Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hìnhthành hay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NAM GIANG
TRÌNH TỰ THỦ TỤC, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NAM GIANG
TRÌNH TỰ THỦ TỤC, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Phạm Nam Giang, Học viên cao học đợt 1 -2017 chuyên ngành
Luật Kinh tế tại Học viện Khoa học xã hội, xin cam đoan luận văn “Trình tự thủ tục, giải thể doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp ở
Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân
tôi Kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tác giả thực hiện
Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân khácđược tham khảo, sử dụng, trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồngốc một cách trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung đã camđoan ở trên
Tác giả luận văn
Phạm Nam Giang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP 9
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp 9
1.2 Các hình thức giải thể doanh nghiệp 22
1.3 Trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp 24
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 Pháp luật Việt Nam về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp 30
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay 39
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn 46
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 62
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 62
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay 63
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam 69
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam đã cóbước phát triển đột phá, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội, gópphần quyết định vào phục hồi tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, trong một vòng đời của mình, doanh nghiệp sẽ phải trải quanhiều giai đoạn khác nhau từ khi ra đời, phát triển tới lúc chấm dứt hoạt động.Khi gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể tạm ngưng hoạt động sản xuất, kinhdoanh để tìm kiếm các biện pháp khôi phục “năng lực sản xuất”, cải thiện tìnhtrạng xấu Đến một thời điểm, khi không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh,doanh nghiệp phải chấm dứt sự tồn tại bằng hai hình thức chủ yếu là giải thếhoặc phá sản
Khi rơi vào tình trạng buộc phải giải thể, bản thân doanh nghiệp sẽ phảiđối mặt với nhiều khó khăn cần phải giải quyết như: đảm bảo thanh toán cácnghĩa vụ trả nợ, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động, mối quan
hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp Trong diễn biến thị trường kinh tếthế giới có nhiều biến động bất thường, nền kinh tế Việt Nam sẽ chịu ảnhhưởng không nhỏ, đồng nghĩa với áp lực duy trì sự tồn tại và phát triển doanhnghiệp ngày càng lớn và nhu cầu thực hiện thủ tục giải thể tăng lên đáng kể
Năm 2014 là một năm của cải cách thể chế với hàng loạt thay đổi khácnhau đối với môi trường kinh doanh và sự phát triển cộng đồng doanh nghiệptrong năm 2015 Trong đó, sự hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp
số 68/2014/QH13 (Luật Doanh nghiệp 2014), Luật Đầu tư số 67/2014/QH13
Trang 6về mặt lý luận và thực tiễn Luật Doanh nghiệp 2014 chính thức có hiệu lựcvới những quy định mới đã góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh thuậnlợi hơn nữa cho doanh nghiệp từ các thủ tục gia nhập thị trườngcho đến trình
tự thủ tục giải thể doanh nghiệp
Tuy nhiên thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động giải thểdoanh nghiệp vẫn tồn tại những hạn chế và gặp phải một số khó khăn, vướngmắc nhất định Cần phải được xem xét, nghiên cứu để tìm ra giải pháp khắcphục và hoàn thiện trong thời gian tới Xuất phát từ thực tiễn cùng với quátrình tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả quyết định lựa chọn đề tài
“Trình tự thủ tục, giải thể doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu để thực hiện luận văn thạc sỹ.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Pháp luật về vấn đề giải thể doanh nghiệp Việt Nam và những nội dungliên quan tuy đã được một số học giả nghiên cứu nhưng với số lượng khôngnhiều Có thể kể đến một số nhóm công trình nghiên cứu như:
Luận văn thạc sĩ: Ths Hoàng Thị Huế, “Giải thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần JM”, (2013), Đại
học Quốc gia Hà Nội: Tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận về giải thể doanhnghiệp, các quy định của pháp luật Việt Nam về giải thể doanh nghiệp và thựctiễn áp dụng tại một công ty cổ phần [2] Nội dung của luận văn không nghiêncứu sâu về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định của pháp luậtViệt Nam và chỉ nghiên cứu trên phạm vi nhỏ hẹp là tại một công ty cổ phần.Tuy nhiên, những cơ sở lý luận của luận văn, cách tiếp cận nghiên cứu củaluận văn trên rất có ích đối với công trình nghiên cứu của tác giả
- Chuyên đề nghiên cứu: Đỗ Tiến Thịnh, Chuyên đề Giải thể doanh nghiệp – Thực trạng và kiến nghị (2014), Cục quản lý kinh doanh,
Trang 7Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tập trung nghiên cứu về vấn đề giải thể doanhnghiệp, đặc biệt chú trọng đến thực trạng và kiến nghị Tuy nhiên, chỉ dừnglại ở hình thức chuyên đề nên nội dung không nghiên cứu sâu về các quy địnhpháp luật cũng như trình tự thủ tục, thực tiễn áp dụng mà chỉ tập trung và thựctrạng giải thể và kiến nghị Những ý kiến, nội dung của kiến nghị trongchuyên đề là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với luận văn của tác giả.
Một số bài viết: TS Nguyễn Thị Dung, Bài viết Thực trạng pháp luật về giải thể doanh nghiệp, một số đánh giá và kiến nghị, Tạp chí Luật học số 10 (2012) [1]; Nguyễn Thị Diễm Hường, Pháp luật về giải thể doanh nghiệp, thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Công thương số 7-tháng 7(2016)…Các bài
viết của các tác giả chủ yếu đánh giá về thực trạng pháp luật giải thể doanhnghiệp và nêu ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật.Phạm vi đánh giá hoạt động áp dụng pháp luật của các bài viết là rất rộng, đốivới toàn bộ hoạt động giải thể doanh nghiệp Những nội dung đánh giá này vàcác kiến nghị được đề xuất trong các bài viết rất có ích đối với luận văn củatác giả khi đánh giá việc áp dụng pháp luật về trình tự, thủ tục giải thể doanhnghiệp
Bên cạnh đó, một số đề tài phân tích và giáo trình các trường đại học đã
đề cập tới đề tài này như:
- Giáo trình Luật thương mại – Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luậtkinh tế - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội: Trình bày các nội dung khái quát
về luật thương mại Việt Nam, pháp luật về doanh nghiệp tư
nhân và hộ kinh doanh cá thể, pháp luật về công ty, pháp luật về doanh nghiệpnhà nước, tổ chức quản lý công ty nhà nước, quyền và nghĩa vụ của chủ sởhữu doanh nghiệp nhà nước đối với công ty nhà nước và đối với vốn nhà nước
Trang 8đồng mua bán hàng hóa, mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, pháp luật vềdịch vụ trung gian thương mại, pháp luật về xúc tiến thương mại của thươngnhân, đấu giá hàng hóa và đấu thầu hàng hóa dịch vụ, pháp luật về vậnchuyển giao nhận và giám định hàng hóa Pháp luật về sở hữu công nghiệptrong hoạt động thương mại, khái quát về phá sản và pháp luật phá sản, thủtục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, các phương thức giải quyết tranh chấpthương mại, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại [12],[13].
Như vậy, vấn đề về giải thể doanh nghiệp được nghiên cứu trong giáotrình luật thương mại là rất ít, chỉ mang tính khái quát, tổng quát, khôngchuyên sâu về nhiều nội dung, về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp Tuynhiên, với các nội dung cơ bản của giáo trình, sẽ góp phần giúp tác giả có cơ
sở lý luận khi nghiên cứu và thực hiện luận văn
Luật thương mại Việt Nam dẫn giải (tác giả Lê Tài Triển) và một số bàibáo, công trình nghiên cứu khác trên các tạp chí, trang web của Bộ tư pháp,Cục Quản lý đăng ký kinh doanh
Về mặt lý luận và thực tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo phong phú và
có giá trị lớn đối với luận văn của bản thân tác giả, đối với các học giả, cácdoanh nghiệp, tổ chức và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam
Luật Doanh nghiệp 2014 mới có hiệu lực từ ngày 01/07/2015, các côngtrình nghiên cứu hiện nay vẫn chưa đi sâu vào những đổi mới của thủ tục giảithể doanh nghiệp hiện tại Do đó, luận văn là những cập nhập, đánh giá nhữngmặt tích cực và hạn chế của những quy định pháp luật được ghi nhận trongLuật Doanh nghiệp 2014 nhằm bổ sung, hoàn thiện thủ tục giải thể doanhnghiệp trên quan điểm cá nhân
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Giải thể doanh nghiệp là việc các chủ doanh nghiệp chấm dứt hoạtđộng kinh doanh và sự tồn tại của doanh nghiệp; đồng thời tiến hành làm cácthủ tục pháp lý với cơ quan quản lí có thẩm quyền về việc giải thể, nhằm mụcđích chấm dứt tư cách pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ liên quan đến doanhnghiệp đó
Xét từ một khía cạnh khác, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sựtồn tại của doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩmquyền với điều kiện doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác
Bằng việc tìm hiểu các quy định pháp luật doanh nghiệp hiện hành, kếthợp với quá trình nghiên cứu những điểm đổi mới từ hướng dẫn trong các vănbản pháp lý, tác giả sẽ hệ thống được cáctrình tự thủ tục giải thể doanh nghiệptheo quy định pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tại công trìnhnghiên cứu này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nêu trên, những nhiệm vụ cần được triển khai xuyên suốttrong quá trình thực hiện luận văn như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp, trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp
- Những điểm đổi mới của Luật Doanh nghiệp 2014 đối với trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp
- Thực tiễn triển khai trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp tại Việt
- Đánh giá và kiến nghị đối với những bất cập khi thực thi quy
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn củatrình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp theo phápluật Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, các kinh nghiệm về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp tạimột số quốc gia trên thế giới cũng được sử dụng để làm bài học khi áp dụngtại Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi như sau:
- Các quy địnhvề trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp của Luật doanh nghiệpViệt Nam sửa đổi bổ sung 2014và các quy định, văn bản pháp luật có liên quan
- Thực tiễn giải thể doanh nghiệp của một số doanh nghiệp Việt
Tất cả các điểm của phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiệnkhi kết hợp nó với việc sử dụng một phương pháp cụ thể Ngược lại cácphương pháp cụ thể muốn phát huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu củaphương pháp chung
Trang 11Luận văn được nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với hệ thống các văn bản,
quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục giải thể doanh nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: các
phương pháp luận logic, phương pháp phân tích, các phương pháp bình luận,
đối chiếu, so sánh, thống kê, hệ thống, phương pháp chứng minh, phương pháp
lịch sử đã được sử dụng nhiều trong nghiên cứu về thực trạng pháp luật về
trình tự trình tự thủ tục giả thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay
- Thực hiện thống kê số liệu các doanh nghiệp tiến hành thủ tục giải thể và cácchỉ số thông tin liên quan So sánh, đối chiếu các thông tin cùng một vấn đề Từ đó có sựđánh giá khách quan về tính khả thi của việc áp dụng quy định pháp luật và những bất cậptrên thực tế
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văntrình bày đầy đủ những thông tin vềtrình tự thủ tục hành
chính trongthủ tục giải thể doanh nghiệp của Việt Nam hiện nayĐồ.ng
thời, luận văn chỉ ra những điểm mớiđã được cải cách, sửa đổi trong Luật
doanh nghiệp 2014 và những vấn đề còn tồn tại cần phải tiếp tục sửa đổi
bổ sung
Hiện nay, trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp ở nước ta được khối
doanh nghiệp đánh giá là có chuyển biến đáng kể và đã đạt được những điểm
sáng so với trước đây Tuy vậy, một số vấn đề còn tồn tại trong các quy định
về giải thể doanh nghiệp cũng như trong thực tiễn thi hành cần được tiếp tục
nghiên cứu xem xét, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, đặc biệt là trong bối cảnh
hiện nay, khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh
Trang 12phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh
nghiệp, trong đó có thủ tục hành chính về giải thể doanh nghiệp
Các quy định về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp không chỉ tạo cơ sở pháp lý để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại Tuy nhiên, trên thực tế khâu triển khai thủ tục giải thể của doanh nghiệp hiện nay còn những bất cập hoặc vướng mắc đòi hỏi cần được nghiên cứu, đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết khó khăn vướng mắc, để hoàn thiện các văn bản luật, tạo hành lang pháp
lý kinh doanh thông thoáng, thuận lợi và minh bạch hơn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tham khảo hữu ích cho việcnghiên cứu về thủ tục giải thể nói chung và quá trình triển khai thực tế khi ápdụng Luật doanh nghiệp 2014 nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được sắp xếp rất cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trình tự thủ tục, giải thểdoanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trình tự thủ tục, giải thể doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trongthực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC,
GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế của một quốc gia thì vịtrí và vai trò của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Doanh nghiệp góp phầntạo ra của cải vật chất cho xã hội Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ củakhoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin thì các hình thức tổ chức doanhnghiệp cũng ngày càng đa dạng với nhiều hình thức sở hữu, do đó cách tiếpcận và định nghĩa về khái niệm doanh nghiệp cũng có sự khác nhau nhất định
Dưới góc độ kinh tế, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tếđược thành lập nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và lấy hoạt động kinhdoanh làm nghề chính
Thực chất thì doanh nghiệp là khái niệm chung nhất để chỉ các loạihình doanh nghiệp, trong đó công ty là một loại hình doanh nghiệp và nó rấtphổ biến Trên thế giới, so với các loại hình doanh nghiệp khác, thì công tyxuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19và đặc biệt trong nửa đầu thế
kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất Nhiều nướctrên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập luật doanh nghiệp, đã thiên về quy định
tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty
Theo quan điểm của các nước tư bản, công ty là một tổ chức kinh tếđược thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụcủa công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty Công ty
Trang 14thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn
và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước Như vậy, dù định nghĩa ởgóc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là công ty, thìhình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế vàmục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh
Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” Như vậy,doanh nghiệp được xác lập bằng thủ tục thành lập và
đăng ký kinh doanh, có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ pháp luật và
có quyền tự chủ trong các hoạt động kinh doanh
Từ các cách hiểu trên, có thể khái niệm về doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường, thông qua đó
để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Từ khái niệm trên, ta thấy doanh nghiệp bao gồm các đặc trưng cơ bảnsau:
Thứ nhất, doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai chứcnăng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình khép kíntrong hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động lẻ tẻ và mang tính cá biệtkhông phải là đặc trưng của doanh nghiệp Chỉ khi một tổ chức kinh tế thựchiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu dùng một cáchchuyên nghiệp, liên tục, thường xuyên, lâu dài thì tổ chức đó mới có thể đượccoi là một doanh nghiệp
Thứ hai, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, là một mô hìnhnhất định do các thương nhân, nhà đầu tư lập ra trên cơ sở sự liên kết, tổ
Trang 15chức để tìm kiếm lợi nhuận.Phần lớn doanh nghiệp được thành lập nhằm mụcđích kinh doanh, mua bán hàng hóa tạo lợi nhuận hoặc cung ứng dịch vụ hoặc
cả hai để phục vụ lợi ích người tiêu dùng Tuy nhiên, cũng có một số doanhnghiệp đặc thù, thành lập và hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Cácdoanh nghiệp này đa phần là doanh nghiệp công ích hoặc doanh nghiệp xãhội, do Nhà nước thành lập và chủ sở hữu, thực hiện các hoạt động vì lợi íchcủa cộng đồng và xã hội
Thứ ba, doanh nghiệp có mục tiêu kinh tế cơ bản là lợi nhuận tối đa,muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải tìm cách thoả mãn nhu cầu ngườitiêu dùng ngày càng tốt hơn Chỉ có tìm các biện pháp đáp ứng được các nhucầu của người tiêu dùng tốt hơn, tối đa hóa được chi phí mà vẫn đảm bảođược chất lượng của sản phẩm, hàng hóa thì mới có thể đạt được mục tiêu làlợi nhuận tối đa Có như vậy, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển lâu dài
Thứ tư, doanh nghiệp làm ăn kinh doanh trong cơ chế thị trường, chấpnhận cạnh tranh tồn tại và phát triển Đây là quy luật khách quan trong sự vậnđộng và phát triển của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triểnthì hoạt động cạnh tranh là điều tất yếu
Thứ năm, doanh nghiệp có tính tổ chức và có tính hợp pháp được thểhiện ở chỗ doanh nghiệp được thành lập luôn có cơ cấu nhân sự, có bộ máy tổchức điều hành, có trụ sở giao dịch hoặc đăng ký và có tài sản riêng để quản
lý Trụ sở của doanh nghiệp là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp,nơi tiến hành hoạt động kinh doanh, nơi doanh nghiệp giao dịch với các bên
có liên quan và để xác định các mối quan hệ với cơ quan Nhà nước Trụ sởdoanh nghiệp cũng là nơi để các cơ quan quản lý thực hiện chức năng kiểmtra, giám sát Để có thể tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp cần có tài sản Do
Trang 16doanh nghiệp Số tài sản của các thành viên góp vào tạo thành tài sản củadoanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp nhân, tham gia hoạtđộng kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình thì đều phải đăng
ký một cách hợp pháp Pháp luật nhiều nơi quy định về trình tự, thủ tục đăng
ký hoặc công nhận một tổ chức là doanh nghiệp Việc đăng ký thực hiệnthông qua thủ tục “hai chiều”, tức là chủ sở hữu khi muốn thành lập doanhnghiệp phải nộp hồ sơ xin cấp phép, và cơ quan quản lý nhà nước, khi chấpthuận bộ hồ sơ ấy thì ban hành giấy phép thành lập doanh nghiệp Một khidoanh nghiệp được “cấp phép”, nó đương nhiên được thừa nhận ra đời, đượcpháp luật bảo hộ và phải chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp lý có liênquan Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh nghiệp xin phép đăng
ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà nước ghi nhận sự hìnhthành hay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể hiện
ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thựcthể độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài
sản riêng của mình
1.1.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp phảinhững khó khăn khiến doanh nghiệp phải ngừng hoạt động sản xuất kinhdoanh hoặc chấm dứt sự tồn tại của mình Việc ngừng hoạt động sản xuấtkinh doanh trong một thời gian nhất định chỉ là dạng tạm thời rút lui khỏi thịtrường Còn việc doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động sản xuất kinhdoanh và chấm dứt sự tồn tại của mình là việc doanh nghiệp hoàn toàn rút luikhỏi thị trường Giải thể doanh nghiệp chính là một dạng chấm dứt sự tồn tạicủa doanh nghiệp vĩnh viễn Thường thì doanh nghiệp bị giải thể khi hoạtđộng kinh doanh đã đạt được những mục tiêu đã đặt ra hoặc bị giải
Trang 17thể theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các doanhnghiệp bị giải thể thường là do gặp phải khó khăn khiến doanh nghiệp khôngthể tiếp tục sản xuất kinh doanh mà phải lựa chọn bị giải thể Đó là điều màkhông người chủ doanh nghiệp nào mong muốn, bởi mỗi doanh nghiệp đều lànhững đứa con tinh thần của họ, nhưng do những khó khăn, hoặc do quy địnhpháp luật mà buộc phải thực hiện giải thể.
Vậy, giải thể doanh nghiệp có thể được hiểu là việc doanh nghiệp tiến hành các thủ tục pháp lý về giải thể, nhằm chấm dứt tư cách pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ liên quan của doanh nghiệp.
Hay nói cách khác, giải thể doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chấmdứt hoạt động kinh doanh do đã đạt được những mục tiêu mà các thương nhânkinh doanh đã đặt ra hoặc bị giải thể theo quy định của pháp luật Nghĩa làbản thân doanh nghiệp có thể tự mình quyết định việc giải thể doanh nghiệphoặc bị buộc phải tiến hành giải thể theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền khi vi phạm một trong các quy định pháp luật đặt ra
Đối với trường hợp doanh nghiệp tự mình chấm dứt sự tồn tại củamình, lí do giải thể phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn của doanh nghiệp.Điều này đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sở hữu của chủ doanh nghiệp.Giải thể doanh nghiệp trước hết là quyền của các chủ sở hữu doanh nghiệp,bởi họ tự nguyện góp vốn thành lập doanh nghiệp thì họ cũng là người cóquyền tự thoả thuận việc giải thể doanh nghiệp Các chủ sở hữu doanh nghiệpvới tư cách là người “khai sinh” ra doanh nghiệp thì cũng có quyền “khai tử”cho doanh nghiệp khi cần Các chủ sở doanh nghiệp cùng nhau bàn bạc, thỏathuận và đi đến quyết định chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Nó có hiệulực bắt buộc thực hiện đối với tất cả các thành
Trang 18viên, cổ đông trong doanh nghiệp, kể cả những người không tham gia giaokết, không biểu quyết tán thành.
Với trường hợp doanh nghiệp bị buộc phải chấm dứt sự tồn tại củamình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền bằng hình thức giải thể thìđược hiểu là khi doanh nghiệp rơi vào một trong các trường hợp pháp luậtquy định, cơ quan Nhà nước sẽ yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp phải raquyết định giải thể Như vậy, việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trongtrường hợp này là phụ thuộc vào ý chí của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Ý chí đó được thể hiện thông qua việc yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp thựchiện thủ tục giải thể
Tóm lại, về bản chất thì giải thể doanh nghiệp chính là một sự thỏathuận hoặc hành vi pháp lý đơn phương trước pháp luật và nhà nước để chấmdứt sự tồn tại của doanh nghiệp, việc chấm dứt sự tồn tại này phụ thuộc vào ýchí của bản thân doanh nghiệp hoặc ý chí của cơ quan có thẩm quyền
Từ khái niệm giải thể doanh nghiệp, ta có thể rút ra một số các đặctrưng cơ bản sau:
Một là, giải thể doanh nghiệp là quá trình diễn ra với các hoạt động
thanh lý tài sản, thanh toán nợ và hoạt động pháp lý thực hiện thủ tục hànhchính để "xóa tên” doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh, là một quátrình với những hoạt động nhằm chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, đểdoanh nghiệp rút lui khỏi thị trường
Hai là, nguyên nhân giải thể doanh nghiệp khá đa dạng, có thể xuất
phát từ vi phạm pháp luật của doanh nghiệp hoặc ý chí tự nguyện của chủdoanh nghiệp Nhưng thường thì doanh nghiệp giải thể khi chủ đầu tư không
có nhu cầu tiếp tục kinh doanh hoặc kinh doanh thua lỗ nhưng chưa đến mức
độ mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Hoặc lý do vi phạm pháp
Trang 19luật của doanh nghiệp cùng với việc bị áp dụng chế tài đình chỉ hoạt động vàrút giấy phép sẽ dẫn đến trường hợp giải thể bắt buộc, ví dụ như trường hợpkhai man hồ sơ đăng ký doanh nghiệp,kinh doanh trái phép, số lượng thànhviên giảm dưới mức tối thiểu mà không xử lý khắc phục trong thời gian luậtđịnh
Ba là, doanh nghiệp chỉ thực hiện thủ tục giải thể để rút khỏi thị trường
khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ, thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản.Nếu mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp thuộc trườnghợp áp dụng Luật Phá sản để chấm dứt hoạt động Như vậy, có thể nói, khảnăng thanh toán của doanh nghiệp là yếu tố quyết định việc doanh nghiệp rútkhỏi thị trường thông qua thủ tục giải thể hay phá sản
Bốn là, chủ sở hữu doanh nghiệp là người quyết định việc giải thể
doanh nghiệp Cơ quan đăng ký kinh doanh không có thẩm quyền đồng ý hayphản đối việc giải thể mà chỉ xem xét tính hợp lệ của hồ sơ giải thể khi không
có khiếu nại về việc giải thể thì sẽ quyết định cập nhật tình trạng “đã giải thể”của doanh nghiệp trên cổng thông tin quốc gia đăng ký doanh nghiệp (trướcđây gọi là chấp thuận hồ sơ giải thể và xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng kýkinh doanh)
Đối với các trường hợp giải thể bắt buộc, chủ sở hữu doanh nghiệpbuộc phải quyết định giải thể doanh nghiệp trên cơ sở quyết định đình chỉhoạt động, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan cóthẩm quyền hay quyết định của Toà án Trong trường hợp này, mặc dù khôngtrực tiếp ra quyết định giải thể nhưng về bản chất, có thể coi cơ quan nhànước có thẩm quyền là chủ thể quyết định giải thể doanh nghiệp, vì chủ sởhữu doanh nghiệp ra quyết định giải thể mà không xuất phát từ tự do ý chí củamình
Trang 20Như vậy, giải thể doanh nghiệp thể hiện được tính chủ động cho mỗidoanh nghiệp trước tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình vì giải thểdoanh nghiệp có yếu tố tự quyết của chủ doanh nghiệp Thủ tục giải thể doanhnghiệp bản chất lại là thủ tục hành chính nên thời gian giải quyết một vụ giảithể có thể sẽ ngắn và đơn giản hơn.
Doanh nghiệp giải thể chỉ đơn thuần là giải quyết dứt điểm tình trạngcông nợ, thanh lý tài sản chia cho các cổ đông, trả giấy phép Giám đốc doanhnghiệp giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành công ty mới Doanhnghiệp giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản vẫn có thể chuyểnsang một ngành nghề kinh doanh khác nếu có thể Đối với nền kinh tế, giảithể có tác dụng tích cực sắp xếp lại sản xuất theo hướng có hiệu quả hơn.Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, thích ứngvới môi trường kinh doanh thường xuyên biến động hiện nay
1.1.3 Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, chấm dứt sự tồn tại khi được tổchức lại doanh nghiệp hoặc bị phá sản Đối với mỗi trường hợp, bản chấtchung là chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, nhưng vẫn có những đặctrưng riêng cơ bản, giúp phân biệt giữa các trường hợp với nhau, những ưuđiểm, nhược điểm cụ thể để doanh nghiệp có thể lựa chọn, quyết định chomình hình thức phù hợp trong trường hợp được quyền quyết định Cụ thể:
- Phân biệt giải thể doanh nghiệp với chấm dứt tồn tại khi tổ chức lại doanh nghiệp
Các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm: chia, tách, sáp nhập,hợp nhất và chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
Trang 21Chia doanh nghiệp, là trường hợp một doanh nghiệp (công ty TNHHhoặc công ty cổ phần) được chia thành một số doanh nghiệp cùng loại Khichia doanh nghiệp, công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mớiđược đăng ký kinh doanh.
Tách doanh nghiệp, là trường hợp một doanh nghiệp (công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần) thành lập một hoặc một số doanhnghiệp mới cùng loại (bằng cách chuyển một phần tài sản của doanh nghiệphiện có hoặc chuyển một phần quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị táchsang doanh nghiệp được tách) Khi tách doanh nghiệp thì một hoặc một sốdoanh nghiệp mới được thành lập nhưng không chấm dứt tồn tại của doanhnghiệp bị tách
Hợp nhất doanh nghiệp, là trường hợp hai hoặc một số doanh nghiệp(công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) cùng loạihợp nhất thành một doanh nghiệp mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp hợp nhất Khi hợpnhất doanh nghiệp thì một doanh nghiệp mới được thành lập, đồng thời chấmdứt tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất
Sáp nhập doanh nghiệp, là trường hợp một hoặc một số doanh nghiệp(công ty cổ phần, công ty trách nhiện hữu hạn, công ty hợp danh) cùng loại cóthể sáp nhập vào một doanh nghiệp khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp nhận sáp nhập Khisáp nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp mới không được thành lập (doanhnghiệp được sáp nhập vẫn tồn tại) nhưng các doanh nghiệp bị sáp nhập sẽchấm dứt sẽ tồn tại Doanh nghiệp nhận sáp nhập được hưởng các quyền vàlợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợpđồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị sáp nhập
Trang 22Chuyển đổi doanh nghiệp, là trường hợp chuyển đổi qua lại giữa cácloại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển đổithành công ty cổ phần hoặc ngược lại; doanh nghiệp tư nhân có thể đượcchuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn (chuyển đổi hình thức pháplý) Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được chuyển đổi chấm dứt tồntại; doanh nghiệp chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịutrách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụtài sản khác của doanh nghiệp được chuyển đổi.
Như vậy, các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp về bản chất là dochính chủ sở hữu doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạtđộng kinh doanh
Thứ nhất, về chủ thể quyết định.
Đối với giải thể doanh nghiệp thì chủ thể quyết định là chủ doanhnghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua quyết định thu hồiGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Khi doanh nghiệp bị thu hồi Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì buộc phải tiến hành giải thể Đối với tổchức lại doanh nghiệp thì chủ thể quyết định là chủ doanh nghiệp Như vậy,chủ thể quyết định đối với trường hợp giải thể doanh nghiệp ngoài chủ doanhnghiệp trong trường hợp tự nguyện thì còn có thể là cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ hai, về nguyên nhân quyết định.
Nguyên nhân của việc tổ chức lại doanh nghiệp chỉ duy nhất xuất phát
do ý chí của chủ doanh nghiệp, nhà nước không có thẩm quyền can thiệpbuộc doanh nghiệp phải tổ chức lại, mà Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý vềmặt thủ tục hành chính khi doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện tổ chức lạidoanh nghiệp
Thứ ba, mục đích khi tiến hành thủ tục.
Trang 23Việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trong trường hợp này sẽ cólợi hơn đối với chủ doanh nghiệp.
Thứ tư, về thời điểm hoàn thành thủ tục.
Đối với tổ chức lại doanh nghiệp, trong trường hợp chia, hợp nhất, sápnhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng sẽ bị chấm dứt tồn tại nhưng khôngthể xem đây là thời điểm hoàn thành thủ tục mà thủ tục này chỉ được coi làhoàn thành khi các doanh nghiệp mới được thành lập
Trang 24Thứ năm, về hậu quả pháp lý.
Đối với giải thể doanh nghiệp, sau khi hoàn thành thủ tục thì doanhnghiệp được xem là đã chấm dứt sự tồn tại của mình, các quyền và nghĩa vụcủa doanh nghiệp không được kế thừa, chủ doanh nghiệp chỉ phải chịu tráchnhiệm pháp lý nếu việc giải thể doanh nghiệp thực hiện không đúng phápluật
- Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp
Các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào làphá sản, phá sản doanh nghiệp mà chỉ giải thích khi nào thì doanh nghiệp/hợp tác xã được coi là “lâm vào tình trạng phá sản”
Như vậy, phá sản dù chưa định nghĩa thống nhất nhưng về cơ bản được
sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệphoặc cá nhân
Giải thể doanh nghiệp thực chất đó là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạtđộng của doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩmquyền với điều kiện doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác Giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp đều
là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp Tuy nhiên, giữa giải thể vàphá sản doanh nghiệp về cơ bản là khác nhau:
Thứ nhất, về nguyên nhân của hiện tượng: Giải thể doanh nghiệp xuất
phát từ nhiều lý do như chủ doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanhhoặc hết thời hạn kinh doanh hoặc đã hoàn thành được mục tiêu đã định hoặckhông thể tiếp tục kinh doanh vì làm ăn thua lỗ Hoặc doanh nghiệp phải tiếnhành giải thể theo yêu cầu quản lý nhà nước khi mà doanh nghiệp không còn
đủ điều kiện tồn tại theo luật định hoặc có vi phạm pháp luật Trong khi đó,phá sản doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ việc doanh
Trang 25nghiệp lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợđến hạn khi chủ nợ có yêu cầu 2, tr.14.
Thứ hai, về chủ thể quyết định giải thể: Giải thể doanh nghiệp về cơ
bản là theo quyết định của chủ doanh nghiệp Khi doanh nghiệp rơi vào cáctrường hợp giải thể thì chủ doanh nghiệp trực tiếp hoặc thông qua người đạidiện theo ủy quyền đối với trường hợp chủ sở hữu là tổ chức tiến hành thủ tục
ra quyết định giải thể Trên cơ sở quyết định giải thể này doanh nghiệp sẽ tiếnhành các thủ tục để giải thể Đối với hình thức giải thể bắt buộc theo ý chí củanhà nước thì sau đó chủ doanh nghiệp vẫn là chủ thể ra quyết định giải thể vàtiến hành thủ tục giải thể Trong khi đối với phá sản doanh nghiệp thì chỉ cóTòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định mở thủ tục phá sản vàtuyên bố phá sản
Thứ ba, về trình tự, thủ tục thực hiện: Giải thể doanh nghiệp là một thủ
tục hành chính, chủ yếu do cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện còn phá sản
là một thủ tục tư pháp do Tòa án thực hiện
Thứ tư, về điều kiện tiến hành: Giải thể chỉ được tiến hành khi doanh
nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ của doanh nghiệp Còn phásản được áp dụng khi doanh nghiệp khi mất khả năng thanh toán nợ Do mấtkhả năng trả nợ nên các khoản nợ chỉ được thanh toán trong phạm vi giá trịtài sản còn lại của doanh nghiệp
Thứ năm, về thủ tục thanh lý tài sản: Khi giải thể, doanh nghiệp sẽ
thanh toán tất cả các khoản nợ nên doanh nghiệp sẽ chủ động và có thể trựctiếp đứng ra thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ Lúc này, cơ quan trung gian
là Tổ quản lý, thanh lý tài sản (do Tòa án quyết định thành lập) sẽ có thẩmquyền quản lý phần tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản và thực hiệnthanh toán cho các chủ nợ 24
Trang 26Thứ sáu, về chế tài đối với người chịu trách nhiệm quản lý điều hành doanh nghiệp: Trong trường hợp doanh nghiệp bị giải thể thì người quản lý
điều hành doanh nghiệp không bị giới hạn về quyền thành lập và quản lýdoanh nghiệp, vì nguyên nhân giải thể doanh nghiệp có thể là xuất phát từ ýchí của chủ doanh nghiệp
Thứ bảy, về hệ quả pháp lý của thủ tục: Có những trường hợp chỉ dẫn
đến sự thay đổi chủ doanh nghiệp mà thôi thông qua việc mua lại toàn bộdoanh nghiệp để tiếp tục sản xuất kinh doanh hoặc Tòa án áp dụng thủ tụcphục hồi hoạt động kinh doanh và quyết định đình chỉ thủ tục phá sản củadoanh nghiệp nếu thủ tục phục hồi kinh doanh có hiệu quả, khi đó doanhnghiệp vẫn sẽ tiếp tục tồn tại
1.2 Các hình thức giải thể doanh nghiệp
1.2.1 Hình thức giải thể tự nguyện
Giải thể tự nguyện là quyền của nhà đầu tư đối với việc rút lui khỏi thịtrường kinh doanh, một trong các nhóm quyền của quyền tự do kinh doanh.Việc giải thể mà do chính doanh nghiệp quyết định trong quá trình tiến hànhhoạt động của mình khi thấy rằng việc tồn tại của doanh nghiệp là không còncần thiết Giải thể doanh nghiệp tự nguyện được áp dụng đối với các trườnghợp sau:
- Ban đầu, lúc thành lập doanh nghiệp các thành viên đã thỏa thuận,kết ước với nhau và sự thỏa thuận, kết ước này được biểu hiện bằng điều lệ công
ty Điều lệ công ty là bản cam kết của các thành viên về thành lập, hoạt động củacông ty trong đó có thỏa thuận về thời hạn hoạt động của công ty Khi hết thời hạnhoạt động đã ghi trong điều lệ, nếu các thành viên không muốn xin gia hạn hoạtđộng thì doanh nghiệp đương nhiên phải tiến hành giải thể
Trang 27- Đây là trường hợp xuất phát từ ý chí, sự thỏa thuận giữa các thànhviên trong doanh nghiệp Khi các thành viên xét thấy việc tham gia doanh nghiệpkhông còn có lợi thì họ có thể thỏa thuận để yêu cầu giải thể doanh nghiệp.
1.2.2 Hình thức giải thể bắt buộc
Giải thể bắt buộc là việc giải thể do cơ quan nhà nước yêu cầu doanhnghiệp phải tiến hành giải thể Đó là khi điều kiện cho sự tồn tại của doanhnghiệp không còn nữa hoặc là khi doanh nghiệp có sự vi phạm pháp luật mà
sự tồn tại của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội, ảnhhưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác Giải thể bắt buộc được áp dụngtrong các trường hợp sau:
- Để thành lập doanh nghiệp thì phải có đủ số lượng thành viên tốithiểu, đó cũng là một trong những điều kiện pháp lí để doanh nghiệp tồn tại vàhoạt động Pháp luật quy định số lượng thành viên tối thiểu cho mỗi loại hìnhdoanh nghiệp là khác nhau Khi không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu thì đểtiếp tục tồn tại doanh nghiệp phải kết nạp thêm các thành viên
cho đủ số lượng tối thiểu Thời hạn để doanh nghiệp thực hiện việc kết nạpthêm thành viên là 6 tháng kể từ ngày không còn đủ số lượng thành viên tốithiểu Nếu doanh nghiệp không kết nạp thêm thành viên đúng quy định vàđúng thời hạn thì doanh nghiệp phải giải thể
- Trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì mới chính thức hoạtđộng được Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là căn cứ pháp lí không thể thiếucho sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp Khi doanh nghiệp vi phạm cácquy định của pháp luật và bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì doanhnghiệp không thể tiếp tục tồn tại và hoạt
động mà buộc phải giải thể theo yêu cầu của cơ quan đăng kí kinh doanh
Trang 28Đối với cả hai hình thức giải thể bắt buộc hay giải thể tự nguyện thìdoanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ vànghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không đang trong quá trình giải quyếttranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài Người quản lý có liên quan vàdoanh nghiệp theo quy định cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa doanh nghiệp.
Các quy định hiện hành về giải thể doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý
để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, quan trọng hơn, nó còn bảo vệ quyềnlợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và ngườilao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại
1.3 Trình tự thủ tục, giải thể doanh nghiệp
1.3.1 Quyết định giải thể doanh nghiệp
Quyết định giải thể chính là tuyên bố chính thức của doanh nghiệp vềviệc doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động, là cơ sở pháp lý đầu tiên trong quátrình thực hiện thủ tục giải thể doanh nghiệp Trên cơ sở quyết định giải thể,các bước tiếp theo của thủ tục giải thể sẽ được tiến hành Chính vì tính chấtquan trọng như thế nên quyết định giải thể phải chặt chẽ về hình thức, đầy đủ
về nội dung
Đối với trường hợp “giải thể tự nguyện”, trước hết doanh nghiệp cần
tổ chức họp để thông qua quyết định giải thể
Quyết định này thể hiện sự nhất trí của các thành viên về các vấn đềliên quan đến lý do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toáncác khoản nợ; phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động
và việc thành lập tổ thanh lý tài sản
- Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp;
- Lý do giải thể;
Trang 29Sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp được thông qua, doanhnghiệp phải thông báo cho những người có quyền và lợi ích liên quan đếnhoạt động giải thể doanh nghiệp biết về quyết định giải thể.
Đối với trường hợp “giải thể bắt buộc”, Cơ quan đăng ký kinh doanh
thông báo tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thôngtin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồiGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyếtđịnh giải thể của Tòa án đã có hiệu lực thi hành
1.3.2 Thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công
ty, Hội đồng quản trị trực tiếp tổ chức thanh lý tài sản doanh nghiệp, trừtrường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ chức thanh lý riêng
Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau:
(1) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
(2) Nợ thuế;
(3) Các khoản nợ khác.
Đối với việc thanh toán các khoản nợ thì đây là vấn đề rất phức tạp,nên cần phải có quy định trình tự phù hợp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích củanhững người liên quan.Pháp luật quy định về thứ tự thanh toán các khoản nợcủa doanh nghiệp như trên là hợp lý, đảm bảo được quyền và lợi ích chínhđáng của những người cần được thanh toán nợ
Đối với nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định củapháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao độngtập thể và hợp đồng lao động đã ký kết, được ưu tiên thanh toán trước tiên khi
Trang 30luôn là đối tượng ở vị thế yếu trong quan hệ lao động, luôn cần được bảo vệtrong các mối quan hệ lao động Trong đó, sự bảo vệ, bảo đảm về lợi ích vậtchất, về các khoản tiền lương, tiền công, trợ cấp thôi việc, các quyền lợi íchkhác trong quá trình lao động, đặc biệt là trong trường hợp doanh nghiệp giảithể chính là việc làm thiết thực, có ý nghĩa nhất Thực hiện tốt được điều này,người lao động sẽ có niềm tin vào doanh nghiệp, vào các chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy người lao động tiếp tục cống hiến vàsáng tạo hơn trong công việc, đồng thời góp phần thu hút được nhiều nguồnlao động, nhiều nhà đầu tư đến với thị trường Việt Nam.
Sau các khoản nợ thanh toán cho người lao động, thì doanh nghiệp phảithực hiện thanh toán nợ thuế, đây là khoản nợ thể hiện trách nhiệm của doanhnghiệp đối với Nhà nước và đối với toàn dân Doanh nghiệp được phép sửdụng các lợi ích công cộng, được hoạt động, kinh doanh trong môi trườnglành mạnh thì việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ thuế là điều đương nhiên.Việc đảm bảo doanh nghiệp phải thanh toán nợ thuế khi giải thể là đảm bảo
sự công bằng về việc thực hiện nghĩa vụ xã hội
Và cuối cùng, khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ thanh toán nợ theothứ tự trên thì lúc này doanh nghiệp mới xem xét thanh toán các khoản nợkhác, như là các khoản nợ đối với các khách hàng, các khoản nợ đối với chủđầu tư…Đây là các khoản nợ được xem xét và xử lý sau cùng, bởi lẽ, cáckhoản nợ này không mang tầm quan trọng và có ý nghĩa quyết định như đốivới các khoản nợ người lao động và nợ thuế của Nhà nước
1.3.3 Hoàn tất thủ tục giải thể doanh nghiệp
Thủ tục giải thể chỉ được xem là hoàn thành khi cơ quan đăng ký kinhdoanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh Để hoàn tất thủthục giải thể thì doanh nghiệp phải hoàn thành các nghĩa vụ của mình Cácnghĩa vụ đó bao gồm nghĩa vụ đối với nhà nước, nghĩa vụ theo hợp
Trang 31đồng, nghĩa vụ đối với người lao động Các nghĩa vụ này do chính doanhnghiệp chủ động tự thực hiện trên cơ sở đảm bảo chứng minh với cơ quanđăng ký kinh doanh về việc thực hiện đó thông qua hồ sơ đăng ký kinh doanh,
cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành kiểm tra, nếu hồ sơ hợp lệ sẽ xóa têndoanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh – khi đó doanh nghiệp xem nhưgiải thể
Để hoàn tất thủ tục giải thể doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp
luật phải nộp hồ sơ giải thể, gửi hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh
doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thanh toán hết các khoản
nợ của doanh nghiệp Hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm giấy tờ sau:Thông báo về giải thể doanh nghiệp; Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp;danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ
về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, người lao động sau khi quyết địnhgiải thể doanh nghiệp (nếu có); Con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu (nếucó); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người nàyphải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưanộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu tráchnhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinhdoanh
Trường hợp giải thể theo hồ sơ, thì sau khi nhận được hồ sơ giải thểcủa doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh gửi thông tin về việc doanhnghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể
từ ngày nhận được thông tin của cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuếgửi ý kiến về việc giải thể của doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh
Trang 33Tiểu kết chương
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo rasản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường, thông qua đó đểtối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợichính đáng của người tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể phải chấmdứt sự tồn tại của mình bằng cách giải thể doanh nghiệp do sự thỏa thuận hoặc
vi phạm pháp luật Trong quá trình xem xét đối với doanh nghiệp, yếu tố tàisản, khả năng thanh toán của doanh nghiệp là yếu tố quyết định việc doanhnghiệp rút khỏi thị trường thông qua thủ tục giải thể hay phá sản
Giải thể doanh nghiệp có thể được thực hiện bằng hình thức tự nguyệnhoặc bị bắt buộc Hình thức giải thể doanh nghiệp và các trường hợp chấmdứt hoạt động khác của doanh nghiệp có những điểm khác nhau đặc trưng cơbản Mặt khác, trong giải thể doanh nghiệp bằng hình thức tự nguyện và giảithể doanh nghiệp bằng hình thức bắt buộc cũng có những điểm khác nhaunhất định Do đó, đòi hỏi, khi quyết định và thực hiện trình tự thủ tục tiếnhành giải thể doanh nghiệp có những điều cần hết sức chú ý
Đó là nội dung nghiên cứu cơ bản của chương 1 Việc nghiên cứu cơ sở
lý luận, các vấn đề liên quan đến giải thể doanh nghiệp sẽ là tiền đề phục vụcho quá trình nghiên cứu nội dung chương 2 về thực tiễn áp dụng các quyđịnh pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC, GIẢI THỂ
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Pháp luật Việt Nam về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp
2.1.1 Pháp luật Việt Nam về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp khi
bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án
Giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án được quy định tạiĐiều 203 Luật doanh nghiệp 2014 Việc quy định này xuất phát từ việc đảmbảo tính pháp chế tuyệt đối trong việc áp dụng luật Doanh nghiệp được thànhlập ra nhằm mục đích kinh doanh, có các quyền được thừa nhận và được bảo
vệ nhưng đồng thời cũng phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quyđịnh Trong quá trình hoạt động, nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cácnghĩa vụ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì doanh nghiệp sẽ chịu tráchnhiệm pháp lý cũng như các chế tài nhất định Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh chính là loại giấy tờ quan trọng nhất của doanh nghiệp, có được giấynày, chứng tỏ Nhà nước công nhận doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh
và có thẩm quyền kinh tế
Bị thu hồi giấy chứng nhận kinh doanh cũng có nghĩa là Nhà nước rútlại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanh đối với doanh nghiệp Lúc này,doanh nghiệp không còn thẩm quyền kinh tế, nghĩa là không còn được tiếnhành các hoạt động kinh doanh, mục đích của việc thành lập doanh nghiệpkhông có cơ hội để thực hiện nữa Đối với doanh nghiệp thì chế tài thu hồiGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp là cao nhất
Trang 35được áp dụng Khi doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp buộc phải tiến hành thủ tục giải thể.
- Khi tiến hành đăng ký kinh doanh người thành lập doanh nghiệpphải gửi một bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đầy đủ tới cơ quan đăng ký kinhdoanh có thẩm quyền Đồng thời, người thành lập doanh nghiệp phải chịu tráchnhiệm về tính trung thực, chính xác của các nội dung nêu trong hồ sơ đăng kýthành lập doanh nghiệp Tính hợp lệ của hồ sơ ở đây chính là hồ sơ đăng ký doanhnghiệp phải đầy đủ các loại giấy tờ quy định Nếu sau khi được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh mà cơ quan chức năng phát hiện nội dung kê khai trong
hồ sơ đăng ký kinh doanh là gian dối, giả mạo thì doanh nghiệp phải gánh chịu cáchậu quả pháp lý Một trong các hậu quả đó là việc bị thu hồi Giấy chứng nhậnđăng ký kinh
doanh
- Nghĩa là doanh nghiệp được thành lập bởi những tổ chức cá nhângồm: Cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụngtài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quanđơn vị mình; Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyênnghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam Cán bộ lãnhđạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừnhững người được cử làm dại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của nhànước tại doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lựchành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; Người đang chấp hành hìnhphạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh; Các trường hợp khác theoquy định của pháp luật về phá sản
Trang 36- Doanh nghiệp đã ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà khôngthông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế Doanh nghiệpvới tư cách là một tổ chức kinh tế, khi tham gia vào môi trường kinh doanh tựchủ tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi pháp luật cho phépnhưng đồng thời cũng phải chịu sự quản lý nhất định của cơ quan nhà nước.
Do vậy, khi doanh nghiệp không tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanhmột năm liên tục thì sẽ có nghĩa vụ thông báo với cơ quan nhà nước có thẩmquyền Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, có thể tạinhững thời điểm nhất định doanh nghiệp sẽ gặp những khó khăn và trở ngạinhất định, buộc phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh, tuy nhiên, yêu cầu đặt
ra là doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thông báo với cơ quan có thẩm quyền.Thời hạn một năm là khoảng thời gian cần thiết tối thiểu để các cơ quan quản
lý đánh giá về thái độ của doanh nghiệp khi tham gia vào cộng đồng doanhnghiệp nói chung
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin vềdoanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp và báo cáo theo yêu cầu với cơquan nhà nước có thẩm quyền nhằm phục vụ công tác quản lý Khi doanh nghiệpkhông thực hiện đúng nghĩa vụ này, cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền thu hồiGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Trong một số trường hợp khác theo quyết định của Tòa án 3
Pháp luật doanh nghiệp không nêu cụ thể trường hợp nào thì Tòa án sẽtuyên bố giải thể doanh nghiệp Tuy nhiên căn cứ vào Bộ luật Tố tụng dân sự,
về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với những tranh chấp về kinh doanh,thương mại có thể xác định doanh nghiệp bị Tòa án tuyên bố giải thể khi: Giảiquyết tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thànhviên của công ty với nhau liên quan đến yêu cầu giải thể công ty
Trang 37Đối với các trường hợp trên, doanh nghiệp sẽ bị thu hồi giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh và bị buộc phải giải thể theo quy định của pháp luật.Đây là quy định bổ sung mang tính chất cần thiết, thể hiện tính cưỡng chế củaNhà nước đối với các doanh nghiệp có vi phạm pháp luật
Việc giải thể doanh nghiệp trong trường hợp này được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau: Cơ quan đăng ký kinh doanh, phải thông báo tình trạng
doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp đồng thời với việc ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp hoặc ngay sau khi nhận được quyết định giải thể củaTòa án đã có hiệu lực thi hành
Điều này là phù hợp, bởi lẽ, người lao động luôn là đối tượng ở vị thếyếu trong quan hệ lao động, luôn cần được bảo vệ trong các mối quan hệ laođộng Trong đó, sự bảo vệ, bảo đảm về lợi ích vật chất, về các khoản tiềnlương, tiền công, trợ cấp thôi việc, các quyền lợi ích khác trong quá trình laođộng, đặc biệt là trong trường hợp doanh nghiệp giải thể chính là việc làmthiết thực, có ý nghĩa nhất Sau các khoản nợ thanh toán cho người lao động,thì doanh nghiệp phải thực hiện thanh toán nợ thuế, đây là khoản nợ thể hiệntrách nhiệm của doanh nghiệp đối với Nhà nước và đối với toàn dân Việcđảm bảo doanh nghiệp phải thanh toán nợ thuế khi giải thể là đảm bảo sựcông bằng về việc thực hiện nghĩa vụ xã hội Khi đã thực hiện xong các nghĩa
vụ thanh toán nợ theo thứ tự trên thì lúc này doanh nghiệp mới xem xét thanhtoán các khoản nợ khác, như là các khoản nợ đối với các khách hàng, cáckhoản nợ đối với chủ đầu tư
Cá nhân người quản lý công ty có liên quan phải chịu trách nhiệm cánhân về thiệt hại do việc không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quyđịnh tại Điều này của Luật doanh nghiệp
Trang 38Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người nàyphải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưanộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết và chịu tráchnhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05năm, kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinhdoanh.
Kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, doanh nghiệp, ngườiquản lý doanh nghiệp sẽ bị nghiêm cấm thực hiện các hoạt động sau đây: Cấtgiấu, tẩu tán tài sản; Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; Chuyển các khoản nợkhông có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanhnghiệp; Ký kết hợp đồng mới trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanhnghiệp; Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản; Chấm dứt thực hiện hợpđồng đã có hiệu lực; Huy động vốn dưới mọi hình thức 3 Quy định nàynhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp cố tình thực hiện những hành vi đểkhai không thật các thông tin về tài sản, thường là khai ít đi nhằm không chịuthực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo quy định Tùy theo tính chất
và mức độ vi phạm, cá nhân có hành vi vi phạm những điều cấm thực hiện khidoanh nghiệp đã có quyết định giải thể thì có thể bị xử phạt vi phạm hànhchính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; Và nếu gây thiệt hại thì phải bồithường
Để hướng dẫn cụ thể và chi tiết về trình tự, thủ tục đăng ký giải thểdoanh nghiệp, tại Điều 59 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 củaChính phủ về đăng ký doanh nghiệp có quy định:
2 Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày thông qua quyết định giải thể quy định tại Khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp gửi thông báo về việc giải thể đến Phòng Đăng ký kinh doanh.
Trang 393 Sau khi nhận được hồ sơ giải thể của doanh nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh gửi thông tin
về việc doanh nghiệp đăng ký giải thể cho cơ quan thuế Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin của Phòng Đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế gửi ý kiến về việc giải thể của doanh nghiệp
đến Phòng đăng ký kinh doanh.
4 Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Phòng Đăng ký kinh doanh chuyển tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trong
Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp sang tình trạng giải thể nếu không nhận được ý kiến từ chối của cơ quan thuế, đồng thời ra Thông báo về việc giải thể của doanh nghiệp.
5 Đối với doanh nghiệp sử dụng con dấu do cơ quan công an cấp, doanh nghiệp có trách nhiệm trả con dấu, Giấy chứng nhận đã đăng ký
mẫu con dấu cho cơ quan công an để được cấp giấy chứng nhận đã thu hồi con dấu Trong trường hợp này, con dấu và giấy chứng nhận mẫu dấu trong
hồ sơ giải thể doanh nghiệp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp được thay thế bằng giấy chứng nhận đã thu hồi con dấu".
Quy định này nhằm xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân có liênquan trong quản lý doanh nghiệp, để xảy ra tình trạng doanh nghiệp bị thu hồigiấy phép kinh doanh hoặc bị Tòa án buộc thực hiện quyết định Đây là điềuhoàn toàn phù hợp trong vấn đề quy trách nhiệm và nghĩa vụ khi xử lý viphạm
Việc quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp và các quy địnhtại các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo sự minh bạch, rõ ràng trong thủ tụcgiải thể doanh nghiệp Đồng thời mở ra cho doanh nghiệp lối đi
Trang 40mới, tạo điều kiện cho công ty tiếp tục hoạt động bằng hình thức chuyển đổiloại hình doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.
2.1.2 Pháp luật Việt Nam về trình tự thủ tục giải thể đối với các trường hợp khác
Ngoài trường hợp bị giải thể do bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp và giải thể theo quyết định của Tòa án ở trên thì pháp luậtdoanh nghiệp hiện nay quy định tương đối rõ về trình tự thủ tục giải thể doanhnghiệp tại Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo
đó, doanh nghiệp còn phải thực hiện thủ tục giải thể trong một số trường hợpsau:
- Việc quy định thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có thể là do thỏathuận của các thành viên sáng lập, do quy định của pháp luật, hoặc do sự cấp phépcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong một số lĩnh vực nhất định Thôngthường, thời hạn hoạt động này được ghi trong điều lệ công ty Điều lệ công tyđược xem như là một đạo luật riêng của công ty Tất cả các vấn đề liên quan đến
cơ cấu tổ chức, phương hướng hoạt động, cơ chế giải quyết tranh chấp được quyđịnh trong điều lệ công ty nếu không trái với quy định của pháp luật có giá trị bắtbuộc đối với công ty (bao gồm người sở hữu, người quản lý và người lao động).Ngay từ khi thành lập, doanh nghiệp có thể quyết định thời hạn hoạt động củacông ty và được ghi nhận trong Điều lệ công ty Khi hết thời hạn này thì doanhnghiệp sẽ phải giải thể, tuy nhiên không phải khi đến hạn này thì việc giải thể bắtbuộc phải thực hiện, mà doanh nghiệp có thể quyết định việc tiếp tục tồn tại thôngqua quyết định gia hạn Về nguyên tắc, khi doanh nghiệp hết thời hạn hoạt động
mà không có quyết định gia hạn thì phải giải thể
- Việc quy định số lượng thành viên tối thiểu nhằm bảo vệ quyền củabên thứ ba và lợi ích của xã hội Nếu công ty không có đủ số lượng