1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh quảng nam

92 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 850,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện Công ước về quyền trẻ em và các chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang là một vấn đề thời sự, đòi hỏi cả cộng đồng cần chung

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ DIỄM PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI – năm 2020

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ DIỄM PHÚC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐẶNG THỊ HOA

HÀ NỘI – năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công với

đề tài “Thực hiện chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” ngoài sự cố gắng của bản thân, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, những

lời động viên từ gia đình, thầy cô và bạn bè

Lời đầu tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Thị Hoa là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo ở Học viện khoa học xã hội

đã tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của lãnh đạo Phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” là kết quả của quá trình học tập,

nghiên cứu khoa học của bản thân với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đặng Thị Hoa người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Trần Thị Diễm Phúc

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM Ở VIỆT NAM 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích 15

1.3 Hệ thống chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em 20

1.4 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em 25 1.5 Ý nghĩa và yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em 28

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 32

2.1 Giới thiệu về trẻ em ở Quảng Nam và khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 32

2.2 Chính sách và thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Nam 42

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM TỈNH QUẢNG NAM 69

3.1 Quan điểm, định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em 69

3.2 Giải pháp 72

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1:Tình hình trẻ em tỉnh Quảng Nam 33 Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình trẻ em tỉnh Quảng Nam năm 2016 và 2019 34

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu và quan tâm đặc biệt Trong Di chúc thiêng liêng trước

lúc đi xa, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một

việc rất quan trọng và cần thiết” Trong những năm qua, thấm nhuần lời dạy

của Bác Hồ kính yêu, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là một trong những nội dung cơ bản của chiến lược con người, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việt Nam là nước Châu Á đầu tiên và nước thứ hai trên thế giới ký và phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, là nước tích cực thực hiện cam kết, hợp tác với quốc tế nhằm cải thiện phúc lợi cho trẻ em trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp Trong đó, Quyền của trẻ em là một trong

4 nhóm quyền quan trọng được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc

về Quyền trẻ em năm 1989 (quyền sống còn, quyền phát triển, quyền bảo vệ

và quyền tham gia)

Điều 37, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột

sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [20] Quy định

của Hiến pháp 2013 đã được cụ thể hóa trong Luật Trẻ em (2016), có hiệu lực thi hành vào 1/6/2017 đã quy định cụ thể các quyền và bổn phận của trẻ em; các nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của

cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em Theo quy định của Luật Trẻ em, trẻ em có quy định quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục và quyền được bảo vệ

Trang 9

2

để không bị bạo lực

Trên thực tế, tình trạng trẻ em bị xâm hại ngày càng diễn biến phức tạp, gia tăng về mức độ, số lượng vụ việc Theo số liệu thống kê của Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm (Bộ Công an) cho thấy, mặc dù chỉ là phần nhỏ so với thực tế nhưng mỗi năm trung bình có 1.600-1.800 vụ xâm hại trẻ

em được phát hiện, trong số 1.000 vụ xâm hại tình dục, thì số trẻ em là nạn nhân chiếm đến 65%, đa số nạn nhân là nữ ở độ tuổi 12-15 (chiếm 57,46%), tuy nhiên số trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại là vấn đề rất đáng báo động, chiếm tới 13,2% Những vụ việc xâm hại trẻ em liên tiếp được công khai làm rung động dư luận và cảnh báo “đỏ” về sự an toàn của những đứa trẻ và sự xuống cấp về đạo đức, ý thức pháp luật của những người trưởng thành (Vũ Hải Việt, 2015)

Năm 2017, toàn quốc xảy ra 1.592 vụ xâm hại trẻ em, so với năm 2016 giảm 49 vụ; 1.642 trẻ em bị xâm hại trong đó trẻ em bị bạo lực là 245 em, giảm

171 em so với năm 2016; nhưng trẻ em bị xâm hại tình dục: 1.397 em, so với năm 2016 tăng 186 trẻ Hiện nhiều tỉnh, thành phố chưa quan tâm, đầu tư nguồn lực cho trẻ em (Đặng Hoa Nam, 2018) Theo Tổng Cục Cảnh sát, đối tượng xâm hại tình dục trẻ em hầu hết là những người có cuộc sống bình thường ít ai ngờ tới, có quan hệ gần gũi với nạn nhân và gia đình nạn nhân như người thân, ruột thịt, thầy giáo, hàng xóm…

Thực trạng trên cho thấy, thực hiện chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em

ở nước ta hiện nay là một vấn đề cấp bách Bên cạnh việc thực thi các quy định của pháp luật, thực hiện Công ước về quyền trẻ em và các chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em đang là một vấn đề thời sự, đòi hỏi cả cộng đồng cần chung tay thay đổi nhận thức, xây dựng một môi trường sống lành mạnh, an toàn cho trẻ em

Quảng Nam là tỉnh nằm ở vùng nam Trung Bộ với 9 huyện miền núi/18

Trang 10

3

huyện, thị xã, thành phố; là địa bàn gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra Là tỉnh nghèo, đời sống, thu nhập của người dân còn thấp, sự chênh lệch mức sống giữa các vùng là một trong các nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

và nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt còn cao như: trẻ em mồ côi, trẻ em khuyết tật, trẻ em phải lao động sớm, trẻ em bị lạm dụng, trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo…Bên cạnh đó, nhận thức về quyền trẻ em và ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của một bộ phận cha mẹ, giáo viên, cán bộ làm công tác trẻ em và người dân chưa tốt Sự thay đổi quan niệm về đạo đức, sự buôn thả của một bộ phận dân cư về lối sống vị

kỷ đã làm tha hóa các mối quan hệ gia đình và xã hội Các vấn đề nêu trên đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tại Quảng Nam

Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: Môi trường sống tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu an toàn, lành mạnh đối với trẻ em, làm gia tăng nguy cơ tai nạn thương tích và hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em Việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nhiều chủ thể pháp luật chưa thực hiện tốt Nhiều cha

mẹ, người chăm sóc trẻ em và bản thân trẻ em chưa nhận thức đầy đủ được trách nhiệm bảo vệ con em, thiếu kiến thức, kỹ năng về Bảo vệ trẻ em Nhiều gia đình sao nhãng việc chăm sóc con hoặc lúng túng trong xử trí, không kịp thời hoặc không tố cáo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em đến các cơ quan chức năng Sự xuống cấp đạo đức, tha hóa, biến chất về lối sống của một bộ phận

xã hội làm gia tăng tội phạm bạo lực, xâm hại trẻ em, đặc biệt là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em; tình trạng trẻ em lạm dụng đồ chơi công nghệ, nghiện games, điện tử vẫn còn diễn biến phức tạp; khu vui chơi, giải trí cho trẻ em còn thiếu và không đồng bộ, một số địa phương chưa quy hoạch, bố trí

Trang 11

và giải pháp thực hiện phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh Quảng Nam

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, học viên chọn đề tài: "Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm đề

tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm gần đây, vấn đề bảo vệ trẻ em, chăm sóc trẻ em vẫn luôn được các cấp, các ngành và các địa phương quan tâm, chú trọng Đã có nhiều bài viết trên sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em, chăm sóc trẻ em Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu có liên quan đến đề tài:

- Các công trình nghiên cứu về thực trạng chăm sóc, bảo vệ trẻ em Đánh giá về thực trạng chăm sóc và bảo vệ trẻ em hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc hỗ trợ trẻ em phòng chống bạo lực gia đình, xâm hại tình dục, … Báo cáo chuyên đề can thiệp, hỗ trợ trẻ em bị bạo lực thông qua đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em 18001567 khảo sát trong giai đoạn từ năm 2012 đến tháng 5/2017 cho biết, trong tổng số 698 ca trẻ em

bị bạo lực có tới 91,7% bị bạo lực thân thể, trẻ em từ 0-10 tuổi chịu bạo lực nhiều nhất, chiếm 56,9% Tỷ lệ trẻ em bị bạo lực trong gia đình là cao nhất (63,2%), đứng thứ hai là trẻ bị bạo lực trong trường học (20,1%) (Đặng Hoa

Trang 12

5

Nam, 2017) [18]

Nguyên nhân trẻ em bị xâm hại thường được cho từ hai phía, trước hết

là từ gia đình Gia đình và trường học là hai môi trường có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới sự phát triển và hình thành nhân cách của trẻ Thế nhưng, tỷ lệ trẻ em bị bạo lực trong gia đình là cao nhất (63,2%), đứng thứ hai là trẻ bị bạo lực trong trường học (20,1%), trong khi đây là hai môi trường ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ em Trong bối cảnh hiện nay, gia đình, đặc biệt là cha

mẹ và những người thân thiếu hụt kiến thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh

lý ở từng lứa tuổi của trẻ em, không biết cách hướng dẫn trẻ về các nguy cơ

và kỹ năng tự bảo vệ mình Không giáo dục cho trẻ có ý thức về bảo vệ mình

khỏi bị xâm hại tình dục (Đặng Nam, 2007; Đặng Bích Thủy, 2010) [34] Bên

cạnh đó, trẻ em được tiếp xúc hàng ngày với mạng xã hội, phim ảnh liên quan đến các hành vi quan hệ tình dục, xâm hại tình dục mà không được hướng dẫn, chỉ bảo kịp thời (Nguyễn Phương Thảo và cộng sự, 2008; Nguyễn

Quỳnh Hoa, 2005) [28] Trong khi đó, nhiều gia đình bố mẹ ly thân, di cư dẫn

tới trẻ em gặp nhiều nguy cơ gặp các hành vi xâm hại và bị bỏ bê, không được chăm sóc (Đặng Nam, 2007)

- Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em Mặc dù hệ thống văn bản luật pháp và chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ

em được ban hành khá đầy đủ và kịp thời Tuy nhiên, những yếu kém trong khung pháp lý bảo vệ trẻ em trong gia đình hay kẽ hở trong hệ thống pháp lý

về phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em cũng là những yếu tố tác động đến tình trạng xâm hại tình dục trẻ em Một trong những khiếm khuyết của khung pháp lý ở Việt Nam là chưa có điều khoản bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức lạm dụng (thể chất, tinh thần và tình dục) trong môi trường gia đình Khung pháp lý chưa có điều khoản quy định tách hẳn trẻ ra khỏi gia đình trong các trường hợp bị cha mẹ lạm dụng nghiêm trọng Điều 13 của Luật BVCSGD trẻ

Trang 13

6

em đã công nhận không ai có quyền buộc đứa trẻ sống tách khỏi cha mẹ trừ khi sự tách biệt đó là vì lợi ích tốt nhất của trẻ Tuy vậy, luật không công nhận các trường hợp trẻ bị tách khỏi cha mẹ do bị lạm dụng hay vì các lợi ích tốt nhất của trẻ (Đặng Bích Thủy, 2010)

Ở Việt Nam, hiện tượng trẻ em bị bạo lực xảy ra tương đối phổ biến trong gia đình, số liệu của MIC năm 2014 cho thấy, gần 68,4% trẻ em độ tuổi

từ 1-14 được báo cáo là đã từng bị cha mẹ hoặc người chăm sóc bạo lực ở nhà Khoảng 20% trẻ em gái và trẻ em trai 8 tuổi nói rằng các em bị trừng phạt thân thể ở trường (Innocenti 2016)

Một số nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm “Hoàn thiện hệ thống

bảo vệ trẻ em ở Việt Nam” (Nguyễn Hải Hữu, 2011) Đề tài đã phân tích khá

sâu sắc và toàn diện lý luận về hệ thống BVTE, trong đó đề tài đã đưa ra một

số khái niệm, thuật ngữ về trẻ em như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, BVTE

và các hoạt động BVTE, đồng thời đề tài đã đánh giá thực trạng hệ thống BVTE, trẻ em có HCĐB và việc cung cấp dịch vụ BVTE ở Việt Nam Qua

đó, đề tài đã đưa ra định hướng, phương pháp tiếp cận và giải pháp hoàn thiện

hệ thống BVTE [14]

+ Tác giả Phạm Thị Hải Hà, năm 2016 “Quản lý nhà nước về bảo vệ

quyền của trẻ em ở Việt Nam” Về mặt lý luận, đề tài đã đưa ra được quan

niệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em,đồng thời xác định rõ vai trò, các nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Nam; Bên cạnh đó, đề tài đã chỉ ra các hạn chế trong quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Namvà đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền của trẻ em ở Việt Nam, trong đó chú trọng xây dựng và tổ chức triển khai kế hoạch, chiến lược, chương trình hành động thống nhất và đồng bộ về bảo vệ quyền của trẻ em; hoàn thiện và tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm pháp luật và chính sách về bảo vệ quyền của trẻ em;

Trang 14

7

thường xuyên thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về

quyền của trẻ em [11]

+ Tác giả Lã Văn Bằng, năm 2019 “Thực hiện Pháp luật về bảo vệ trẻ

em ở Việt Nam hiện nay” Đề tài đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và

thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em, đánh giá thực trạng tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm

thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam trong thời gian đến [3]

+ Luận văn thạc sĩ quản lý công “Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Hà (2016) Luận văn đã đưa ra thực trạng trẻ em khuyết tật và các chính sách đối vơi trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện chính sách ở Việt Nam Từ đó đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp để hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật tại

Việt Nam [12]

+ Luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ emtừ thực tiễn thành phố Hà Nội ” của Mai Thị Chi (2016) Luận văn đã đưa ranhững tồn tại, hạn chế của việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em ở thành phố Hà Nội Cũng như chỉ rõ các yếu kém, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em Từ đó luận văn

đề xuất những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của thành phố Hà Nội

[9]

+ Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tỉnh An Giang (2012) do tổ chức UNICEF phối hợp với UNBD tỉnh An Giang thực hiện Báo cáo này đã đi sâu phân tích các nhóm quyền của trẻ em, các chế đô, chính sách đối với trẻ em, năng lực và trách nhiệm của các cấp, ngành trong việc triển khai thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đồng thời đưa ra các khuyến nghị và giải

Trang 15

sóc trẻ em tại tỉnh Lào Cai [2]

Tóm lại, các nghiên cứu nói trên đã làm rõ về tình hình trẻ em nói chung và trẻ em có HCĐB nói riêng, các chính sách, pháp luật đối với trẻ em Việt Nam Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào về chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Do đó trong đề tài này, tác giả

đi sâu tìm hiểu thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, những yếu tố ảnh tác động đến vệc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em hiện nay, từ đó

đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ, chăm

sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện hiệu quả chính sách này đến năm 2025

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

+ Phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Trang 16

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2016 đến nay để qua đó

nêu lên những vấn đề tích cực, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách

Thời điểm nghiên cứu được tác giả chọn mốc từ năm 2016 đến nay là vì: Năm 2016 là năm đầu tiên thực hiện Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020, là năm Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua Luật trẻ em và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2017.Thời gian này, tỉnh Quảng Nam đã tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng, góp phần thực hiện đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI đã đề ra

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em Luận văn sẽ được tiếp cận theo hướng hệ thống hóa lý luận việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Trang 17

10

tỉnh Quảng Nam từ khâu hoạch định, xây dựng, thực thi đến đánh giá chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em với sự tham gia của các chủ thể chính sách

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu: Văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước,

Bộ, Ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, sách báo, các báo cáo, tài liệu thống kê của Ban, ngành, đoàn thể; tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu, thu thập nội dung từ một số nhà nghiên cứu chuyên sâu có liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Phương pháp phân tích chính sách: Luận văn sẽ phân tích, đánh giá đánh giá tính toàn vẹn, tính khả thi, tính thống nhất và hiệu quả của chính sách nhằm ngày càng hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tế

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trên cơ sở lý thuyết về thực hiện chính sách công, Luận văn sẽ nghiên cứu, nêu một số quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các Ban, ngành có liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như hoạch định chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

7 Kết cấu của luận văn

Trang 19

12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH

BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM Ở VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Trẻ em

Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là những người chưa trưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời

Tuân theo nguyên lý phát triển của chủ nghĩa duy vật, sự phát triển của con người cũng trải qua nhiều giai đoạn đó là những giai đoạn lứa tuổi Tính chất đặc thù của mỗi giai đoạn là cơ sở để xác định ranh giới giữa trẻ em và người lớn, các quốc gia trên thế giới đều căn cứ vào tiêu chí duy nhất là độ tuổi Tuy nhiên, độ tuổi được xác định là trẻ em ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia

Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) năm 1989 định nghĩa trẻ em là những người dưới 18 tuổi

Ở Việt Nam, theo Luật BVCSGDTE năm 2004 xác định “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Theo quy định này, những trẻ em dưới mưới sáu tuổi và là công dân Việt Nam mới được hưởng đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em

Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi" Qua khái niệm này, chúng ta thấy có sự thay đổi so với trước đây, đó là tất cả trẻ

em dưới mười sáu tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều được bảo vệ, chăm sóc giáo dục như nhau

Trang 20

13

1.1.2 Bảo vệ trẻ em

BVTE là trách nhiệm của nhà nước, gia đình và mọi công dân trong xã hội đối với việc đảm bảo an toàn cho trẻ em khỏi bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng, bao gồm cả việc loại bỏ những nguy cơ gây tổn hại và ngăn chặn các yếu tố đang gây tổn hại cho trẻ BVTE là những dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp hướng tới việc can thiệp khẩn cấp và giúp đỡ các em đang có nguy cơ hoặc đã bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng

nhằm ngăn chặn, giúp phục hồi và tái hòa nhập cho trẻ em [6]

Luật Trẻ em năm 2016 đưa ra định nghĩa về BVTE như sau: "Bảo vệ trẻ

em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em;

trợ giúp trẻ em có HCĐB" [21]

Như vậy, với cách tiếp cận về BVTE theo từng cấp độ cụ thể từ bảo đảm môi trường sống an toàn cho trẻ em đến việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm hại trẻ em và trợ giúp khi trẻ em rơi vào HCĐB, Luật Trẻ em đã đưa ra được khái niệm khá toàn diện về BVTE.Trẻ em không phân biệt gái, trai, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội …đều được bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật

1.1.3 Chăm sóc trẻ em

Chăm sóc trẻ em là sự đáp ứng nhu cầu phát triển tâm, sinh lý của trẻ em; cụ thể hơn là đáp ứng nhu cầu phát triển thể chất, tâm lý, tình cảm, đạo đức và xã hội của trẻ; Hiểu một cách đơn giản Chăm sóc trẻ em là hoạt động nuôi dưỡng, giáo dục, theo dõi quá trình phát triển của trẻ nhỏ

Bất cứ một trẻ em nào, từ khi mới lọt lòng mẹ đến tuổi trưởng thành đều cần sự chăm sóc về thể chất, tâm lý, tình cảm, đạo đức và xã hội

1.1.4 Chính sách công

Trang 21

14

Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lí sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước Khái niệm chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu

xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [13]

1.1.5 Chính sách bảo vệ trẻ em, chăm sóc trẻ em

Từ quan niệm về “chính sách công” và “bảo vệ, chăm sóc trẻ em” nêu trên chúng ta có thể định nghĩa về chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em như

sau: Chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là tập hợp các quyết định có liên

quan tới việc lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo mục tiêu nhà nước đã xác định

Việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là việc thực hiện hóa cácquyết định chính trị về bảo vệ, chăm sóc trẻ em Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa các chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhà nước vào cuộc sống

1.1.6 Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em có vị trí rất quan trọng Chu trình chính sách nếu khuyết thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có vai trò trung tâm, kết nối các bước trong chu trình chính sách thành

một hệ thống hoàn chỉnh

Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung Mục tiêu của chính sách

Trang 22

15

bảo vệ, chăm sóc trẻ em có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội Thực tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau

và ảnh hưởng đến các mục tiêu chung

Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn để khẳng định được tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách Chính sách này khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, và khi chính sách được xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của chính sách

Như chúng ta đều biết chính sách là do sự góp sức của một tập thể và

do tập thể đó hoạch định mà nên Tuy vậy trong quá trình hoạch định chính sách chúng ta cũng không tránh khỏi những ý kiến, những góp ý mang tính chất chủ quan, điều đó sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả chung trong quá trình thực hiện chính sách Do vậy, khi chính sách được thực thi thì những người hoạch định chính sách cần nghiên cứu, xem xét và rút kinh nghiệm Trên cơ

sở đó, thực hiện chỉnh sửa để chính sách ngày một đúng đắn, hoàn thiện hơn

1.2 Quy trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Luận văn vận dụng hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội

và vận dụng các phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết chính sách công Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng chính sách, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các bên chủ thể chính sách, cụ thể việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trải qua 07 bước sau:

- Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch,

Trang 23

16

chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động hoàn toàn Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các

cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em bao gồm những nội dung cơ bảnsau:

Thứ nhất, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến

về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách;

số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; những dự kiến về

cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lí và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách

Thứ hai, xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực gồm dự kiến về các cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em; các nguồn lực tài chính

Thứ ba, kế hoạch thời gian triển khai thực hiện đó là kiến về thời gian duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu

Thứ tư, kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến về tiến

độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách

Thứ năm, dự kiến những nội quy, quy chế trong thực thi chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật

cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Sau khi bản kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Trang 24

rõ về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ có thể tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lí của nhà nước Đồng thời, phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách

và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

Hai là, chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ

em bao gồm đội ngũ cán bộ trong bộ máy cơ quan nhà nước được giao nhiệm

vụ Đội ngũ này phải được đào tạo đủ trình độ, kinh nghiệm, kĩ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em đảm bảo chính sách khi được phổ biến, tuyên truyền phải đảm bảo tính trung thực, khách quan

Ba là, đối tượng phổ biến, tuyên truyền chính bảo vệ, chăm sóc trẻ embao gồm:

- Những công dânđược tác động trực tiếp và là đối tượng thụ hưởng chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Những công dân bị tác động gián tiếp bởi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đây là những nhân tố góp phần làm cho chính sách hiệu quả

- Những đối tượng tham gia thực thi, triển khai chính sách bảo vệ,

Trang 25

- Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em một cách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả chính sách, đảm bảo phát huy được tính năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động đến chính sách

- Bước 4: Duy trì chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Duy trì chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị xã hội Đồng thời, phải có sự quyết tâm và thống nhất cao của các tổ chức, người thực thi

và môi trường thực hiện chính sách

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em phải chủ động tổ chức thực thi chính sách, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn do môi trường thực tế biến động thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công

cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Trang 26

19

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em, do tác động của nhiều yếu tố, chính sách sẽ bộc lộ sự bất cập Do đó, việc điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Nó được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lí và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp,

cơ chế chính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lí nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách để thực hiện sao cho có hiệu quả, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách

- Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách vệ, chăm sóc trẻ em

Đôn đốc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là hoạt động của

cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện, thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách; vừa thúc đẩy các chủ thể

nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong quá trình thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em

Đánh giá, tổng kết trong tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực

Trang 27

20

thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước một của phần này; đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước

Trong suốt tiến trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, dù ở thời

kỳ cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cho đến thời kỳ xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay thì vấn đề BVTE luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và thể hiện trong chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng.Các chủ trương, chính sách của Đảng về BVTE được quy định trong nhiều văn kiện nhưng đáng chú ý là Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 28/6/2000 Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ

sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, trong đó yêu cầu hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm hại đối với trẻ em Có biện pháp giải quyết tốt

Trang 28

21

một số mục tiêu quan trọng như: Tích cực phòng chống tình trạng dụ dỗ trẻ

em tham gia buôn bán và nghiện hút ma túy, trẻ em bị xâm hại, trẻ em làm

trái pháp luật, trẻ em lang thang kiếm sống [4]

Ngày 5/11/2012 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20/CT-TW về việc

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới” Trong đó, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và BVTE; phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại, bạo lực, lôi kéo trẻ em vào hoạt động tội phạm và cản trở việc thực hiện các quyền của trẻ em Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và

BVTE

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lọt sức lao động và những hành vi khác vi phạm

quyền trẻ em” (khoản 1 Điều 37) [20]

Luật BVCSGDTE năm 2004 thay thế cho Luật BVCSTE năm 1991 và

kế thừa, phát huy những hiệu quả của Luật năm 1991 về vấn đề trẻ em nhưng đồng thời tiếp thu có chọn lọc các quy định của pháp luật các nước và văn kiện quốc tế; sửa đổi, bổ sung những quy định để điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, bảo đảm phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, sựhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới tácđộng đến công tác BVCSTE Vì thế, Luật BVCSGDTE năm 2004 đã bộc

lộ những hạn chế, bất cập, không đáp ứng yêu cầu của các vấn đề mới phát sinh, đặc biệt là vấn đề về BVCSTE Vì vậy, ngày 05 tháng 4 năm 2016, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em gồm 7 chương với 106 điều

Trang 29

22

(tăng 46 điềuso với Luật 2004)

Luật trẻ em 2016 ra đời là cơ sở pháp lý cao nhất quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em Để cụ thể hóa thực hiện Luật trẻ em, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình BVTE giai đoạn 2016-2020 và Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020, trong đó có dự án Phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em Đồng thời, ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 về việc tăngcường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em

Ngày 26/5/2020 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg

về việc tăng cường các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em Đây là cơ sở pháp lý để các ban, ngành và cả hệ thống chính trị vào cuộc chăm lo cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước

Trong những năm gần đây, quan điểm về chăm sóc, bảo vệ trẻ em của Đảng, Chính phủ Việt Nam đã có những thay đổi quan trọng Xác định rõ vị trí và tầm quan trọng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em gắn với mục tiêu phát triển đất nước theo hướng bền vững và hội nhập, các quan điểm về bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã hướng tới đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em là của toàn thể các cấp đảng, chính quyền, tổ

chức chính trị xã hội và của toàn thể xã hội.[11]

1.3.2 Chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Có thể nói, chính sách về BVCSTE đang hướng tới mục tiêu tạo môi trường an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ theo ba cấp

Trang 30

23

độ phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp Có thể đánh giá những điểm mạnh trong việc hoàn thiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em của Việt Nam trong những năm gần đây như sau:

Thứ nhất, chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em chuyển từ xây dựng luật pháp, chính sách, chương trình đến từng nhóm đối tượng trẻ em yếu thế trong

xã hội sang xây dựng khung pháp lý toàn diện

Chính sách Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trước kia chỉ tập trung giải quyết hậu quả, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tuy nhiên trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ cho mọi trẻ em trước khi bị tổn hại Đặc biệt,

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020 (Quyết định

1555/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/10/2012) đã đưa ra khung

chương trình, chính sách đầu tư cho trẻ em trung hạn và dài hạn nhằm hướng tới một khung chính sách toàn diện cho trẻ em

Thứ hai, xây dựng được hệ thống chính sách và chương trình toàn diện theo hướng tiếp cận từ đáp ứng nhu cầu trẻ em sang đảm bảo quyền cho mọi trẻ em trong xã hội

Các đối tượng được hưởng chính sách xã hội không chỉ bó hẹp trong 14 nhóm trẻ em có HCĐB quy định trong Luật trẻ em 2016 mà mở rộng ra các nhóm có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế -

xã hội còn khó khăn, nguồn lực thực hiện các chính sách xã hội cho trẻ em còn rất hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; mức trợ cấp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn thấp, chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, chăm sóc sức khỏe; chênh lệch các chỉ số về an sinh

xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của

cả nước còn lớn Do đó, hướng tiếp cận xây dựng hệ thống chính sách chưa thể đảm bảo quyền của trẻ em ngay được mà chỉ tập trung chính vào đáp ứng

Trang 31

24

nhu cầu cho trẻ

Thứ ba, định hướng chính sách phát triển xã hội về lĩnh vực BVCSTE đến năm 2020

Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa

XI, một số vấn đề có liên quan đế chính sách phát triển xã hội liên quan đến BVCSTE như sau:

- Về trợ giúp xã hội trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc trẻ mồ côi, người khuyết tật

- Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho trẻ em, đặc biệt trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và trẻ em dân tộc thiểu số:

a) Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Tăng số lượng học sinh trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường bán trú; xây dựng và củng cố nhà trẻ trong khu công nghiệp và vùng nông thôn Xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi Nâng cao chất lượng phổ cập trung học cơ sở, đặc biệt là đối với con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

b) Bảo đảm y tế tối thiểu: Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân

ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe bà

mẹ và trẻ em

Trang 32

25

c) Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo:Triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho trẻ em; xây dựng và thực hiện chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nâng cao sức khỏe, tầm vóc thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số; thực hiện đồng bộ các giải pháp tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các

hộ nghèo trong đó có trẻ em được tiếp cận dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh ở tuyến Trung ương thông qua chính sách BHYT; quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là người dân tộc thiểu số ở địa phương

d) Bảo đảm nước sạch: Chương trình “Nước sạch học đường” đang ngày càng nhận được sự quan tâm và đồng hành của nhiều doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước với muốn mang nguồn nước sạch uống trực tiếp đạt chuẩn quốc gia đến học sinh và giáo viên của các trường học khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng, miền trên cả nước góp phần mang lại sức khỏe và cuộc sống tốt đẹp hơn cho trẻ em Việt Nam

e) Bảo đảm thông tin

- Đảm bảo Quyền trẻ em cho mọi trẻ em được sống trong môi trường

an toàn, lành mạnh và thân thiện; Giảm thiểu bất bình đẳng về mức sống, về

cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em khác nhau; Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội liên quan đến ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột, xao nhãng trẻ em, mại dâm trẻ em, trẻ em nghiên ma túy, vi phạm phát luật đảm bảo ổn định trật tự xã hội

1.4 Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Xác định rõ mục tiêu và nhiệm vụ và thể chế bảo vệ, chăm sóc trẻ em

là yếu tố quan trọng trong hoạch định, xây dựng chính sách Đây là yếu tố có

Trang 33

26

tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, tổ chức thực thi chính sách Nếu vấn đề của chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em đơn giản, liên quan đến ít đối tượng thì công tác

tổ chức thực hiện chính sách sẽ thuận lợi hơn nhiều Nếu là vấn đề bức xúc thì

sẽ được nhà nước và xã hội ưu tiên nguồn lực để giải quyết theo mục tiêu đã định hướng Tính chất của vấn đề chính sách là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn

Môi trường là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách, nếu có một môi trường tốt thì chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu có một môi trường không thuận lợi sẽ làm cho việc thực hiện

chính sách gặp nhiều khó khăn, kém hiệu quả

Sự tham gia phối hợp giữa các đối tượng thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách là một trong những tác nhân gây ảnh hưởng đến chính sách tuy nhiên rất ít địa phương quan tâm, chú trọng; lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách phải đồng nhất với nhau Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách sẽ khó khăn, thậm chí còn thất bại và ngược lại nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách đồng nhất với đối tượng thụ hưởng thì chính sách sẽ được thực hiện dễ dàng hơn Nhìn chung mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta cơ bản là đồng thuận

Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em được hiểu là thực lực và tiềm năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ

so sánh với các nhóm đối tượng khác Tiềm lực của nhóm được thể hiện trên

các phương diện chính trị, xã hội, kinh tế v.v về cả quy mô và năng lực

Quy trình thực hiện chính sách được bắt đầu từ việc tuyên truyền vận

Trang 34

27

động về chính sách và thực hiện chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền vận động thực hiện chính sách tốt sẽ củng cố thêm lòng tin của người dân vào chính sách của nhà nước, tăng cường tính tự giác thực hiện chính sách của đối tượng thụ hưởng và đối tượng tham gia tổ chức thực hiện chính sách Phân công phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức ở Trung ương, của các cấp chính quyền địa phương cũng có vai trò quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em Do đó trong tổ chức thực hiện chính bảo vệ, chăm sóc trẻ em phải thực hiện đúng và đầy đủ các bước trong quy trình tổ

chức thực hiện chính sách

Vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em chính là đội ngũ cán bộ, công chức Năng lực thực thi của cán bộ công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, thiết kế tổ chức, phân tích, dự báo… để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh Với chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em thì năng lực thực hiện chính sách của cán bộ công chức là kiến thức, kỹ năng

và tinh thần trách nhiệm của họ trong thực hiện nhiệm vụ Để có thể thực hiện chính sách một cách hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách phải nắm vững kiến thức chuyên môn, am hiểu mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đồng thời phải có kỹ năng thực tế, phổ biến tuyên truyền chính sách, có tinh thần, thái độ trách nhiệm trong thực hiện chính sách

Để các hoạt động liên quan đến việc thực hiện chính sách chính bảo vệ, chăm sóc trẻ em hoạt động có hiệu quả thì nhà nước phải chú trọng đầu tư nguồn lực vật chất cả về số lượng và chất lượng Nguồn lực ở đây được hiểu

là nhân lực, đồng thời nó cũng là chế độ tiền lương, các ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp thực hiện chính sách Những điều kiện về vật chất

có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thực hiện chính sách, nó giúp cho thực hiện

Trang 35

28

chính sách được thuận tiện nhanh chóng, giúp cho các nhà nghiên cứu có thể triển khai những ý tưởng sáng tạo của mình thành hiện thực, giúp cho đội ngũ cán bộ công chức thực hiện chính sách yên tâm làm việc, tâm huyết với nhiệm

vụ được giao góp phần đạt được mục tiêu đã đề ra của chính sách

1.5 Ý nghĩa và yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

1.5.1 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Biến chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em thành hiện thực: Chính sách

là công cụ để thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng Do đó, thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em chính là việc chuyển những ý tưởng, những định hướng của Đảng và Nhà nước thành những hành động, những việc làm, những giải pháp cụ thể để đạt được các mục tiêu đề ra Trên cơ sở

đó có cácgiải pháp phù hợpđể thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách: Chính sách chỉ thật sự có hiệu lực, hiệu quả thực hiện khi được toàn xã hội thừa nhận, đặc biệt là sự thừa nhận của các đối tượng được hưởng lợi từ chính sách

- Giúp cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh:Thực hiện chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em là căn cứ xác thực nhất để có thể đánh giá tính hiện thực, hiệu quả, phù hợp và các tác động của chính sách trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Thông qua thực hiện chính sách ta có thể thấy rõ được những ưu điểm, hạn chế của chính sách mang lại, từ đó có những điều chỉnh

để hoàn thiện chính sách nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện chính sách ở nước ta

1.5.2 Những yêu cầu cơ bản trong tổ chức thực hiện chính sách bảo

vệ, chăm sóc trẻ em

- Thực hiện đúng mục tiêu chính sách

Mỗi chính sách đều hướng đến mục tiêu nhất định Mục tiêu của chính

Trang 36

29

sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em là xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh

và thân thiện cho trẻ em, thực hiện ngày còn tốt hơn các quyền cơ bản của trẻ em; chủ động phòng ngừa, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em; hỗ trợ phục hồi, hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại Việc thực hiện chính sách này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Đảm bảo tính hệ thống trong thực hiện chính sách

Khi thực hiện một chính sách thì phải đảm bảo tính hệ thống được quy định trong chủ trương của Đảng, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện của Nhà nước và bắt buộc đối tượng triển khai thực hiện chính sách phải tuân thủ theo các quy định hiện hành, điều này được thể hiện rõ nhất ở sự phân cấp thực hiện giữa các cơ quan đơn vị với nhau, giữa cơ quan cấp trên

và cơ quan cấp dưới, ở sự phối hợp trong công tác

Thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phải bảo đảm tính hệ

thống, nghĩa là phải thực hiện đồng bộ và thống nhất các nhiệm vụ đặt ra

- Đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp lý trong tổ chức thực hiện chính sách

Thực hiện chính sách theo đúng pháp luật, đúng nội dung hướng dẫn theo quy định tại các văn bản hướng dẫn của Nhà nước, đồng thời phải thực hiện một cách khoa học, hợp lý để chính sách phát huy hiệu quả của nó Trong

tổ chức thực hiện chính sách công nếu đảm bảo yêu cầu về tính pháp lý, khoa học và hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời còn củng cố niềm tin của các đối tượng được thụ hưởng chính sách đối với Nhà nước

- Đảm bảo lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách

Trong quá trình thực thi chính sáchthường tồn tại nhiều nhóm lợi ích

Trang 37

30

trong xã hội và nhà nước là người bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức Thông thường, nhà nước thường sử dụng chính sách công để đảm bảo về lợi ích cho các đối tượng được thụ hưởng chính sách trong xã hội Điều này sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào các chính sách Nhà nước thông qua chính sách công Có thể nói, để cho các đối tượng thụ hưởng chính sách có được những lợi ích thật sự là yêu cầu quan trọng trong quá trình thực thi chính sách công

Chương 1 cũng nêu các bước tổ chức thực hiện chính sách, những yêu cầu cơ bản, các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách, các phương pháp trong thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Đây là cơ sở pháp lý, là điều kiện tiền đề để các Bộ, ban ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Thông qua kết quả thực hiện hằng năm, sơ kết, tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, đề xuất Đảng và Nhà nước bổ sung, điều chỉnh để chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em ngày càng tốt hơn, trẻ em được hưởng thụ nhiều hơn

Cơ sở lý luận nghiên cứu của Chương 1 này sẽ là tiền đề quan trọng để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Trang 38

31

Trang 39

32

CHƯƠNG 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, có diện tích tự nhiên 10.574 km2 (khu vực miền núi 7.760,7km2, chiếm 73,4%); phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; có15 huyện, 01 thị xã và 02 thành phố, trong đó

có 9 huyện miền núi là Nam Giang, Phước Sơn, Tây Giang, Đông Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức và Nông Sơn và 9 huyện, thị, thành đồng bằng: huyện Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn, Thăng Bình, Núi Thành và Phú Ninh, thị xã Điện Bàn, thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam

Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng

với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển [10, tr.7]

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa

là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm Lượng mưa trung bình 2.000 – 2.500 mm nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 – 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất,

Trang 40

33

lũ quét ở các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Nam

Giang và ngập lụt ở các huyện đồng bằng [10]

2.1.2 Đặc điểm của trẻ em ở Quảng Nam

Tính đến cuối năm 2019, tỉnh Quảng Nam có 410.644 hộ gia đình, tổng

số hộ nghèo: 38.112 hộ, tỷ lệ 9,28%, trong đó hộ nghèo về thu nhập là37.784hộ, chiếm tỷ lệ 9,20%; hộ nghèo thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản có 328 hộ, chiếm tỷ lệ 0,08%; số hộ cận nghèo là 18.590 hộ, chiếm tỷ

lệ 4,53% Tổng số trẻ em dưới 16 tuổi là 361.915 trẻ chiếm 24,10% tổng dân

số toàn tỉnh (Nam: 188.643 trẻ, chiếm 52,12%; Nữ: 173.272 trẻ, chiếm

47,88%) Toàn tỉnh có 19.109 trẻemhoàn cảnh đặc biệt chiếm tỷ lệ 5,28%,

trong đó 1.587 trẻ em mồ côi không nơi nương tựa; 6.151 trẻ em khuyết tật; 4 trẻ em bị nhiễm HIV; 48.749 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt chiếm tỷ lệ 13,47% tổng số trẻ em toàn tỉnh, trong đó 34.432 em sống trong gia đình hộ nghèo.Số trẻ em được hưởng chính sách trợ

giúp hằng tháng của nhà nước là 4.597 em [24]

Là địa bàn gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra; đời sống, thu nhập của người dân còn thấp, sự chênh lệch mức sống giữa các vùng là một trong các nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt còn cao Cụ thể bảng 2.1

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w