulượng dầu hàng trăm tấn/ngày đêm, có giếng đạt tới 1000 tấn/ngày đêm

- Bể Nam Côn Sơn: Phân bố ở

rìa phía nam đảo Côn Sơn Công tác

thăm dò bắt đầu từ những năm 1970

Cho tới nay đã phát hiện nhiều

giếng khoan có dầu khí (khí là chủ

yếu) Hiện nay tại bể Nam Côn Sơn

có một số mỏ đã được đưa vào khai

thác như mỏ Đại Hùng, Lan Tây,

Lan Đỏ, Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây

- Bể Thổ Chu – Mã lai: Phân

bố ở vùng vịnh Thái Lan Ở đây

phát hiện thấy dầu khí Khí ở đây có

hàm lượng CO2 cao, dao động từ vài

phần trăm đến vài chục phần trăm Mỏ Bunga-Kekwa được đưa vào khaithác năm 1997

Hình 2.14 Giàn khoan mỏ Đại Hùng

Trang 28

- Bể Vũng Mây: Phân bố ở phía đông – đông nam bể Nam Côn Sơn.

Các điều kiện sinh dầu, chứa dầu chưa thật sáng tỏ Bể đang được tiếp tụctiến hành điều tra nghiên cứu

- Hai bể Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều triển vọng dầu khí và chứa

đựng tài nguyên băng cháy (methane hydrate), loại năng lượng sạch trongtương lai có thể còn quý hơn dầu mỏ

Dầu mỏ là “vàng đen” của Tổ quốc Dầu mỏ ngoài khả năng sinh nhiệtlớn (10.000 đến 11.500 kcal/kg), dầu mỏ rất tiện sử dụng và vận chuyển, dễdàng cơ khí hóa việc nạp nhiên liệu vào động cơ Nhiên liệu cháy hoàn toàn

và không tạo thành tro Từ dầu mỏ, sản xuất ra nhiều loại hóa phẩm, dượcphẩm

Nước ta mới bắt đầu khai thác dầu mỏ từ năm 1986, nhưng đến năm

2005 đã đạt sản lượng 18,5 triệu tấn dầu thô Cùng với dầu mỏ, khí tự nhiêncũng đang được khai thác, đặc biệt là dự án Nam Côn Sơn đưa khí từ mỏLan Đỏ, Lan Tây về cho các tuốc bin khí của nhà máy điện Phú Mỹ và CàMau Ngoài ra, khí còn là nguyên liệu để sản xuất phân đạm (Phú Mỹ, CàMau); khí gas được hóa lỏng để làm nhiên liệu khá phổ biến trong các giađình

Hình 2.15: Biểu đồ sản lượng khai thác dầu khí giai đoạn 2005 - 2010

Dầu khí là tài nguyên không thể phục hồi, khai thác đến đâu hết đếnđấy Ô nhiễm dầu và dầu tràn dù nồng độ dầu trong nước chỉ 0,1mg/l cũng

Tr m 3

Trang 29

có thể gây chết các loài sinh vật phù du; ảnh hưởng lớn đến con non và ấutrùng của các sinh vật đáy biển Ô nhiễm dầu ở biển còn ảnh hưởng đếnngành du lịch và các hoạt động kinh tế khác Vì vậy cần phải khai thác và sửdụng hợp lí, tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi trường trong quá trình khaithác và vận chuyển.

2.2 Tài nguyên muối

Nước ta có đường bờ biển dài 3260km Độ muối trong nước biển trungbình 32‰ - 33‰, gần bằng độ muối bình quân ở đại dương (35‰) Độ mặncủa nước biển thay đổi tùy theo khu vực, theo mùa và theo độ sâu

Do nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, với nền nhiệt độ cao (trungbình năm trên toàn quốc đều lớn hơn 200C - trừ vùng núi cao), nhiều nắng(tổng số giờ nắng tùy nơi từ 1400 đến 3000 giờ/năm), song độ ẩm lớn (trên 80

%), mưa nhiều (lượng mưa trung bình năm từ 1500 – 2000mm) nên ảnhhưởng đến thời vụ sản xuất cũng như năng suất muối

Thời vụ sản xuất muối ở miền Bắc bắt đầu từ cuối tháng 4 và kết thúcvào cuối tháng 7 Ở miền Nam bắt đầu từ cuối tháng 1 và kết thúc vào cuốitháng 6

Ở một vài tỉnh như Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, muối

có thể sản xuất quanh năm

Muối có vai trò to lớn trong

đời sống và hoạt động sản xuất

Muối không thể thiếu trong bữa ăn

hàng ngày Muối còn được sử dụng

trong nhiều ngành kinh tế như chế

biến thực phẩm, hóa chất, y học,

xuất khẩu Chính vì vậy, ngay từ

thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã

thành lập những công ty độc quyền

buôn bán muối Nguồn thuế thu từ

muối chiếm 6% Ngân sách Đông

Dương (thời kỳ 1928 - 1936), lợi

nhuận kinh doanh muối của Sở

Thương chính Đông Dương năm 1936 tương đương 47.618 tấn gạo Trongvòng khoảng 40 năm đầu thế kỉ XX, các công ty độc quyền muối đã xuấtkhẩu hàng trăm nghìn tấn muối

Hình 2.16 Cánh đồng muối

ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)

Trang 30

Từ khi nước ta thống nhất, sản lượng muối hàng năm nói chung khôngngừng tăng, không chỉ đáp ứng nhu cầu muối ăn cho nhân dân mà còn cho

cả công nghiệp và xuất khẩu Năm 1995, cả nước có khoảng 11.454ha vớisản lượng 630.000 tấn, đến năm 2009 tăng lên 14.404ha với sản lượngkhoảng 1 triệu tấn

Những địa phương có diện tích và sản lượng muối lớn là Hải Phòng,Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa –Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng,Bạc Liêu

Ninh Thuận là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất muối Với điều kiện tựnhiên khắc nghiệt: mùa khô kéo dài, mưa ít, lượng bốc hơi cao, nồng độmuối trong nước biển cao nhất nước (34-35‰) Đây là lợi thế để NinhThuận sản xuất muối công nghiệp với quy mô lớn Năng suất muối có thểđạt bình quân trên dưới 150 tấn/ha/năm, tương đương năng suất các đồngmuối công nghiệp loại trung của thế giới Có thể tạo được những cánh đồngmuối có quy mô tập trung nhiều ngàn ha, sản lượng có thể đạt trên dưới mộttriệu tấn, mở ra khả năng rất lớn để áp dụng công nghệ cao và trang bị cơgiới hoá trong sản xuất và thu hoạch

Ninh Thuận đang tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch sản xuất, lưuthông muối trên địa bàn tỉnh đến năm 2015 và đến năm 2020 Định hướngcủa tỉnh là đầu tư cải tạo, nâng cấp các đồng muối công nghiệp hiện có vàxây dựng các đồng muối mới để đến năm 2015, đưa tổng diện tích đồngmuối toàn tỉnh lên gần 5000ha, trong đó, diện tích thực tế đưa vào sản xuấtkhoảng 4000ha

2.3 Các loại khoáng sản khác

- Titan

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, titan (Ti) là nguyên tố hoá học nhóm

IV B, chu kì 4 bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học; số thứ tự 22, nguyên tửkhối 47,90, do nhà khoáng vật học Grêgô (người Anh) tìm ra ở dạng đioxit,năm 1791 Là một trong những vật liệu quan trọng của kĩ thuật mới; hợp kimtitan được dùng để chế tạo tên lửa, máy bay, tàu thuỷ, tàu ngầm, các thiết bịbền với hoá chất (nồi phản ứng, ống dẫn, quạt) Ở Việt Nam, quặng titan cónhiều trong sa khoáng ven biển miền Trung (trữ lượng dự báo đạt 22 triệutấn, trữ lượng đã thăm dò đánh giá là 16 triệu tấn) và ở Núi Chúa (TháiNguyên)

Trang 31

Hiện nay, một số địa phương

ở ven biển miền Trung đã tiến

hành khai thác titan để xuất khẩu

Một số nơi khai thác không theo

quy hoạch đã dẫn tới lãng phí tài

nguyên, ô nhiễm môi trường, mất

này đều là những nguyên tố dạng

hiếm và có trong bảng tuần hoàn

các nguyên tố hóa học như:

Dysprosium (Dy), Erbium (Er),

Europium (Eu), Gadolinium (Gd),

Holmium (Ho), Lutetium (Lu), Terbium (Tb),

Trên thế giới những nước có trữ lượng đất hiếm nhiều phải kể đến làTrung Quốc, Hoa Kì, Ôx-trây-li-a, Ấn Độ Trung Quốc là nước khai thácđất hiếm nhiều nhất thế giới Từ năm 2005 đến nay sản lượng khai thác hàngnăm khoảng 120.000 tấn đất hiếm

Đất hiếm được sử dụng nhiều trong các ngành công nghệ cao như côngnghệ thực phẩm, y tế, gốm sứ, máy tính, màn hình tivi màu, ô tô thân thiệnvới môi trường, nam châm, pin, xúc tác lọc hoá dầu, tên lửa, radar Dù là tàinguyên quý, nhưng trong đất hiếm chứa nhiều nguyên tố độc hại, có tínhphóng xạ Vì thế, nếu khai thác không đúng quy trình kỹ thuật có thể gây ônhiễm môi trường

Dự báo, Việt Nam có khoảng trên 10 triệu tấn đất hiếm, phân bố chủ yếu ởLai Châu, Lào Cai, Yên Bái, dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến VũngTàu

Ven biển nước ta, trữ lượng đất hiếm nằm trong sa khoáng đạt 300.879tấn Những tỉnh ven biển có nhiều đất hiếm là Thanh Hóa (Quảng Xương),

Hà Tĩnh (Cẩm Thượng), Thừa Thiên – Huế (Kẻ Sung), Quảng Nam (HộiAn), Bình Định (Cát Khánh), Phú Yên (Tuy Phong, Xương Thịnh), KhánhHòa (Hòn Gốm), Bình Thuận (Mũi Né), Ninh Thuận (Hàm Tân)

Hình 2.17 Người dân đổ xô khai thác titan tại Cát Thành (Bình Định).

Ngày đăng: 15/06/2021, 01:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w