1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) thẩm quyền của kiểm sát viên trong phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp kinh, doanh thương mại từ thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

86 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thẩm Quyền Của Kiểm Sát Viên Trong Phiên Tòa Sơ Thẩm Giải Quyết Tranh Chấp Kinh, Doanh Thương Mại Từ Thực Tiễn Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Viết Dương
Người hướng dẫn PGS. TS. Vũ Thị Hồng Vân
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về việc giải quyết nội dung vụ án phù hợp, có căn cứ được Tòa án chấp nhận… Chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM theo thủ tục sơ thẩm của VKSND hai cấp trên địa bà

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT DƯƠNG

THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG PHIÊN TÒA SƠ THẨM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH, DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VIẾT DƯƠNG

THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG PHIÊN TÒA SƠ THẨM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH, DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Vũ Thị Hồng Vân Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào trước đây

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng các nguồn tài liệu khác nhau, tất cả đều được chỉ dẫn nguồn cụ thể và được liệt kê trong Danh mục tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường, Hội đồng chấm Luận văn, cũng như kết quả Luận văn của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 5 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Viết Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 7 1.1 Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét

xử vụ án kinh doanh thương mại 7

1.1.1 Khái niệm về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ

án kinh doanh thương mại 7

1.1.2 Vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại 18

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại 22

1.2 Quy định về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét

xử vụ án kinh doanh, thương mại 27

1.2.1 Các trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại 27

1.2.2 Thẩm quyền của Kiểm sát viên trong việc tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại 29

Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43 2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình về Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh 43

2.1.1 Điều kiện kinh tế, xã hội và địa lý của Thành phố Hồ Chí Minh 43 2.1.2 Đặc điểm vể bộ máy, tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 45

2.2 Những kết quả đạt được trong thực hiện quy định về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại 47

Trang 5

2.2.1 Số liệu 47

2.2.2 Đánh giá 49

2.3 Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân 56

2.3.1 Khó khăn, vướng mắc 56

2.3.2 Nguyên nhân 60

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC THI THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 68

3.1 Một số giải pháp 68

3.1.1 Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành 68

3.1.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác kiểm sát án kinh doanh, thương mại 69

3.1.3 Phát huy tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực, trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm của đội ngũ Kiểm sát viên 71

3.1.4 Tăng cường quan hệ phối hợp 72

3.1.5 C hú trọng đầu tư cơ sở vật chất và chế độ, chính sách cho đội ngũ Kiểm sát viên 72

3.2 Một số kiến nghị 73

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật dân sự, tố tụng dân sự 73

3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện các quy định trong ngành Kiểm sát nhân dân và quy định liên ngành giữa Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân 76

KẾT LUẬN 78

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải nghĩa

Trang 7

BLTTDS đã mở rộng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND cũng như KSV khi tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, phiên tòa giải quyết tranh chấp KDTM nói riêng Theo đó, VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc

có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi và trường hợp Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa

có điều luật để áp dụng Đáng chú ý, Điều 262 BLTTDS kế thừa quy định: tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự, KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng dân

sự trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời, bổ sung nội dung KSV phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Quy định mới của BLTTDS một mặt khẳng định vai trò quan trọng của VKSND và KSV trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự nói chung, kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM nói riêng Mặt khác, quy định này cũng tạo ra những áp lực nhất định đối với các cơ quan VKSND

và KSV được phân công công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM

Thực tiễn công tác kiểm sát xét xử các vụ án KDTM theo thủ tục sơ thẩm tại VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm VKSND Thành

Trang 8

về việc giải quyết nội dung vụ án phù hợp, có căn cứ được Tòa án chấp nhận…

Chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM theo thủ tục

sơ thẩm của VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được nâng cao xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như sự hoàn thiện của pháp luật về KDTM và pháp luật tố tụng dân sự, công tác chỉ đạo, điều hành, bố trí cán bộ của các đơn vị VKSND và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của các KSV được phân công làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM Trong đó, đặc biệt quan trọng là yếu tố chất lượng nguồn nhân lực mà sự thể hiện rõ ràng nhất là vai trò của KSV tại các phiên tòa giải quyết vụ án KDTM Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nếu nhìn nhận khách quan thì công tác kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án KDTM vẫn ít nhiều tồn tại những hạn chế nhất định Trên thực tế, một số vi phạm của Tòa án về mặt tố tụng chưa được KSV phát hiện để phát biểu ý kiến tại phiên tòa; tại phiên tòa phát sinh một số tình huống đòi hỏi KSV phải có ý kiến như đương sự vắng mặt, đương sự xin hoãn, tạm ngừng phiên tòa, đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc có lời khai khác so với lời khai có trong hồ sơ vụ án nhưng vai trò của KSV còn chưa được thể hiện rõ; một số quan điểm về việc giải quyết nội dung vụ án của KSV chưa phù hợp nên không được Tòa án chấp nhận

Trong bối cảnh, số lượng các vụ án tranh chấp về KDTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có xu hướng gia tăng, áp lực công việc của các KSV được phân công tham gia phiên tòa giải quyết tranh chấp KDTM ngày càng nhiều, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM, nhận diện thực trạng chất lượng tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM của KSV, từ đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM của Kiểm sát viên VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố là yêu cầu mang tính tất yếu và khách quan

Trang 9

3

Chính vì các lí do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thẩm quyền của Kiểm sát viên trong phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp kinh, doanh thương mại từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn cuối khóa

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ, chuyên đề tổng kết rút kinh nghiệm của các ngành Kiểm sát, Tòa án… có liên quan đến nội dung đề tài Có thể phân loại tài liệu thành hai nhóm sau:

- Nhóm thứ nhất, các bài viết liên quan đến vị trí, chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự, trong hoạt động kiểm sát các vụ án

dân sự, KDTM theo thủ tục sơ thẩm như: “Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố

tụng dân sự” của tác giả Khuất Văn Nga – Hà Nội năm 2008; “Quy định về tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân và hướng sửa đổi, bổ sung theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật

Tố tụng dân sự” của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Chi – Thông tin Khoa học kiểm sát,

năm 2010; Luận văn thạc sĩ luật học “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân

dân trong tố tụng dân sự” của tác giả Phùng Thanh Hà năm 2014; Luận văn thạc sĩ

luật học“Thẩm quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp

kinh doanh thương mại” của Nguyễn Thị Hiên năm 2014; Luận văn thạc sĩ luật

học “Kiểm sát giải quyết các tranh chấp kinh doanh - thương mại trên địa bàn tỉnh

Lai Châu” của tác giả Nguyễn Viết Tuấn năm 2018;…

- Nhóm thứ hai, các bài viết liên quan đến vai trò của KSV tại phiên tòa sơ

thẩm giải quyết các vụ án dân sự, KDTM như Luận văn thạc sĩ luật học “Vai trò

của Viện kiểm sát nhân dân trong phiên tòa dân sự sơ thẩm” của Nguyễn Vĩnh Tá

năm 2012; các bài viết, chuyên đề khoa học của VKSND các địa phương có liên quan đến nội dung “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng bài phát biểu của

Kiểm sát viên tại phiên tòa dân sự sơ thẩm” như VKSND thành phố Hà Nội, Quảng

Ngãi, Sóc Trăng… các thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM của VKSND tối cao, VKSND Thành phố Hồ Chí Minh…

Trang 10

4

Qua nghiên cứu những công trình, bài viết nêu trên, tác giả nhận thấy có nhiều quan điểm, lý luận tác giả có thể kế thừa và phát triển được khi nghiên cứu và hoàn thành đề tài Tuy vậy, các công trình, bài viết trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực chung nhất về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước; các vấn đề

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự hay kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp KDTM mà chưa đưa nhận thức toàn diện về nhiệm

vụ, quyền hạn của KSV tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp KDTM, đặc biệt

là tại một địa phương có nhiều án KDTM như Thành phố Hồ Chí Minh

3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lí luận chung, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng; khảo sát, đánh giá những ưu, nhược điểm cũng như những hạn chế, vướng mắc trong các quy định về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án KDTM;

Luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thực hiện thẩm quyền của KSV của VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án KDTM

3.2 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Để đạt được mục tiêu trên, Luận văn có nhiệm vụ:

+ Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý luận về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM; phân tích những quy định của pháp luật hiện hành và của Ngành Kiểm sát nhân dân về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM

+ Khảo sát, đánh giá thực trạng thực thi các quy định hiện hành về thẩm quyền của KSV của VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tại các phiên tòa sơ thẩm xét xử các vụ án KDTM của trong thời gian từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2019, qua đó chỉ ra những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó

Trang 11

5

+ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng thực thi thẩm quyền của KSV tại các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp KDTM trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung, các quy định pháp luật, quy định của Ngành Kiểm sát nhân dân, thực trạng thi hành các quy định

về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói chung và các

vụ án KDTM nói riêng

4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về thẩm quyền

của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM

- Về không gian: Luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực tiễn thực thi quy

định hiện hành về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM tại VKSND Thành phố Hồ Chí Minh và VKSND 24 quận huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

- Về thời gian: Luận văn giới hạn thời gian khảo sát thực tiễn thi hành trong

thời gian từ 01/01/2017 đến ngày 31/12/2019

5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Về phương pháp luận: Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận văn vận

dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta

- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng kết hợp chủ yếu các

phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích, tiếp cận lịch sử, phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp phân tích luật, tổng hợp, thống kê

+ Phương pháp phân tích, tiếp cận lịch sử và nghiên cứu lý luận: làm rõ khái niệm và những vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM và thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm sơ thẩm vụ án KDTM

Trang 12

6

+ Phương pháp phân tích luật và thống kê thực tiễn: để luận giải cho những nhận định, đánh giá thực trạng thi hành các quy định về thẩm quyền của Kiểm sát viên VKSND hai cấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án KDTM

+ Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để rút ra những kết luận và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc thực thi quy định về thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử các tranh chấp KDTM

6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên

tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại

Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại

phiên tòa sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng thực thi thẩm

quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trang 13

7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét

xử vụ án kinh doanh thương mại

- Thẩm quyền

Mỗi một cơ quan nhà nước có một vai trò, vị trí riêng trong bộ máy nhà nước Cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước là người thực thi công vụ được nhà nước trao quyền Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội Trách nhiệm công

vụ là việc cán bộ, công chức tự ý thức về quyền và nhiệm vụ được phân công cũng như bổn phận phải thực hiện các quyền và nhiệm vụ đó Gắn với trách nhiệm công

vụ, cán bộ công chức có những thẩm quyền nhất định để thực thi công vụ của mình Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm quyền như: thẩm quyền bao gồm nhiệm vụ và quyền hạn hay thẩm quyền là phương tiện để các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình; hoặc cho rằng thẩm quyền bao gồm tổng thể những quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực

do pháp luật quy định [6, tr22-26]

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Thẩm quyền” là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan nhà nước một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước [20, tr.523] Thẩm quyền gắn liền với quyền hạn và nhiệm vụ

mà pháp luật quy định cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ Thẩm quyền của mỗi cơ quan nhà nước và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp

Trang 14

8

hành chính Trong mỗi ngành, thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm

vụ của ngành đó Thẩm quyền không chỉ thể hiện được sự khác biệt giữa các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức với nhau mà còn là thuộc tính tất yếu của các

cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức nhà nước

Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được xem là một khái niệm quan

trọng “Thẩm quyền” được hiểu là “quyền chính thức được xem xét để kết luận và

định đoạt, quyết định một vấn đề” [30, tr.701] Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm những chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ Trong pháp luật hiện hành của Việt Nam, thuật ngữ “thẩm quyền” thường được sử dụng trong các cụm từ như: “thẩm quyền xét xử”, “cơ quan có thẩm quyền”, “người

có thẩm quyền”, “cấp có thẩm quyền”, “thẩm quyền của Toà án nhân dân”, “thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân”, thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát

nhân dân” Như vậy, có thể thấy rằng, “thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm

vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước được pháp luật quy định”

- Kiểm sát viên

Tại nước ta, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung, kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại nói riêng luôn được xác định là chức năng hiến định của VKSND VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [13, Điều 107; 14, Điều 2] Không đề cập đến chức năng thực hành quyền công tố vốn chỉ có trong các vụ án hình sự, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án

Trang 15

9

hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động; việc thi hành

án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [14, khoản 1 Điều 4]

VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật; Tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự, phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa

án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp Tòa án giải quyết vụ việc khi chưa có điều luật để áp dụng; Tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm [16, Điều 21]

VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình thông qua các KSV KSV là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp [14, Điều 74] Nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự nói chung, kiểm sát tại phiên tòa giải quyết các vụ án KDTM nói riêng được cụ thể hóa trong các quy định của BLTTDS, Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm 2016 quy định việc phối hợp giữa VKSND và TAND trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của ngành kiểm sát nhân dân như Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, Quy định về hướng dẫn hoạt động của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm của VKSND tối cao

Theo các quy định nêu trên, tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án KDTM, KSV thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia hỏi để làm rõ nội dung vụ án, thực hiện các quyền yêu cầu, đề nghị, kiến nghị, đồng thời, đại diện VKS phát biểu quan điểm đối với việc giải

Trang 16

10

quyết nội dung vụ án Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự nói chung, vụ án KDTM nói riêng là quyền năng pháp lý riêng có mà pháp luật quy định cho KSV Đây đồng thời cũng là nghĩa vụ pháp lý của KSV Chỉ có KSV mới có quyền tiến hành các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM một cách trực tiếp Cũng do địa vị pháp lý đặc biệt này, chỉ có KSV mới có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết như thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị để tác động trực tiếp vào các chủ thể tham gia phiên tòa

- Vụ án kinh doanh thương mại

Trong khoa học pháp lý, “vụ án” được hiểu là một vụ việc có dấu hiệu trái

pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra Tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết Theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, KDTM, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật [30, tr.860] Hiểu theo nghĩa này, vụ án KDTM là các tranh chấp về KDTM được Tòa

án xét xử theo quy định của pháp luật Tranh chấp KDTM là một dạng của tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng bao gồm dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, KDTM), do vậy, để có căn cứ kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM chính xác, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, cần nhận diện

và phân biệt vụ án KDTM với các vụ án dân sự thông thường Sự khác nhau giữa

vụ án KDTM và vụ án dân sự (hiểu theo nghĩa hẹp) thể hiện ở một số điểm sau:

Một là, sự khác nhau của vụ án KDTM và vụ án dân sự là sự khác nhau về nội dung tranh chấp Vụ án KDTM hay vụ án dân sự đều bắt nguồn từ các mâu

thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ pháp luật này Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân; Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản; Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự; Tranh chấp về thừa kế tài sản; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại

Trang 17

11

ngoài hợp đồng; Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng; Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí; Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự [16, Điều 26]

Trong khi đó, những tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều

có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về KDTM, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của

cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật [16, Điều 30]

Nội dung của những tranh chấp KDTM liên quan đến những mâu thuẫn bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ hoạt động KDTM Nói cách khác, đó là các tranh chấp, bất đồng phát sinh từ các quan hệ mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác hay các tranh chấp phát sinh từ hoạt động quản lý nội bộ của các doanh nghiệp như tranh chấp giữa thành viên của công ty với công ty, tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty… Ngoài các tranh chấp kể trên, các tranh chấp khác đương nhiên không được xác định là tranh chấp KDTM

Trang 18

12

Hai là sự khác nhau về mặt chủ thể tham gia tố tụng trong vụ án KDTM và

vụ án dân sự Vì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật

KDTM là không giống nhau, do đó, chủ thể tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, nghĩa vụ liên quan) trong vụ án giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ dân sự hay KDTM cũng không giống nhau

Tranh chấp dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự thông thường thì chủ thể tham gia tranh chấp có thể là các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và các chủ thể khác có địa vị pháp lý ngang bằng, bình đẳng với nhau Tranh chấp giữa các chủ thể này có thể liên quan đến các giá trị nhân thân (quan hệ nhân thân) hoặc các giá trị vật chất (quan hệ tài sản) nhất định Bên cạnh các tranh chấp

về quan hệ nhân thân không liên quan đến tài sản, các tranh chấp khác giữa các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là tranh chấp liên quan đến tài sản, trong đó, các chủ thể tham gia vào quan hệ tài sản chủ yếu vì mục đích sinh hoạt hay tiêu dùng Trong một số trường hợp, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự vì mục đích lợi nhuận, nhưng họ không đăng kí kinh doanh thì tranh chấp phát sinh giữa họ cũng không phải là tranh chấp KDTM Ví dụ, chị A trong một lần đi du lịch ở nước ngoài

đã mua một số hàng mỹ phẩm về Việt Nam để bán lấy tiền lời Việc mua bán mỹ phẩm của chị A là vì mục đích lợi nhuận nhưng tranh chấp (nếu có) phát sinh từ việc chị A bán mỹ phẩm cho người khác sẽ không được coi là tranh chấp KDTM bởi chị A không phải là thương nhân, không tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa

vì mục đích sinh lợi một cách thường xuyên, liên tục, mang tính nghề nghiệp

Trong khi đó, tranh chấp KDTM phát sinh từ quan hệ KDTM giữa các thương nhân trong hoạt động KDTM vì mục đích lợi nhuận Sẽ được coi là quan hệ pháp luật KDTM nếu chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật này đều là các thương nhân hay ít nhất một trong các bên là thương nhân Tức là, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật KDTM phải có ít nhất một bên là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh [12, khoản 1 Điều 6] Khi quan hệ pháp luật KDTM giữa các bên phát sinh tranh chấp và một trong các bên có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì

Trang 19

13

các chủ thể tham gia vụ án KDTM đương nhiên phải là chủ thể đã tham gia vào quan hệ pháp luật KDTM trước đó Như vậy, chủ thể tham gia tố tụng trong vụ án KDTM phải là các thương nhân hoặc phải có ít nhất một bên tham gia tố tụng là thương nhân, trước đó, xác lập quan hệ pháp luật KDTM vì mục đích lợi nhuận

Ba là sự khác nhau về thẩm quyền giải quyết vụ án KDTM và vụ án dân sự

Sự khác biệt này khó có thể được nhận diện nếu như các vụ án dân sự và vụ án KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, bởi lẽ, hầu hết tại các TAND cấp huyện không có Tòa chuyên trách hay Thẩm phán chuyên trách giải quyết vụ án dân sự hay vụ án KDTM, mà thông thường một Thẩm phán đảm nhiệm việc giải quyết cả án dân sự và án KDTM Tại các cơ quan TAND cấp huyện nếu có các phân Tòa chuyên trách thì thẩm quyến giải quyết các tranh chấp KDTM và tranh chấp dân sự đều thuộc về Tòa dân sự TAND cấp huyện [16, khoản 1 Điều 36]

Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự và vụ án KDTM của TAND cấp tỉnh có sự khác biệt khá rõ ràng Theo quy định tại Điều 38 BLTTDS, việc giải quyết các vụ án dân sự hay vụ án KDTM thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh sẽ do hai Tòa chuyên trách hoàn toàn khác nhau thực hiện Tòa dân sự TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án dân sự mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS Tòa kinh tế TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án KDTM mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS

Bốn là sự khác nhau về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và vụ án KDTM

Theo quy định của BLTTDS, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của BLDS Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Người được

Trang 20

14

hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ [16, Điều 184] Như vậy, trong trường hợp các bên không có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, khi giải quyết vụ án, không đặt ra yêu cầu xác định còn hay hết thời hiệu khởi kiện Trường hợp một trong các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, việc xác định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và vụ án KDTM cũng có sự khác biệt

BLDS có các quy định chung về thời hiệu [15, Điều 150 đến Điều 157], quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng [15, Điều 429], quy định thời hiệu khởi kiện bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [15, Điều 588], quy định về thời hiệu khởi kiện

về thừa kế [15, Điều 623] Tuy nhiên, việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các vụ án KDTM không chỉ dựa trên các quy định của BLDS mà còn phải dựa vào các quy định pháp luật chuyên ngành Ví như:

- Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm,

kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm [12, Điều 319] Thời hiệu

để khách hàng khởi kiện thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic là 09 tháng kể từ ngày giao hàng [12, điểm e khoản 1 Điều 237]

- Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp [10, Điều 30]

- Thời hiệu khởi kiện về tổn thất chung trong hàng hải là 02 năm kể từ ngày xảy ra tổn thất chung [17, Điều 297] Thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hải là 02 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp [17, Điều 366]

Năm là sự khác nhau về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và vụ

án KDTM Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án dân sự và vụ án KDTM theo thủ

tục sơ thẩm là không giống nhau (trừ trường hợp các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài) Cụ thể như sau:

- Đối với các vụ án dân sự thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng [16, đểm a khoản 1 Điều 203]

Trang 21

15

- Đối với các vụ án KDTM thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 tháng [16, điểm b khoản 1 Điều 203]

Sự khác biệt trong quy định của BLTTDS về thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án KDTM và vụ án dân sự như trên, xuất phát từ sự khác nhau trong bản chất của quan hệ pháp luật KDTM và quan hệ pháp luật dân sự “Sở dĩ phải làm như vậy vì đối với doanh nghiệp thời gian là tiền bạc, là cơ hội kinh doanh, là sự phát triển của nền kinh tế của đất nước, của xã hội, không thể để doanh nghiệp phải mất quá nhiều thời gian cho một vụ kiện” [7] Trong khi các quan hệ dân sự mang tính ổn định, lâu dài (như quan hệ pháp luật về thừa kế, quan hệ về quyền sở hữu tài sản), thì các quan hệ KDTM thường mang tính “vụ việc”, được xác lập từ các hoạt động KDTM hàng ngày của các chủ thể kinh doanh như quan hệ hợp đồng mua bán, hợp đồng vận chuyển… Hơn thế nữa, trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, các quan hệ KDTM có yếu tố nước ngoài ngày càng trở lên phổ biến, việc giải quyết các tranh chấp KDTM nhanh chóng, hiệu quả theo thông lệ chung của các quốc gia trên thế giới cũng góp phần thu hút và làm tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Sáu là sự khác biệt trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ

án BLDS được xem là luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, luật khác có

liên quan đến điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của BLDS [15, Điều 4] Các quy định trong BLDS là các quy định mang tính nền tảng, điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự hiểu theo nghĩa rộng Tuy nhiên, BLDS không thể bao quát hết các đặc trưng riêng của từng loại quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, do đó, để điều chỉnh các quan hệ pháp luật KDTM, bên cạnh BLDS được coi là “luật chung”, còn có các quy định pháp luật

“chuyên ngành” khác điều chỉnh đối với từng hoạt động KDTM cụ thể như: Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Chứng khoán, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh doanh bảo hiểm,

Trang 22

16

Luật Xây dựng, Luật Quản lý ngoại thương, Luật các tổ chức tín dụng…và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này Khi giải quyết các tranh chấp KDTM, Tòa án không chỉ căn cứ vào các quy định trong BLDS mà còn phải căn cứ vào các quy định pháp luật chuyên ngành trong từng lĩnh vực KDTM cụ thể

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán [15, Điều 5] Tuy nhiên, việc áp dụng tập quán khi giải quyết các vụ án KDTM và vụ án dân sự cũng có sự khác biệt nhất định Tập quán hiểu theo nghĩa chung là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự [15, khoản 1 Điều 5] Trong khi các tập quán trong lĩnh vực dân sự (hiểu theo nghĩa hẹp) được hình thành trong cộng đồng dân cư, phát sinh từ các quan hệ trao đổi, mua bán… của những người dân thông thường thì tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại [12, khoản 4 Điều 3]

Trường hợp các tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự mà các bên không

có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì

áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng [15, Điều 6]

Đối với việc áp dụng án lệ, cho tới thời điểm hiện nay, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã ban hành 37 án lệ có hiệu lực để phục vụ cho công tác xét xử các vụ án hình sự, vụ án hành chính và vụ án dân sự nói chung Trong tổng số 37 án

lệ đã có hiệu lực, có 20 án lệ dân sự (án lệ số 02, 04, 05, 06, 07, 14, 15, 16, 22, 23,

24, 25, 26, 27, 31, 32, 33, 34, 35, 36) chủ yếu về các tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế tài sản, tranh chấp về quyền sở hữu nhà, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp

Trang 23

17

đồng đặt cọc… Các án lệ KDTM gồm có 07 án lệ (án lệ số 08, 09, 11, 12, 13, 21, 37) về hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng bảo hiểm

Cuối cùng là sự khác biệt về mức thu án phí Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự và vụ án KDTM Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mức thu án phí Tòa án đối với tranh chấp KDTM cao hơn so với mức thu án phí Tòa án đối với tranh chấp dân sự

Án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự không có giá ngạch là 300.000 đồng, trong khi đó, án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại không có giá ngạch 3.000.0000 đồng Đối với tranh chấp dân sự có giá ngạch, từ 6.000.000 đồng trở xuống là 300.000 đồng, trong khi đó, đối với tranh chấp KDTM

có giá ngạch, từ 60.000.000 đồng trở xuống là 3.000.000 đồng Các mức phí tiếp theo của án dân sự có giá ngạch với án KDTM có giá ngạch là giống nhau [28]

Như đã trình bày, nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự cũng chính là các nhiệm vụ, quyền hạn của KSV khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM

Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra kết luận: Thẩm quyền của Kiểm sát

viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM là tổng hợp các quyền năng pháp lý theo quy định của pháp luật mà KSV được thực hiện để kiểm sát tính hợp pháp của các quyết định, hành vi pháp lý của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và sự tuân theo pháp luật của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xét xử sơ thẩm

vụ án KDTM, nhằm đảm bảo cho việc xét xử vụ án KDTM của Tòa án được kịp thời, đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Nhận thức đúng đắn về thẩm quyền của KSV (KSV chỉ được thực

hiện đúng quyền hạn được trao, mọi hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình đều bị xem là hành vi trái pháp luật) - có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi thẩm quyền được giao Khi KSV nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ, quyền hạn của mình sẽ là điều kiện cần để thực hiện đúng thẩm quyền được trao Ngược lại, khi KSV không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền hạn như sử dụng quyền hạn trái pháp luật

Trang 24

xử các vụ án dân sự còn thấp trong đó có nguyên nhân là chưa có cơ chế giám sát

kiểm sát có hiệu quả việc giải quyết các vụ án dân sự” [1] Vì vậy, việc xác định

đúng đắn vị trí, vai trò kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự của VKSND trong tố tụng dân sự là điều cần thiết

Xuất phát từ bản chất, đặc điểm của hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, hoạt động này cần thiết và phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ của nhiều cơ chế khác nhau, đặc biệt là phải thiết lập cho được

cơ chế giám sát trực tiếp, thường xuyên, có tính chuyên nghiệp cao Hiến pháp đã giao cho VKSND thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp để chế ước, giám sát quyền lực, tăng thêm tính minh bạch trong các hoạt động tư pháp, bảo vệ pháp chế cũng như quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức [3, tr.10]

Phiên tòa sơ thẩm được xem là giai đoạn tố tụng quan trọng nhất của giai đoạn xét xử sơ thẩm và quá trình tố tụng dân sự [5, tr.37] Lí do là bởi, tại phiên tòa

sơ thẩm, Tòa án nhân dân xem xét và giải quyết tất cả các yêu cầu hợp pháp của đương sự Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX phải xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung

vụ án, trực tiếp nghe các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trình bày

ý kiến, đánh giá tính hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ Chất lượng giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động xét xử tại phiên tòa

Trang 25

19

sơ thẩm Chính vì vậy, để kịp thời phát hiện và khắc phục sai sót, vi phạm của Tòa

án, cần phải có sự có mặt của KSV trong phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM nói riêng và phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án dân sự (hiểu theo nghĩa rộng) nói chung

Hoạt động kiểm sát xét xử vụ án KDTM của VKSND là hoạt động giám sát, kiểm sát sự tuân theo pháp luật của chủ thể tiến hành tố tụng và sự chấp hành pháp luật các chủ thể tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS Đây là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước đã được Hiến pháp và BLTTDS quy định cho VKSND

Trên cơ sở đó, vai trò của KSV khi tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM được thể hiện ở những điểm dưới đây:

- Kiểm sát sự tuân thủ pháp luật của HĐXX, Thư ký phiên tòa và việc chấp

hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, gớp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện

các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật [16, Điều 21] Sự tham gia của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi đúng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hoạt động kiểm sát của KSV tại phiên tòa được diễn ra liên tục từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi tuyên án, thể hiện bằng phương thức kiểm sát trực tiếp [19, tr.12] KSV kiểm sát thành phần HĐXX, Thư ký phiên tòa và tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng, kiểm sát quá trình xét xử của HĐXX,… kịp thời đưa ra các kiến nghị những người tiến hành tố tụng những vi phạm về nguyên tắc, trình tự tiến hành tố tụng, qua đó, loại trừ các vi phạm pháp luật của những người

tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa

Bên cạnh đó, căn cứ vào kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa và căn cứ vào các quy định pháp luật, KSV kiểm sát kết quả giải quyết vụ án của Tòa án Trong trường hợp phán quyết của Tòa án là chưa đúng với bản chất thực sự của tranh chấp, việc đối chiếu kết quả nghiên cứu hồ sơ, theo dõi, ghi chép diễn biến phiên tòa và bản án giúp cho KSV đưa ra quyết định báo cáo Lãnh đạo

Trang 26

20

Viện kiểm sát có thực hiện các quyền kháng nghị, kiến nghị đối với bản án, quyết

định Tòa án, đảm bảo việc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật

- Góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo quyền, lợi ích

hợp pháp của đương sự Sự có mặt của KSV tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án

KDTM còn góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Bản chất của hoạt động kiểm sát trong phiên tòa sơ thẩm

vụ án KDTM cũng như các phiên tòa dân sự nói chung là nhằm theo dõi diễn biến phiên tòa, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án, xác định những yêu cầu

mà các bên đương sự đưa ra cũng như tính hợp lý, hợp pháp của các yêu cầu đó Bởi lẽ, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án kể từ khi nhận đơn khởi kiện cho tới trước khi phiên tòa diễn ra, KSV chỉ kiểm sát các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Tòa án, của Thẩm phán một cách gián tiếp thông qua hồ sơ vụ án [19, tr.11] Kết quả của hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án trong một số trường hợp không thể chính xác, khách quan do những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án trong một số vụ án không phản án hết thực tế tranh chấp giữa các bên

Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM, nguyên đơn, bị đơn một lần nữa xác định, bày tỏ chính xác, cụ thể các yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, đưa ra các tài liệu, chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua lời khai, ý kiến của những người tham gia tố tụng khác được trình bày tại phiên tòa cũng góp phần làm sáng tỏ nội dung vụ án Hơn thế nữa, khi tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM, KSV có thể tham gia hỏi các đương sự và những người tham gia tố tụng khác để hiểu rõ hơn bản chất của tranh chấp giữa các bên Trong khi đó, những người tiến hành tố tụng kiểm tra, phân tích, đánh giá toàn diện các yêu cầu, các tài liệu, chứng cứ, dẫn chiếu các quy định pháp luật về việc giải quyết nội dung vụ án… Chính vì vậy, bằng việc trực tiếp xem xét, đánh giá lời khai, những căn cứ, lập luận mà các bên đưa ra khi tham dự phiên tòa, KSV mới có cơ hội để kiểm chứng lại một lần nữa các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó xác định được bản chất thực sự của tranh chấp

Trang 27

21

- Ý kiến phát biểu của KSV tại phiên tòa là một trong những cơ sở để HĐXX

giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật Tại phiên tòa sơ thẩm, KSV phát biểu

ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ án là một trong những cơ sở để HĐXX tuyên

án Dựa trên kết quả nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án Nội dung phát biểu, KSV phân tích, đánh giá, nhận định về nội dung tranh chấp và các tình tiết của vụ án; đánh giá, nhận định về tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án; nêu

rõ căn cứ pháp luật được áp dụng để giải quyết vụ án; nêu rõ quan điểm về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đề nghị của nguyên đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nội dung phát biểu của KSV là một trong những cơ sở quan trọng để Tòa án đưa ra bản án khách quan, hợp tình, hợp lý, đúng quy định của pháp luật

- Sự có mặt của KSV tại phiên tòa còn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp Thông qua hoạt động kiểm sát xét xử tại các phiên tòa KDTM sơ

thẩm, KSV có thể phát hiện ra các quy định pháp luật còn bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn trong quá trình áp dụng, thực hiện pháp luật Trên cơ sở đó, KSV tập hợp, báo cáo Lãnh đạo VKS, từ đó ngành kiểm sát nhân dân tập hợp những thiếu sót, bất cập này, đề xuất, kiến nghị cơ quan đã ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ những quy định không còn phù hợp, ban hành các quy định mới thay thế cho phù hợp với điều kiện thực tế

Như vậy, có thể thấy rằng, sự có mặt của KSV trong phiên tòa sơ thẩm xét

xử vụ án KDTM là để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND Tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM, KSV kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký phiên tòa và sự chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng nhằm phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết nội dung vụ án của KSV

là một trong những cơ sở quan trọng để Tòa án ra bản án có căn cứ, đúng pháp luật, góp phần đảm bảo sự công bằng, dân chủ, khách quan trong việc giải quyết nội

Trang 28

Một là, yếu tố chính trị, pháp lý Là công chức nhà nước, do vậy, việc thực

thi nhiệm vụ, quyền hạn của KSV phải gắn chặt với các quan điểm, đường lối của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước Để KSV có thể thực hiện các quyền năng pháp lý tại phiên tòa KDTM sơ thẩm một cách đầy đủ, đòi hỏi hệ thống quy phạm pháp luật phải đồng bộ, tránh chồng chéo, mâu thuẫn Các quy định pháp luật cũng cần phải hướng tới việc đáp ứng yêu cầu tăng tính độc lập cho KSV, ngăn ngừa sự can thiệp trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức vào hoạt động thực thi công vụ của KSV, đồng thời, phù hợp với nguyên tắc tập trung, thống nhất trong Ngành kiểm sát nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND mỗi cấp

và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao đối với toàn hệ thống Thực tế cho thấy, một khi các quy định pháp luật tố tụng dân sự đầy đủ, chặt chẽ, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho KSV thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Ngược lại, khi các quy định pháp luật tố tụng không đồng bộ, đầy đủ sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho KSV khi thực hiện thẩm quyền

Bên cạnh đó, sự ổn định của tình hình chính trị cũng có tác động tới việc thực hiện thẩm quyền của KSV, đặc biệt là ảnh hưởng của các nguồn thông tin đa chiều Trong thời đại thông tin hiện nay, có những tranh chấp KDTM giữa các bên

đã được các phương tiện thông tin truyền thông phản ánh, đưa tin và phân tích các

Trang 29

23

khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh rằng, chỉ khi dư luận xã hội phản ánh đúng đắn các tình tiết khách quan của vụ án, nhận định và bình luận một cách công bằng, không thiên vị thì mới có thể tạo ra sự thuận lợi cho KSV cũng như Thẩm phán trong quá trình tố tụng Ngược lại, nếu dư luận xã hội phản ánh các tình tiết, sự việc một cách phiến diện, hời hợt và chủ quan thì khi đưa ra ý kiến của mình

về việc giải quyết vụ án, KSV phải chịu một áp lực không nhỏ từ dư luận xã hội

Hai là, sự chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo VKSND tối cao và Lãnh đạo của các đơn vị VKSND Trong mọi hoạt động của các cơ quan, tổ chức thì công tác quản

lý, chỉ đạo, điều hành luôn giữ vai trò hết sức quan trọng, là yếu tố xuyên suốt quá trình hoạt động, quyết định mức độ thành công trong việc thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của cơ quan, tổ chức đó Vai trò của công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành càng trở nên đặc biệt quan trọng đối với một ngành theo chế độ thủ trưởng chế như Ngành kiểm sát nhân dân

Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tranh chấp KDTM, được chỉ đạo, điều hành thống nhất bởi Viện trưởng VKSND tối cao và được một Phó Viện trưởng trực tiếp phụ trách Tại các VKSND cấp tỉnh và cấp huyện, bên cạnh sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của Viện trưởng VKSND, luôn có một Phó Viện trưởng được phân công trực tiếp phụ trách công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự Thực tế cho thấy rằng, khi Lãnh đạo VKSND tối cao, Lãnh đạo các đơn vị VKSND cấp tỉnh, cấp huyện thực sự quan tâm đến công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ

án dân sự, chỉ đạo tăng cường nhân lực, vật lực cho khâu công tác này thì chất lượng kiểm sát án dân sự nói chung, án KDTM nói riêng sẽ có chuyển biến tích cực

Với vai trò là Vụ nghiệp vụ, Vụ Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Vụ 10) đã phối hợp với Vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình (Vụ 9) tham mưu cho Viện trưởng VKSND tối cao ban hành các Quy chế, Quy trình, Quy định kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự (như Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự (Quy chế 364 ban hành kèm theo Quyết định số 364/QĐ-VKSTC ngày 02/10/2017), Quy trình, kỹ năng

Trang 30

24

kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự của Tòa án (ban hành kèm theo Quyết định số 399/QĐ-VKSTC ngày 06/9/2019), Quy định về hướng dẫn hoạt động của Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà dân sự sơ thẩm (ban hành kèm theo Quyết định số 458/QĐ-VKSTC ngày 04/10/2019), thực hiện trả lời thỉnh thị về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM, ban hành các các Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM

Tại VKSND cấp tỉnh ở các địa phương, với vai trò là phòng nghiệp vụ, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM theo thủ tục sơ thẩm (đối với các vụ án KDTM thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh), Phòng kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và phá sản doanh nghiệp (Phòng 10) cũng đã thực hiện việc trả lời thỉnh thị về công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM của các VKSND cấp huyện tại địa phương mình và ban hành các Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ

án KDTM tại địa phương Các Quy chế nghiệp vụ, văn bản trả lời thỉnh thị, Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM của VKSND tối cao, VKSND cấp tỉnh được xem là những quy định, hướng dẫn nghiệp

vụ quan trọng để KSV có thể áp dụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn

Ba là, vấn đề tổ chức cán bộ Kiểm sát việc giải quyết án dân sự nói chung,

án KDTM nói riêng là công việc đòi hỏi năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của các KSV Bởi lẽ, các tranh chấp KDTM hiện nay ngày càng đa dạng, phức tạp, trong khi đó, hệ thống quy phạm pháp luật về kinh doanh thương mại lại rất rộng, bao gồm nhiều loại văn bản pháp luật về KDTM khác nhau như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật đầu tư, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Kinh doanh bảo hiểm và rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này Bân cạnh đó, hoạt động kiểm sát việc giải quyết các tranh chấp KDTM có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi KSV phải có am hiểu về pháp luật KDTM quốc tế, kiến thức ngoại ngữ, công nghệ thông tin Do vậy, để KSV có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi kiểm sát việc giải quyết án KDTM nói chung, thể hiện tốt vai trò của mình tại phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM nói riêng, đòi hỏi các đơn vị VKSND phải có các biện

Trang 31

25

pháp bố trí cán bộ cho phù hợp, đảm bảo tính ổn định để KSV được phân công công tác kiểm sát án KDTM có thời gian tích luỹ kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ Để KSV có thể chuyên tâm với công việc, cần phải giảm bớt sự kiêm nhiệm của KSV đối với các công việc khác Khi bố trí cán bộ, VKSND các địa phương cần phân công các KSV có kinh nghiệm, năng lực để kèm cặp, hướng dẫn các KSV mới được phân công đảm nhiệm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án KDTM

Bốn là, năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức của Kiểm sát viên Về mặt chủ

quan, việc thực hiện thẩm quyền của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM phụ thuộc rất nhiều vào ý thức chính trị, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cũng như bản lĩnh của KSV

Đạo đức lối sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân “Việc thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ giúp cho KSV có một thế giới quan khoa học, một nhân sinh quan cộng sản” [18, tr.35] Ngược lại, một khi KSV bằng lòng thỏa hiệp với các hành vi tiêu cực như nhận hối lộ hay nể nang trong các mối quan hệ với cấp trên, đồng nghiệp hay những người thân quen nên đưa ra các yêu cầu, kiến nghị, đề xuất giải quyết vụ

án có lợi cho một bên nào đó… sẽ dẫn đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn một các méo mó, biến dạng Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp và làm suy giảm lòng tin của Nhân dân đối với các cơ quan tư pháp

Ý thức chính trị của mỗi KSV là nhân tố thường trực nhắc nhở khi thực thi nhiệm vụ, giúp cho KSV không rơi vào tình trạng áp dụng pháp luật một cách đơn thuần, máy móc, tách rời quy định của pháp luật với lợi ích chung của xã hội

Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của KSV giúp cho KSV có thể xử lý các tình huống pháp lý trong thực tiễn một cách nhanh chóng, khách quan, kịp thời và sáng tạo, chính xác và hiệu quả Điều này cũng góp phần hình thành nên phong cách làm việc đĩnh đạc, tự tin, quyết đoán, chính xác, khoa học và thuyết phục của KSV khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM nói riêng

Trang 32

26

Năm là, sự phối hợp của Kiểm sát viên Để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền

hạn của mình, KSV phải thường xuyên có sự phối hợp với các đơn vị trong Ngành, KSV thực hiện các khâu công tác khác và phối hợp với TAND cùng cấp trong quá trình thực thi công vụ của mình Trường hợp trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM có khó khăn, vướng mắc, KSV có thể tranh thủ tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp, xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo đơn vị hay đề xuất Lãnh đạo thỉnh thị ý kiến chỉ đạo của VKSND cấp trên Điều này giúp cho KSV có thể đưa ra những quan điểm về việc giải quyết vụ án KDTM tại phiên tòa sơ thẩm một cách chính xác, phù hợp Đối với TAND, sau khi được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM theo thủ tục sơ thẩm, KSV cần chủ động liên hệ với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án để yêu cầu Thẩm phán kịp thời chuyển giao các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo chuyển giao hồ sơ vụ án đúng thời hạn để KSV có đủ thời gian nghiên cứu

Sáu là, chất lượng công tác chuẩn bị trước khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ

án KDTM của Kiểm sát viên Hoạt động của KSV tại phiên tòa thể hiện tổng hợp cả

quá trình hoạt động kiểm sát của KSV từ khi Tòa án thụ lý vụ án, đến thời điểm trước khi HĐXX nghị án Do vậy, chất lượng thực thi nhiệm vụ của KSV chỉ đạt được kết quả tốt nếu chất lượng công tác chuẩn bị tham gia phiên tòa đạt hiệu quả

Để thể hiện tốt vai trò của mình tại phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM, ngay từ khi được phân công kiểm sát án KDTM, KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nắm

rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người cơ quyền, nghĩa vụ liên quan, những chứng cứ có trong hồ sơ và kiểm sát chặt chẽ các văn bản tố tụng của Tòa án, nắm chắc các quy định của pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung Đây là vấn đề rất quan trọng vì có nắm chắc tố tụng thì KSV mới chủ động xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa và có những nhận xét đúng, đầy đủ, chính xác về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng Việc nắm chắc các quy định pháp luật nội dung giúp KSV đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án được chính xác, đúng pháp luật Ngoài ra, KSV phải dự kiến trước các tình huống có thể

Trang 33

1.2 Quy định về thẩm quyền của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại

1.2.1 Các trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ

án kinh doanh, thương mại

Các loại tranh chấp KDTM được Tòa án giải quyết là đa dạng, tuy nhiên, theo quy định của BLTTDS, KSV không tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp KDTM Theo quy định tại Điều 21 BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 27 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSTC-TANDTC các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm bao gồm:

- Vụ án KDTM do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ: Theo quy định tại

khoản 2 Điều 97 BLTTDS, trong các trường hợp do BLTTDS quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ: Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; Trưng cầu giám định; Định giá tài sản; Xem xét, thẩm định tại chỗ; Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; Yêu cầu cơ quan,

tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự; Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú; Các biện pháp khác theo quy định của BLTTDS

- Vụ án KDTM có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng:

Trong đó, tài sản công được hiểu là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại

diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự và quy định

Trang 34

28

khác của pháp luật; Lợi ích công cộng là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên

quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư [27, khoản 2 Điều 27]

- Vụ án KDTM có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, bao gồm: Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất hoặc ai là người có

quyền sở hữu nhà ở (Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất đối

kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải trả lại thửa đất đó cho A Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm); Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở (gồm: tranh chấp về hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất; tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở; tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhà ở…); Đối với tranh chấp về hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó không phải là đối tượng của hợp đồng thì không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm (Ví dụ: A vay ngân hàng B số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị

01 tỷ đồng Đến thời hạn trả nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa

vụ trả nợ Trong vụ án dân sự này, đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng, không phải là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm) [27, khoản 3 Điều 27]

- Vụ án KDTM giải quyết các tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ;

- Vụ án KDTM giải quyết các tranh chấp trong các giao dịch KDTM khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở

Trang 35

29

- Vụ án KDTM có đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Vụ án KDTM có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Sự tham gia phiên tòa sơ thẩm của VKS trong trường hợp này có ý nghĩa về mặt xã hội vô cùng to lớn, giúp họ về cơ bản đảm bảo được các quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia phiên tòa BLDS đã đưa ra những khái niệm tương đối rõ nét về các diện của người “yếu thế” trong xã hội, gồm: người bị mất năng lực hành vi dân sự [15, Điều 22]; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi [15, Điều 23] và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự [15, Điều 24] Trong trường hợp vụ án có đương sự là người thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm

- Vụ án KDTM trong trường hợp Tòa án thụ lý và giải quyết khi chưa có

điều luật để áp dụng: VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm nếu vụ án thuộc trường

hợp Tòa án phải giải quyết nhưng chưa có điều luật để áp dụng [16, khoản 2 Điều 21] Đây là quy định mới về thẩm quyền của Tòa án trong việc thụ lý, giải quyết tranh chấp KDTM, đồng thời, cũng là nội dung mới về thẩm quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm của VKSND Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết lại chưa

có điều luật để áp dụng [15, khoản 2 Điều 4] Do đó, trong trường hợp này, KSV đại diện VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM nếu vụ án có tranh chấp

về quyền, nghĩa vụ dân sự

1.2.2 Thẩm quyền của Kiểm sát viên trong việc tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại

Thứ nhất, thẩm quyền của Kiểm sát viên trong việc kiểm sát các hoạt động phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại

Cơ sở pháp lý để KSV thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM là các quy định tại BLTTDS, Thông tư liên tịch số

Trang 36

30

02/2016/TTLT/VKSNDTC-TANDTC, Quy chế 364 và Quy định 458 Theo quy định tại khoản 4 Điều 58 BLTTDS, KSV được Viện trưởng phân công kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn tham gia phiên tòa

và phát biểu quan điểm của VKS việc giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS

Theo quy định tại Chương XIV BLTTDS về “Phiên tòa sơ thẩm”, quy định tại các điều 21, 22, 23, 24 Quy chế 364 và các điều từ Điều 24 đến Điều 35 Quyết định 458, tại phiên tòa sơ thẩm, KSV kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật bảo đảm phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng quy định chung về phiên tòa sơ thẩm Thẩm quyền cụ thể của KSV tại phiên tòa dân sự sơ thẩm nói chung, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án KDTM nói riêng, bao gồm:

- Theo dõi và ghi chép diễn biến phiên toà: Tại phiên toà, KSV theo dõi và

ghi chép những câu hỏi của đương sự, của người tham gia tố tụng khác, của Hội đồng xét xử cũng như những câu trả lời, đối chiếu với đề cương hỏi và so sánh với các tài liệu, chứng cứ cũng như lời khai, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ

vụ án để tham gia hỏi, tránh trùng lắp nội dung hỏi hoặc hỏi không đúng trọng tâm… Tập trung ghi đầy đủ những vấn đề mới, tài liệu, chứng cứ mới, những vấn

đề đương sự khai khác với lời khai trong hồ sơ vụ án, những vấn đề có tính chất quyết định đến quan điểm, đường lối giải quyết vụ án Trường hợp KSV ghi âm, ghi hình có âm thanh tại phiên tòa thì phải thông báo trước cho chủ tọa phiên tòa Khi chủ tọa phiên tòa tuyên án, KSV nghe và ghi chép nhanh phần nhận định, những căn cứ pháp luật mà HĐXX căn cứ vào đó để đưa ra quyết định giải quyết vụ án, từ

đó làm cơ sở cho hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án [36, Điều 25]

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: KSV kiểm sát việc tuân

theo các quy định của pháp luật về phiên tòa như địa điểm tổ chức phiên tòa, hình thức bố trí phòng xét xử, việc xét xử trực tiếp, bằng lời nói, xét xử công khai hay xét xử xử kín…

KSV kiểm sát việc tuân theo pháp luật của thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa xem thành viên HĐXX có đúng với Quyết định đưa vụ án ra xét xử không, họ

có thuộc trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng hay không Đối với

Trang 37

- Kiểm sát việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu tại phiên tòa: KSV kiểm sát

việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự tại phiên tòa theo quy định tại Điều

244 BLTTDS Trường hợp HĐXX chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu vượt quá phạm vi khởi kiện thì KSV phát biểu về việc Tòa án đã vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng Sau khi kết thúc phiên tòa, KSV báo cáo Lãnh đạo VKS kiến nghị hoặc kháng nghị Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu mà bị đơn không rút yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không rút yêu cầu độc lập thì KSV kiểm sát việc xác định lại địa vị tố tụng từng người theo quy định tại Điều

Trang 38

32

đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm Căn cứ các điều 254,

255 và 256 BLTTDS, KSV kiểm sát việc HĐXX công bố các tài liệu, chứng cứ của

vụ án, cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, cho xem băng ghi hình, đĩa ghi hình hoặc xem xét vật chứng…[36, Điều 28]

- Kiểm sát việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại

phiên tòa: Trường hợp các đương sự tự thỏa thuận được tại phiên tòa, KSV căn cứ

khoản 1 Điều 246 BLTTDS xác định rõ sự thỏa thuận của đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội hay không, kiểm sát việc chủ tọa phiên tòa có giải thích cho đương sự biết hậu quả của việc tự nguyện thỏa thuận không Trường hợp phát hiện sự thỏa thuận của các đương sự đạt được do có sự nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc

có vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, KSV báo cáo Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình để thông báo bằng văn bản choVKS có thẩm quyền xem xét

kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm [36, Điều 31]

- Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án: Khi

HĐXX quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, KSV kiểm tra căn cứ tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 1 Điều 214 BLTTDS; căn cứ đình chỉ theo quy định tại Điều 217 BLTTDS và phát biểu ý kiến về việc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án Trường hợp phát hiện quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án có vi phạm pháp luật thì KSV báo cáo ngay với Lãnh đạo VKS để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 215 và khoản 4 Điều 218 BLTTDS [36, Điều 32]

- Kiểm sát việc Hội đồng xét xử áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn

cấp tạm thời tại phiên tòa: Tại phiên tòa, khi HĐXX xem xét, quyết định việc áp

dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, KSV kiểm sát sự tuân theo pháp luật trong việc HĐXX xem xét, quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời [31, Điều 33]

- Kiểm sát việc nghị án, tuyên án và kiểm tra biên bản phiên tòa: KSV kiểm

sát việc HĐXX thông báo thời gian, địa điểm tuyên án, trước khi vào nghị án; kiểm

Trang 39

33

sát thời gian nghị án Trường hợp sau nghị án HĐXX trở lại việc hỏi và tranh luận, KSV xem xét việc trở lại việc hỏi và tranh luận theo quy định tại Điều 265 BLTTDS KSV kiểm sát việc tuyên án của HĐXX, bảo đảm tuyên án với sự có mặt của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện KSV kiểm sát việc xét xử kín, HĐXX chỉ tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án Trường hợp đương sự cần có người phiên dịch thì khi tuyên án, bảo đảm có người phiên dịch cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu và phần quyết định của bản án được tuyên công khai

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, KSV có quyền yêu cầu xem biên bản phiên tòa Biên bản phiên tòa phải được Thư ký phiên tòa ghi đúng, đầy đủ, trung thực diễn biến phiên tòa và nội dung mà các bên đương sự trình bày tại phiên tòa Nếu thấy việc ghi biên bản phiên tòa không đúng như diễn biến tại phiên tòa hoặc ghi không đầy đủ thì KSV có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản

và ký xác nhận [16, khoản 4 Điều 236; 36, Điều 35]

Thứ hai, thẩm quyền của Kiểm sát viên trong việc thực hiện các quyền đề nghị, kiến nghị, yêu cầu, hỏi và phát biểu ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại

- Thực hiện quyền đề nghị: Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên

tòa sơ thẩm, trường hợp phát hiện thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa không đúng

với quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không có thành viên dự khuyết, thì KSV có

quyền đề nghị chủ tọa hỏi đương sự về việc thay đổi người tiến hành tố tụng

Trường hợp đương sự không đồng ý với thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa không

có trong quyết định đưa vụ án ra xét xử thì đề nghị hoãn phiên tòa, trường hợp đương sự đồng ý thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa thì vẫn tiến hành xét xử

Trường hợp phát hiện thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa phải từ chối tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 52 BLTTDS hoặc phải thay đổi theo quy định

tại Điều 53 và Điều 54 BLTTDS, KSV đề nghị thành viên HĐXX, Thư ký phiên tòa

từ chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi bằng người dự khuyết, nếu không có người

dự khuyết thì đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 2

Trang 40

34

Điều 56 và khoản 1 Điều 233 BLTTDS Trường hợp HĐXX không chấp nhận yêu cầu của KSV về việc đề nghị từ chối hoặc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc Thư ký phiên tòa và vẫn tiến hành xét xử thì KSV vẫn tiếp tục tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến của VKS [36, Điều 26]

Trường hợp vụ án có sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch mà họ

vắng mặt thì KSV có quyền đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa theo quy định, trừ những

trường hợp quy định tại Điều 228 BLTTDS Nếu HĐXX không chấp nhận đề nghị của KSV thì KSV vẫn tiếp tục tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án Trường hợp đương sự không có mặt theo giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai của Tòa án, KSV kiểm tra xem

có đơn đề nghị xét xử vắng mặt của đương sự, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không

Trường hợp tại phiên tòa, phát hiện người giám định, người phiên dịch phải

thay đổi, KSV có quyền đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch bằng

người dự khuyết, nếu không có người dự khuyết thì đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 84 và khoản 1 Điều 233 BLTTDS

Khi kiểm sát việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu tại phiên tòa, trong trường

hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu và tự nguyện thì KSV có quyền đề

nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu mà đương sự

đã rút theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS [36, Điều 27]

Trường hợp phải công bố tài liệu, chứng cứ mà HĐXX không công bố

thì KSV đề nghị HĐXX công bố hoặc cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng

ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác lưu trữ âm thanh, hình ảnh (nếu có); xem xét

vật chứng theo quy định của pháp luật Tại phiên tòa, nếu thấy có căn cứ tạm ngừng

phiên tòa theo điểm c khoản 1 Điều 259 BLTTDS, KSV đề nghị tạm ngừng phiên

tòa để yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ KSV phải nêu rõ những tài

liệu, chứng cứ cần xác minh, thu thập, lý do cần xác minh, thu thập tài liệu, chứng

cứ đó Trường hợp HĐXX không chấp nhận yêu cầu tạm ngừng phiên tòa thì KSV

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2008), Thông báo số 230-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49 - NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 230-TB/TW kết luận của Bộ Chính trị về sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49 - NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
2. Cổng thông tin điện tử Chính phủ (2011), “Trung tâm kinh tế thương mại”, <http://tphcm.chinhphu.vn/trung-tam-kinh-te-thuong-mai>, (07/5/2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm kinh tế thương mại
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Chính phủ
Năm: 2011
3. Phùng Thanh Hà (2014, Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2012), Nghị quyết số 03/2012/ NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất"Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2012
5. Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa dân sự sơ thẩm – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên tòa dân sự sơ thẩm – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
6. Nguyễn Hữu Luận (2016), Về nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, Tạp chí quản lý nhà nước, số 247 (8/2016), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Hữu Luận
Năm: 2016
7. Tưởng Duy Lượng (2015), “Một vài suy nghĩ về sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự”, <http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/View_Detail.aspxYKienID=567>, (10/3/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2015
8. Phòng 10 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Thống kê số liệu cán bộ, công chức Phòng 10, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê số liệu cán bộ, công chức Phòng 10
Tác giả: Phòng 10 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
9. Phòng 10 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Báo cáo công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính – kinh doanh thương mại – lao động và chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp năm 2019, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính – kinh doanh thương mại – lao động và chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp năm 2019
Tác giả: Phòng 10 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
10. Quốc hội (2000, 2010), Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 (gọi tắt là Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2000), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 "và "Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2010 "(gọi tắt là "Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2000)
11. Quốc hội (2004, 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 (gọi tắt là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 "(gọi tắt là "Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011
18. Trần Văn Quý (2010), “Những yếu tố ảnh hưởng đển hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15 (176), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố ảnh hưởng đển hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên”, Tạp chí" Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Văn Quý
Năm: 2010
19. Nguyễn Vĩnh Tá (2012), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong phiên tòa dân sự sơ thẩm, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong phiên tòa dân sự sơ thẩm
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Tá
Năm: 2012
20. Văn Tân (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Văn Tân
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1994
21. Tòa án nhân dân quận 1 (2019), Bản án số 09/2019//KDTM-ST, ngày 18/01/2017 về việc tranh chấp quyền tác giả, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 09/2019//KDTM-ST, ngày 18/01/2017 về việc tranh chấp quyền tác giả
Tác giả: Tòa án nhân dân quận 1
Năm: 2019
22. Tòa án nhân dân quận G (2017), Bản án số 09/2017/KDTM-ST, ngày 18/01/2017 về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 09/2017/KDTM-ST, ngày 18/01/2017 về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho
Tác giả: Tòa án nhân dân quận G
Năm: 2017
23. Tòa án nhân dân quận H (2019), Bản án số 20/2019/KDTM-ST, ngày 18/05/2019 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 20/2019/KDTM-ST, ngày 18/05/2019 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tác giả: Tòa án nhân dân quận H
Năm: 2019
24. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Bản án số 854/2017/KDTM-ST, ngày 18/9/2017 về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 854/2017/KDTM-ST, ngày 18/9/2017 về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho
Tác giả: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
25. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Bản án số 1207/2018/KDTM-PT ngày 04/9/2018 về việc tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ và san lấp mặt bằng, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án số 1207/2018/KDTM-PT ngày 04/9/2018 về việc tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ và san lấp mặt bằng
Tác giả: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2018
26. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Tờ trình số 03/TTr-TANDTC về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), ngày 09/4/2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình số 03/TTr-TANDTC về dự án Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), ngày 09/4/2015
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2015

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w