Ở nước ta, đối tượng này bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên trongnhóm dân số hoạt động kinh tế, đang làm việc để nhận tiền lương tiền công, hoặcđang làm công việc dịch vụ cho bản
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ “Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyệnQuảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” do học viên Nguyễn Thị Thùy Linh thực hiện dưới
sự hỗ trợ, hướng dẫn của cô giáo PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các nội dungnghiên cứu và số liệu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu chưa từngđược công bố trong bất cứ công trình khoa học nào trước đây Nguồn số liệu thứ cấp,
sơ cấp và một số ý kiến đánh giá, nhận xét của các tác giả, cơ quan và tổ chức đượcthu thập từ nhiều nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Hội đồng về tính trung thực củaLuận văn, đảm bảo không có sự gian lận nào
Huế, ngày tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các thầy, cô giáotrường Đại học Kinh tế Huế Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến côgiáo, PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà - người hướng dẫn khoa học - đã quan tâm tậntình, giúp đỡ hết lòng để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Nhân đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình,Chi cục Thống kê huyện Quảng Trạch, Sở Lao động Thương Binh và Xã hội tỉnhQuảng Bình, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp huyệnQuảng Trạch đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, điều tra,phỏng vấn và thu thập số liệu
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡtôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Huế, ngày tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Họ và tên học viên : Nguyễn Thị Thùy Linh
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế Niên khóa: 2016 - 2018
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
Tên đề tài: “Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyện Quảng Trạch , tỉnh Quảng Bình”
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấpthiết cho từng ngành, địa phương và từng gia đình Tạo điều kiện cho người laođộng có việc làm, một mặt, nhằm phát huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ởnước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội; mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói,giảm nghèo có hiệu quả; là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân,góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; tạo độnglực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Xuất phát
từ đó, tác giả đã chọn đề tài: “Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn
huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình” làm luận văn Thạc sĩ cho mình
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
- Làm rõ vấn đề việc làm, thu nhập nói chung và việc làm, thu nhập củangười lao động ở nông thôn nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm, thu nhập ở khu vực nông thônhuyện Quảng Trạch từ năm 2014 đến 2016
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhậpcho người lao động ở khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnhQuảng Bình
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CN, TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệpCMKT Chuyên môn kỹ thuật
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Quảng Trạch thời kỳ 2014 - 2016 40
Bảng 2.2 Tốc độ phát triển tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện Quảng Trạch thời kỳ 2014 - 2016 (Theo giá so sánh 2010) 43
Bảng 2.3 Tình hình dân số và lao động của huyện Quảng Trạch thời kỳ 2014 - 2016 .47
Bảng 2.4 Trình độ văn hóa và chuyên môn dân số từ 15 tuổi trở lên 48
Bảng 2.5 Cơ cấu việc làm của lao động điều tra 48
Bảng 2.6 Số công lao động bình quân trong năm của lao động nông thôn phân theo ngành nghề 48
Bảng 2.7 Tỷ suất thời gian lao động qua các tháng trong năm 48
Bảng 2.8 Thu nhập và cơ cấu thu nhập 51
Bảng 2.9 Thu nhập bình quân một lao động trong năm phân theo ngành nghề 51
Bảng 2.10 Ảnh hưởng của yếu tố ngành nghề đến thời gian làm việc và thu nhập của lao động vùng đồng bằng và vùng núi 52
Bảng 2.11 Ảnh hưởng của yếu tố ngành nghề đến thời gian làm việc và thu nhập của lao động vùng ven biển 54
Bảng 2.12 Ảnh hưởng của yếu tố diện tích đất đến việc làm và thu nhập của lao động vùng đồng bằng và vùng núi 55
Bảng 2.13 Ảnh hưởng của mức đầu tư đến việc làm và thu nhập của lao động vùng đồng bằng 57
Bảng 2.14 Ảnh hưởng của mức đầu tư đến việc làm và thu nhập của lao động vùng núi 58
Bảng 2.15 Ảnh hưởng của mức đầu tư đến việc làm và thu nhập của lao động vùng ven biển 48
Bảng 2.16 Cơ cấu GO của huyện 61
Bảng 2.17 Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản 63
Biểu đồ 1: Tỷ suất sử dụng thời gian làm việc của lao động trong năm 50
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 3
6 Những đóng góp của luận văn 3
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 4
1.1 LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN .4
1.1.1 Lý luận về việc làm 4
1.1.2.Lý luận về thu nhập của lao động nông thôn 8
1.2.ĐẶC ĐIỂM VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 9
1.2.1.Việc làm gắn liền với các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông thôn 9
1.2.2 Quy mô việc làm thường là nhỏ, công cụ lao động chủ yếu là thủ công, lực lượng lao động đông nhưng chất lượng lao động thấp 11 1.2.3 Không ít việc làm chưa thực sự gắn với thị trường, còn mang tính tự cấp, tự
Trang 7túc 14
1.2.4 Thu nhập của người dân nông thôn còn thấp so với người dân thành thị 15
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP Ở LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 15
1.3.1 Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái 15
1.3.2 Tiến trình triển khai công nghiệp hoá, hiện đại hoá 18
1.3.3 Trình độ phát triển của kinh tế thị trường 21
1.3.4 Tốc độ gia tăng dân số và quy mô, trình độ giáo dục, đào tạo 23
1.3.5 Chính sách của Nhà nước liên quan đến việc làm 26
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG .31
1.5 KINH NGHIỆM TẠO VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM 34
1.5.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động ở huyện Hòa Vang - Đà Nẵng .35
1.5.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở huyện Nhà Bè - Thành phố Hồ Chí Minh 34
CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 37
2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
2.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
2.2 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN QUẢNG TRẠCH 45
2.2.1 Tình hình dân số và lao động 45
2.2.2 Chất lượng nguồn lao động của huyện Quảng Trạch 48
Trang 82.3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA CÁC LAO ĐỘNG ĐIỀU
TRA 49
2.3.1 Thực trạng việc làm 49
2.3.2 Tình hình thu nhập của lao động điều tra 52
2.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của lao động huyện Quảng Trạch 54
2.3.4 Những vấn đề đặt ra trong giải quyết việc làm cho lao động huyện Quảng Trạch 64
CHƯƠNG III.PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TẠO VIỆC LÀM, TĂNG THU NHẬP LAO ĐỘNG HUYỆN QUẢNG TRẠCH TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG TẠO VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP 71
3.1.1 Thực hiện đa dạng hoá ngành nghề và thành phần kinh tế nhằm đảm bảo cho mọi người lao động đều có việc làm, gắn giải quyết việc làm với đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn 71
3.1.2 Bảo đảm cơ cấu lao động đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu đa dạng hoá ngành nghề địa phương 72
3.1.3 Tìm kiếm thị trường để đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và ra các huyện, tỉnh trong nước có nhu cầu lao động 73
3.1.4 Phát huy ngành kinh tế thế mạnh của huyện để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động 74
3.2 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TẠO VIỆC LÀM VÀ TĂNG THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG HUYỆN QUẢNG TRẠCH TRONG THỜI GIAN TỚI 74
3.2.1 Chuyển dịch cơ cấu lao động 74
3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 76
3.2.3 Phát triển đa dạng hóa các loại hình sản xuất kinh doanh 81
3.2.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động 87
3.2.5 Chương trình hợp tác xuất khẩu lao động 89
3.2.6 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý Nhà nước đối với vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động 91
Trang 9PHẦN III 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99 Bản nhận xét luận văn thạc sỹ
Biên bản Hội đồng chấm luận văn
Bản giải trình nội dung chỉnh sửa luận văn
Quyết định Hội đồng chấm luận văn
Giấy xác nhận hoàn thiện luận văn
Trang 10PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang diễn biến rất phức tạp, cản trở quátrình vận động và phát triển kinh tế đất nước nói chung, tỉnh Quảng Bình nói riêng
Vì vậy, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động là vấn đề nóng bỏng, cấpthiết cho từng ngành, địa phương và từng gia đình Tạo điều kiện cho người laođộng có việc làm, một mặt, nhằm phát huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ởnước ta cho sự phát triển kinh tế - xã hội; mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói,giảm nghèo có hiệu quả; là cơ sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân,góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; tạo độnglực mạnh mẽ thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong thời gian qua, thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước,tình hình kinh tế - xã hội của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể: tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá cao; cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nôngnghiệp; kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, nhiều dự án quan trọng đã và đangđược xây dựng; đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân từng bước đượcnâng cao
Tuy nhiên, lao động khu vực nông lâm nghiệp thủy sản ở huyện vẫn chiếm tỷ
lệ cao; chất lượng và lao động chuyển dịch cơ cấu vẫn còn chậm; năng suất laođộng thấp, thu nhập chưa cao; đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn; tìnhtrạng di dân tự do vào đô thị đã diễn ra khá phổ biến ở các vùng đông dân cư Thựctrạng trên là áp lực rất lớn đối với lao động nông thôn huyện Quảng Trạch Vì thế,việc tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động,chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao độngkhu vực nông thôn ở huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình là một vấn đề đòi hỏicấp thiết và mang ý nghĩa thiết thực
Trang 11Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã chọn đề tài:
"Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình", với hy vọng đánh giá được thực trạng lao động, việc làm trên địa
bàn huyện để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết tốt việc làm, tăng thunhập cho người dân khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Quảng Trạch
2 Mục tiêu nghiên cứu
Về không gian: Huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình;
Về thời gian: Số liệu thứ cấp được tập hợp trong giai đoạn 2014 - 2016; sốliệu sơ cấp được tập hợp trong năm 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin
+ Đối với số liệu thứ cấp: Thu thập từ các số liệu đã công bố như niên giám
thống kê năm 2016 của Cục Thống kê tỉnh Quảng Bình, của Chi cục Thống kêhuyện Quảng Trạch; các tài liệu, báo cáo của các cơ quan chuyên ngành và các cấp
Trang 12chính quyền như: UBND tỉnh Quảng Bình, UBND huyện Quảng Trạch, PhòngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Quảng Trạch, Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Quảng Trạch.
+ Đối với số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua
phương thức phỏng vấn trực tiếp đối tượng được phỏng vấn bằng phiếu điều tra
Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 90 hộ, 03 xã thuộc 3 khu vực: xã Quảng Kimthuộc khu vực miền núi; xã Quảng Xuân thuộc khu vực đồng bằng và xã CảnhDương thuộc khu vực ven biển
4.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
- Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê để phân tổ việc làm và thu nhập củalao động nông thôn theo các tiêu thức khác nhau;
- Phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng việc làm và thu nhập củalao động nông thôn;
- Phương pháp đồ thị để biểu diễn tỷ suất sử dụng thời gian lao động trong năm
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và thu nhập của lao động ở
nông thôn
Chương II: Thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn huyện
Quảng Trạch giai đoạn 2014 - 2016
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tăng thu
nhập cho lao động ở khu vực nông thôn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
6 Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ vấn đề việc làm, thu nhập nói chung và việc làm, thu nhập củangười lao động ở nông thôn nói riêng
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc làm, thu nhập ở khu vực nông thônhuyện Quảng Trạch từ năm 2014 đến 2016
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhậpcho người lao động ở khu vực nông thôn trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnhQuảng Bình
Trang 13PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Việc làm, mối quan hệ giữa việc làm và lực lượng lao động
Việc làm là một hình thức hoạt động kinh tế - xã hội Hoạt động đó khôngđơn thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó còn bao gồm cảnhững yếu tố xã hội Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển, phảitạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất,trong một môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra
Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với những nơi làm việc cụ thể
mà ở đó lao động diễn ra, là điều kiện cần thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội vềlao động, là hoạt động lao động của con người
Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và tạo việc làm là côngviệc quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình ngườilao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại và phát triển của mỗiquốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm Vớitầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhaunhư kinh tế, xã hội học, lịch sử Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thì việc làmliên quan đến phương thức lao động kiếm sống của con người và xã hội loài người.Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiện việc làm của ngườilao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xem xét vấn đề thu nhập củangười lao động từ việc làm
Trang 14Ở Việt Nam quan niệm về việc làm cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳlịch sử Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, người laođộng được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việctrong thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể Theo cơ chế đó, xã hội không thừanhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việclàm, thất nghiệp
Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, các quanniệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn Tại điều 13,chương II Bộ luật lao động Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đượcthừa nhận là việc làm” [1,tr.42]
Theo quan niệm trên, việc làm được hiểu như sau:
Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật cho công việc đó.Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thunhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả côngbằng hiện vật
Hai điều kiện thỏa mãn khái niệm một hoạt động được coi là việc làm:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và
các thành viên trong gia đình
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp
luật cấm Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm
Hai điều kiện này có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ củamột hoạt động được thừa nhận là việc làm, quan niệm đó đã góp phần mở rộng quanniệm về việc làm, khi đa số lao động đương thời chỉ muốn chen chân vào trong cácdoanh nghiệp, cơ quan nhà nước Về mặt khoa học, quan điểm của Bộ luật lao động
đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm
Trong mối quan hệ với việc làm, lực lượng lao động được thể hiện ở baphạm trù sau đây: người có việc làm, thiếu việc làm và thất nghiệp
+ Người có việc làm
Trang 15Ở nước ta, đối tượng này bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên trongnhóm dân số hoạt động kinh tế, đang làm việc để nhận tiền lương (tiền công), hoặcđang làm công việc dịch vụ cho bản thân, gia đình và các việc sản xuất kinh doanhcủa hộ gia đình.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, với các chính sách về lao động và việclàm của Đảng và Nhà nước ta đã có tác động tích cực, tạo ra nhiều việc làm mới chongười lao động; vì vậy, đời sống của người lao động được cải thiện, nâng cao rõ rệt.Tuy nhiên, tạo việc làm cho người lao động vẫn nổi lên là một trong những vấn đềbức xúc, đặc biệt là đối với những vùng, những địa phương đất chật, người đông,nhiều người lao động còn không có hoặc thiếu việc làm
+ Thiếu việc làm
Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về vấn đề này,
TS Trần Thị Thu đưa ra khái niệm: "Thiếu việc làm còn được gọi là bán thấtnghiệp hoặc thất nghiệp trá hình là hiện tượng người lao động có việc làm ít hơnmức mà mình mong muốn" [15, tr 17] Đó là tình trạng có việc làm nhưng donguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động, họ phải làm việc khônghết thời gian theo pháp luật quy định, hoặc làm những công việc mà tiền công thấpkhông đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung
+ Thất nghiệp
Nội dung cơ bản của thất nghiệp đều được hiểu chung là: người lao động cókhả năng làm việc, mong muốn làm việc nhưng không được làm việc Nhà kinh tếhọc người Mỹ thuộc trường phái chính hiện đại P.A.Samuelson cho rằng: "Thấtnghiệp là những người không có việc làm, nhưng đang chờ để trở lại việc làm hoặcđang tích cực tìm việc làm" [14, tr 271]
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nêu quan niệm:
“Người bị coi là thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân sốhoạt động kinh tế, hiện tại đang đi tìm việc làm hay không đi tìm việc do không biếttìm việc ở đâu; và những người trong tuần lễ trước thời điểm điều tra có tổng số giờlàm việc dưới 8 giờ, có mong muốn và sẵn sàng làm thêm giờ nhưng không tìm ra
Trang 16việc” [1, tr 142].
Theo Bộ luật lao động của Việt Nam thì: những người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, không có việc làm hoặc đang tìm việc làm là những người thất nghiệp [1, tr 151].
Như vậy, thất nghiệp (không có việc làm) là hiện tượng người lao độngmuốn đi làm nhưng không tìm được việc làm, tức là họ bị tách rời sức lao động khỏi
tư liệu sản xuất Thất nghiệp được chia làm nhiều loại:
Thất nghiệp tạm thời
Là thất nghiệp phát sinh do người lao động muốn có thời gian để tìm việclàm thích hợp với chuyên môn và sở thích của mình
Thất nghiệp theo mùa vụ
Là thất nghiệp do cầu lao động lao động giảm, thường vào những thời kỳnhất định trong năm
Thất nghiệp chu kỳ
Là thất nghiệp gắn liền với sự suy giảm theo thời kỳ của nền kinh tế
Thất nghiệp cơ cấu
Là thất nghiệp xuất hiện khi không có sự đồng bộ giữa kỹ năng, trình độ củangười lao động với cơ hội việc làm do cầu lao động và sản xuất thay đổi
Thất nghiệp do chuyển đổi
Là một dạng của thất nghiệp cơ cấu Đây là loại thất nghiệp do sự mất cânbằng trong một thời kỳ dài giữa cung và cầu lao động Nó nảy sinh do có nhữngđiều chỉnh trong chính sách kinh tế, dẫn đến những thay đổi trong cơ cấu sản xuất,tiêu thụ trong toàn bộ nền kinh tế, làm cho một số ngành kinh tế truyền thống bị suythoái và làm nảy sinh một số ngành mới Những thay đổi này làm cho các kỹ năng,tay nghề cũ của người lao động trở nên không thích hợp với những ngành nghề mới
Họ buộc phải thôi việc hoặc phải mất một thời gian nhất định để đào tạo, huấn luyện lạitay nghề [10, tr 144] Thất nghiệp cơ cấu thường xảy ra ở các nước đang phát triển cónền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta; loại thất nghiệp này có quy mô lớn hơn, trầmtrọng hơn so với thất nghiệp do thay đổi cơ cấu ở các nước phát triển
Trang 17Tuy nhiên, những người không có khả năng lao động, người không có nhucầu tìm việc làm, người đang đi học dù đang ở độ tuổi lao động cũng không thuộcnhững người thất nghiệp và không nằm trong lực lượng lao động.
Thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm, là mối quan tâm lớn của tất
cả các quốc gia, khi mức thất nghiệp tăng quá mức cho phép tài nguyên sẽ bị lãngphí, thu nhập của người lao động giảm và rơi vào tình trạng nghèo đói; nền kinh tếsuy thoái, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội Do đó, tỉ lệ thấtnghiệp là một trong những chỉ tiêu trọng yếu để xem xét, đánh giá tình trạng củamột nền kinh tế, sự tiến bộ xã hội, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ quốc gianào trên thế giới
Từ những phân tích trên cho thấy để giảm mức thất nghiệp và tình trạngthiếu việc làm, cần có những giải pháp nhằm tạo việc làm Tạo việc làm cần phảiđược xem xét cả từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.Theo nghĩa rộng, tạo việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế - xãhội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt củađời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng laođộng có việc làm Theo nghĩa hẹp, nó là các biện pháp chủ yếu hướng vào đốitượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra chỗ việc làm cho người lao động,giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống mức thấp nhất
1.1.2 Lý luậ n về thu nhậ p củ a lao độ ng nông thôn
Thu nhập là khoản tiền hay hiện vật trả công cho lao động khi người laođộng làm một công việc nào đó Khoản này có thể được trả theo thời gian hoặc theosản phẩm mà người lao động đã hoàn thành Thu nhập luôn luôn gắn liền với việclàm Không có việc làm thì không có thu nhập Có việc làm là có thể tạo ra thunhập Đó là đòi hỏi chính đáng của người lao động Tạo được việc làm tức là thuhút được nguồn lực lao động vào quá trình sản xuất, làm ra nhiều của cải cho xãhội, tạo ra tiền đề vật chất để giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng kinh tế gắn vớitiến bộ và công bằng xã hội Trong hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn,Đảng ta luôn quan tâm đến con người, tạo mọi điều kiện để con người phát triển
Trang 18Đảng ta khẳng định: "Phát huy yếu tố con người và lấy con người làm mục đích caonhất của mọi hoạt động" [6, tr 36].
Chính vì mối quan hệ gắn kết này mà khi bàn về vấn đề tạo việc làm cũngchính là vấn đề tăng thu nhập Không thể bàn đến việc tăng thu nhập mà không tínhđến chất lượng, quy mô và hiệu quả của việc làm
Để tăng thu nhập cho người lao động, điều đầu tiên là phải tạo ra việc làm,
để họ không rơi vào trạng thái thất nghiệp hoặc thiếu việc làm Bên cạnh đó, cầnphải tính đến tính hiệu quả khi người lao động làm việc Lao động không có hiệuquả, không có năng suất, không tạo ra được hàng hoá có chất lượng, tất yếu không
có thu nhập cao Tuy nhiên, tác nhân ảnh hưởng đến thu nhập ngoài việc làm vàchất lượng của việc làm còn có một số vấn đề liên quan đến phân phối thu nhập,đến việc đảm bảo sự công bằng trong xã hội và nhiều vấn đề khác
1.2 ĐẶC ĐIỂM VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.2.1 Việ c làm gắ n liề n vớ i các ngành nông nghiệ p, công nghiệ p và dị ch
vụ trong khu vự c nông thôn
Tỷ lệ người đến độ tuổi lao động ở nông thôn thường cao hơn thành thị Họ cóđặc điểm là có sức khoẻ tốt, chăm chỉ, cần cù nhưng họ có hạn chế là không có kỹ năngtay nghề, chủ yếu vẫn là lao động phổ thông Lao động ở khu vực nông thôn chủ yếutham gia lao động ở các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tại địa phương.Tuy nhiên cũng có một số người rời quê ra thành thị để kiếm việc làm
Số người làm việc trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt làtrồng trọt Nông thôn Việt Nam có nghề trồng lúa truyền thống Những năm gầnđây, nghề trồng lúa vẫn được duy trì với nhiều cải tiến và ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật mới trong việc chọn tạo giống có chất lượng tốt, năng suất cao, khảnăng chống chịu thiên tai dịch bệnh tốt vì thế sản lượng lương thực ngày một tăngcao, không những chỉ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu ranước ngoài Vì vậy, ngành trồng lúa hiện đang thu hút tỷ lệ lao động lớn nhất ởnông thôn, tạo ra nhiều việc làm cho xã hội
Trang 19Bên cạnh trồng lúa, trồng hoa màu và các loại cây ăn quả, cây công nghiệpcũng là một thị trường thu hút lao động lớn ở nông thôn Việc làm mà ngành nàytạo ra ngày một tăng Đặc biệt là trong xu thế chuyển đổi cơ cấu cây trồng hiện nay
ở tất cả các vùng nông thôn trên cả nước đã xuất hiện nhiều trang trại trồng cây ănquả, trồng cây công nghiệp, tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn với thunhập cao hơn so với trồng lúa
Hiện nay, chăn nuôi cũng là một hướng tạo việc làm và thu nhập cho laođộng nông thôn Quy mô chăn nuôi đang được mở rộng, vượt ra khỏi quy mô giađình, tự cung tự cấp, do đó đã thu hút nhiều lao động trong lĩnh vực này Một trangtrại chăn nuôi gia cầm loại trung bình có thể cần từ 10 - 15 lao động; một trang trạinuôi tôm nước lợ cũng cần từ 15 đến 20 lao động làm việc thường xuyên
Ngoài ngành nông nghiệp ra, các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp cũng tạo ranhiều việc làm cho lao động nông thôn Hiện nay với xu thế CNH, HĐH, nhiều nhà máy,
xí nghiệp đã được xây dựng tại địa phương để tận dụng khai thác nguồn tài nguyên củađịa phương đó, đồng thời khai thác nguồn nhân công dồi dào của nông thôn
Một trong những ngành tạo ra được nhiều việc làm cho số lao động ở nôngthôn chính là các ngành tiểu thủ công nghiệp Các nghề thủ công truyền thống ở cácvùng nông thôn luôn luôn thu hút nhiều lao động nhàn rỗi Trước đây, bên cạnh việcgiải quyết công việc chính cho một số thợ thủ công, các ngành nghề này còn giảiquyết số thời gian nhàn rỗi của những người nông dân vào lúc nông nhàn ở nôngthôn Trước đây, quy mô sản xuất của các nghề này còn nhỏ lẻ, thị trường nhỏ hẹp.Nhưng ngày nay, quy mô của một số ngành tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là cácngành thủ công mỹ nghệ như nghề mây tre đan, nghề thêu, làm nón đang ngàycàng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, do đó đã tạo ra nhiều việc làm chongưòi lao động
Ngoài ra, một số ngành dịch vụ tại địa phương cũng tạo ra số lượng việc làmđáng kể Thu nhập và dịch vụ ở nông thôn luôn có mối quan hệ thuận với nhau Ởvùng nông thôn nào có dịch vụ càng phát triển thì số lượng người thất nghiệp càng
ít, thu nhập càng cao và ngược lại vùng nông thôn nào có thu nhập cao thì có dịch
Trang 20vụ phát triển Một số vùng nông thôn nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi như gần trụcgiao thông chính, gần khu công nghiệp lớn, phát triển được ngành du lịch… thìthường có dịch vụ phát triển và tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động.
Nhìn chung, việc làm ở nông thôn chủ yếu gắn liền với những thị trường laođộng nêu trên Tuy nhiên cũng có một số lao động nông thôn đi tìm kiếm việc làmtại các đô thị Số lao động này hiện nay mỗi ngày một gia tăng, gây sức ép cho vấn
đề tạo việc làm và các vấn đề xã hội khác ở các thành phố lớn, nhưng tỷ lệ việc làm
mà họ tìm kiếm được tại các ngành dịch vụ phổ thông ở thành thị vẫn chiếm tỷ lệnhỏ so với các ngành nghề nêu trên
1.2.2 Quy mô việ c làm thư ờ ng là nhỏ , công cụ lao độ ng chủ yế u là thủ công, lự c lư ợ ng lao độ ng đông như ng chấ t lư ợ ng lao độ ng thấ p
Một trong những đặc trưng nổi bật của việc làm cho lao động ở những vùngnông thôn của Việt Nam là quy mô việc làm thường nhỏ Mô hình sản xuất truyềnthống lâu đời và phù hợp nhất của lao động nông thôn Việt Nam cho tới tận ngàynay vẫn là mô hình gia đình Trong những năm đầu xây dựng XHCN, Đảng và Nhànước ta đã chủ trương tập thể hoá, hợp tác hoá nông nghiệp để tạo ra các quy môviệc làm lớn hơn Nhưng mô hình sản xuất đó chưa phù hợp với người nông dânViệt Nam vốn có truyền thống hàng ngàn đời nay quen làm ăn cá thể và nhỏ lẻ kiểutiểu nông dẫn đến biến các hợp tác xã thành những đơn vị sản xuất kém hiệu quảkiểu “cha chung không ai khóc” Nhận thức rõ những bất cập trong phương thức tổchức sản xuất này Đảng và nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới, giao lại ruộngđất cho dân theo cơ chế khoán sản phẩm Chủ trương này đã phù hợp với tình hìnhthực tế, làm khởi sắc và ngày càng phát triển nền nông nghiệp nông thôn Chính vìđặc thù này mà việc làm ở nông thôn cho đến ngày nay vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ
lẻ, quy mô gia đình Mỗi một đơn vị, một cơ sở sản xuất chỉ giải quyết được việclàm cho 3 - 4 nhân công Tuy nhiên, việc xuất hiện và ngày càng phát triển cáctrang trại có quy mô ngày càng lớn hiện nay ở các vùng nông thôn sẽ tạo ra một nhucầu hợp tác mới trong lao động sản xuất và nhờ đó sẽ tạo ra các quy mô việc làmlớn hơn Tuy nhiên cho đến ngày nay, mặc dù nhu cầu này đang phát triển nhưng
Trang 21vẫn chưa chiếm được tỷ lệ cao trong việc cung cấp việc làm cho lao động.
Bên cạnh việc tổ chức sản xuất với quy mô nhỏ, một trong những đặc thùnữa của việc làm cho lao động ở nông thôn là thường sử dụng công cụ lao động thủcông, lạc hậu, khiến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém, không cósức cạnh tranh cao trên thị trường và tất yếu là tạo ra thu nhập thấp
Đây là một trong những đặc điểm cơ bản làm cho nông thôn Việt Nam kémphát triển và lạc hậu Mặc dù có hàng ngàn năm kinh nghiệm trồng lúa, nhưng chođến ngày nay mọi công cụ lao động phục vụ cho công nghệ trồng lúa vẫn chỉ là cácdụng cụ cầm tay, thủ công Từ khâu làm đất, chăm sóc, tưới tiêu, bón phân, phunthuốc trừ sâu, thu hoạch… trong ngành trồng trọt, người nông dân vẫn làm bằngphương pháp thủ công Một số loại máy móc như máy cày, máy gặt đập liên hợp,bơm phun nước… thời hợp tác hoá nông nghiệp đã có lúc được đưa vào đồng ruộngnhưng không mang lại hiệu quả kinh tế, không có người quản lý và duy tu sửa chữakịp thời nên đã dần dần mai một Trong thời kỳ đổi mới, một phần là do ruộng đấtchia cắt thành nhiều mảnh nhỏ để khoán cho dân nên việc áp dụng máy móc khôngmấy thuận lợi, mặt khác người nông dân không đủ vốn đầu tư và cũng không đủtrình độ kỹ thuật để sử dụng các công cụ lao động hiện đại Tuy nhiên một số nămgần đây, một số vùng nông thôn đã phát triển theo hướng cơ giới hoá, nhiều công cụlao động hiện đại đã được dần dần sử dụng Nhưng xu hướng chính cho đến bây giờvẫn là dùng các công cụ thủ công, lạc hậu
Ngoài việc trồng cây lương thực, việc trồng cây hoa màu, trồng rau, hoa ởnông thôn cũng chủ yếu bằng công cụ thủ công Một số năm gần đây do nhu cầumỗi ngày một lớn của thị trường về các loại rau sạch, hoa, cây cảnh, một số vùngnông thôn, chủ yếu là các vùng ven đô thị đã có đầu tư những dây chuyền côngnghệ hiện đại trồng rau sạch và hoa, cây cảnh Đây chắc chắn là một hướng pháttriển tốt tạo cho người lao động ở nông thôn có thu nhập ổn định và cao hơn rấtnhiều so với trồng thủ công, truyền thống Vì trồng các loại cây này theo công nghệhiện đại sẽ giúp người dân tránh được thiên tai, không phụ thuộc hoàn toàn vào thờitiết Tuy nhiên, một khó khăn nan giải đó là cần phải đầu tư nhiều vốn cho khâu kỹ
Trang 22thuật và công cụ sản xuất và điều này luôn là một bài toán khó với người dân có thunhập thấp ở nông thôn.
Bên cạnh công cụ lao động của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi kể cả theohướng chăn nuôi công nghiệp cũng chưa được đầu tư các dây chuyền sản xuất hiệnđại Lao động ở nông thôn vẫn chăn nuôi gia cầm và gia súc theo kiểu thủ công, nênkhông kiểm soát tốt các thông số kỹ thuật về môi trường vệ sinh, chuồng trại Đâyvừa là nguyên nhân khiến lao động ở đây nặng nhọc, vừa là nguyên nhân gây ranhiều dịch bệnh khiến việc chăn nuôi tổn thất và thu nhập từ nghề này bấp bênh,phụ thuộc
Vùng nông thôn vốn là vùng nghèo, tập quán làm ăn nhỏ lẻ lâu đời theocung cách tự cung tự cấp không cho phép họ tích luỹ lớn Vì thiếu vốn đầu tư nênkhông thể cải tạo cơ sở sản xuất theo hướng hiện đại hoá và công nghiệp hoá dẫnđến một tình trạng đầy mâu thuẫn: muốn có thu nhập cao phải mở rộng thị trườnghàng hoá, tăng sức cạnh tranh; muốn mở rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh thìphải có vốn đầu tư cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới Nhưng đầu tư thì phải
có vốn tích luỹ, phải tạo thu nhập cao mới tích luỹ được vốn Đây là một vòng luẩnquẩn mà việc tháo gỡ nó thật sự khó khăn đối với người dân Chỉ có chính sách hỗtrợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật của chính quyền mới có thể giúp họ giải quyết được khókhăn trong việc mở rộng quy mô việc làm và tăng thu nhập
Cùng với quy mô việc làm nhỏ lẻ, công cụ lao động lạc hậu và thủ công thìviệc làm và thu nhập ở nông thôn còn có một đặc thù quan trọng là lực lượng laođộng đông đảo nhưng chất lượng lao động lại thấp Đại đa số lao động ở nông thônđều chỉ có thể đáp ứng được các việc làm cần lao động phổ thông, nghĩa là các việclàm chỉ cần sức khoẻ, không cần nhiều đến tay nghề và kỹ thuật cao Đây cũng làmột đặc thù mà khi giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập ở nông thôn phảitính đến Phần lớn lao động ở nông thôn chỉ có trình độ văn hoá hết trung học cơ sở(lớp 9 phổ thông), một số hết phổ thông trung học (lớp 12), thậm chí một số vùngnông thôn, số lao động chỉ có trình độ tiểu học và cả mù chữ Họ không được đàotạo nghề và cập nhật các kiến thức khoa học kỹ thuật mới cần thiết cho phát triển kinh
Trang 23tế hiện đại Vì thế, việc bố trí, sắp xếp những lao động này ở vùng nông thôn chỉ có thểphù hợp với địa phận nông nghiệp truyền thống mà hiện nay ngày càng trở nên chậthẹp và dư thừa lao động do nhiều tác nhân mà ta sẽ phân tích ở dưới đây Những thịtrường việc làm mới đang hình thành do công cuộc đổi mới nền kinh tế như các nhàmáy, các trang trại chăn nuôi, trồng trọt theo hướng hàng hoá và công nghiệp hoá… lạiyêu cầu lao động có tay nghề có kỹ năng và kỷ luật lao động cao hơn Muốn bố trí họvào các vị trí việc làm này tất yếu phải có một chiến lược đào tạo nghề sát với nhu cầuthực tế và hiệu quả.
1.2.3 Không ít việ c làm chư a thự c sự gắ n vớ i thị trư ờ ng, còn mang tính tự
cấ p, tự túc
Mặc dù đất nước ta đã và đang chuyển mình để thích nghi với cơ chế kinh tếmới: cơ chế kinh tế thị trường Nền kinh tế sản xuất hàng hoá đang là con đườngchúng ta đi Nhưng ở nhiều vùng nông thôn lực lượng lao động vẫn đang duy trìnhững việc làm mang tính tự cấp tự túc Như trên đã đề cập đến mô hình sản xuấttruyền thống ở nông thôn là hộ gia đình Cho đến nay, mô hình này vẫn còn phổbiến dẫn đến quy mô việc làm ở nông thôn thường nhỏ lẻ Mô hình sản xuất giađình cũng thường kèm theo đó là sản xuất theo kiểu tự sản, tự tiêu Không ít hộ giađình vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi Trồng trọt cũng không chuyên canh mà trồngmỗi thứ một ít đủ để phục vụ cho nhu cầu gia đình, có dư thừa thì mới mang ra chợbán Chăn nuôi cũng vậy, họ không chủ trương phát triển một nền chăn nuôi hànghoá mà nuôi mỗi loài vật nuôi một số lượng nhỏ để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùngcủa gia đình Tỷ lệ việc làm ở nông thôn theo mô hình tự cấp, tự túc này khá cao,mặc dù trong thời gian gần đây với chủ trương khuyến khích nền sản xuất hàng hoácủa Nhà nước, một số gia đình đã mạnh dạn đầu tư để chuyển đổi sang sản xuấthàng hoá, tuy nhiên việc chuyển đổi này hiện nay còn chậm chạp và nhiều hộ giađình khi chuyển sang kinh doanh sản xuất một mặt hàng chủ yếu nào đó vẫn tiếp tụcduy trì mô hình tự cung cấp cho mình những nhu cầu thiết yếu như lương thực, thựcphẩm… Đây là tập quán làm ăn lâu đời của người dân nông thôn Việt Nam, đó thực
sự là một bước cản không nhỏ để phát triển nền kinh tế hàng hoá quy mô, tạo nhiều
Trang 24việc làm theo quy mô lớn và có thu nhập cao.
1.2.4 Thu nhậ p củ a ngư ờ i dân nông thôn còn thấ p so vớ i ngư ờ i dân thành thị
Một trong những đặc trưng cơ bản của việc làm và thu nhập ở nông thôn làviệc làm ở nông thôn thường đem lại thu nhập thấp hơn so với thu nhập ở thành thị.Cho đến nay, thu nhập từ ngành trồng trọt vẫn đang ở mức thấp nhất so với cácngành kinh tế khác Nông sản ở Việt Nam thường rất rẻ so với các mặt hàng côngnghiệp, mà sản phẩm chính của các việc làm ở khu vực nông thôn hiện nay là nôngsản do đó thu nhập không cao
Một mặt, hàng hoá mà người nông dân ở khu vực nông thôn bán ra thịtrường hầu hết là các dạng hàng hoá thô, chủ yếu là dạng nguyên liệu chưa qua tinhchế nên phải bán theo giá thấp Mặt khác, việc trồng trọt và chăn nuôi lại phụ thuộcnhiều vào yếu tố môi trường Nhiều năm việc trồng trọt và chăn nuôi thường bị thấtthu vì thiên tai, bão lụt hay hạn hán hoặc vì dịch bệnh do đó thu nhập ở nông thônthường thấp và bấp bênh
Ngay cả những việc làm thuộc khu vực dịch vụ của nông thôn cũng cho thunhập thấp hơn so với dịch vụ ở thành thị Bởi đó là hệ quả tất yếu của thu nhập thấpnói chung từ các ngành trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn vàbởi trình độ, chất lượng dịch vụ không thể tốt như ở thành thị Thu nhập thấp thìnhu cầu tiêu dùng thấp Đây cũng là lý do mà dịch vụ ở nông thôn thường khôngphát triển như ở thành thị
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
Ở LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.3.1 Nhân tố về điề u kiệ n tự nhiên, môi trư ờ ng sinh thái
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vì nó vừa làđối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, là cơ sở quan trọng hàng đầu của sảnxuất vật chất, tạo ra việc làm cho người lao động
Tài nguyên thiên nhiên là một phạm trù kinh tế rộng lớn Đối với một quốcgia, nó bao gồm tất cả những gì có trong vùng trời, vùng biển, trên mặt đất, tronglòng đất, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý… đều tác động đến sự phát triển, giàu có hay
Trang 25nghèo đói của mỗi quốc gia, đặc biệt là có ảnh hưởng lớn đến vấn đề giải quyết việclàm cho người lao động Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy: ở quốc gia nàohoặc ở vùng nào có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú thì ở nơi
đó có điều kiện thuận lợi hơn đối với vấn đề tạo việc làm và cơ cấu việc làm ởnhững nơi này cũng phong phú đa dạng hơn so với những nơi khác
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng Nhờ đó đã góp phần tạo
ra nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, làm thay đổimọi mặt đời sống kinh tế - xã hội trong những năm qua Tuy nhiên, do tốc độ giatăng dân số trong quá khứ quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngàycàng nhiều, tốc độ tạo việc làm không thể tăng kịp với tốc độ gia tăng của nguồn laođộng; vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi phải phát huy và khai thác có hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với các nguồn lực khác như lao động, vốn, côngnghệ… để tạo ra nhiều việc làm mới cho người lao động, đảm bảo cho nền kinh tếtiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đưa sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục đilên Tuy vậy, có những quốc gia, thậm chí một địa phương nào đó của một quốc gia
có nguồn tài nguyên nghèo nàn, khan hiếm như Nhật Bản mà vẫn tạo được nhiềuviệc làm cho người lao động Bởi vì, họ đã xây dựng được chính sách và giải pháp
về việc làm đúng đắn và khoa học
Việc làm và thu nhập chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển kinh tế, cơcấu ngành nghề, trình độ ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất Các yếu tốnày, đến lượt mình lại chịu tác động không nhỏ của điều kiện tự nhiên, môi trườngsinh thái Vì thế, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái là yếu tố quan trọng tácđộng lên việc làm và thu nhập cho người lao động Tuy tác động của điều kiện tựnhiên lên việc làm và thu nhập mang tính gián tiếp, nhưng nó ảnh hưởng không nhỏđến cơ cấu, quy mô và chất luợng của việc làm tại các địa phương, đặc biệt là vùngnông thôn
Trong điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý đóng vai trò là một yếu tố có tác độngmạnh Vị trí địa lý của một địa phương đã tạo ra cho địa phương đó những thuận lợihoặc những khó khăn nhất định Đối với những địa phương nằm ở vùng sâu, vùng
Trang 26xa, hạ tầng cơ sở thường thấp kém, giao thông đi lại khó khăn dẫn theo kinh tế pháttriển chậm và kèm theo nó là hạn chế nhu cầu về việc làm, hoặc chỉ có những việclàm có thu nhập thấp Ở những vùng như thế, nền kinh tế hầu như chỉ mang tính tựcung tự cấp, kinh tế hàng hoá phát triển khó khăn vì thế người lao động chỉ có thểtìm được việc làm ở ngành trồng trọt hoặc chăn nuôi Tính chất tự cấp tự túc củacác nền kinh tế tại các địa phương này không tạo cho người làm nông nghiệp có thunhập cao và cũng không thể tạo ra các cơ sở kinh tế quy mô lớn vì thế cũng không
có một thị trường lao động có nhu cầu và quy mô lớn Ngược lại, nếu địa phươngnằm ở một vị trí thuận tiện cho việc giao thông thì kinh tế luôn có được những khảnăng phát triển, như: thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài dễ dàng; dễ dàng tiếp xúc vàứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất tiên tiến; điều kiệnthông thương tốt sẽ tạo điều kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển, và đến lượt mìnhnền kinh tế hàng hoá sẽ tạo cho địa phương đó điều kiện để phát triển công nghiệp,thủ công nghiệp hoặc các ngành nghề có quy mô lớn vì không chỉ sản xuất ra cácsản phẩm phục vụ nhu cầu của địa phương mà còn bán ra thị trường bên ngoài Nhưvậy, tất nhiên tạo ra một thị trường lao động phong phú, quy mô và có điều kiện để
có thu nhập cao
Địa hình và đất đai là yếu tố thứ hai tác động gián tiếp lên việc làm và thunhập của địa phương Địa hình và đất đai thường quy định cho địa phương nhữngkhả năng lựa chọn để phát triển cơ cấu vật nuôi, cây trồng Mỗi một dạng địa hình
sẽ cho một lựa chọn nhất định Địa hình miền núi thường chỉ phù hợp với phát triểnlâm nghiệp, trồng cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc Địa hình đồng bằng lại phùhợp với việc trồng lúa, hoa màu và chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm Địa hình đadạng thường tạo điều kiện cho một nền nông nghiệp đa canh, nhưng thường với quy
mô nhỏ Địa hình đồng nhất thì phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp độc canhnhưng có thể với quy mô lớn Những đặc điểm này sẽ quy định nhu cầu, cơ cấu vàchất lượng của thị trường lao động tương ứng
Đất đai là yếu tố tự nhiên có tác động mạnh đến việc làm và đặc biệt là thunhập Đất đai cũng như địa hình thường quy định cơ cấu vật nuôi, cây trồng củakinh tế nông thôn Những loại đất phù hợp với trồng cây công nghiệp nếu có một
Trang 27diện tích lớn sẽ là điều kiện thuận lợi để phát triển loại cây đó, và tiếp theo đó là nhàmáy chế biến sản phẩm của nó.
Ngoài ra, độ màu mỡ của đất đai còn tác động mạnh đến năng suất cây trồng,vật nuôi vì vậy nó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và thông qua đó tác độnglên thu nhập của người lao động
Bên cạnh đất đai, tài nguyên khoáng sản là một yếu tố tiềm năng tác động lênviệc làm và thu nhập tại nông thôn; Những vùng có tài nguyên giàu có sẽ có cơ hội
để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến những tài nguyên khoángsản đó và vì thế tạo ra một thị trường thu hút lao động lớn, có quy mô tại địaphương Sự có mặt của các doanh nghiệp công nghiệp như vậy sẽ không chỉ tácđộng lên quy mô, cơ cấu việc làm tại địa phương mà còn tác động mạnh mẽ lên chấtlượng lao động và kèm theo đó là thu nhập
Môi trường sinh thái trong những năm gần đây trở thành một nguồn lực pháttriển mới cho địa phương Môi trường sinh thái trong lành, cảnh quan thiên nhiêntươi đẹp là điều kiện tiên quyết để phát triển một số ngành dịch vụ như du lịch vànghỉ mát Những địa phương có tiềm năng thiên nhiên này luôn có điều kiện pháttriển ngành công nghiệp không khói với hiệu quả kinh tế rất cao và tất nhiên sẽ tạo
ra nhu cầu lao động đa dạng và phong phú, từ doanh nhân cho đến các nhân viênnhà hàng, khách sạn, vận chuyển, buôn bán… như vậy và họ đã tìm được cơ hội chohàng chục ngàn lao động có việc làm, thu nhập khá
1.3.2 Tiế n trình triể n khai công nghiệ p hoá, hiệ n đạ i hoá
Tiến trình triển khai CNH, HĐH tại địa phương là một trong những yếu tố cótác động nhanh và mạnh nhất đến tạo việc làm và thu nhập ở lao động nông thôn
Sự nghiệp CNH, HĐH càng được đẩy mạnh, thì càng có điều kiện mở rộng ngànhnghề, thay đổi bộ mặt của người lao động theo hướng văn minh và hiện đại Từ hạtầng cơ sở đến lối sống và lối sinh hoạt của nhân dân đều biến đổi để thích nghi vớinền sản xuất CNH và HĐH Tiến bộ của khoa học, công nghệ sẽ làm tăng nhu cầuviệc làm cho lao động phức tạp, có kỹ thuật và ngược lại, làm giảm việc làm đối vớilao động giản đơn Quá trình phát triển của mỗi quốc gia ngày nay được cấu trúc lại
Trang 28dựa trên những lợi thế của nguồn lực con người với hàm lượng trí tuệ ngày một giatăng Nhờ có sự tiến bộ của khoa học - công nghệ mà phần tỷ lệ của lao động chântay kết tinh vào sản phẩm ngày một giảm rõ rệt, hàm lượng lao động "chất xám" kếttinh vào sản phẩm ngày một tăng lên.
Sự phát triển của khoa học - công nghệ mang lại nhiều cơ hội để người laođộng tạo ra việc làm, phát huy khả năng cống hiến của mình cho xã hội, đồng thờicũng đặt ra nhiều thách thức Khi đưa khoa học, công nghệ tiến bộ vào sản xuất sẽlàm cho những nước có nguồn lao động giản đơn dư thừa nhưng thiếu lao độngphức tạp, có kỹ thuật cao như Việt Nam hiện nay mất đi ưu thế của lao động nhiềugiá rẻ Xu hướng chung hiện nay là tăng lao động phức tạp có kỹ thuật cao, giảmlao động giản đơn Như vậy, vấn đề giải quyết việc làm của mỗi quốc gia phụ thuộcvào chất lượng nguồn lao động (thể lực và trí lực) mà điểm quan trọng có tính quyếtđịnh là trí tuệ của nguồn lao động; bởi vì, sự yếu kém của trí tuệ là lực cản nguy hạinhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt động của con người Điều này đã được C Máckhẳng định: "Sự ngu dốt là sức mạnh của ma quỷ và chúng ta lo rằng, nó sẽ lànguyên nhân của nhiều bi kịch nữa" [2, tr 438]
Ngày nay, khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, là lực lượng trực tiếptham gia vào quá trình sản xuất vật chất Vì vậy, đòi hỏi người lao động phải có phẩmchất trí tuệ cao; nghĩa là người lao động phải có năng lực sáng tạo, áp dụng nhữngthành tựu của khoa học - công nghệ tiên tiến, khả năng biến tri thức của mình thành kỹnăng nghề nghiệp, thể hiện qua trình độ tay nghề thành thạo, chuyên môn nghiệp vụgiỏi, làm chủ được công nghệ, hoàn thành tốt công việc mà mình đảm nhiệm
Sự tác động của tiến trình CNH, HĐH lên việc làm và thu nhập của lao động
có thể theo hai xu hướng, cả thuận và nghịch Trước hết, mục tiêu của CNH, HĐH
là tạo ra các cơ sở sản xuất công nghiệp, hiện đại, nhằm khai thác được tiềm nănglao động, tài nguyên của địa phương, cải tạo cơ sở hạ tầng như đường sá, điện nước
do đó tốc độ triển khai CNH, HĐH sẽ tác động lên tốc độ hình thành thị trường laođộng với cơ cấu mới tại đại phương Khi các nhà máy, xí nghiệp hiện đại ra đời,trên cơ sở khai thác những tiềm năng thiên nhiên như khai thác và chế biến khoáng
Trang 29sản, chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ hải sản hoặc một số sản phẩm nông nghiệpkhác, sẽ tạo ra một thị trường lao động lớn, thu hút hàng ngàn công nhân có kỷ luậtlao động, có trình độ và kỹ năng cao hơn lao động thuần nông và kèm theo đó là họ
có thu nhập cao hơn; Việc tạo ra một cơ cấu hạ tầng phát triển và tiện lợi sẽ là tiền
đề để địa phương đó có cơ hội thông thương với các vùng miền khác, điều đó, như
đã phân tích ở trên sẽ tạo điều kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển Kinh tế hànghoá phát triển sẽ giúp mở rộng quy mô sản xuất các sản phẩm và mặt hàng mangtính truyền thống của địa phương và như thế cũng tạo ra một nhu cầu mới về laođộng, tạo ra khả năng mới nhằm nâng cao thu nhập Đó chính là tác động thuận củaCNH, HĐH nếu như địa phương có những chính sách phát triển đồng bộ và phùhợp, tận dụng được những thế mạnh của tiến trình này
Mặt khác, CNH, HĐH cũng có thể tạo ra tác động nghịch lên việc làm và thunhập ở nông thôn Nó có thể tạo ra một loạt các lao động dư thừa và những tác độngtiêu cực khác nếu địa phương không kịp thời có những điều chỉnh phù hợp Xu
hướng tiêu cực này thể hiện ở hai phương diện, thứ nhất, CNH, HĐH thường có
mục đích nâng cao năng lực sản xuất nên áp dụng các kỹ thuật, máy móc, trang thiết
bị tiên tiến, tận dụng máy móc thay sức lao động của con người sẽ dẫn đến việc phải
cắt giảm một số lao động dư thừa gây cho nhiều công nhân bị thất nghiệp Thứ hai,
khi tiến hành CNH, HĐH tại địa phương tất yếu sẽ thu hẹp diện tích trồng trọt, chănnuôi hay lâm nghiệp, điều đó chắc chắn dẫn đến gia tăng thêm số lao động dư thừa
từ ngành trồng trọt và chăn nuôi của địa phương Số lao động dư thừa này, mặc dùkhông còn đất đai để chăn nuôi hay trồng trọt nhưng lại không đủ trình độ và kỹnăng để đáp ứng được yêu cầu của các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện đại, nếukhông được tạo điều kiện đào tạo và dạy nghề Khi không có công ăn việc làm,chưa có định hướng chuyển nghề phù hợp với năng lực, kèm với một số tiền họ cóthể có được do được đền bù từ đất đai sẽ là cơ hội để họ sa vào các tệ nạn xã hộihoặc tham gia vào các hoạt động buôn bán trái phép để giàu nhanh chóng, dẫn đến
sự bất ổn định xã hội Vì vậy, chính quyền địa phương phải có những kế hoạch cụthể và chính sách phù hợp trong việc đào tạo nghề, giải quyết lao động dư thừa khi
Trang 30tiến hành CNH, HĐH tại địa phương.
Ở nước ta hiện nay có nguồn lao động dồi dào, bước vào năm 2016 lựclượng lao động là 54,4 triệu người Đây là nguồn lực cơ bản nhất để tiến hành CNH,HĐH đất nước Tuy nhiên, chỉ có lực lượng lao động đông thì không đủ và khôngthể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH mà vấn đề bức báchhàng đầu đặt ra hiện nay là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đó là giảipháp cơ bản để tạo việc làm, giảm thiểu thất nghiệp, là nhân tố quyết định đảm bảovững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH thành công
1.3.3 Trình độ phát triể n củ a kinh tế thị trư ờ ng
Trình độ phát triển của kinh tế thị trường được xác định bởi sự đa dạng hoácác thành phần kinh tế, giảm tỷ lệ doanh nghiệp kinh tế nhà nước bằng các biệnpháp cổ phần hoá và tăng tỷ lệ doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại địa phương; đẩymạnh các ngành dịch vụ phát triển; thay thế nền sản xuất tự cung, tự cấp, tự sản, tựtiêu bằng nền kinh tế hàng hoá, cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp khiếncho chỉ có doanh nghiệp nào làm ăn hiệu quả mới có thể tồn tại và phát triển.Ngược lại nếu không đủ sức cạnh tranh sẽ bị phá sản Vì vậy trình độ phát triển củakinh tế thị trường có thể nói là một yếu tố trực tiếp tác động linh hoạt đến việc làm
và thu nhập của người lao động theo cả hướng tiêu cực và tích cực
Trong thời bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước đã thu hút một số lượng lớncông nhân, trên thực tế số công nhân này vượt xa so với nhu cầu lao động thực tế củadoanh nghiệp Họ chấp nhận làm việc với thu nhập thấp vì hiệu quả kinh tế của doanhnghiệp không cao Đến khi cải cách mở cửa, Đảng và nhà nước chủ trương phát triểnnền kinh tế thị trường, hàng loạt các doanh nghiệp Nhà nước có sức cạnh tranh kém
và quản lý lạc hậu đã cản trở sự phát triển của bản thân doanh nghiệp Một số doanhnghiệp không đủ sức cạnh tranh đã phá sản Một số doanh nghiệp nhà nước khác đểtồn tại và phát triển tất yếu phải tiến hành đổi mới để có thể đủ sức cạnh tranh trên thịtrường Cả việc phá sản và việc tinh giảm biên chế của các doanh nghiệp cải tổ đềukhiến cho hàng loạt công nhân mất việc làm Họ vẫn đang còn ở tuổi lao động nêncần thiết phải kiếm lại việc làm Như vậy, thị trường hàng hóa nền kinh tế tạo ra sức
Trang 31ép lớn cho vấn đề tạo việc làm và thu nhập nói chung, việc làm và thu nhập ở laođộng nông thôn nói riêng, đây là hướng tác động tiêu cực.
Mặt khác, kinh tế thị trường đặc trưng bởi sự đa dạng hoá các thành phầnkinh tế Kinh tế tư nhân được phép và khuyến khích phát triển Các doanh nghiệp tưnhân sau khi phát triển mạnh sẽ có vai trò lớn đối với sự tăng trưởng nền kinh tế.Kinh tế tư nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường hiệnnay Chính các doanh nghiệp tư nhân này đã đẩy mạnh xuất khẩu phát triển tạo ramột nhu cầu lao động lớn, góp phần thu hút các lao động dư thừa từ các xí nghiệpquốc doanh khi các xí nghiệp này thực hiện cải tổ để tăng sức cạnh tranh dưới tácđộng của kinh tế thị trường; kể từ khi cải cách, mở cửa đến nay số việc làm do cácdoanh nghiệp tư nhân tạo ra chiếm tỷ trọng ngày một cao Năm 2000, khi Luậtdoanh nghiệp ra đời, các doanh nghiệp tư nhân ngày càng phát triển, lĩnh vực đầu tưcủa kinh tế tư nhân ngày càng mở rộng, tạo ngày càng nhiều công ăn việc làm cho
xã hội
Kinh tế thị trường phát triển cũng đẩy mạnh ngành dịch vụ phát triển Đây làngành thu hút một số lượng lớn lao động vì thế nó góp phần đáng kể vào việc nângcao tỷ lệ việc làm Những khó khăn về việc làm của một số địa phương một phần là
do ngành dịch vụ không phát triển Nguyên nhân kiềm chế sự phát triển của ngànhdịch vụ tại nước ta hiện nay có rất nhiều, chủ yếu là do sự mất cân bằng trong pháttriển giữa các vùng miền; khoảng cách thu nhập giữa các khu vực dân cư lớn dẫnđến mức tiêu dùng của người dân cũng có cách biệt lớn Khu vực nông thôn luônluôn có thu nhập thấp hơn so với thu nhập thành thị, do đó ảnh hưởng lớn đến việc
mở rộng các nhu cầu dịch vụ, vì thế ít có khả năng tạo việc làm hơn so với khu vựcthành thị Đó chính là nguyên nhân nhiều người dân nông thôn rời quê hương rathành phố để tìm kiếm việc làm Một trong những ngành dịch vụ then chốt có thểkéo theo các dịch vụ khác phát triển chính là ngành du lịch Trong những năm gầnđây du lịch trở thành một ngành rất quan trọng Ngành này đã thúc đẩy các dịch vụkhác phát triển như: khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn du lịch, giao thông vận tải…vàthu hút nhiều lao động, nghĩa là nâng cao khả năng tạo việc làm và tăng thu nhập
Trang 32cho nhân dân.
Kinh tế thị trường cũng đặc trưng bởi nền sản xuất hàng hoá Nền sản xuấthàng hoá, khác với nền sản xuất tự cung, tự cấp, vốn không phụ thuộc vào nhu cầuhạn hẹp của thị trường địa phương mà ngược lại có thể mở rộng quy mô sản xuấthơn rất nhiều nếu tìm kiếm được thị trường phù hợp Quy mô sản xuất hàng hoá tạimột địa phương càng lớn thì nhu cầu lao động càng cao, do đó đây chính là tác độngtích cực và trực tiếp lên việc làm và thu nhập của địa phương Những năm gần đây,nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng thịtrường kinh doanh Chiếm lĩnh thị trường kinh doanh lớn là tiền đề để mở rộng sảnxuất và là tiền đề để thu hút lao động, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập
Tóm lại, trình độ phát triển của kinh tế thị trường tác động mạnh mẽ và trựctiếp lên việc làm và thu nhập theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Vì thế cần phải
có những biện pháp để giảm thiểu và giải quyết các tác động tiêu cực và tăngcường, tận dụng các tác động tích cực của nó trong vấn đề tạo việc làm và tăng thunhập cho lao động ở các địa phương
1.3.4 Tố c độ gia tăng dân số và quy mô, trình độ giáo dụ c, đào tạ o
Số lượng, tốc độ gia tăng và cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn tới nguồn lao động
và vấn đề tạo việc làm của mỗi quốc gia Dân số, lao động và việc làm là những vấn đề
có liên quan mật thiết với nhau Xem xét mức độ biến động dân số những năm gần đây
ở nước ta, cho thấy: tốc độ gia tăng dân số hàng năm vẫn tăng 1,07% năm; hàng năm
có khoảng 1,5 triệu thanh niên tham gia vào lực lượng lao động xã hội Năm 2016, cả
nước có hơn 92 triệu người (Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2016) Đây là một sức
ép lớn đối với vấn đề tạo việc làm ở nước ta hiện nay
Dân số tăng nhanh dẫn tới việc phân bố dân cư không hợp lý, không gắn kếtđược lao động với các nguồn lực khác (đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn…) khiếncho tạo việc làm mới càng khó khăn, mức thất nghiệp càng cao
Dân số gia tăng sẽ buộc ngân sách nhà nước nói chung, xã hội nói riêng phảigiảm chi cho đầu tư phát triển, tăng chi cho tiêu dùng Do đời sống của người laođộng gặp khó khăn, nhu cầu về việc làm lớn, cơ hội có việc làm ở khu vực nông thôn
Trang 33ít, nhất là những lúc nông nhàn dẫn đến tình trạng di dân tự do từ nông thôn đổ ra đôthị để tìm việc làm kiếm sống Nguồn lao động này phổ biến là có sức khỏe, có kiếnthức, có tay nghề, là lực lượng nòng cốt ở nông thôn; hậu quả làm cho khu vực nôngthôn mất đi nguồn lực quan trọng, cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Ngược lại, nguồn lao động di cư tự do này gây
ra sức ép khó khăn cho các đô thị vì nguồn lao động này khó có thể cạnh tranh và cóđược việc làm ở những ngành kinh tế hiện đại mà chủ yếu làm những công việc dịchvụ; từ đó gây nên khó khăn trong công tác quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch, hộkhẩu, làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội ở đô thị
Giảm tốc độ gia tăng dân số sẽ tạo được những thuận lợi rất cơ bản và cónhững tác dụng sau đây với thị trường sức lao động:
- Giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ sử dụng, đặc biệt đốivới dịch vụ y tế, sức khỏe và giáo dục cũng như các chi phí giáo dục có liên quan khác;
- Giảm tỷ lệ người ăn theo, thông qua đó tăng thu nhập bình quânđầu người;
- Tăng tỷ lệ tiết kiệm của dân cư Theo quy luật co giãn của thu nhập so vớitiết kiệm, khi thu nhập tăng lên thì mức độ tiết kiệm của dân cư tăng lên, tức là tăngkhả năng đầu tư mở rộng cầu lao động, từ đó tạo ra nhiều việc làm mới cho ngườilao động
Công cuộc đổi mới đất nước những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu vềkinh tế - xã hội, điểm quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế cao đã tạo ra sự tănglên không ngừng của nhu cầu sử dụng lao động Hàng năm, số lao động có việc làmđều tăng: Từ năm 2005 đến 2016, số người có việc làm tăng từ 42,8 triệu lên 53,3
triệu người, tức là tăng 24,6%, bình quân hàng năm tăng khoảng 0,9% (Niên giám thống kê năm 2016).
Mặc dù đạt được những thành tựu trên, song do sức ép về dân số, vấn đề laođộng và việc làm vẫn là vấn đề hết sức bức xúc vì do tốc độ gia tăng dân số trướcđây quá nhanh nên số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng tăng, tốc độ giảiquyết việc làm không thể nào tăng kịp với tốc độ tăng rất nhanh của nguồn lao
Trang 34động Dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 đạt 50,4 triệu, chiếm 57,9% tổng dân
số, đến năm 2016 đạt 54,4 triệu, chiếm 58,7% tổng dân số Đây là bài toán khónhưng bắt buộc chúng ta phải giải quyết có hiệu quả để đất nước ta tiếp tục pháttriển nhanh và bền vững; vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội - con đường duy nhấtđúng đắn mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn
Tốc độ gia tăng dân số cũng tác động lên việc làm và thu nhập một cách rõrệt Khi tỷ lệ tăng dân số cao, một mặt đòi hỏi tăng thêm thu nhập để nuôi dạy số trẻ
em được sinh ra, mặt khác cha mẹ chúng phải đầu tư thời gian để trông nom, chămsóc, giảm khả năng tìm việc làm để tăng thu nhập dẫn đến những mâu thuẫn giữayêu cầu về thu nhập và khả năng đáp ứng nhu cầu đó Mặt khác, chỉ sau một số nămcác công dân này đã đến tuổi lao động, bổ sung thêm vào nguồn nhân lực, làm chonguồn nhân lực thêm dồi dào, phong phú và tất yếu kèm theo đó là yêu cầu cao hơn,sức ép lớn hơn cho vấn đề tạo việc làm Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta,trong nhiều năm qua đã chủ trương kế hoạch hoá gia đình để kiềm chế tỷ lệ tăngdân số tự nhiên Tỷ lệ tăng dân số ở các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng đóinghèo, lạc hậu thường cao hơn hơn các vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển
Do đó việc làm và thu nhập ở nông thôn thường bị tác động tiêu cực hơn của tỷ lệtăng dân số lớn này
Quy mô và trình độ giáo dục đào tạo là một nhân tố tác động mạnh mẽ lênviệc làm và thu nhập ở lao động nông thôn Về lý thuyết thì việc giáo dục, đào tạocàng quy mô, trình độ càng cao sẽ giúp cho người lao động càng có nhiều cơ hội đểtìm kiếm việc làm Tuy nhiên trong thực tế, việc quy mô và trình độ giáo dục, đào tạomuốn có tác động tốt phải phù hợp với nhu cầu thực tế Trong những năm gần đây giáodục đại học phát triển với một quy mô lớn chưa từng thấy, số sinh viên tốt nghiệp đạihọc đang cần một số lượng việc làm tương ứng Tuy nhiên vấn đề việc làm cho sinhviên hiện nay đang là một vấn đề khó khăn Quy mô giáo dục, đào tạo đại học lớn hơn
so với nhu cầu thực tế; mặt khác, việc giáo dục của các trường thường không gắn liềnvới nhu cầu việc làm thực tế của xã hội Nhiều ngành nghề đang rất cần lao độngnhưng không được đào tạo, trong khi có quá nhiều ngành đang tồn đọng rất nhiều sinh
Trang 35viên tốt nghiệp mà vẫn tiếp tục được chiêu sinh Hiện trạng sinh viên phải đi làm tráinghề và thậm trí không cần đến kiến thức ngành nghề được đào tạo đang là hiện tượngphổ biến Trong khi đó ta lại đang thiếu trầm trọng những công nhân, nhân viên có taynghề cao, đặc biệt là khi tiến trình CNH, HĐH đang được đẩy mạnh, nhưng việc đàotạo những công nhân này lại chưa được chú trọng.
Tiến trình CNH, HĐH đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực có trình độ taynghề, kỹ năng và kỷ luật cao trong khi đó những lao động dư thừa từ các doanhnghiệp quốc doanh trong quá trình cải tổ và những thanh niên nông thôn đến tuổilàm việc phần lớn lại chưa qua đào tạo ngành nghề phù hợp, do đó họ không thểđón nhận được những cơ hội mở ra ngay tại quê hương họ khi các nhà máy, xínghiệp công nghiệp được xây dựng để khai thác chính các khoáng sản và tiềm năngnguyên vật liệu của địa phương Vì thế không thể không mở rộng quy mô giáo dục
và đào tạo nghề cho lao động nông thôn Cần phải có những loại hình đào tạo phùhợp và thiết thực thì mới có thể đáp ứng kịp thời được yêu cầu mới hiện nay về chấtlượng lao động
Bên cạnh các xí nghiệp, nhà máy công nghiệp thì việc phát triển các loạihình sản xuất mới ở nông thôn như các doanh nghiệp tiểu, thủ công nghiệp sản xuấthàng hoá xuất khẩu và phục vụ thị trường trong nước, các trang trại chăn nuôi, trồngtrọt quy mô lớn bên cạnh việc cần phải có hiểu biết những kiến thức mới về khoahọc, kỹ thuật chuyên ngành như giống cây trồng vật nuôi, kỹ thuật nuôi trồng, chămsóc… người lao động nông thôn còn phải được đào tạo các kỹ năng quản lý kinhdoanh, kỹ năng tiếp thị sản phẩm và phân phối sản phẩm, hiểu biết về luật pháp vàtài chính… Do đó hơn bao giờ hết, giáo dục đào tạo ở mọi loại hình đều có vai tròhết sức quan trọng và tác động trực tiếp lên chất lượng của lực lượng lao động vàqua đó gián tiếp tác động lên việc làm và thu nhập ở nông thôn
1.3.5 Chính sách củ a Nhà nư ớ c liên quan đế n việ c làm
Chính sách kinh tế của Nhà nước là một trong những tác nhân quan trọngnhất tác động lên việc làm và thu nhập ở nông thôn Chính sách kinh tế của Nhànước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hoặc cản trở tất cả các tác nhân nêu trên như điều
Trang 36kiện tự nhiên, tiến trình CNH, HĐH, trình độ kinh tế thị trưòng, dân số và giáodục phát triển và qua đó sẽ tác động lên việc làm và thu nhập của nông thôn.
Để có việc làm, vấn đề quan trọng hàng đầu là Nhà nước phải tạo ra các điềukiện thuận lợi để người lao động có thể tự tạo việc làm thông qua những chính sáchkinh tế - xã hội cụ thể Các chính sách tác động đến việc làm có nhiều loại, có loạitác động trực tiếp, có loại tác động gián tiếp tạo thành một hệ thống chính sách hoànchỉnh, đồng bộ có quan hệ tác động qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển
cả cung lẫn cầu về lao động; đồng thời làm cho cung và cầu về lao động xích lại gầnnhau, phù hợp với nhau, thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơcấu kinh tế
Những tác động của điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến trình CNH,HĐH, trình độ phát triển kinh tế thị trường…lên việc làm và thu nhập mà ta đã phântích tại mục 1.3.1 đến 1.3.3 phần lớn chỉ có thể trở thành hiện thực dưới tác độngcủa chính sách của Nhà nước Một trong những chính sách quan trọng của Nhà
nước tác động lên việc làm ở nông thôn chính là chính sách đất đai.
Đất đai có vị trí đặc biệt quan trong, bởi vì nó vừa là tư liệu lao động, vừa làđối tượng lao động của quá trình sản xuất xã hội Đối với nước ta, đất đai là đốitượng cơ bản nhất để phát triển sản xuất, tạo mở việc làm, đặc biệt là ở khu vựcnông nghiệp, nông thôn Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóaIX) khẳng định: "Quyền sử dụng đất đai bước đầu trở thành một nguồn vốn để Nhànước và nhân dân phát triển sản xuất kinh doanh" [9, tr 58]
Chính sách đúng đắn về đất đai sẽ tạo ra tiềm năng mới để giải phóng sứcsản xuất xã hội, tạo mở việc làm, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Khuyếnkhích người có điều kiện (kể cả người trong nước và nước ngoài) đến khai hoang vàkinh doanh theo mô hình trang trại ở các vùng đất còn hoang hóa, quai đê lấnbiển…tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước ta tăng trưởngvới tốc độ cao trong những năm qua Sự hoàn thiện của chính sách đất đai là mộtđiều kiện thuận lợi để tạo thêm việc làm cho mọi tầng lớp nhân dân Chẳng hạn, khiNhà nước đã thật sự thừa nhận quyền sử dụng ruộng đất, coi đó là một loại hàng
Trang 37hóa đặc biệt, đòi hỏi phải được lưu thông tự do và đảm bảo khả năng sinh lợi; hoặccoi trọng cơ chế thị trường trong việc xác định giá đất là lưu thông đất đai thì sẽ giảiphóng mọi tiềm năng của sản xuất, đặc biệt là tiềm năng lao động để tạo mở việclàm, giảm thiểu thất nghiệp, nâng cao đời sống của nhân dân.
Chính sách phát triển công nghiệp, thực hiện CNH, HĐH đất nước là một
trong các chính sách tác động sâu sắc lên việc làm và thu nhập của nông thôn Đẩymạnh phát triển công nghiệp, thực hiện CNH, HĐH đất nước là một trong nhữngchủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Đó là con đường và hướng đitất yếu để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ vàvăn minh
CNH, HĐH không chỉ đơn giản là công cuộc xây dựng và phát triển kinh tếđơn thuần mà nó còn có tác dụng làm biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đờisống xã hội chứ không chỉ tạo việc làm Nhưng nếu chỉ xét riêng trong lĩnh vực tạoviệc làm, chống thất nghiệp thì CNH, HĐH có tác động và ảnh hưởng rất lớn Chínhsách CNH, HĐH trước hết sẽ tạo ra nhiều việc làm mới một cách trực tiếp; kéo theo
sự phát triển của các lĩnh vực liên quan tới khu công nghiệp, từ đó làm nảy sinhhàng loạt chỗ làm việc mới một cách gián tiếp như: vùng nguyên liệu, đào tạo nghề,gia công…; tăng thu nhập cho lao động vì lao động trong công nghiệp thường cóthu nhập cao, nhu cầu tiêu dùng tăng lên cả về số lượng và chất lượng sẽ kéo theo
sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ; nâng cao chất lượng lao động vì CNH, HĐH đòihỏi phải tăng nhanh về chất lượng đội ngũ lao động, thúc đẩy người lao động phải
tự học hỏi, nâng cao trình độ nghề nghiệp…
Do đó, đánh giá, xem xét tác động của CNH, HĐH đối với vấn đề tạo việclàm không thể chỉ dựa vào kết quả số lao động nó thu hút một cách trực tiếp màphải tính đến việc tác động của nó tới việc phát triển các ngành khác và sức hút laođộng của các ngành đó
Tác động mạnh mẽ lên việc làm và thu nhập cho lao động ở nông thôn còn
có chính sách khôi phục và phát triển nghề truyền thống, đưa vào và phát triển ngành, nghề mới Một trong những tiềm năng và thế mạnh của nước ta là có nhiều
nghề truyền thống từ rất lâu đời Đó là những nghề: dệt tơ lụa, gốm sứ, đúc đồng,
Trang 38sơn mài, khảm trai, chế biến các món ăn đặc sản… nằm rải rác ở tất cả các vùng,miền trong cả nước Nghề truyền thống có khả năng thu hút nhiều lao động, tậndụng được lao động tại chỗ, tạo được việc làm cho nhiều người với nhiều lứa tuổikhác nhau.
Đi đôi với khôi phục và phát triển nghề truyền thống cần phải có chính sách
du nhập và phát triển ngành, nghề mới để tạo ra nhiều việc làm mới cho người laođộng, đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn
Để khôi phục và phát triển nghề truyền thống, du nhập và phát triển nhiềungành nghề mới, Nhà nước cần phải có cơ chế chính sách trợ giúp và khuyến khíchcác cơ sở sản xuất và hộ gia đình như: cho thuê mặt bằng sản xuất, miễn giảm thuế,cho vay vốn với lãi suất thấp, phát triển các hội, hiệp hội theo các ngành nghềtruyền thống để giúp đỡ nhau về công nghệ, vốn và thị trường, tiếp nhận công nghệmới và các dự án quốc tế…
Thực tiễn cho thấy, những năm qua nhờ có chính sách đúng đắn nên chúng ta
đã khôi phục được nhiều nghề truyền thống đã một thời bị mai một, mở mang, pháttriển được nhiều ngành, nghề mới Tuy nhiên, tiềm năng này còn rất lớn, đòi hỏiNhà nước phải tổng kết để rút kinh nghiệm, có cơ chế chính sách mới hữu hiệu, tiếptục nhân rộng, phát triển nhiều làng nghề, xã nghề trên mọi miền của đất nước; tạo
mở nhiều việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho ngườilao động
Bên cạnh các chính sách đã nêu, chính sách huy động vốn cũng tác động mạnh
mẽ lên việc làm và thu nhập cho lao động Vốn có vị trí quan trọng, là yếu tố cơ bản
để tạo việc làm, nếu vốn được gia tăng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ thu hút và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực khác như: lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học côngnghệ… để phát triển sản xuất, tạo mở việc làm Xuất phát từ vị trí, vai trò của vốn,Đảng ta chỉ rõ: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương huy động mọi nguồn vốn trong vàngoài nước để đầu tư vào phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định,vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khảnăng có thể tranh thủ ở bên ngoài Chiến lược lâu dài là phải huy động tối đa nguồn
Trang 39vốn trong nước để chiếm tỷ lệ cao trong đầu tư”[7, tr 228].
Vốn trong nước có vai trò quyết định tới sự tăng trưởng bền vững của nềnkinh tế vì nó là yếu tố nội lực để đảm bảo xây dựng và phát triển nền kinh tế độclập, tự chủ không phụ thuộc vào nước ngoài Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập, mởcửa hiện nay, "Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đadạng hóa các quan hệ quốc tế" [6, tr 119], cần phải mở rộng thu hút vốn nước ngoài
để bổ sung cho nguồn vốn trong nước là hết sức quan trọng và cần thiết
Hiện nay, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đặt ra nhu cầu vốn rất lớn; trongkhi đó, nước ta vẫn là một nước nghèo, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế rất thấp, mâuthuẫn giữa tích lũy và tiêu dùng diễn ra gay gắt Vì vậy, muốn huy động được tối đacác nguồn vốn để phát triển kinh tế, tạo mở việc làm đòi hỏi Nhà nước phải cóchính sách huy động vốn đúng đắn, hữu hiệu và đồng bộ Trước mắt, cần phải ràsoát, hủy bỏ những cơ chế chính sách không phù hợp với thực tiễn, bổ sung, banhành cơ chế chính sách mới phù hợp để huy động tối đa các nguồn vốn nhàn rỗitrong nhân dân và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển sản xuất, tạo mởnhiều việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đưa sự nghiệp đổi mới đấtnước tiếp tục đi lên
Chính sách giáo dục và đào tạo có ý nghĩa quyết định tới việc làm của ngườilao động nói chung, lao động nông thôn nói riêng Thực tiễn cho thấy, chỉ khi nàođược trang bị kiến thức, kỹ năng đầy đủ, người lao động mới hy vọng có khả năngtìm được việc làm Nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của giáo dục đào tạo,Đảng ta chỉ rõ: "Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả
ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả"[4, tr 109]
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, nhưng 70% lực lượng lao động ở khuvực nông nghiệp, nông thôn, lao động phổ thông là chủ yếu, chưa qua đào tạochuyên môn kỹ thuật Trong xu thế hội nhập, mở cửa hiện nay, yêu cầu đặt ra vớinước ta không chỉ là phải thực hiện chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sangnền kinh tế công nghiệp mà còn phải chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền
Trang 40kinh tế tri thức Đó là thách thức rất lớn dẫn đến dư thừa quá nhiều lao động phổthông mà lại thiếu quá nhiều lao động có kỹ thuật, đặc biệt là lao động "chất xám".
Từ đó, đặt ra cho chính sách giáo dục đào tạo gặp rất nhiều khó khăn: vừa phải đàotạo nguồn nhân lực để đi ngay vào kinh tế tri thức để tiếp thu khoa học công nghệmới, vừa phải tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động phổ thông Vì vậy, côngtác giáo dục đào tạo trở nên hết sức bức bách
Để giải quyết được khó khăn trên đòi hỏi Nhà nước phải tập trung đầu tư chogiáo dục đào tạo, phải có chính sách và giải pháp hữu hiệu để khắc phục ngaynhững yếu kém, bất cập như: sự mất cân đối về cơ cầu đào tạo, "bệnh thành tích"chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng; cơ sở vật chất thiếu thốn không đồng bộ vànhững tiêu cực khác đang phát sinh làm cản bước phát triển nguồn nhân lực; phảithật sự coi giáo dục đào tạo là "quốc sách hàng đầu" trong tất cả các chính sáchđược ưu tiên Bởi vì, vấn đề tạo việc làm, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hộiphụ thuộc vào giáo dục đào tạo
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG
Để đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của lao động chúng ta có thể sửdụng một số chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ thấ t nghiệ p
Tỷ lệ thất nghiệp chính là tỷ số giữa số người thất nghiệp so với lực lượnglao động Tỷ lệ thất nghiệp được tính như sau:
Trong đó : Tn: Tỷ lệ thất nghiệp (%)
Th: Tổng số người thất nghiệp (người)
Llđ: Lực lượng lao động (người)
Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu được sử dụng ở tất cả các nước thực hiện theo cơchế thị trường Chỉ tiêu này phản ánh tình hình lao động, việc làm, vấn đề giải quyếtcông ăn việc làm cho người lao động ở mỗi quốc gia hay địa phương Nhưng thấtnghiệp lại được phân ra thất nghiệp công khai, bán thất nghiệp hay thất nghiệp mùa
(%) 100
*
ld
h L
T n