doanh nghiệp 2014 và thực tiễn trong hoạt động đăng ký kinh doanh tại tỉnhQuảng Ninh.Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu và phântích những quy định về việc đăng ký
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ THU HIỀN
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH.
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
_
ĐỖ THỊ THU HIỀN
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Như Phát Các nội dung nghiêncứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới hình thức nàotrước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá đượcchính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệutham khảo
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như sốliệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thíchnguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịutrách nhiệm
Quảng Ninh, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Như Phát là người hướng dẫn khoa học cho tác giả Trong quá trìnhhướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Như Phát bằng tinh thần, trách nhiệm, sự nhiệttình đã hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn thạc sĩ
Đồng thời, tác giả cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Giámhiệu, các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ và các giảng viên Học viện khoa học
xã hội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giảtheo học tại Học viện Cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên Học viện khoa học
xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập vànghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học
Sau cùng, tác giả xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ
và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả
có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt đượctính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 7
1.1.Khái niệm về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp 7
1.2 Những điều kiện đăng ký doanh nghiệp 11
1.3 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH 30
2.1 Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp 30
2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. 42
Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TỈNH QUẢNG NINH. 52
3.1 Nhu cầu và định hướng hoàn thiện 52
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện 54
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là đất nước nằm ở vị trí chiến lược trong khu vực Đông Nam
Á, là cửa ngõ quan trọng nối liền với các nước trong khối ASEAN và thế giới.Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để đầu tư kinh doanh như vị trí địa lý,điều kiện tự nhiên thuận lợi, tình hình chính trị ổn định, nguồn lao động dồidào, môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, quy định pháp luậtđang dần được hoàn thiện Từ những điều kiện thuận lợi đó Việt Nam đangngày càng thu hút nhiều nhà đầu tư kinh doanh Trong thời gian qua, khôngthể phủ nhận những hiệu quả tích cực của những doanh nghiệp đem lại đốivới nền kinh tế, đời sống, xã hội của nước ta như tạo việc làm cho người laođộng, đóng góp thuế cho ngân sách nhà nước, tăng mức thu nhập cho ngườidân, xây dựng nhiều công trình vui chơi, giải trí, phúc lợi xã hội
Vì vậy, để điều tiết nền kinh tế, Nhà nước đã sử dụng nhiều công cụkhác nhau Một trong những công cụ sắc bén nhất và không thể thiếu nhưkhông thể thay thế được là pháp luật Do đó, Nhà nước đã liên tục tiến hànhnhững cải cách trong pháp luật để cải thiện môi trường kinh doanh trongnước
Trong nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh được coi là một trongnhững nguyên tắc cơ bản Không những vậy, nó còn là một trong nhữngquyền cơ bản của công dân, được thể hiện trong Hiến pháp nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Trong đó, quyền này trước hết thể hiện ởquyền thành lập doanh nghiệp Vì vậy, thủ tục đăng ký thành lập doanhnghiệp (trước đây gọi là đăng ký kinh doanh) là một nội dung, là một chế địnhquan trọng trong pháp luật doanh nghiệp Đây là thủ tục hành chính cho sự ra
Trang 7đời của một doanh nghiệp và có vai trò pháp lý và thông tin quan trọng đốivới các chủ thể trong nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của đăng ký thành lập doanh nghiệp,Đảng và Nhà nước đã và đang đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Điều đóđược thể hiện rõ nét ở việc ban hành các luật doanh nghiệp như Luật Công ty,Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990, Luật doanh nghiệp ngày12/6/1990, Luật doanh nghiệp 2005 và mới nhất là Luật doanh nghiệp 2014
Sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2014 với nhiều quy định mới tạo sựchuyển biến mạnh mẽ trong thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại ViệtNam được kỳ vọng sẽ đem lại tác động tích cực trong việc đơn giản hóa thủtục đăng ký thành lập doanh nghiệp và rút ngắn thời gian ra nhập thị trườngcủa doanh nghiệp Ở đây, cần thiết nghiên cứu cụ thể, sâu sắc các quy định vềđăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014, đặc biệt nhữngquy định liên quan đến “khuôn khổ pháp luật” để doanh nghiệp tự do thựchiện quyền đăng ký thành lập doanh nghiệp của mình
Trên thực tế, Luật Doanh nghiệp 2014 nói chung và những quy định vềthủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật này nói riêng được áp dụngtrong phạm vi cả nước, trong đó có tỉnh Quảng Ninh
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khởi nghiệp, QuảngNinh đã đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 phải có 25.000 doanh nghiệp.Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã có gần 18.000 doanh nghiệp đăng ký hoạtđộng, như vậy để hoàn thành mục tiêu, trong thời gian tới phải thành lập thêmgần 10.000 doanh nghiệp mới Đây được coi là nhiệm vụ vô cùng khó khăn,
do đó tỉnh Quảng Ninh đã và đang tập trung vận động thành lập, phát triển
Trang 8doanh nghiệp và đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó cóhoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, Quảng Ninh được coi là tỉnh đi đầu trong việc thực hiệncác thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt nhất để doanhnghiệp gia nhập thị trường với thời gian nhanh nhất Trong đó, trình tự, thủtục đăng ký thành lập doanh nghiệp được xem xét đầu tiên và góp phần phục
vụ doanh nghiệp trong phát triển kinh tế
Vì vậy, với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủquy định mới của pháp luật doanh nghiệp về trình tự, thủ tục thành lập doanhnghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh qua đó chỉ ra những điểm tích cực, điểmhạn chế của quy định pháp luật và kiến nghị hoàn thiện những quy định còn
chưa phù hợp nên em xin chọn đề tài luận văn: “Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ninh”.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Trong những năm gần đây, vấn đề pháp luật về trình tự, thủ tục đăng kýdoanh nghiệp đã được một số tác giả tìm hiểu, quan tâm nghiên cứu, tổnghợp Ở mỗi góc độ có cách thức nghiên cứu, đánh giá về Luật doanh nghiệp
2014 khác nhau Vì vậy, tùy theo chủ quan của từng tác giả mà có cách phântích, nhìn nhận khác nhau, mang tính cá nhân Đã có rất nhiều bài viết về phântích, đánh giá quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp Do đó, đây là một
đề tài nghiên cứu thực tiễn, góp phần xây dựng cơ sở lý luận về thực thi vềpháp luật đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Không chỉ vậy,luận văn còn chỉ ra những điểm vướng mắc, hạn chế trong việc áp
Trang 9dụng các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký doanh nghiệp theo luật doanh nghiệpViệt Nam – thực trạng và một vài kiến nghị” Người thực hiện: Lê Thế Phúc.Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Lan Hương Khoa Luật năm 2006 Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động đăng ký kinh doanh
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật ViệtNam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” Người thực hiện: Đinh Thị Kiều Oanh.Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Như Phát Học viện Khoa học xã hội2018
Những công trình nghiên cứu trên đây đã nêu và giải quyết những vấn
đề pháp lý về đăng ký doanh nghiệp nói chung trên toàn quốc và ở địa phương
cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, tiếp cận từ thực tiễncủa Tỉnh Quảng Ninh Do đó, đề tài nghiên cứu này hoàn toàn độc lập vàkhông trùng lặp với các đề tài nghiên cứu đã được công bố trước đó
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định và làm rõ các quy địnhcủa pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại ViệtNam Bên cạnh đó đánh giá thực trạng pháp luật, kiến nghị hoàn thiện quyđịnh pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tại ViệtNam ở một địa phương cụ thể là tỉnh Quảng Ninh
Đối tượng nghiên cứu là quy định pháp luật về trình tự, thủ tục đăng kýthành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam Cụ thể là Luật
Trang 10doanh nghiệp 2014 và thực tiễn trong hoạt động đăng ký kinh doanh tại tỉnhQuảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu và phântích những quy định về việc đăng ký đối với doanh nghiệp mới thành lập;phân tích và đánh giá những vấn đề liên quan đến hoạt động đăng ký thànhlập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và thực tiễn
áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh
Căn cứ pháp lý chủ yếu là dựa vào Luật Doanh nghiệp 2014 và các vănbản hướng dẫn luật (Nghị định 78//2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp,Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp)
4 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu pháp lý liên quan đến các vấn đề, cókết hợp so sánh, tổng hợp với thực tiễn để rút ra kết luận
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài của luận văn được nghiên cứu dựa trên những quy định của Luậtdoanh nghiệp 2014 với nhiều quy định mới mang tính cải cách trong thủ tụcđăng ký thành lập doanh nghiệp
Luận văn là bản phân tích những quy định pháp luật; chỉ ra những điểmmới, tiến bộ so với quy định pháp luật trước đây; đánh giá đầy đủ thực trạngpháp luật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
Kết quả luận văn mong muốn góp phần xác định những quy phạm phápluật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệpViệt Nam, đánh giá ưu điểm, nhược điểm của quy định pháp luật hiện hành từ
Trang 11thực tiễn tỉnh Quảng Ninh và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định phápluật về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phần kết luận thì kết cấu của luận vănnày gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký và trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại Quảng Ninh.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh.
Do thời gian nghiên cứu hạn chế, nội dung luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.1.Khái niệm về doanh nghiệp và đăng ký doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đầu tư thành lập doanh nghiệpđang là xu thế chung của các tổ chức, cá nhân kinh doanh Điều này xuất phát
từ tầm quan trọng của các doanh nghiệp được thể hiện ở chỗ: doanh nghiệp làđơn vị sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu chủ yếu của toàn xã hội
Do vây, để hiểu được khái niệm doanh nghiệp một cách toàn diện và sâu sắcnhất, ta phải xem xét từ góc độ kinh tế cũng như từ góc độ pháp lý
Ở góc độ kinh tế, doanh nghiệp là một loại hình tổ chức nên mang nhữngđặc điểm chung như bao gồm thành viên, có một cấu trúc rõ ràng để các thànhviên thực hiện nhiệm vụ công việc của mình Có thể nói đặc trưng riêng cócủa doanh nghiệp để phân biệt doanh nghiệp với các đơn vị khác như cơ quannhà nước, tổ chức xã hội… chính là mục tiêu mà doanh nghiệp luôn hướng tới
đó là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “doanh nghiệp” được pháp luật nhìnnhận với những đặc trưng riêng Theo Luật Công ty năm 1990, doanh nghiệp
được định nghĩa như là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” Theo định nghĩa này,
tất cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh sẽ được công nhận làdoanh nghiệp Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Công ty năm
1990 lại chưa thể hiện được những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp chođến khi Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và mới
Trang 13nhất là Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành và đưa ra một khái niệm
doanh nghiệp một cách cụ thể và đầy đủ hơn: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
1.1.2 Khái niệm đăng ký doanh nghiệp
Có thể nói rằng, sự hình thành của các doanh nghiệp là một quy luật tấtyếu khách quan của nền kinh tế Từ ý tưởng thành lập doanh nghiệp để thựchiện hoạt động kinh doanh, chủ thể kinh doanh cần tiến hành hoạt động đăng
ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thành lập hợp pháp doanh nghiệp.Đăng ký doanh nghiệp (hay có thể nói là đăng ký thành lập doanh nghiệp)chính là việc chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổchức kinh doanh Người thành lập doanh nghiệp trước hết phải chuẩn bị trụ
sở, trang thiết bị phục vụ kinh doanh, đội ngũ nhân công, người quản lý…
Tại Việt Nam, khái niệm đăng ký doanh nghiệp được ghi nhận đầu tiêntrong Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 và tiếp tục được ghi nhậntrong Luật Doanh nghiệp năm 2014 Tuy nhiên, khái niệm đăng ký doanhnghiệp cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau
Ở góc độ quản lý nhà nước, một trong những biện pháp quản lý nhànước về kinh tế đó là đăng ký thành lập doanh nghiệp Đăng ký thành lậpdoanh nghiệp là một trong những hoạt động quản lý đầu tiên của nhà nước đốivới doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để nhà nước có thể thực hiện cáchoạt động quản lý tiếp theo khi doanh nghiệp đi vào hoạt động Thông quaviệc đăng ký thành lập doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sẽ tiếp nhận được các
Trang 14thông tin cần thiết về một doanh nghiệp, từ đó việc quản lý các doanh nghiệpcũng sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn.
Dưới góc độ kinh tế, đăng ký doanh nghiệp là hoạt động khởi tạo doanhnghiệp của chủ đầu tư bao gồm các hoạt động đầu tiên tạo cơ sở vật chất cầnthiết để doanh nghiệp có thể tiến hành được hoạt động kinh doanh của mình
và các thủ tục pháp lý cần thiết để khai sinh hợp pháp ra doanh nghiệp đó
Ở dưới góc độ pháp lý, đăng ký thành lập doanh nghiệp là một trongnhững thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp, mức độ cải cách hành chính và thái độcủa Nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh, mà thủ tục pháp lý này có tínhđơn giản hay phức tạp khác nhau Nói cách khác, đăng ký thành lập doanhnghiệp là thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định để thành lập hợp phápdoanh nghiệp Với tư cách là một chế định pháp lý, đăng ký thành lập doanhnghiệp là tổng hợp các quy định do nhà nước ban hành, quản lý sự xuất hiệntrên thị trường của một chủ thể kinh doanh mới Theo đó, chủ thể trực tiếptiến hành hoạt động kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của phápluật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được Nhà nước công nhận vàbảo hộ bằng việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Đây là thủ tục pháp lý bắt buộc chung đối với tất cả các chủ thể khi tiếnhành hoạt động kinh doanh, là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứngnhận tư cách và khả năng kinh doanh cho chủ thể kinh doanh, đồng thờikhẳng định tư cách pháp lý và xác nhận địa vị pháp lý cho các chủ thể này
1.1.3 Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp.
Như đã nói ở trên, đăng ký thành lập doanh nghiệp là thủ tục “khai sinh”
ra doanh nghiệp Hay nói cách khác, tư cách của doanh nghiệp chỉ được thừa
Trang 15nhận và làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với doanh nghiệpkhi thông qua việc đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước: việc quy định về đăng ký thành lập doanh nghiệp làthể hiện sự bảo hộ của Nhà nước bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt độngkinh doanh nói chung và các chủ doanh nghiệp nói riêng được thể hiện quaviệc quy định việc đăng ký thành lập doanh nghiệp Đồng thời, Nhà nước sẽthực hiện chức năng quản lý cơ cấu các thành phần kinh tế xã hội, số lượng,hình thức, ngành nghề kinh doanh dựa trên địa bàn, kiểm soát các hoạt độngkinh doanh theo đường lối đã đề ra Trên cơ sở đó Nhà nước sẽ nắm bắt đượcthực trạng kinh tế của từng địa phương, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề để từ
đó có những chủ trương, chính sách, biện pháp khuyến khích hoặc điều chỉnhphù hợp, giúp Nhà nước can thiệp một cách kịp thời và có mức độ vào nềnkinh tế, bảo đảm có được một nền kinh tế hiện đại nhưng không xã rời chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã đặt ra Ngoài ra, thông qua hoạtđộng đăng ký thành lập doanh nghiệp, Nhà nước sẽ thu đúng và đủ thuế Bởikhi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng làthời điểm làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
Đối với chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp: sau khi được cấp Giấychứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp được thừa nhận vềmặt pháp lý, tức doanh nghiệp đã được xác lập tư cách chủ thể Do đó, doanhnghiệp có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh như đã đăng ký dưới sựbảo hộ của pháp luật Đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng chính là cơ sởpháp lý chắc chắn nhất để một doanh nghiệp yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo
vệ các quyền và lợi ích cũng như tài sản hợp pháp của mình, đồng thời bảođảm tính pháp lý đối với các hoạt động của mình trong quá trình tiến hànhhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi hiện nay phần lớn các doanh
Trang 16nghiệp không muốn thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan Nhà nước Nhưngkhi các chủ doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo yêu cầucủa Nhà nước đồng nghĩa với việc giúp cho những dự án kinh doanh màdoanh nghiệp đã hoạch định sẽ có tính khả thi cao hơn.
Về mặt xã hội: đăng ký thành lập doanh nghiệp còn giúp chủ thể doanhnghiệp thể hiện sự công khai hóa trước công chúng, khẳng định được việcthành lập của họ là có thực, tránh tình trạng lừa đảo, gây tổn hại tới lợi ích củabên thứ ba Thông qua việc giám sát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa chủ thể từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc phá sản của nhà nước cũnggóp phần ngăn ngừa hoạt động kinh doanh trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợiích cho các chủ thể khác trong trường hợp phá sản hoặc giải thể
Đăng ký thành lập doanh nghiệp còn có ý nghĩa kinh tế, khi bước vàohoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vừa có tư cách là một thành viên trong
cơ cấu các thành phần kinh tế, các hoạt động của doanh nghiệp còn góp phầntác động vào sự phát triển kinh tế của toàn xã hội
Như vậy, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quantrọng không chỉ bảo đảm quyền lợi của bản thân các doanh nghiệp mà còn có
ý nghĩa đối với việc bảo đảm trật tự quản lý Nhà nước và bảo vệ lợi ích chocác chủ thể khác trong xã hội Chính vì vậy, đăng ký thành lập doanh nghiệpvừa là một nhu cầu tất yếu, vừa đòi hỏi mang tính nghĩa vụ đối với một doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay
1.2 Những điều kiện đăng ký doanh nghiệp
1.2.1 Điều kiện về chủ thể
Một trong những quyền tự do cơ bản của công dân và được pháp luật bảo vệ là quyền thành lập doanh nghiệp, Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể
Trang 17trong xã hội đều có quyền thành lập doanh nghiệp Theo quy định của Luậtdoanh nghiệp 2014 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định
về đăng ký doanh nghiệp, việc thành lập, đăng ký kinh doanh và quản lýdoanh nghiệp tại Việt Nam, đây là quyền của cá nhân và tổ chức được Nhànước bảo hộ Pháp luật doanh nghiệp nghiêm cấm các cơ quan đăng ký kinhdoanh và các cơ quan khác gây phiền hà cho người thành lập doanh nghiệp 1
Luật doanh nghiệp 2005 đã có sự mở rộng chủ thể thành lập Doanhnghiệp là tổ chức, cá nhận nước ngoài và họ có quyền thành lập và quản lýdoanh nghiệp ở Việt Nam 2; đồng thời họ cũng có quyền góp vốn, mua cổphần đối với các công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty Hợp danh và công ty
Cổ phần3 Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn ghi nhận sự mở rộng chủ thể thànhlập Doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân nước ngoài Ngoài ra, Luật Doanhnghiệp 2014 đã quy định thông thoáng hơn, không có sự phân biệt, tách bạchgiữa chủ thể đăng ký thành lập doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nướcngoài nên pháp luật hiện hành không dành một điều để quy định về trình tự,thủ tục, điều kiện, nội dung cho việc đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu
tư nước ngoài lần đầu tại Việt Nam Về nguyên tắc, nhà đầu tư nước ngoàithực hiện quyền đăng ký doanh nghiệp như các chủ doanh nghiệp trong nước
Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định 06 đối tượngkhông được thành lập doanh nghiệp, đó là:
(1) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà
nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới
1 Điều 5 NĐ 78/2015/NĐ-CP, Điều 18 LDN 2014.
2 Khoản 1 điều 13 LDN 2005
3 Khoản 3 điều 13 LDN 2005
Trang 18mọi hình thức có từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần vào ítnhất một trong các mục đích sau đây: Chia dưới mọi hình thức cho một sốhoặc tất cả cán bộ, nhân viên của cơ quan, đơn vị; Bổ sung vào ngân sách hoạtđộng của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhànước; Lập quỹ hoặc bổ sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn
vị 4 Việc pháp luật quy định các chủ thể này không được tham gia thành lập
và quản lý doanh nghiệp là nhằm đảm bảo công khai, minh bạch trong huyđộng, sử dụng ngân sách nhà nước Đồng thời cũng góp phần ngăn chặn cáchành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước,gây thiệt hại cho nguồn ngân sách nhà nước
(2) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức, viên chức Theo điều 20 Luật Cán bộ công chức năm 2008 có quy định: “Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều
19 của Luật này, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan
đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền”.
Tại điểm b Khoản 1 Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng năm 2005
cũng không cho phép cán bộ, công chức được “thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Có thể thấy, các đối tượng này đều đang đảm nhiệm công việc
công, công việc ổn định, thường xuyên và được trả lương từ ngân sách nhànước để đảm bảo đời sống, có nghĩa vụ phải hết lòng, tận tâm phục vụ xã hội,
4 Khoản 3 Điều 14 NĐ 102/2010/NĐ-CP
Trang 19phục vụ nhân dân nên không thể dành thời gian thực hiện hoạt động kinhdoanh mang tính chất công việc tư Vì thế, pháp luật không cho phép cán bộ,công chức được thành lập doanh nghiệp là để tránh sự lạm quyền, nhập nhằnggiữa công việc chung và công việc tư, làm ảnh hưởng tới hiệu quả công việcđược giao Đồng thời ngăn ngừa vì tư lợi cá nhân mà lạm dụng quyền hạn củamình để làm phương hại đến lợi ích chung của xã hội, của Nhà nước.
(3) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp Những chủ thể này có
vai trò quan trọng, được Nhà nước đầu tư giáo dục, đào tạo chuyên môn,nghiệp vụ để thực hiện các nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội của quốc gia, được hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước Do vậy,việc tham gia thành lập doanh nghiệp có thể ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến
tư tưởng, hiệu quả công việc được giao nên pháp luật đã quy định cấm nhữngchủ thể này không được thành lập doanh nghiệp
(4) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác Đây là những người được Nhà
nước giao nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhữngdoanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Pháp luật quy địnhcấm những chủ thể này nhằm tạo điều kiện để họ tập trung vào công việcquản lý nhằm mang lại hiệu quả công việc cũng như để tránh sự tham nhũng,quan liêu của những cán bộ lãnh đạo trong việc sử dụng nguồn vốn nhà nước
Trang 20(5) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân.
Nói đến tư cách chủ thể là nói đến khả năng mà chủ thể có thể tham gia vàoquan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể độc lập, có khả năng tự mìnhthực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã thamgia.Một cá nhân có tư cách chủ thể đầy đủ, độc lập và hoàn thiện khi họ đã có
đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Năng lực pháp luật dân sự
là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự 5 Năng lực hành
vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự 6 Năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực
tự chịu trách nhiệm hành vi dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự Người chưathành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khả năngthực hiện các nghĩa vụ dân sự của họ cũng sẽ bị hạn chế
Tương tự, tổ chức không có tư cách pháp nhân, tức tổ chức không đượcthành lập theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan; không có
tổ chức theo quy định; không có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác
và không tự chịu trách nhiệm bằng tài sản; không được nhân danh mình thamgia quan hệ pháp luật một cách độc lập Vì vậy, pháp luật cấm những chủ thểnày không được thành lập doanh nghiệp bởi nếu tham gia thành lập đăng kýdoanh nghiệp sẽ dẫn đến nguy cơ hoạt động của doanh nghiệp không đượcđảm bảo
(6) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ
5 Khoản 1 Điều 16 BLDS 2015
6 Điều 19 BLDS 2015
Trang 21hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định về phá sản, phòng, chống tham nhũng Những cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình
phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cái nghiện bắt buộc, cơ sở giáodục bắt buộc là những cá nhân đã bị tước hoặc hạn chế một số quyền, nên khitham gia thành lập đăng ký doanh nghiệp sẽ không có điều kiện để thực hiệncác quyền và nghĩa vụ của họ và khi xảy ra tranh chấp hay các khoản nợ,những chủ thể này sẽ không thể đứng ra giải quyết được
So với Luật Doanh nghiệp 2005 quy định trường hợp thứ 07 không
được thành lập doanh nghiệp là “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản”, thì theo pháp luật doanh nghiệp hiện hành quy định
“các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng”.
Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định về điều kiện chủ thểđược đăng ký doanh nghiệp rõ ràng hơn, cụ thể hơn, phạm vi những chủ thể
bị cấm đăng ký thành lập doanh nghiệp mở rộng hơn, giúp nâng cao chấtlượng doanh nghiệp ngay từ khâu thành lập ban đầu, giúp các nhà đầu tư tiếnhành thành lập doanh nghiệp một các đúng pháp luật
1.2.2 Điều kiện về khách thể.
Một là, điều kiện về đặt tên doanh nghiệp
Đặt tên doanh nghiệp là vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng không nhỏtới hoạt động kinh doanh sau này của doanh nghiệp Tên doanh nghiệp là hìnhảnh thu hút khách hàng và là đặc trưng để nhận diện với các doanh nghiệpkhác Tên doanh nghiệp còn được hiểu đó là tên gọi của Doanh nghiệp đượcghi trong Giấy phép đăng ký kinh doanh, nhằm chủ yếu để phân biệt các
Trang 22doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Việc đặt tên doanh nghiệp phảiđược thực hiện, tuân thủ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 và Nghịđịnh số 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết vấn đề này.
Căn cứ theo quy định pháp luật, tên Tiếng Việt của doanh nghiệp baogồm hai thành tố 7, đó là:
(i) Tên loại hình doanh nghiệp Đối với công ty trách nhiệm hữu hạnphải viết là “công ty trách nhiệm hữu hạn” hoặc “công ty TNHH”; đối vớicông ty cổ phần viết là “công ty cổ phần” hoặc “công ty CP”; công ty hợpdanh viết là “công ty hợp danh” hoặc “công ty HD”; doanh nghiệp tư nhânviết là “doanh nghiệp TN” hoặc “DNTN”
(ii) Tên riêng của doanh nghiệp Tên riêng của Doanh nghiệp được viếtbằng các chữ cái trong bản chữ cái tiếng Việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và
ký hiệu 8 Ngoài ra, chủ thể đăng ký doanh nghiệp còn có thể đặt tên doanhnghiệp bằng tiếng nước ngoài Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài là tênđược dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh Khi dịch sang tiếng nước ngoài, tên riêng của doanh nghiệp có thể giữnguyên hoặc dịch theo nghĩa tương ứng sang tiếng nước ngoài Tên viết tắtcủa doanh nghiệp được viết tắt từ tên tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nước
ngoài 9
Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành, khi đặt tên doanhnghiệp, chủ thể đăng ký doanh nghiệp không được đặt tên doanh nghiệp trùnghoặc gây nhầm lẫn với tên của các doanh nghiệp khác đã đăng ký tại Cơ sở dữliệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những
7 Khoản 1 Điều 18 NĐ 78/2015/NĐ-CP
8 Khoản 1 điều 38 LDN 2014
9 Khoản 1, khoản 3 điều 40 LDN 2014
Trang 23doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên
bố doanh nghiệp bị phá sản 10
Ngoài những quy định về đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với têncủa doanh nghiệp đã đăng ký thì pháp luật doanh nghiệp còn quy định nhữngđiều cấm trong đặt tên doanh nghiệp như: tên doanh nghiệp dự kiến đăng kýkhông được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tênriêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vịhoặc tổ chức đó; không sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử,văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc; cũng như không được
sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá nhân đãđược bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ những trường hợpđược sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lýđó
Hai là, điều kiện về trụ sở doanh nghiệp.
Trụ sở doanh nghiệp là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp.Trụ sở chính của doanh nghiệp phải được đặt trên lãnh thổ Việt Nam và có địachỉ được xác định gồm số nhà, tên phố hoặc tên xã, phường, thị trấn, huyện,quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thỉnh, thành phố trực thuộc trungương; số điện thoại, số fax và thư điện tử 11 So với Luật doanh nghiệp 2005,thì doanh nghiệp không phải thực hiện việc thông báo mở cửa tại trụ sở chínhvới cơ quan đăng ký kinh doanh và quy định về trụ sở chính của doanh nghiệpcũng thông thoáng hơn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trongquá trình hoạt động kinh doanh của mình
10 Điều 39, điều 42 LDN 2014.
11 Điều 43 LDN 2014.
Trang 24Việc quy định rõ ràng như vậy sẽ giúp cơ quan đăng ký kinh doanhquản lý được doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp đăng ký thành lập ởđịa chỉ đó nhưng không hoạt động hoặc hoạt động không đúng địa chỉ đăngký.
Ba là, điều kiện về vốn góp
Vốn của doanh nghiệp là cơ sở vật chất, tài chính quan trọng nhất, làcông cụ để chủ doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh cụ thể củadoanh nghiệp Vốn có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ hoặc các tài sản khác
Góp vốn là việc cá nhân đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữuhoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn theo quy định phápluật có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sửdụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sảnkhác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
12 Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty Góp vốnbao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ củadoanh nghiệp đã được thành lập 13
Bốn là, quy định về con dấu
Con dấu được hiểu là một vật dụng tạo ra những dấu hiệu để phân biệtgiữa các tổ chức với nhau hoặc giữa các cá nhân với nhau Luật doanh nghiệp
2014 cho phép doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng vànội dung con dấu của doanh nghiệp Tuy nhiên, nội dung con dấu có hai yếu
tố thông tin bắt buộc thể hiện trên con dấu đó là: tên doanh nghiệp; Mã sốdoanh nghiệp và trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu
12 Khoản 4 điều 4 LDN 2005
13 Khoản 13 điều 4 LDN 2014
Trang 25con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổngthông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp 14 Sở dĩ pháp luật có quy địnhnày nhằm công bố công khai cho xã hội và bên thứ ba được biết về con dấucủa doanh nghiệp.
Quy định về con dấu cũng có sự khác nhau giữa Luật Doanh nghiệp vàLuật chuyên ngành mà cụ thể là Luật Công chứng 2014 Theo đó, đối với vănphòng Công chứng được sử dụng con dấu không có hình quốc huy, văn phòngđược khắc và sử dụng con dấu sau khi có quyết định thành lập, thủ tục, hồ sơxin khắc dấu, việc quản lý con dấu được thực hiện theo pháp luật về con
dấu15 Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp hiện nay quy định doanh nghiệp cótoàn quyền quyết định về nội dung, số lượng và hình thức con dấu Đối chiếuvới Luật Công chứng, trường hợp văn phòng Công chứng được thành lập theohình thức công ty hợp danh thì rõ ràng phải chịu sự điều chỉnh của LuậtDoanh nghiệp nhưng quy định trên hoàn toàn không có sự thống nhất vớiLuật Doanh nghiệp và dẫn chiếu tới Luật Doanh nghiệp
1.2.3 Điều kiện liên quan đến giới hạn quyền tự do kinh doanh
Hiến pháp 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Để thực hiện và thể chế
hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh này, theo quy định tại khoản 1 điều 7 Luật
doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp có quyền “Tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” Các chủ thể kinh doanh hoàn
toàn có thể loại trừ các ngành, nghề pháp luật cấm để thực hiện quyền tự dokinh doanh của mình đối với các ngành, nghề còn lại Ngành, nghề kinhdoanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi và mã hóa theo
14 Điều 44 LDN 2014
15 Khoản 5 điều 22 Luật Công chứng 2014
Trang 26ngành cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam Nội dung cụ thể củacác phân ngành này được thực hiện theo Quy định về nội dung ngành kinh tếViệt Nam do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành.
Khoản 1 điều 6 Luật đầu tư 2014 có quy định: “Cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây:
a) Kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 của Luật này;
b) Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại phụ lục 2 của Luật này;
c) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 của Luật này;
d) Kinh doanh mại dâm;
đ) Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người;
e) Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người.”
Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quanquy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề
đó khi có đủ điều kiện theo quy định và điều kiện kinh doanh áp dụng theocác quy định của các luật, pháp lệnh, nghị định chuyên ngành hoặc quyết định
có liên quan của Thủ tướng Chính phủ
Điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức như: Giấy phépkinh doanh; Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; Chứng chỉ hành nghề;
Trang 27chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; Xác nhận vốn pháp định;Chấp nhận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Các yêu cầu khác màdoanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền kinh doanh ngành,nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình thức nào của cơquan nhà nước có thẩm quyền Hiện tại, Luật đầu tư 2014 quy định chỉ có 6ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và 267 ngành, nghề thuộc diện kinhdoanh có điều kiện.
Khi doanh nghiệp thấy xuất hiện những cơ hội kinh doanh và nhận thấybản thân doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện kinh doanh đó, doanh nghiệp
có thể tiến hành hoạt động kinh doanh ngay Khi doanh nghiệp muốn bổ sungngành, nghề kinh doanh chỉ cần gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinhdoanh bổ sung ngành, nghề kinh doanh để cơ quan đăng ký kinh doanh ghinhận theo đúng quy định mà không phải cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp 16
1.3 Trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp
1.3.1 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Nhà nước xem xét quyết định một doanh nghiệp có được ra đời haykhông khi có đầy đủ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Đáp ứng yêu cầu của quyền
tự do kinh doanh, mà trực tiếp là quyền tự do thành lập doanh nghiệp, phápluật hiện hành đã quy định theo hướng đơn giản hóa và đề cao trách nhiệmcủa nhà đầu tư Về cơ bản, việc thành lập doanh nghiệp do các nhà đầu tư tựquyết định và tiến hành, Nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình thành lập doanhnghiệp ở giai đoạn đăng ký kinh doanh Do đó, hồ sơ đăng ký doanh nghiệpchủ yếu là các giấy tờ tài liệu do nhà đầu tư tự xây dựng
16 Điều 32 LDN 2014, Điều 49 NĐ 78/2015/NĐ-CP
Trang 28Để thành lập một doanh nghiệp, trước hết nhà đầu tư phải xác định, lựachọn được loại hình doanh nghiệp, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp lựachọn mà nhà đầu tư sẽ chuẩn bị một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phù hợp.
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014 đã được quy địnhmột cách chi tiết, cụ thể, được quy định thể hiện ở các điều sau: Điều 20 quyđịnh về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, điều 21 quyđịnh về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty hợp danh, điều 22 quy định
về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty trách nhiệm hữu hạn và điều 23quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty cổ phần
Thực chất, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ, tài liệuchứng minh cho các điều kiện thành lập doanh nghiệp Pháp luật doanhnghiệp hiện hành đã có những quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký doanh nghiệpcho các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, tùy thuộcvào bản chất cũng như điều kiện thành lập từng loại hình doanh nghiệp màpháp luật quy định những giấy tờ, tài liệu cần có trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp Có những loại hình doanh nghiệp khi thành lập cần có hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp đơn giản, nhưng cũng có những loại hình doanh nghiệp khithành lập cần có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phức tạp
Ví dụ như Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tư nhân rất đơn giản, chỉ đượcquy định trong điều 20 Luật doanh nghiệp 2014 và cụ thể hóa trong điều 21Nghị định 78/2015/NĐ-CP Theo đó, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tư nhân baogồm: Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và một số giấy tờ khác liên quanđến nhân thân của chủ doanh nghiệp 17 Trong khi đó, hồ sơ đăng ký công ty
cổ phần lại phức tạp hơn rất nhiều Hồ sơ đăng ký công ty cổ phần được quyđịnh tại điều 23 Luật doanh nghiệp gồm có: (i) Giấy đề nghị đăng ký doanh
17 Điều 20 LDN 2014
Trang 29nghiệp; (ii) Điều lệ công ty; (iii) Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông lànhà đầu tư nước ngoài; (iv) Bản sao các giấy tờ liên quan đến nhân thân của
cổ đông Tại điều 22 Nghị định 78/2015/NĐ-CP đã quy định cụ thể và chi tiếthơn về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần và công ty hợp danh
Cùng với việc quy định hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với doanhnghiệp mới thành lập, Nghị định 78/2015/NĐ-CP còn hướng dẫn cụ thể về Hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia,tách, hợp nhất và công ty nhận sáp nhập 18 và hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đốivới các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp 19 Để được cấp Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp phải xây dựng hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp và phải tự chịu trách nhiệm về tính trung thực cũngnhư tính chính xác của các thông tin đã kê khai trong hồ sơ đăng ký doanhnghiệp và các báo cáo Trong trường hợp người thành lập doanh nghiệp pháthiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phảinhanh chóng, kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó 20
Như vậy, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp như hiện nay đã có sự đơn giảnhóa tối đa về mặt thủ tục hành chính nhưng lại tương đối chặt chẽ và là cơ sở
để tăng cường công tác quản lý của Nhà nước và tính tự chịu trách nhiệm củangười thành lập doanh nghiệp Việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn
áp dụng thời gian qua đã phát huy những tác dụng tích cực trong đời sốngkinh tế của đất nước
18 Điều 24 NĐ 78/2015/NĐ-CP
19 Điều 25 LDN 2014
20 Khoản 7 Điều 8 LDN 2014
Trang 30Tuy nhiên, thủ tục đăng ký doanh nghiệp còn chưa áp dụng cho tất cảcác doanh nghiệp Việt Nam 21.Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2014 đã xác định
“Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của Luật đó” Tương ứng với điều luật trên thực
tế một công ty chứng khoán chỉ cần Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấyphép hoạt động và tuân thủ các điều kiện của Luật Chứng khoán là đủ màkhông cần phải để ý tới quy định của Luật Doanh nghiệp Hệ quả là nhiều quyđịnh của Luật Doanh nghiệp bị vô hiệu hoá bởi Luật chuyên ngành
1.3.2 Cơ quan đăng ký kinh doanh
Hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh có một vai trò quan trọng trongpháp luật về thành lập doanh nghiệp Sau khi hoàn thành hồ sơ đăng ký thànhlập doanh nghiệp với các điều kiện được pháp luật quy định, người đăng kýthành lập doanh nghiệp tiến hành đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệptheo quy định Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có được thực hiện tốthay không tùy thuộc rất nhiều vào hệ thống cơ quan có thẩm quyền đăng kýkinh doanh Hệ thống cơ quan đó có được tổ chức hợp lý và chặt chẽ haykhông, có nhiệm vụ, quyền hạn như thế nào trong hoạt động đăng ký kinhdoanh
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của cơ quan đăng ký kinh doanh được quyđịnh tại Khoản 2 Điều 209 Luật doanh nghiệp 2014 và theo Nghị định số78/2015/NĐ-CP thì cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức ở tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương và quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh baogồm:
21 TS Trần Thanh Nghị, Pháp luật Doanh nghiệp trong mối liên hệ với cải cách hành chính ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2014.
Trang 31- Ở cấp tỉnh: Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư(sau đây gọi chung là Phòng đăng ký kinh doanh) Phòng đăng ký kinh doanh
có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Phòng đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh
- Ở cấp huyện: Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấphuyện thực hiện nhiệm vụ đăng ký hộ kinh doanh quy định tại Điều 15 củanghị định này (sau đây gọi chung là cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện)
Riêng đối với hai thành phố là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cóthể thành lập thêm một hoặc hai Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh và đượcđánh số theo thứ tự Việc thành lập thêm Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh
do ủy ban nhân dân thành phố quyết định sau khi thống nhất với Bộ kế hoạch
và đầu tư
Trên thực tế, mặc dù pháp luật đã có quy định khá cụ thể song hệ thống
cơ quan đăng ký kinh doanh hiện hành chưa được tổ chức thành một hệ thốngtrong phạm vi cả nước, chưa có một cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý đốivới tất cả các cơ quan đăng ký kinh doanh trong phạm vi cả nước Thẩm quyềncấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các loại hình công ty và doanhnghiệp tư nhân thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nhưng một số văn bảnchuyên ngành lại không quy định như vậy dẫn tới tình trạng có nhiều cơ quancùng có thẩm quyền đăng ký kinh doanh Bên cạnh Phòng Đăng ký kinh doanhcấp tỉnh còn có Bộ Tài chính, Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Sở Tư pháp, Bộ
Thông tin truyền thông 22…Ví dụ: theo Luật Chứng khoán thẩm quyền cấp giấyphép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
do Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp
22 Ths Trương Vĩnh Xuân, Điều kiện thành lập doanh nghiệp nhìn từ góc độ quyền tự do kinh
doanh trong dự thảo Luật doanh nghiệp sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18(274)-kỳ 2 tháng 9/2014.
Trang 32Hoặc doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề kinh doanh bảo hiểm do Bộ Tàichính cấp giấy phép thành lập và hoạt động Một dẫn chứng khác theo LuậtCông chứng, văn phòng Công chứng thành lập theo hồ sơ, trình tự tại Sở Tưpháp, tương tự như vậy khi thành lập công ty luật hợp danh hoặc công ty luậttrách nhiệm hữu hạn thì nộp hồ sơ, trình tự, thủ tục tại Sở Tư pháp có nghĩa là
Sở Tư pháp có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động Quy địnhnày cũng được tìm thấy trong Luật Đấu giá tài sản 2016 mới được ban hànhthẩm quyền cấp Giấy đăng ký hoạt động cho doanh nghiệp đấu giá tài sảnthuộc về Sở Tư pháp Tiếp đó Luật Xuất bản cũng là một ví dụ để cho thấy sựkhông thống nhất về thẩm quyền, theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 Luật nàynhà xuất bản có thể tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp kinhdoanh do Nhà nước là chủ sở hữu Việc thành lập Nhà xuất bản thực hiện theo
hồ sơ quy định tại Điều 13 và gửi lên Bộ Thông tin và Truyền thông, trongthời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Thông tin và Truyền thôngphải cấp giấy phép thành lập nhà xuất bản
Sự thống nhất pháp luật điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp làmong muốn của các nhà đầu tư, nhưng đến nay, vẫn ngày càng nhiều cơ quan
có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động Luật Doanh nghiệp
2014 cũng chỉ quy định chung chung mà chưa có sự giải thích rõ và tách bạchgiữa “tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh của các ngành, nghề kinh doanh
có điều kiện” và “tổ chức đăng ký kinh doanh và thực hiện quản lý doanh
nghiệp theo các nội dung đăng ký doanh nghiệp” 23
23 Ths Trương Vĩnh Xuân, Điều kiện thành lập doanh nghiệp nhìn từ góc độ quyền tự do kinh
doanh trong dự thảo Luật doanh nghiệp sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18(274)-kỳ 2 tháng 9/2014.
Trang 33Có thể thấy rằng thẩm quyền đăng ký kinh doanh đã và đang bị phântán cho nhiều cơ quan, rất dễ dẫn tới sự chồng chéo trong việc cấp phép vàquản lý các chủ thể kinh doanh.
Trang 34Tiểu kết chương 1
(i) Ở Việt Nam tồn tại hai thuật ngữ có chung một nội hàm, đó là “đăng
ký kinh doanh” và “đăng ký doanh nghiệp” Đăng ký doanh nghiệp được hiểu
là hoạt động pháp lý, bao gồm hành vi của chủ thể khi trực tiếp tiến hành hoạtđộng kinh doanh phải khai báo theo đúng quy định của pháp luật với các nộidung cụ thể và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kinhdoanh tiến hành ghi tên vào sổ đăng ký kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh cho chủ thể đăng ký kinh doanh
(ii) Pháp luật đăng ký doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật doanhnghiệp Đồng thời, là một tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập doanh nghiệp giữa ngườithành lập doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(iii) Nội dung của pháp luật doanh nghiệp chủ yếu được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp 2014 về điều kiện và thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp
2.1.1 Các quy định về trình tự đăng ký doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp 2014, trình tự đăng ký doanh nghiệp gồm babước, cụ thể:
Bước thứ nhất, người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy
quyền gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh theoKhoản 1 Điều 27 Luật doanh nghiệp 2014 Hồ sơ đăng ký kinh doanh phảiđược nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh (Phòng đăng ký kinh doanhthuộc Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh) nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Khi tiếnhành nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh có thể nộp trựctiếp một bộ hồ sơ bằng giấy lên Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc tiếnhành đăng ký doanh nghiệp thông qua mạng điện tử Đăng ký doanh nghiệpqua mạng điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng
ký doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia24.Người thành lập doanh nghiệp kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, chữ ký
số hoặc xác thực hồ sơ và thanh toán lệ phí qua mạng điện tử Hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp nộp qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia có giátrị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy trực tiếp tại Phòng đăng ký kinhdoanh cấp tỉnh
24 Khoản 1 điều 27 NĐ 43/2010/NĐ-CP
Trang 36Sau khi người thành lập doanh nghiệp hoặc người ủy quyền của ngườithành lập doanh nghiệp nộp hoàn thành một bộ hồ sơ hợp lệ thì cơ quan đăng
ký kinh doanh sẽ tiến hành tiếp nhận hồ sơ Đồng thời cơ quan đăng ký kinhdoanh sẽ ghi vào sổ tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của cơ quan mình
và giao giấy biên nhận về việc tiếp nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ Đối vớiđăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử, người thành lập doanh nghiệp sẽnhận được giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.Thời điểm cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lậpdoanh nghiệp của người thành lập doanh nghiệp được coi là căn cứ để xácđịnh thời gian thực hiện trách nhiệm đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng
ký kinh doanh Vì thế mà giấy biên nhận về việc tiếp nhận hồ sơ là cơ sở pháp
lý để chủ thể đăng ký doanh nghiệp có thể thực hiện quyền khiếu nại củamình trong trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh không tiến hành việcđăng ký doanh nghiệp theo đúng thời hạn
Bước thứ hai, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ tiến hành xem xét, kiểm
tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và ra quyết định cấp haykhông cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau khi tiếp nhận hồ sơđăng ký doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh phải tiến hành kiểm tratính hợp lệ của hồ sơ và nhập đầy đủ, chính xác các thông tin trong hồ sơđăng ký doanh nghiệp vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanhnghiệp Trong trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì phải có thông báo bằng văn bản chochủ thể thành lập doanh nghiệp biết và phải nêu rõ lý do, và các yêu cầu sửađổi, bổ sung nếu có
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi có
đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 điều 28 Luật doanh nghiệp 2014 Nội
Trang 37dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bao gồm: Tên doanh nghiệp và
mã số doanh nghiệp; Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; Vốn điều lệ;Thông tin và các giấy tờ chứng minh, chứng thực cá nhân hợp pháp của thànhviên doanh nghiệp
Như vậy, Luật doanh nghiệp 2014 đã bãi bỏ nội dung về ngành, nghềkinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhằm phù hợp với
quy định của Điều 33 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.
Bước thứ ba, công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp Đây là một
trong những thủ tục bắt buộc trong quy trình đăng ký doanh nghiệp được quyđịnh tại Điều 33 Luật doanh nghiệp 2014 Theo đó, sau khi được cơ quanđăng ký kinh doanh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanhnghiệp phải tiến hành thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia vềđăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và phải trả phí theo quy định
Nội dung công bố bao gồm các nội dung Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp và các thông tin về ngành, nghề kinh doanh, danh sách cổ đôngsáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần Việcthông báo công khai này vừa là để quảng bá sự xuất hiện của doanh nghiệptrên thương trường, vừa là để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với hoạtđộng của doanh nghiệp Do vậy, nó vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm củamỗi doanh nghiệp
Đối với đăng ký thành lập doanh nghiệp qua mạng điện tử, quy trìnhthực hiện được quy định cụ thể tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP Theo đó,người thành lập doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp hồ sơ theo trình tự cácbước hướng dẫn cụ thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh
Trang 38nghiệp Sau khi hoàn thành việc gửi hồ sơ đăng ký qua Cổng thông tin quốcgia về đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp sẽ nhận đượcGiấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.
Cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ tiếp nhận hồ sơ, xem xét hồ sơ, hướngdẫn sửa đổi, bổ sung hồ sơ và thông báo kết quả giải quyết thủ tục đăng kýdoanh nghiệp qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Đối vớitrường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, thì sau khi
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được chấp thuận, doanh nghiệp sẽ phải in Giấyxác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trên Cổng thôngtin này Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xácnhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòngđăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Sau khi nhậnđược Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử củadoanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét cấp Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp
Như trước đây, để thành lập hợp pháp doanh nghiệp, chủ thể thành lậpdoanh nghiệp phải trải qua nhiều thủ tục, qua lại giữa nhiều cơ quan có thẩmquyền đăng ký kinh doanh, gây tốn kém nhiều chi phí và thời gian cho các thủtục hành chính Khi Luật doanh nghiệp 2014 ban hành và có hiệu lực, việc ápdụng mô hình một cửa trong đăng ký doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợitối đa cho doanh nghiệp nhanh chóng ra nhập thị trường
2.1.2 Các quy định về thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong sự hình thành cũng như sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp Do
đó, thủ tục đăng ký doanh nghiệp là một trong những vấn đề mà giới kinh
Trang 39doanh, nhà đầu tư quan tâm Đây là một thủ tục có vai trò quan trọng trong sựhình thành doanh nghiệp, bởi nó mang tính chất pháp lý, thể hiện sự côngnhận của Nhà nước với sự ra đời của một thực thể kinh doanh.
Tại điều 27 Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định về trình tự thủ tụcđăng ký doanh nghiệp và đã được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp Theo quy định, người thành lậpdoanh nghiệp có thể tự mình nộp bộ hồ sơ hoặc ủy quyền cho người khác(như luật sư, tư vấn pháp lý ) thay mặt mình nộp hồ sơ đăng ký doanh
nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh tại địa phương nơi doanh nghiệp dựđịnh đặt trụ sở chính 25
Để thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệpphải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Khoản 2điều 27 Nghị định 78/2015/NĐ-CP và hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được tiếpnhận để nhập thông tin vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanhnghiệp
Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanhgiao Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ Sau đó, Phòngđăng ký kinh doanh sẽ nhập đầy đủ, chính xác các thông tin có trong hồ sơđăng ký doanh nghiệp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và tải các văn bản trong
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp sau khi được số hóa vào Hệ thống thông tin quốc
gia về đăng ký doanh nghiệp 26
Phòng đăng ký kinh doanh phải thực hiện việc cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp sau khi nhận đầy đủ hồ sơ đăng kýkinh doanh hợp lệ và thực hiện việc đăng tải thông tin của doanh nghiệp vào
25 Khoản 1 điều 27 LDN 2014, Khoản 1 điều 27 NĐ 78/2015/NĐ-CP
26 Khoản 3, khoản 4 điều 27 NĐ 78/2015/NĐ-CP
Trang 40hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Thời hạn cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp được Phòng đăng ký kinh doanh thực hiệntrong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ 27.
Đối với trường hợp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp không hợp lệhoặc tên doanh nghiệp yêu cầu đăng ký không đúng theo quy định, Phòngđăng ký kinh doanh sẽ phải thông báo rõ những nội dung cần sửa đổi, bổ sungbằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết trong thời hạn 03 ngàylàm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ Phòng đăng ký kinh doanh phải ghi toàn
bộ yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với mỗi một bộ
hồ sơ do doanh nghiệp nộp trong một Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp 28
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, theo quyđịnh tại Điều 33 Luật doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp phải công bố côngkhai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, thời hạn thôngbáo công khai các thông tin về doanh nghiệp là 30 ngày kể từ ngày được côngkhai
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc thựchiện đăng ký doanh nghiệp, đồng thời kế thừa và hoàn thiện các quy định vềđăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử được quy định tại Nghị định43/2010/NĐ-CP, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP vềđăng ký doanh nghiệp, trong đó có nội dung về đăng ký qua mạng điện tử.Việc đăng ký qua mạng điện tử được xem như một công cụ tiện lợi, hiệu quả,góp phần giảm thiểu thời gian thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, làmminh bạch hóa công tác đăng ký doanh nghiệp và cũng đồng thời hỗ trợ cơ
27 Khoản 2 điều 27 LDN 2014, Khoản 1 điều 28 NĐ 78/2015/NĐ-CP
28 Khoản 2 điều 28 NĐ 78/2015/NĐ-CP