1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng nho giáo về con người trong việc giáo dục con người việt nam hiện nay

63 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Tư Tưởng Nho Giáo Về Con Người Trong Việc Giáo Dục Con Người Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Hoàng Thị Linh
Người hướng dẫn TS. Trần Viết Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 330 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứumột cách toàn diện hơn một trong những nội dung cơ bản của triết học Nho giáo.Đồng thời nó có thể làm tài liệu nghiên cứu cho những ai đang quan tâ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Gi¸o viªn híng dÉn: TS TrÇn ViÕt Quang

s inh viªn thùc hiÖn : Hoµng ThÞ Linh

Líp : 49A – Gi¸o Dôc ChÝnh TrÞ

MSSV : 0855011369

Trang 3

NghÖ An, 05/2012

Môc lôc

A MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài………1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài………2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……….3

3.1 Mục đích nghiên cứu……… 3

3.2 Nhiệm vụ……….3

4 Phạm vi nghiên cứu………3

5 Phương pháp nghiên cứu………3

6 Ý nghĩa của đề tài……… 4

7 Kết cấu của đề tài……… 4

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ CON NGƯỜI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 5

1.1. Tư tưởng Nho giáo về con người……… 5

1.1.1 Khái quát một số nội dung cơ bản của Nho giáo………5

1.1.2 Nội dung tư tưởng Nho giáo về con người……… 10

1.1.2.1 Tư tưởng Nho giáo về bản chất con người……….10

1.1.2.2 Tư tưởng Nho giáo về các mối quan hệ của con người trong xã hội….14 1.1.2.3 Tư tưởng của Nho giáo về giáo dục con người……… 19

1.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với con người Việt Nam truyền thống….23 1.2.1 Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam……… 23

Trang 4

1.2.2 Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đối với con người Việt Nam……… 26

1.2.3 Ảnh hưởng tiêu cực Nho giáo đối với con người Việt Nam ………… 29

CHƯƠNG II : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ CON NGƯỜI TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY……… 31

2.1 Vấn đề giáo dục con người Việt Nam hiện nay………31

2.1.1 Mục tiêu giáo dục con người Việt Nam hiện nay……… 31

2.1.2 Nội dung giáo dục con người Việt Nam hiện nay……… 35

2.1.3 Phương thức giáo giáo dục con người Việt Nam hiện nay………37

2.2 Quan điểm vận dụng tư tưởng Nho giáo về con người trong giáo dục con người Việt Nam hiện nay……….………39

2.2.1 Kết hợp chặt chẽ giữa phát huy những mặt tích cực với việc hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng Nho giáo về con người……… 39

2.2.2 Phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng Nho giáo về con người theo yêu cầu giáo dục con người Việt Nam hiện nay………41

2.3 Một số giải pháp vận dụng tư tưởng Nho giáo về con người trong giáo dục con người Việt Nam hiện nay……… ………47

2.3.1 Nâng cao nhận thức về những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với con người Việt Nam……… 47

2.3.2 Kết hợp gia đình, nhà trường và xã hội trong việc vận dụng tư tưởng Nho giáo để giáo dục con người……… …48

2.3.3 Giáo dục con người thông qua các hoạt động xã hôi……… 51

2.3.4 Giáo dục con người thông qua các phương tiện thông tin đại chúng……53

C KÕt luËn ……… … 58

Danh môc tµi liÖu tham kh¶o……… ………… ………… ……… 59

Trang 5

"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh", Đại hội Đại biểutoàn quốc của Đảng đã khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa họccông nghệ là quốc sách hàng đầu" Trong đó, giáo dục là con đường cơ bản nhấtquyết định sự phát triển của nguồn lực con người - động lực và mục tiêu pháttriển của mọi hoạt động.

Đã từ rất lâu, vấn đề con người trở thành nội dung nghiên cứu của tất cảcác khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, suy cho cùng tất cả sựnghiên cứu và sáng tạo ấy là do con người và vì con người Trong lịch sử triếthọc nói riêng cũng vậy, đã từ rất lâu vấn đề con người trở thành một trong nhữngnội dung trọng tâm, đặc biệt là trong triết học phương Đông Trong triết họcphương Đông thời kỳ cổ đại, bàn về vấn đề con người, nổi bật nhất là triết họcNho giáo Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội của triết học Trung Hoa

cổ đại, là hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hàngngàn năm lịch sử Vấn đề con người như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt Thật vậy,vấn đề con người được Nho giáo đề cập nhiều, đề cập hết sức sâu sắc và toàndiện

Trang 6

Được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và có ảnh hưởng không nhỏ đếnđời sống tư tưởng của người Việt Nam không chỉ trong quá khứ mà còn cả đếngiai đoạn hiện nay

Do điều kiện lịch sử và những tác động chủ quan những giá trị tích cựccủa Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam đã ngày càng mai một dần Vànhìn lại thực tế trong xã hội nước ta lúc bấy giờ, cần thiết phải có sự vận dụng tưtưởng Nho giáo trong đời sống tư tưởng của người Việt Nam Tất nhiên là vậndụng những mặt tích cực mà cụ thể: "vận dụng tư tưởng Nho giáo về con ngườitrong việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay"

Chính vì những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "vận dụng tưtưởng Nho giáo về con người trong việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay",với mong muốn đánh giá lại những giá trị và ý nghĩa tích cực của Nho giáo trongthời đại ngày nay Và tìm ra cách vận dụng giá trị ấy vào sự phát triển trọng tâmcủa đất nước là phát triển con người

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Là một học thuyết chính trị - xã hội, một học thuyết triết học, khôngnhững có vị trí thống trị trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại, hệ tưtưởng của Nho giáo còn có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nước trên thế giới, chủyếu là trong khu vực Châu Á Chính vì vậy, cũng từ rất lâu, hệ tư tưởng Nhogiáo đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của giới nghiên cứu Đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu, viết về Nho giáo, nhìn nhận đánh giá Nho giáo ở nhữngkhía cạnh khác nhau Riêng nội dung bàn về con người và giáo dục con ngườicũng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến Tiêu biểu có những tác phẩmnhư: “Nho giáo” của tác giả Trần Trọng Kim; “Nho giáo xưa và nay” của tác giảQuang Đạm; “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam” của Vũ Khiêu, … cùng rấthiều những bài viết đăng trên các tạp chí Triết học, tạp chí Giáo dục và thời đại,Nghiên cứu lí luận, … Tuy nhên những tài liệu trên đây chỉ là những tài liệumang tính chất giới thiệu, khái quát lại quan điểm của Nho giáo mà chưa có sự

Trang 7

nghiên cứu sâu về con người và giáo dục con người cũng như đánh giá mặt tíchcực, hạn chế của quan niệm về con người, về giáo dục con người khi nó đượctruyền bá vào Việt Nam Và việc nghiên cứu về sự vận dụng những tư tưởng ấytrong giáo dục con người Việt Nam hiện nay thì lại càng ít ỏi.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

Đề tài này có mục đích nghiên cứu cụ thể là:

Thứ nhất, nghiên cứu một cách khái quát, có hệ thống một số nội dung cơbản của Nho giáo, nghiên cứu nội dung tư tưởng của Nho giáo về con người

Thứ hai, nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với conngười Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu về vấn đề vận dụng tư tưởng nho giáo về con ngườitrong việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Trên cơ sở xác định những mục tiêu cần đạt, đề tài này cần phải giải quyếtmột số nhiệm vụ cơ bản sau: Thứ nhất, nghiên cứu một cách khái quát, có hệthống một số nội dung cơ bản của Nho giáo, nghiên cứu nội dung tư tưởng củaNho giáo về con người

Thứ hai, nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với conngười Việt Nam

Thứ ba, nghiên cứu về vấn đề vận dụng tư tưởng nho giáo về con ngườitrong việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tìm hiểu nghiên cứu toàn bộ hệ thống tư tưởng của Nho giáo nhưngchỉ ở mức độ khái quát, hướng tới nội dung trọng tâm đó là nghiên cứu vấn đềcon người,giáo dục con người trong hệ thống tư tưởng Nho giáo và vấn đề giáodục con người ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tôi có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiêncứu khác nhau Cụ thể, sử dụng các phương pháp: Khái quát hóa, Hệ thống hóa,quy nạp, diễn dịch, phương pháp lôgic lịch sử, lý luận gắn với thực tiễn,

6 Ý nghĩa của đề tài

Trước hết, đề tài này đi sâu vào nghiên cứu vấn đề con người trong họcthuyết Nho giáo và vấn đề vận dụng tư tưởng Nho giáo về con người trong giáodục con người Việt Nam hiện nay Góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứumột cách toàn diện hơn một trong những nội dung cơ bản của triết học Nho giáo.Đồng thời nó có thể làm tài liệu nghiên cứu cho những ai đang quan tâm đến nộidung tư tưởng Nho giáo về con người và giáo dục con người, những tác động,ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam và việc vận dụng tư tưởng Nhogiáo về con người trong giáo dục con người Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm ba phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.Trong đó phần nội dung bao gồm hai chương, cụ thể:

Chương 1: Tư tưởng Nho giáo về con người và ảnh hưởng của nó đối với con

người Việt Nam truyền thống

Chương 2 Quan điểm và giải pháp vận dụng tư tưởng Nho giáo về con người

trong việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay

Trang 9

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ CON NGƯỜI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

1.1 Tư tưởng Nho giáo về con người

1.1.1 Khái quát một số nội dung cơ bản của Nho giáo

* Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo

Trong lịch sử của nước Trung hoa thời kỳ cổ đại, đáng chú ý nhất có lẽ làthời kỳ Xuân Thu, bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ thứ VIII trước CN đến thế

kỷ thứ III trước CN Thời kỳ này, xã hội Trung Hoa có sự chuyển mình dữ dội,chính quyền phong kiến cầm quyền là nhà Chu bước vào thời kỳ, bá đạo hoànhhành, trật tự xã hội bị đảo lộn, người đời không còn thiết gì đến nhân nghĩa nữa.Cũng chính trong thời kỳ này, trên lãnh thổ nước Trung Hoa xuất hiện rất nhiềunhững trào lưu tư tưởng, những học thuyết muốn thay đổi hiện thực, xây dựng xãhội tương lai (trong tư tưởng) và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau Lịch sửtriết học gọi thời kỳ này là thời kỳ "bách gia chư tử, bách gia tranh minh" Chínhtrong thời kỳ này đã sản sinh ra những nhà tư tưởng vĩ đại, trong đó, nổi bật nhất

có một người tên gọi là Khổng Tử - một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất,

mở đầu cho lịch sử triết học Trung Quốc thời kỳ cổ đại

Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra ở nước

Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ bị sa sút Quê hương nước Lỗ của Khổng Tử

là nơi bảo tồn đươch nhiều di sản văn hóa của nhà Chu Như trên đã nói, thời đạicủa Khổng Tử là thời đại "vương đạo suy vi", "bá đạo" đang nổi lên lấn át

Trang 10

"vương đạo" của nhà Chu, trật tự, lễ giáo cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn, nhưông đã than rằng "vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha khôngphải đạo cha, con không phải đạo con" Đứng trên lập trường của bộ phận cấptiến trong giai cấp quý tộc Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế, kỷ cương củanhà Chu Ông lập ra học thuyết có hệ thống, lấy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí để dạyngười đời, lấy cương thường để hạn chế nhân dục, để giữ trật tự ở trong xã hộicho vững bền Học thuyết ông lập ra được gọi là đạo Nho hay còn gọi là Nhogiáo.

Nho giáo là một thuật ngữ bắt đầu từ chữ Nho, theo Hán tự từ Nho gồm từNhân (người) ghép với chữ Nhu (cần, đợi, chờ) mà thành Người theo Nho giáocòn được gọi là nhà Nho, người đọc sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng

và người đời kính nể

Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các sĩ phu triều Hán, Khổng

tử và tư tưởng Nho giáo của ông mới trở thành tư tưởng chính thống

Từ đời Hán đến đời Thanh Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh truyện

để lưu truyền Đến đời Đường Thái Tông, sau khi hoàn thành thống nhất quốcgia, liên cho kinh học gia Khổng Dính chú giải, hiệu đính lại năm kinh Nho gia

là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ ngũ kinh chính nghĩa gần như tổngkết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó Ngũ kinh chính nghĩa trở thành sáchgiáo khoa dùng trong thi cử đời Đường Khổng học ngày càng được giai cấpthống trị tín nhiệm Đến đời Tống, Nho giáo phát triển mạnh mẽ nổi bật vớinhững bậc á thánh lừng danh như Nhị trình, Chu Tử,

Nho giáo cũng trải qua một thời kỳ song song với thời kỳ phát đạt của lịch

sử Trung quốc, đó là thời kỳ nhà Tống Vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái TổTriệu Khuông Dẫn ngay sau khi len ngôi vua lập tức chủ trì nghi lễ long trọng tế

tự Khổng Tử để biểu dương lòng hiếu đễ, vua còn thân chủ trì khoa thi tiến sỹ

mà nội dung của nó hoàn toàn theo Nho học Thời kỳ này Nho học được gọi là

Lý học

Trang 11

Từ đó đến nay, Nho giáo vẫn tồn tại cùng với sự phát triển và những bướcthăng trầm của chế độ phong kiến Trung Hoa Nho giáo có tầm ảnh hưởng sâusắc không chỉ trong nước Trung Hoa mà còn có ảnh hưởng rộng lớn đến nhiềuquốc gia khác trên thế giới, tiêu biểu là các quốc gia: Triều Tiên, Nhật Bản, ViệtNam,

* Một số nội dung cơ bản của Nho giáo.

Có thể nói, Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội đầu tiên mangtính hệ thống và toàn diện nhất trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa cổ đại Dướigóc độ là một học thuyết chính trị xã hội, Nho giáo được dùng để phục vụ choviệc tổ chức và quản lý xã hội

Khổng Tử phân chia người trong xã họi thành hai hạng, đó là người quân

tử và kẻ tiểu nhân quân tử là quý, là hay; "tiểu nhân" là tiện, là dở Ban đầu chữ

"quân tử" là nói người có địa vị tôn quý, mà chữ "tiểu nhân" là nói người thườngnhân, không có địa vị gì trong xã hội Sau "quân tử" còn chỉ những người có đạođức cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với tiểu nhân là những người thiếuđạo đức hay đạo đức chưa hoàn thiện Để trở thành người quân tử, người ta trướchết phải tự đào tạo, phải "tu thân", sau khi tu thân xong, người quân tử phải cóbổn phận "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho giáo hình dung cả

vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và "đạo" ở đây bao hàm cả nguyên

lý vận hành chung của vũ trụ Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có đạo, tức lànắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vàocon người sẽ được gọi là mệnh)

*) Tu thân

Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… đểlàm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.Tam cương và ngũthường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức

mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tamcương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình

Trang 12

Nho giáo đề ra Ngũ luân, là năm mối quan hệ cơ bản của con người: Vuatôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè Trong năm mối quan hệ đó thì ba mốiquan hệ đầu gọi là tam cương Đó là ba sợi dây ràng buộc con người vào tráchnhiệm.

- Quân thần: Vua là dây cương của bề tôi (“Quân xử thần tử, thần bất tửbất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phảituân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua).Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thànhmột dạ

- Phụ tử: Cha là dây cương của con (“phụ xử tử vong, tử bất vong bấthiếu" nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu)

- Phu phụ: Chồng là dây cương của vợ (“phu xướng phụ tùy” nghĩa là:chồng nói ra, vợ phải theo)

Khổng Tử nói: "Quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đệ dã, bằng hữuchi giao dã: ngũ giả thiên hạ chi đạt đạo dã" (Trung dung)

Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có Ngũ thường là năm điều phảihằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật

- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải

- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người

- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai

- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy

Tam tòng: tam là ba; tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phảitheo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”

- Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,

- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,

- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con”

Trang 13

Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữphải có, là: công – dung – ngôn – hạnh.

- Công: khéo léo trong việc làm

- Dung: hòa nhã trong sắc diện

- Ngôn: mềm mại trong lời nói

- Hạnh: nhu mì trong tính nết

Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:

Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử màngười quân tử phải thực hiện trong cuộc sống “Đạt đạo trong thiên hạ có nămđiều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sáchTrung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằnghữu” Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân Trong xã hội cách cư xử tốt nhất

là “trung dung” Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn bamối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng

Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng” Khổng Tửnói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lobuồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ) Vềsau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ”, “nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức:

“nhân, nghĩa, lễ, trí” Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là:

“nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” Năm đức này còn gọi là ngũ thường Biết thi, thư, lễ,nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “thi,thư, lễ, nhạc” Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện

Kết hợp tam cương với Ngũ thường gọi là Cương thường hay mở rộng ra,kết hợp Ngũ luân với Ngũ thường gọi là Luân thường

*) Hành đạo

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làmchính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc,thiên hạ bình “ Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ – gia đình, cho đến lớn –

Trang 14

trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kimchỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phươngchâm:

Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêungười và coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thìKhổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Điều gì mình không muốn thìđừng làm cho người khác” (sách Luận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất củaluân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: “Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Ngườikhông có nhân thì nhạc mà làm gì?” (sách Luận ngữ)

Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗingười phải làm đúng chức phận của mình "Danh bất chính tắc ngôn bất thuận,ngôn bất thuận tắc sự bất thành" - Danh không chính thì lời không thuận, lờikhông thuận thì tất việc không thành (sách Luận ngữ) Khổng tử nói "Quân sửthần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung" - Vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờvua

Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử

tử – Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (sách Luận ngữ) Khi mọi sựvật, hiện tượng ở yên đúng vị trí của nó thì đất nước thịnh trị

Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo,chúng được tóm gọn lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Vàđến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi

Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi,thư, lễ, nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức

mà không cần phải có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không cóđạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường)

1.1.2 Nội dung tưởng Nho giáo về con người

1.1.2.1 Tư tưởng Nho giáo về bản chất con người

Trang 15

Trái lại với triết học phương Tây, lấy trọng tâm nghiên cứu của mình làcác vấn đề về vũ trụ, về giới tự nhiên, nguồn gốc của vũ trụ Triết học phươngĐông mang đặc trưng tư duy hướng nội Vì thế nội dung cơ bản của triết họcphương Đông thường bàn đến là các vấn đề chính trị - xã hội, vấn đề con ngườitrong đó vấn đề bản chất con người có một vị trí đặc biệt Trở thành một trongnhững đặc điểm nổi bật của triết học phương Đông nói chung

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội cũng không nằm ngoài đặctrưng đó Nho giáo quan tâm nhiều, bàn nhiều đến vấn đề con người, bản chấtcon người, vị trí của con người trong xã hội Xuyên suốt quá trình hình thành vàphát triển của mình, trong tư tưởng Nho giáo đã tồn tại rất nhiều những ý kiến,quan điểm khác nhau về con người và bản chất con người Ở đây ta chỉ tìm hiểumột số quan điểm tiêu biểu về bản chất con người của Nho giáo nguyên thủy

Khổng tử là người sáng lập ra Nho giáo, trong nội dung tư tưởng của ôngbàn nhiều đến con người nhưng chưa bàn nhiều và có quan điểm rõ ràng về bảnchất con người

Xét về bản chất con người, người ta thường nói là thiện hay ác Khổng tửkhông nói rõ bản chất của con người là thiện hay là ác, ông chú ý nhiều hơn đếnchữ tính Ở thiên Hệ từ trong kinh dịch Khổng Tử có nói: "Nhất âm nhất dươngchi vị đạo, kế chi giả thiện dã, thành chi giã tính giả", và ở sách Luận Ngữ rằng:

"tính tương cận giã, tập tương viễn giã" - Tính là gần nhâu, tập là xa nhau vậy.Như vậy theo Khổng Tử, tính của con người có quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh

xã hội Ông cho rằng tính của con người vốn là gần nhau, nhưng trong nhữnghoàn cảnh, môi trường khác nhau khiến cho con người xa nhau, khác nhau Sựkhác nhau ấy là do môi trường, hoàn cảnh xã hội quy định Con người tốt hayxấu, thiện hay ác là do hoàn cảnh xã hội quy định

Khác với Khổng Tử, đến Mạnh tử (371 - 289 TCN) vấn đề con người, bảnchất con người đã được đề cập một cách có hệ thống và cụ thể Ông chủ trươngthuyết tính thiện Ông cho rằng tính thiện là bản tính của con người do trời phú

Trang 16

cho Nếu có thành ra bất thiện cũng chỉ vì người ta không biết giữ lấy cái bảntâm, chú cái nguồn gốc của tính là không thể không thiện được Ông viết: "nhânchi sở bất học, nhi năng giả, kỳ lương năng giã Sở bất lự, nhi tri giả, kỳ lương trigiã" để chỉ tính thiện của con người, câu này nghĩa là "không cần học mà làmđược gọi là lương năng, không cần suy nghĩ mà biết được thì gọi là lương tri.Ông còn khẳng định "Nhân giai hữu bất chi tâm" - người ta ai cũng có lòngthương người Ông lấy một ví dụ cụ thể: Giá bất thình lình người ta trông thấymột đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng có lòng bồn chồn thương xót mà đếncứu Bồn chồn thương xót không phải vì trong bụng có ý muốn cầu thân với cha

mẹ đứa trẻ ấy, không phải vì muốn được hàng xóm, bạn bè khen ngợi Mạnh Tửcho rằng trong mỗi con người đều có bốn đức tính: trắc ẩn, tu ố, từ nhượng và thịphi "Ai không có lòng trắc ẩn thì không phải là người, ai không có lòng tu ốkhông phải là người; ai không có lòng từ nhượng không phải là người; ai không

có lòng thị phi không phải là người Lòng trắc ẩn là cái mối của nhân, lòng tu ố

là cái mối của nghĩa, lòng từ nhượng là cái mối của lễ, lòng thị phi là cái mối củatri Người ta có bốn mối ấy như có tứ thể vậy Có bốn mối ấy mà bảo tự mìnhkhông sửa mình được là tự hại mình vậy Đã có bốn mối ấy trong mình mà biết

mở rộng ra cho thông thì như lửa mới bắt đầu cháy, như suối mới bắt đầu chảy".(Công Tôn Sửu, Thượng)

Như vậy nghĩa là Mạnh tử đã khẳng định trong mỗi con người bao giờcũng có sẵn bốn đức tính "Nhân, nghĩa, lý, trí" Có người hỏi Mạnh Tử"tại saovẫn có người quân tử, kẻ tiểu nhân, có người trí, kẻ ngu, có người thiện, kẻác, ?" Mạnh Tử đã trả lời rằng: Con người ta thường bị vật dục mê hoặc, khôngbiết khai thác cái gọi là lương tri, lương năng, cái tính thiện trong mình hay làkhông biết bồi dưỡng nó, làm cho bị lụi tàn Mạnh Tử cũng rất chú ý đến điềukiện, hoàn cảnh, môi trường mà con người sinh sống Ông nhận ra sự giáo dục

có ảnh hưởng đến phẩm chất của con người, và vì thế, ông cho rằng phải chú

Trang 17

trọng đến việc giáo dục con người Giáo dục được xem là một bộ phận trọng yếucủa chính trị.

Tóm lại, Mạnh Tử tin vào tính thiện của con người, cho đó là bản chất và

là cái có sẵn của con người Tính thiện là cái "tâm đại thể", bao gồm đủ cả Nhân

- Lễ - Nghĩa - Trí

Trái ngược với Mạnh tử, chủ trương thuyết tính thiện, Tuân Tử (298 - 238TCN) lại đưa ra thuyết "tính ác", ông đưa vấn đề bàn luận về bản chất con ngườivào một thiên riêng biệt, gọi là thiên "tính ác"

Ngay đầu thiên Tính ác Tuân Tử đã nói: "Nhân chi tính ác, kỳ thiện giảngụy giã" - tính của người là ác, những điều thiện là người đặt ra Nguồn gốc củacái ác là "hiếu lợi', từ cái "hiếu lợi' mà sinh ra tranh đoạt", sinh ra đố kỵ, phạmphật, khi đó không còn gì là 'từ nhượng", là trung tín Và vì vậy nên cần "phải cóthầy, có phép để hóa đi, có lễ nghĩa để đạo dẫn người", nghĩa là cần phải giáodục, uốn nắn "tính ác" có sẵn trong con người, thành "tính thiện" như "cây gỗcong phải đợi cái khuôn uốn, rồi hơ nóng lên mà uốn mới thẳng được, mộtmiếng sắt, miếng thép phải đợi có mài dũa mới sắc"

Như vậy, với Tuân Tử bản chất của con người là tính ác, nhưng tính ác cóthể hóa đi được nhờ sự giáo dục, rèn luyện, tích góp những điều thiện

Trên đó là những quan điểm về bản chất con người của những nhà Nhotiêu biểu của Nho giáo Cùng bàn về bản chất con người, trong Nho giáo còn cónhiều ý kiến, quan niệm khác nữa Chẳng hạn như cùng thời với Mạnh tử, Cáo

Tử cũng có quan điểm riêng về bản chất con người Ông cho rằng bản chất củacon người là không thiện cũng không ác Ông thừa nhận bản năng tự nhiên củacon người, đó là thích miếng ngon, thích sắc đẹp Ông cũng chú trọng đến bảnchất của con người, bản chất của con người như một tờ giấy trắng, muốn viết đenthì đen, muốn viết đỏ thì đỏ Con người sống trong xã hội vì thế mà chịu sự tácđộng của hoàn cảnh xã hội Chính hoàn cảnh xã hội là môi trường để con ngườitrở thành tốt hay xấu, thiện hay ác Đến thời Tây Hán, Dương Hùng cũng bàn

Trang 18

đến tính người Ông cho rằng người ta là thiện ác hỗn hợp, sửa thành thiện làthành thiện, sửa thành ác là thành ác Rồi đến Chu Hy đời Lý lại cho rằng: "Thái

ở trong người ta là cái tính bản nhiên", "Cái thái cực ấy ở vào bậc thánh hiền thìcái tia sáng phát hiện ra như hòn ngọc quý nằm trong nước trong, mà ở vàongười ngu dại, thì nó mờ tối đi, như hòn ngọc trong chậu nước đục vậy" Nhưvậy nghĩa là ông cho rằng cái bản tính của con người là tốt đẹp, bản tính của conngười cũng chịu tác động, ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài Bên cạnh cái tínhbản nhiên của con người nói về tinh thần và là bản chất của con người, conngười còn có cái "tính khí chất" thuộc về vật chất trong con người

Như vậy, trong Nho giáo có rất nhiều quan niệm khác nhau về bản chấtcon người, nhưng tựu chung lại họ đều gặp nhau ở điểm đó là đều cho rằng conngười có thể giáo dục được và cần phải giáo dục Như Khổng Tử thì cho rằngcần phải nhấn mạnh công tác giáo dục, tồn dưỡng tính thiện trong con người, coigiáo dục tính thiện là điểm cốt yếu Mạnh Tử cho rằng giáo dục để lấy tính thiện,Tuân Tử cũng khẳng định là cần có giáo dục để hạn chế tính ác, đi đến tínhthiện, Cáo Tử, Dương Hùng và Chu Hy cũng vậy Và mục tiêu cuối cùng của tất

cả các nhà Nho đó là giáo dục con người sao cho có tính "nhân"

1.1.2.2 Tư tưởng Nho giáo về các mối quan hệ của con người trong xã hội

Triết học phương Đông nói chung và Nho giáo nói riêng hướng tới mụctiêu nghiên cứu trọng tâm là con người, bao gồm bản chất của con người, cácmối quan hệ của con người trong xã hội và sự giáo dục cho con người

Con người sống trong xã hội có rất nhiều mối quan hệ khác nhau Nhưngtrong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, vấn đề mối quan hệ của con người trong

xã hội được các nhà Nho nghiên cứu chú trọng đến mối quan hệ chính trị - đạođức hơn cả Sở dĩ như vậy bởi lúc bấy giờ trong xã hội mọi trật tự cũ đã bị đảolộn, chiến tranh, loạn lạc diễn ra liên miên, đạo đức trong xã hội suy vì Khổng

tử than rằng: "Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phảiđạo cha, con không phải đạo con" Ông muốn xây dựng một xã hội có trật tự

Trang 19

"quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử", chính vì vậy, khi xem xét các mối quan

hệ của con người trong xã hội, Nho giáo chú ý nhiều hơn đến mối quan hệ chínhtrị - đạo đức Chẳng thế mà người đời sau biết đến học thuyết của Khổng Mạnh

là học thuyết chính trị - xã hội mà nội dung cơ bản của nó là "đức trị", lấy đạonhân làm gốc

Với mong muốn xây dựng một xã hội có trên có dưới, xây dựng một xãhội có trật tự, có tôn ti, con người tôn sùng đạo đức Nho giáo đặt ra quan niệm

về Ngũ luân, về Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức Trong đó nói vềcác mối quan hệ của con người trong xã hội, Nho giáo tập trung trong quan niệm

về Ngũ luân

Ngũ là năm, luân là thứ bậc đối đãi, đạo thường Ngũ luân là năm thứ bậcđối đãi theo đạo thường của con người trong gia đình và xã hội Bao gồm: Vuatôi, cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè (quân thần, phụ tử, phu phụ, trưởng ấu,bằng hữu)

Trong năm mối quan hệ trên, mối quan hệ vua tôi là mối quan hệ quantrọng nhất, bởi nó liên quan trực tiếp đến vận mệnh của quốc gia Đạo củaKhổng Mạnh thừa nhận chính thể quân chủ nhưng ông cho thiên hạ là của chungchứ người làm vua không có quyền lấy thiên hạ làm của riêng mình Vua làngười đứng đầu một nước, là cha mẹ của dân nên vua phải "minh", phải yêu dânnhư con, vua phải xứng đạo làm vua, phải lấy nhân nghĩa mà đối xử với bề tôi.Còn bề tôi là người giúp việc cho vua thì tôi phải "trung", "vua lấy lễ mà saikhiến tôi, tôi đem lòng trung mà phụng sự vua" Khổng Tử và Mạnh Tử là những

vị chí thánh của Nho giáo đã nhiều lần nhắc đến vua Nghiêu, vua Thuấn lànhững vị vua hiền đức được người đời ngưỡng mộ Các ông coi đó là những vịvua thuận lòng dân - cũng là hợp với ý trời

Là bề tôi thì phải hết đạo bề tôi, vì nhân nghĩa mà phải hết lòng phò vuagiúp nước Bề tôi phải làm cho vua tin dùng, nếu không được như vậy thì lui về

Trang 20

ở ẩn để giữ lấy khí tiết và lòng trung của mình Bề tôi có trách nhiệm khuyên can

để nhà vua sửa tính nết, thuận theo điều chính, điều ngay

Như vậy, quan hệ vua tôi trong quan niệm của Nho giáo là mối quan hệ có

vị trí quan trọng nhất, là mối quan hệ có trước, có sau Mối quan hệ đó chính lànền tảng cho các mối quan hệ khác trong xã hội

Thứ hai là mối quan hệ cha mẹ và con cái Khổng giáo chủ lấy sự dạyngười ta cho tới đạo nhân, tức là khiến cho người ta bao giờ cũng có đầy đủnhững tình cảm rất hậu và thành thực Và lòng hiếu thảo, kính thuận với cha mẹ,anh em là lẽ thường của mỗi con người vậy

Theo Khổng Tử, cái gốc của đạo nhân là ái và kính, trong sự giáo hóa,

"hiếu đễ làm nết trọng" Trong quan hệ cha mẹ - con cái: cha mẹ đã sinh ra conthì phải hết lòng thương yêu con, chăm lo dạy dỗ con nên người, chỉ bảo cho connhững điều nhân, lễ, nghĩa, điều trung thuận để giúp ích cho đời Là con cái thìphải biết làm tròn đạo hiếu với cha mẹ, lấy lòng thành kính làm "cốt", phải lấy lễ

để đối đãi với cha mẹ Khổng Tử nới: "Sư phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng,hựu kính bất vi, lao nhi bất oán", nghĩa là khi cha mẹ có làm điều gì trái đạo, thìcon phải dùng cách ôn hòa mà can ngăn, nếu cha mẹ không nghe, thì lại tỏ racung kính và hiếu thảo, rồi dần dần lựa cách nói cho cha mẹ biết lẽ mà sửa đổilại Dẫu có khi cha mẹ giận mà đánh đập hay chịu khổ sở cũng không oán, vàviệc giữ gìn danh tiết cho cha mẹ là bổn phận của người làm con

Trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng của Khổng Tử, quan niệm củaMạnh Tử và các nhà nho đời sau về chữ hiếu cũng có phần sâu sắc hơn, Mạnh

Tử nói "đạo hiếu là suốt đời thờ cha mẹ", chỉ có phụng dưỡng cha mẹ là quantrọng nhất

Tăng Tử và một số nhà Nho khác nêu lên nội dung cụ thể của chữ hiếu đólà: Thứ nhất, tôn kính cha mẹ, vâng lời cha mẹ, theo chí hướng của cha mẹ; Thứhai, phụng dưỡng cha mẹ suốt đời; Thứ ba, khi cha mẹ qua đời phải chôn cất cha

mẹ chu đáo, thờ cúng cha mẹ cho có lễ

Trang 21

Chính vì vậy, các nhà Nho chú trọng đến việc giáo dục đức hiếu cho conngười Xem đó là một trong những đức cơ bản của mỗi người sống trong xã hội.Mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái trong cái nhìn của Nho giáo là cái nhìn toàndiện, nội dung tư tưởng của Nho giáo về mối quan hệ này mang nhiều ý nghĩatích cực không chỉ trong xã hội phong kiến mà còn giữ nguyên giá trị đến ngàynay.

Thứ ba, là mối quan hệ vợ chồng Theo quan điểm của Nho giáo, quan hệ

vợ chồng là một trong những mối quan hệ cơ bản của con người trong mối quan

hệ ấy có sự phân biệt rõ ràng giữa vợ và chồng: "phu phụ hữu biệt" Ngườichồng là trụ cột, là chính trong gia đình Còn người vợ chỉ là thứ yếu, phụ thuộcvào chồng ("phu xướng phụ tùy") Trong xã hội phong kiến, những quan niệmcủa Nho giáo về quan hệ vợ chồng đã đẩy đến mức cực đoan, khắt khe, đó là khi

nó bảo vệ quá nhiều cho nam giới nói chung và người chồng trong gia đình nóiriêng, mặt khác lại có nhiều yêu cầu đối với người phụ nữ, đó là "Tam tòng"- tạigia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, và "Tứ đức" - công, dung, ngôn,hạnh Ngoài ra còn có những quan niệm hết sức khắt khe, phân biệt đối xử, thểhiện sự bất bình đẳng sâu sắc, đặc biệt là trong quan hệ hôn nhân: "Trai năm thêbảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có môt chồng" Tóm lại, quan niệm của Nho giáotrong mối quan hệ vợ chồng có nhiều điểm hạn chế, là mối quan hệ mang tínhmột chiều, mang tính bất bình đẳng sâu sắc Cần phải phê phán và loại bỏ

Thứ tư, quan hệ anh em Anh em trong gia đình phải cư xử với nhau cótrên, có dưới: "trưởng ấu hữu tự", trước sau thuận hòa Người anh có quyền thaycha điều hành các công việc trong gia đình khi cha mất Còn người em phải vânglời anh, nghe theo anh chỉ bảo, có như vậy gia đình mới thuận hòa, vui vẻ

Quan hệ thứ năm trong Ngũ Luân là quan hệ bằng hữu Mỗi quan hệ nàyđược xây dựng theo nguyên tắc: "bằng hữu hữu tín", lấy chữ tín làm trọng Bạn

bè phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau cùng vượt qua hoạn nạn Theo quan niệmcủa Nho giáo, tình bạn không thể được xây dựng dựa trên tiền tài, danh vọng,

Trang 22

giàu sang phú quý mà là nghĩa, là tình, có đầu có cuối "Phải xử với người chotha thiết hết tình và giữ niềm hòa duyệt, như vậy mới đáng là kẻ sỹ" Tức là đốivới bầu bạn thì tha thiết hết tình, đối với anh em phải giữ niềm hòa duyệt.

Bên cạnh các mối quan hệ cơ bản trong Ngũ Luân, Nho giáo còn đặc biệtquan tâm đến một mối quan hệ khác Đó là mối quan hệ giữa quân và dân Trongmối quan hệ giữa vua và dân Nho giáo quan niệm : “Quân dân tương thân”.Theo các nhà Nho, giữa quân và dân có mối quan hệ hết sức gắn bó, người làmvua phải theo lòng dân mà khiến sự chính sự Vua phải mẫu mực, có nhân cóđức, đối với dân phải như cha đối với con Vua không thể không có dân mà dâncũng không thể không có vua được Hai bên phải nương tựa vào nhau như tâmthần với thân thể vậy Như Khổng Tử đã nói : “Dân dĩ quân vi tâm, quân dĩ dân

vi thể; tâm trang tắc thể thư, tâm túc tắc dung kính Tâm hiếu chi, thân tất an chi;quân hiếu chi, dân tất dục chi Tâm dĩ thể toàn, diệc dĩ thể thương; quân dĩ dântồn, diệc dĩ dân vong”: dân lấy vua làm tâm, vua lấy dân làm thân thể; tâm trangchính thì thân thể thư thái, tâm nghiêm túc thì dung mạo cung kính Tâm thíchcái gì, thân thể ắt là yên vui cái ấy; vua thích cái gì, dân ắt là muốn cái ấy Tâmnhờ thân thể mà toàn, và cũng vì thân thể mà nguy; vua nhờ dân mà còn, và cũng

vì dân mà mất” (Lễ ký: Truy y, XXXIII)

Nho giáo yêu cầu vua phải ra vua, phải xứng đạo làm vua, mọi việc làmcủa vua phải giữ gìn lấy dức nhân mà đối xử với dân Khổng Tử nói: "Vi chính

dĩ đức thí như Bắc thần cư kỳ sở, nhi chúng tinh cũng chi" Vua phải yêu dân, cóyêu dân thì dân mới phục tùng và vua mới mạnh "Muốn tranh thủ thiên hạ thìtrước hết phải tranh thủ nhân tâm" Theo Khổng Tử: “ Nhà cầm quyền phải có bađiều: lương thực cho đủ nuôi dân, binh lực cho đủ bảo vệ dân, lòng tin cậy củadân đối với mình

Mạnh tử thì cho rằng: “hằng sản” thì mới “hằng tâm”, tức là vua phải làmsao cho dân no đủ khi đó mới tính đến việc ổn định tư tưởng, tâm tính Trongcon mắt nhà Nho, dân có vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội Chính vì thế

Trang 23

mà Mạnh Tử nêu lên tư tưởng: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh", nghĩa

là nước lấy dân làm gốc, dân là quý hơn nhất, xã tắc là thứ hai, quân là khinh.Tuân Tử thì nói: Dân là nước, vua là thuyền, nước chở được thuyền nhưng cũnglật được thuyền

Như vậy, tư tưởng Nho giáo là tưởng trọng dân, nhấn mạnh vai trò củadân đối với vận mệnh đất nước

Ngoài các mối quan hệ trên, Nho giáo còn chú ý quan tâm đến một mốiquan hệ khác của con người trong xã hội, đó là quan hệ thầy trò Không chỉ làchú ý đến quan hệ thầy trò, khi nêu ba vị bề trên cần tôn kính nhất của mỗingười, Nho giáo còn đặt vị trí của thầy ngay sau vua và trước cha (quân, sư,cha) Trong mối quan hệ này, thầy cũng phải gương mẫu, phải xứng đáng làmthầy cả về đạo đức và tài trí ; trò thì phải biết nghĩa, biết lễ, phải tôn kính thầy,phải có tinh thần ham học hỏi, ham hiểu biết, có ý chí cầu tiến

Như vậy, khi bàn về con người, các nhà Nho đã dẫn ra các mối quan hệ cơbản của con người như trên Cách nhìn nhận đánh giá mối quan hệ của con ngườicủa Nho giáo rõ ràng là cách đánh giá nhìn nhận từ góc độ đạo đức xã hội Cácmối quan hệ ấy trong quan niệm của Nho giáo được khái quát thành mười đức,

đó là: "Cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có

ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung" - (Phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ,phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ ấu thuận, quân nhân, thần trung) Các mối quan

hệ ấy liên quan, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau Ở thời Khổng - Mạnh cácmối quan hệ này là quan hệ hai chiều, có đi có lại, mang tính nhân bản sâu sắc

Nó có tác dụng tích cực trong việc giáo dục, đào tạo nhân cách con người trong

xã hội

1.1.2.3 Tư tưởng Nho giáo về giáo dục con người

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, đối tượng nghiên cứu tậptrung là vấn đề con người, bao gồm nghiên cứu bản chất của con người, nghiêncứu các mối quan hệ của con người, và trong nội bộ Nho giáo cũng đã tồn tại

Trang 24

rất nhiều quan điểm, ý kiến xung quanh vấn đề này nhưng cái đích cuối cùng lại

là cùng chung một điểm, đó là cái sự giáo hóa con người, nghĩa là đề cao giáodục và vai trò của nó đối với sự phát triển của con người Nội dung tư tưởng củaNho giáo về giáo duc hết sức phong phú song có thể khái quát ở một số nội dungsau:

Thứ nhất, về đối tượng giáo dục của Nho giáo

Nho giáo nói chung hướng việc giáo dục con người vào việc giáo dục đứcnhân nhằm hướng tới lý tưởng là xây dựng một “xã hội đại đồng” Nghĩa là aimuốn học đều có thể được dạy Bậc chí thánh của Nho giáo là Khổng Tử cũngchính là người đầu tiên mở trường tư dạy học Trong đó đối tượng dạy học củaông là tất cả mọi người theo quan niệm “hữu giáo vô loại” Nghĩa là bất cứ aicũng có thể giáo dục được Khi dạy học, ông nhận dạy tất cả mọi người khôngphân biệt giàu nghèo, hạng người Chẳng thế mà trong số hơn 3000 học trò củaKhổng Tử chỉ có một số ít người là thuộc giới quý tộc, còn lại đều xuất thân từtầng lớp bình dân Khổng Tử nói rằng: “Kẻ nào xin nhập môn, tự mình làm lễdâng một thúc nem, thì chẳng bao giờ ta chê lễ mọn mà chẳng dạy” Ông dạyhọc cũng không phân biệt người thiện kẻ ác Bởi như trên đã nói, phương châmtrong sự giáo dục của Khổng Tử là “hữu giáo vô loại” Sách “Luận ngữ”, ởchương “Thuật nhi” có viết: “Người làng Hỗ Hương có tiếng là ác nghịch, khó

mà giảng điều lành lẽ phải cho họ nghe Có một chàng trai trẻ người làng ấy đếnyết kiến Khổng Tử để xin vào học; chư môn nhân lấy làm nghi hoặc về chàng.Đức Khổng Tử bèn dạy rằng: “người ta có lòng tinh khiết mà đến với mình, thìmình vì lòng tinh khiết ấy mà thâu nhận người, chớ mình không bảo lãnh nhữngviệc đã qua của người” Ông còn nói thêm: “Quân tử giáo hóa người chẳng phânbiệt người thiện kẻ ác”.(Luận Ngữ) Như vậy có thể khái quát quan niệm trên củaNho giáo ở một cụm từ mà ngày nay hết sức phổ biến đó là “giáo dục toàn dân”,điểm này là bước đầu tiên thể hiện sự tiến bộ của Nho giáo trong vấn đề giáo dụccon người

Trang 25

Tuy nhiên bên cạnh điểm tích cực, tiến bộ ấy, trong quan niệm về đốitượng giáo dục của Nho giáo vẫn tồn tại những tư tưởng bảo thủ khi cho rằng:

“Duy nữ tử, tiểu nhân vi nan dưỡng dã” (chỉ có phụ nữ và tiểu nhân là khó giáodục) Xem xét toàn bộ tư tưởng cuả Nho giáo về giáo dục, nhìn chung, có thểthấy được đối tượng giáo dục chủ yếu của Nho giáo là những đối tượng sau đây:thứ nhất là con em giai cấp thống trị để họ tiếp tục sự nghiệp của cha anh; thứhai, con em các tầng lớp khác có điều kiện và tình nguyện trở thành người phục

vụ cho giai cấp thống trị; và thứ ba, dạy cho dân nhằm mục đích dễ sai khiến

Thứ hai, mẫu người mà Nho giáo quan tâm giáo dục

Với đặc điểm tình hình chính trị – xã hội của Trung Hoa lúc bấy giờ, mụctiêu giáo dục con người của Nho giáo gắn liền với mục tiêu xây dựng lại một xãhội thanh bình, có tôn ty trật tự Mục tiêu đó gắn liền với việc xây dựng nhữngmẫu người lý tưởng như: người quân tử, kẻ sỹ, kẻ đại trượng phu với đầy đủ cácphẩm chất như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Thứ ba, về phương pháp giáo dục

Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã đề ra một hệ thốngphương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với những kiến giải sâu sắc Có thể nói với

hệ thống phương pháp giáo dục này, Khổng Tử xứng đáng là một nhà giáo dụclớn Ông đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học rất độc đáo, có thể khái quátgồm:

Một là, phương pháp đối thoại gợi mở, là phương pháp giảng dạy bằngcách trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học nhằm phát huy tínhnăng động, sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người học Ông nói: “Kẻnào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được

Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến của mình, thì ta chẳng khai phát cho được

Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góckia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa – Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát Cử nhứtngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã.”

Trang 26

Hai là: phương pháp kết hợp học đi đôi với hành (“học đi liền với tâp”),lời nói kết hợp với việc làm Khổng Tử nói “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệthồ? – Kẻ học đạo lý mà thường ngày hay luyện tập cho tinh thông, nhuầnnhuyễn, há không lấy đó làm vui sao?” Ông còn nói: “Người quân tử trước họcvăn chương đặng mở rộng tri thức của mình; kế đó, người nương theo lễ giáo màkiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý – Quân tử bác học ư văn;ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ phất bạn hỹ phù” Học là phải thực hành điều đã học vàđem tri thức của mình vận dụng vào trong cuộc sống Học lý thuyết phải luônluôn thực nghiệm, tập lại như chim non tập bay Thực hiện đem những kiến thứccủa mình đã được học vận dụng vào thực tiễn là đang gắn liền học đạo với hànhđạo vậy.

Ba là: Học thì phải “tư ”, phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện

“Tư”, theo Khổng Tử là suy nghĩ, là loại suy và suy diễn, cụ thể là cái nàyphải suy ra cái khác, từ những cái biết rồi suy ra những điều cần phải học hỏi.Khổng Tử nhấn mạnh: “Người nào thường ôn lại những điều đã học, do nơi đó

mà biết thêm những điều mới, người đó có thể làm thầy thiên hạ - Ôn cố nhi tritân, khả dĩ vi sư hĩ” Theo Khổng Tử muốn tiến bộ người học phải luôn cố gắng,

nỗ lực, siêng năng cần cù, có ý thức tự trau dồi tri thức cho mình, phải luôn luôn

có thái độ cầu tiến vượt lên

Bốn là: Học phải vô cố, vô ngã, vô tứ

Nghĩa là phải có thái độ khách quan, khiêm tốn, trung thực, không bảothủ, cố chấp, thiên kiến, lấy cái chủ quan che lấp cái khách quan “Tri chi vi trichi, bất tri vi bất chi, thị tri dã- Biết nói là biết, không biết nói là không biết, thế

là biết vậy”

Trang 27

1.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với con người Việt Nam truyền thống

1.2.1 Khái quát quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam

Nếu lịch sử Nho giáo ở nước Trung Hoa đã kéo dài gần ba mươi thế kỷ thì

ở các nước gọi là "đồng văn" với Trung Hoa Nho Giáo cũng đã tồn tại và pháttriển với lịch sử hàng ngàn năm Ở nước ta, Nho giáo cũng có lịch sử lâu dài vàtrải qua những bước thăng trầm cùng với sự tồn tại và phát triển của chế độ quânchủ

Trước đó, từ thế kỷ VII đến thế kỷ thứ III TCN, các nhà nước Văn Lang

-Âu Lạc đã hình thành và phát triển song nhìn chung nền tảng tư tưởng xã hội vẫn

ở trạng thái cổ sơ Nhà nước quản lý xã hội dựa trên nền tảng những hương ướccủa làng xã, cộng đồng dân cư chứ chưa có hệ tưởng xã hội chính thống và hoànhảo Đến năm 111, ở nước Trung Hoa, sau khi đánh bại tập đoàn phong kiến họTriệu, nhà Tây Hán biến Bắc Bộ Việt Nam thành quận Giao Chỉ Cũng từ đây,người Việt Nam bắt đầu tiếp xúc với Nho giáo Lúc bấy giờ người Việt tiếp xúcvới Nho giáo nói riêng và văn hóa Hán nói chung bằng con đường "cưỡng bức"

Sở dĩ nói như vậy bởi, lúc bấy giờ, Nho giáo là công cụ được người Hán sử dụng

để phục vụ mục đích cai trị và đồng hóa Mặt khác nó cũng được một bộ phậngiới tri thức và quan lại người Việt chủ động tiếp nhận Sau chiến thắng BạchĐằng (938) của Ngô Quyền, sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nước ta giành lạiđược chủ quyền, thiết lập nên chế độ quân chủ Kể từ đó, các thời đại phong kiếnViệt Nam tiếp nối phát triển, từ Đinh, Lý, Trần, Lê, lúc bấy giờ tư tưởng Nhogiáo được người Việt tiếp nhận một cách tự nguyện, chủ động Bởi nó có thể đápứng nhu cầu thực tế trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Đó là nhu cầu tổ chức hệthống chính trị hoàn chỉnh nhằm quản lý xã hội, tất nhiên tồn tại song song cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo và Đạo giáo Từ chỗ được tiếp nhận mộtcách "cưỡng bức" Nho giáo dần dần giữ vai trò ngày càng cao trong việc đề cao

và bảo vệ uy quyền của nhà vua, xây dựng hệ thống quan liêu từ trên xuống

Trang 28

dưới, đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và nhân dân Nho giáo được

du nhập vào Việt Nam không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa

Nó đã được "Việt Nam hóa", Nho sỹ Việt Nam vì lợi ích bảo vệ và xây dựng tổquốc đã khai thác những điểm tích cực của Nho giáo để khẳng định những giá trịtruyền thống của dân tộc Đó là việc xem trọng mối quan hệ vua tôi, coi đó làmối quan hệ có vị trí cao nhất trong "ngũ luân", nhưng họ đòi hỏi nhà vua trướchết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân chứ không trungthành một cách cực đoan, trở thành ngu trung như nho sỹ ở một số nơi khác

Đến thế kỷ XV, Nho giáo nắm được vị trí độc tôn trong tư tưởng ViệtNam Nhà nước phong kiến bắt đầu sử dụng những quy phạm đạo đức của Nhogiáo áp đặt xuống các mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xã, thông qua cácđiều luật, các chỉ dụ, các huấn điều và những quy ước về nghi lễ như tang lễ, hôn

lễ,

Suốt những thế kỷ tiếp theo đó, đặc biệt là thế kỷ XVII, XVIII, Nho giáovẫn giữ vị trí là hệ tư tưởng thống trị xã hội nhưng đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế,tiêu cực

Bước sang thế kỷ XIX, trước sự phát triển và thâm nhập của Chủ nghĩa tưbản vào các nước Châu Á lạc hậu, cùng với sự lan tỏa trên phạm vi thế giới củanền văn minh phương Tây, chế độ phong kiến Việt Nam thời Nguyễn và hệ tưtưởng của nó là Nho giáo trở nên lỗi thời Lúc bấy giờ Nho giáo đã trở thành lựccản to lớn đối với sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX, chế độ phongkiến cùng với hệ tư tưởng của nó là Nho giáo Việt Nam đã trở nên bất lực trướctình thế và thời cuộc, Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Cùnglúc này, văn hóa phương Tây và hệ tư tưởng tư sản tràn vào Việt Nam, đồng thờinền giáo dục Nho học bị bãi bỏ Nho giáo ở Việt Nam tiếp tục suy tàn và đổ vỡ.Tuy nhiên, thực dân Pháp thống trị vẫn muốn dùng chế độ phong kiến và tưtưởng Nho giáo để củng cố chế độ thuộc địa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cai

Trang 29

trị dân bản xứ Nhìn chung, Nho giáo dưới thời Pháp thuộc để lại nhiều ảnhhưởng tiêu cực của nó trong đời sống xã hội nói chung và sinh hoạt văn hóa nóiriêng Chính vì thế, bản "Đề cương văn hóa" của Đảng cộng sản Đông Dươngsoạn thảo do Trường Chinh khởi thảo (năm 1943) đã nhấn mạnh việc cần phảiđấu tranh về học thuyết tư tưởng nhằm đánh tan những quan điểm sai lầm củatriết học Khổng - Mạnh.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh tan chế độ phong kiến nửa thuộcđịa, cũng làm sụp đổ hoàn toàn vị trí của Nho giáo trong xã hội Từ đây, có thểnói, trên phương diện là một vũ khí tư tưởng của giai cấp thống trị cùng vớinhững nghi lễ cung đình phức tạp của nó không còn tồn tại nữa Nhưng trong xãhội Việt Nam, ảnh hưởng của những tư tưởng Nho giáo vẫn tồn tại bền bỉ, daidẳng trong tâm lý, tư tưởng xã hội, biểu hiện trong mối quan hệ xã hội, trongcách ứng xử giữa người với người trong phong tục tập quán,

Cho đến ngày nay, những tàn dư của xã hội phong kiến trong đó có tưtưởng Nho giáo trong xã hội Việt Nam vẫn còn tồn tại, vẫn có ảnh hưởng sâu sắc

và toàn diện đến đời sống xã hội

Tóm lại, Nho giáo đã tồn tại và phát triển ở Việt Nam suốt hơn hai mươithế kỷ Sự có mặt tất yếu và vai trò lịch sử của Nho giáo ở Việt Nam không táchrời sự hình thành và tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam Nho giáo đã đápứng được những yêu cầu phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam Khi chế độphong kiến suy tàn thì Nho giáo Việt Nam cũng trở nên lỗi thời, lạc hậu và cónhững ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển xã hội Ngày nay ở Việt Nam,Nho giáo không còn tồn tại với đầy đủ những cơ sở xã hội, cơ chế vận hành của

nó nữa, nhưng những tàn dư của nó vẫn tồn tại dai dẳng ở hành vi và nếp cảm,nếp nghĩ của mọi người Trong những tàn dư đó chứa đựng những giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc, đồng thời cũng mang theo những ảnh hưởng tiêu cựccủa chế độ phong kiến Vấn đề là phải làm rõ những ảnh hưởng tích cực và tiêu

Trang 30

cực đó để từ đó có thể gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, sử dụng những yếu tố tíchcực để xây dựng con người, giáo dục con người, xây dựng xã hội mới.

1.2.2 Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo đối với con người Việt Nam

Xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng vốn là xãhội mà tàn dư công xã kéo dài, tính cộng đồng trong ý thức và hành vi của conngười có thể sâu nặng hơn ở nơi khác Con người Việt Nam gắn bó với gia đình

và dòng họ, với làng xã, quê hương đất nước Đối với họ, hạnh phúc chỉ có thểthực hiện trong cuộc sống cộng đồng mà thôi Và bất hạnh lớn nhất của conngười là phải sống cuộc đời cô đơn, chịu sự ruồng bỏ của gia đình và sự khinh bỉcủa bà con họ hàng, làng xóm Đó là sự ràng buộc mang tính truyền thống màcon người Việt Nam không thể vượt qua được và vì vậy họ yêu quý cộng đồngmình, tôn trọng tình cảm, nguyện vọng và dư luận của cộng đồng Cũng vì thế, ở

xã hội phương Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, đạo đức giữ một vịtrí cực kỳ quan trọng Cách đây 4000 năm, Khổng Tử và học trò của ông đã sớmnhận ra sức mạnh của đạo đức ở trong xã hội Trung Quốc cổ đại và ở các nướcphương Đông thời ấy Chính vì thế mà học thuyết Nho giáo của Khổng Tử trướchết là học thuyết chính trị - xã hội đạo đức Nó có ảnh hưởng sâu sắc đối với conngười Việt Nam Ở trong những thời điểm thịnh trị của chế độ phong kiến, nó cónhững ảnh hưởng tích cực đối với xã hội Việt Nam

Trước hết là ở cương vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và

uy thế góp phần củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệmmẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nước phong kiến tập quyền theomột quy mô hoàn chỉnh có đầy đủ những thể chế và điều phạm Mà ở thế kỷ XV,các xu thế phát triển đó đã và đang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hộiViệt Nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng

Như đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêucầu phát triển nền kinh tế tiểu nông gia trưởng dựa trên quyền sở hữu của giaicấp địa chủ của nhà nước và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về

Trang 31

ruộng đất Vì thế cho nên khi chiếm được vị trí chủ đạo trên vòm trời tư tưởngcủa chế độ phong kiến, Nho giáo càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này Nólàm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá được đẩy mạnh hơntrước

Đồng thời Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực vănhoá tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm chonền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ, nhất là dưới triều Lê Thánh Tông Nềngiáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảochưa từng thâý trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Do đó khoa học vàvăn học nghệ thuật có những bước phát triển mạnh mẽ, vượt bậc

Sự phát triển và vai trò của Nho giáo trong lịch sử nước ta, đặc biệt ở thế

kỷ XV là thời kỳ phát triển thịnh trị nhất của chế độ phong kiến, đã góp phầnthúc đẩy lịch sử tư tưởng ở nước ta tiến lên một bước mới Cụ thể, nó cổ vũ vàkhuyến khích mọi người đi sâu vào tìm hiểu các mối quan hệ xã hội, những vấn

đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức

Trong quan niệm của Nho giáo, đạo đức, kỷ cương trong xã hội có vai tròquan trọng Thể hiện ở hệ thống các phạm trù đạo đức mà Nho giáo đã đặt ra, cụthể đó là "ngũ luân", "tam cương", "ngũ thường", Những tư tưởng này có ảnhhưởng to lớn đến đời sống tư tưởng của nhân dân ta "Ngũ luân" là năm mốiquan hệ theo lẽ thường của mỗi người, bao gồm các mối quan hệ: vua tôi, chacon, chồng vợ, anh em, bạn bè Trong đó ba mối quan hệ đầu tiên là ba mối quan

hệ cơ bản, quan trọng nhất được gọi là tam cương Chịu ảnh hưởng sâu sắc củaNho giáo Trung Quốc nên Nho sỹ Việt nam cũng coi trọng nhất là mối quan hệvua tôi trong "ngũ luân" Tuy nhiên giữa quan niệm của Nho giáo Trung Quốc vàNho giáo Việt Nam về mối quan hệ này có sự khác biệt Cụ thể, nếu như vớiNho giáo Trung Hoa "trung" với vua là nguyên tắc tuyệt đối, không thể thay đổi,tức là kẻ bề tôi phải tuyệt đối trung thành với vua, không được trái lệnh vua vàlàm mất lòng vua Thì ở Nho giáo Việt nam, "trung" với vua được hiểu theo một

Ngày đăng: 13/12/2013, 13:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB: Văn hóa thông tin, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa thông tin
Nhà XB: NXB: "Văn hóa thông tin"
2. Nguyễn Đăng Duy, Nho giáo với văn hóa Việt Nam, NXB: Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB: Hà Nội
3. Vũ Khiêu, Nho giáo xưa và nay, NXB: Khoa học xã hội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Nhà XB: NXB: Khoa học xã hội
4. Vũ Khiêu, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, NXB: Khoa học và xã hội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam
Nhà XB: NXB: Khoa học và xã hội
5. Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho, NXB: Thế giới, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đạo Nho
Nhà XB: NXB: Thế giới
6. Nho giáo tại Việt Nam, NXB: Khoa học và xã hội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo tại Việt Nam
Nhà XB: NXB: Khoa học và xã hội
7. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử triết học phương Đông, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Nhà XB: NXB Thành phố HồChí Minh
8. Phạm Quýnh; Nguyễn Quốc Thái, Bách gia chư tử giản thuật, NXB: Văn hóa thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách gia chư tử giản thuật
Nhà XB: NXB: Vănhóa thông tin
9. Lê Văn Quán, Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc, NXB Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, NXB Văn hóa, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Tử
Nhà XB: NXB Văn hóa
11. Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông: Gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB: Văn học, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông: Gợi những điểm nhìn thamchiếu
Nhà XB: NXB: Văn học
12. Các trang báo điện tử: Vietnamnet; lyluanchinhtri.vnu.edu; nhandan.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w