1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính từ thực tiễn tỉnh đắk nông

80 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ nghiên cứu Khi nghiên cứu nội dung trên, Luận văn đề ra những nhiệm vụ trọngtâm sau: - Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn: TS Phạm Minh Tuyên

Hà Nội, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn đây là công trình nghiên cứu khoa học củariêng tôi dưới sự định hướng, giúp đỡ của thầy hướng dẫn Các số liệu, kếtquả in trong luận văn là khách quan, trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thểbảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

VÕ VĂN VINH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo vàcủa nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân

Trước hết tôi xin gửi tới quý thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học xã hộilời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc với sự quan tâm,giảng dạy, chỉ bảo tận tình, chu đáo của các thầy cô, đến nay tôi đã hoàn

thành luận văn, đề tài: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông”.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Phạm Minh Tuyên đã quan tâm giúp đỡ, tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận

văn này trong thời gian qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Học viện Khoa học xã hội, cácKhoa, Phòng chức năng đã trực tiếp và gián tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đắk Lắk, 07 tháng 5 năm 2019

Học viên

VÕ VĂN VINH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài 2

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4

7 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 6

1.1 Khái niệm về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 6

1.2 Cơ sở của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 9

1.2.1 Cơ sở lý luận 9

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.3 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hành chính 16

1.3 Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính qua các giai đoạn 20

Trang 6

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Pháp lệnh giải quyết các

vụ án hành chính năm 1996 20

1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến trước khi ban hành Luật tố tụng Hành chính năm 2010 22

1.3.4 Những nội dung cơ bản về Luật Tố tụng Hành chính năm 2015 ở nước ta hiện nay 27

Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NĂM 2015 29

2.1 Khái niệm tố tụng hành chính 29

2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 33

2.2.1 Về lý thuyết 33

2.2.2 Một số nhiệm vụ của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 36

2.2.3 Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án 37

2.2.4 Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án 37

2.2.5 Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử 37

2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán tại phiên tòa sơ thẩm 37

2.3.1 Quyết định tạm đình chỉ vụ án hành chính 39

2.3.2 Quyết định đình chỉ giải quyết vụ hành hành chính 40

2.3.3 Quyết định chuyển vụ án cho Tòa án khác 40

2.3.4 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời 41 2.3.5 Thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm 41

2.3.6 Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm 42

2.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 43 2.4.1 Thụ lý vụ án hành chính phúc thẩm 44

2.4.2 Thẩm quyền của Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm 47

Trang 7

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG - MỘT SỐ GIẢI PHÁP 51

3.1 Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết

vụ án hành chính tại tỉnh Đắk Nông 513.1.1 Sơ lược đặc điểm về địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Nông 513.1.2 Một số kết quả đạt được trong hoạt động của Tòa án nhân dân tỉnh ĐăkNông 523.1.3 Một số vướng mắc, bất cập trong hoạt động áp dụng tố tụng hành chínhtrên địa bàn tỉnh 563.1.4 Nguyên nhân của vướng mắc, bất cập trong hoạt động tố tụng hành chínhtrên địa bàn tỉnh Đăk Nông 583.1.5 Một số đánh giá về thực trạng khi nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phántheo pháp luật tố tụng hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Nông 593.2 Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩmphán trong tố tụng hành chính 603.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Tòa án 603.2.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính 613.2.3 Nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất đạo đức của Thẩmphán 623.2.4 Thay đổi chính sách tiền lương, nâng cao điều kiện làm việc cho Thẩmphán 633.2.5 Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan 643.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyển, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thứcpháp luật trong nhân dân 64

KẾT LUẬN 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

Hội đồng nhân dân

Ủy ban nhân dân

Ủy ban Mặt trận Tổ quốcQuyết định hành chínhHành vi hành chínhPhó giáo sư, tiến sỹTiến sĩ

Thạc sĩNghiên cứu sinh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với Việt Nam khẳng định trong Hiến pháp “Quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Cùng với cơchế phối hợp trong thực hiện chức năng nhà nước thì việc thông qua Hiếnpháp năm 2013 đã mở ra bước ngoặt mới trong nhận thức mang tính Hiếnđịnh về quyền Tư pháp ở Việt Nam Có thể nói, từ khi Hiến pháp năm 2013được thông qua, trong nhận thức của xã hội Việt Nam đã đánh dấu một bướcngoặt mới trong nhận thức mang tính hiến định về quyền Tư pháp Bởi lẽ, căn

cứ vào quy phạm đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 thì chỉ có Tòa

án nhân dân, với tư cách là cơ quan tư pháp của Việt Nam mới có thẩm quyền

“thực hiện quyền tư pháp” [11, Điều 102] Tiếp theo đó là việc khẳng địnhTòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền côngdân lên trước nhiệm vụ bảo vệ chế độ Lẽ đương nhiên hai nhiệm vụ này ởtrong nhau, song nhiều khi cũng có sự khác biệt Bảo vệ công lý luôn đượcthừa nhận là đặc trưng riêng có của tư pháp – Tòa án Chỉ với nhiệm vụ bảo

vệ công lý thì Tòa án mới có thể bảo vệ được quyền con người và quyền côngdân Chỉ Tòa án mới có thể là nơi bảo vệ tài sản và danh dự, nhân phẩm củacon người, là cái khiên đỡ cuối cùng cho tự do

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, ngày 25 tháng 11 năm 2015, tại Kỳ họpthứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật tố tụng hành chính Trong thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn Thẩm phán thực hiện chức năng của Tòa án quy địnhtại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Văn bản luật bổ sung nhiều quyđịnh mới trong đó có nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong giải quyết vụ ánhành chính Đây là một nội dung mới, nhưng với kiến thức giáo viên đã truyền

Trang 10

“Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính từ thực tiễn tỉnh Đắk Nông” làm Luận văn bảo vệ tốt nghiệp Thạc sỹ Luật học.

Với mục đích trên cơ sở nghiên cứu sẽ đề ra giải pháp cho việc nâng cao hiệuquả trong thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hànhchính thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Luật Tố tụng hành chính năm 2014, được Quốc hội thông qua năm 2015,đây là một văn bản gần như hoàn thiện phục vụ cho công tác giải quyết các vụ ánhành chính, nên việc nghiên cứu đối với nội dung này hiện đang ở dạng phản ánhcủa các bài báo mà chưa đề cập đến một cách có hệ thống như đề tài, luận văn.Qua theo dõi tạp chí, các bài viết đang trình bày ở dạng điểm mới, quy trình mớitheo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 so với Luật Tố tụng hànhchính năm 2010, như: Bàn về Thẩm quyền xét xử sơ thẩm Vụ án Hành chính củaTòa án nhân dân ở nước ta hiện nay, của NCS Nguyễn Thị Hà, giảng viên khoaLuật trường Đại học Vinh, Tạp chí Nghề Luật Số 3 năm 2017; Đoàn Thị NgọcHải, Phân cấp thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành chính- một số vấn đề cần

được hoàn thiện; Nguyễn Mạnh Hùng "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hành

chính theo Luật Tố tụng hành chính - Sự kế thừa, phát triển và những nội dungcần tiếp tục được hoàn thiện"

Việc nghiên cứu chuyên sâu đối với nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩmphán theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính chưa có, trên địa bàn tỉnhĐắk Nông càng chưa có bài viết hoặc đề tài nào Đây là một đề tài hoàn toànmới, chưa có công trình nào đề cập

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật

tố tụng hiện hành, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn

Trang 11

trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán Trên cơ sởnghiên cứu đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả trong thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hành chính.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi nghiên cứu nội dung trên, Luận văn đề ra những nhiệm vụ trọngtâm sau:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong công tác tư pháp;

-Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính tại địa bàn tỉnh Đắk Nông;

- Hệ thống các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩmphán theo pháp luật tố tụng hành chính ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưuđiểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính tại địabàn tỉnh Đắk Nông;

-Phân tích yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện trong việc quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính đáp ứngyêu cầu của nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Với những nhiệm vụ nghiên cứu như trên, đòi hỏi phải tiếp cận Luận văn

từ góc độ lý luận và thực tiễn nhằm chứng minh tính hợp lý của các quy địnhpháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hànhchính ở nước ta hiện nay Đồng thời, khi đánh giá về trạng thái pháp luật cũngcần được xem xét từ khía cạnh “động” của pháp luật Nghĩa là tiếp cận nghiêncứu các quy định của pháp luật cả từ phương diện đời sống thực tiễn chứ khôngchỉ các quy định khuôn mẫu Tiếp đến, Luận văn nghiên cứu những cơ sở pháp

lý hiện nay để xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm pháp theo pháp luật tố

Trang 12

tụng hành chính Kết hợp việc rà soát các quy định của pháp luật thực định vềnhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo pháp luật tố tụng hành chính nước

ta hiện nay và nhất là tình hình giải quyết các vụ án hành chính trên địa bàntỉnh Đắk Nông, những thuận lợi, khó khăn khi giải quyết loại án này trên địabàn Đắk Nông, từ đó Luận văn đưa ra những kiến nghị khoa học để nâng caohiệu quả hoạt động của Thẩm pháp trong thực hiện nhiệm vụ theo pháp luật tốtụng hành chính nói chung và hệ thống Tòa án và Tòa án nhân dân hai cấptỉnh Đắk Nông nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng những phương phápnghiên cứu khoa học có tính phổ quát như: so sánh, phân tích, quy nạp, tổnghợp, chứng minh, diễn dịch, thống kê,…

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân, đồng thời nêu ranhững bất cập thường gặp của Thẩm phán khi giải quyết các vụ án hành chínhnói chung và những bất cập khi giải quyết các vụ án hành chính tại tỉnh ĐắkNông nói riêng Qua đó, có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu cácvấn đề thực hiện nhiệm vụ của các chức danh tư pháp và hoàn thiện hệ thống

tư pháp để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận văn đã xác định mục đích của việcnghiên cứu Để phù hợp với mục đích trên luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩmphán trong tố tụng hành chính;

Chương 2: Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo Luật

Tố tụng hành chính năm 2015;

Trang 13

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính tại tỉnh Đăk Nông – Một số giải pháp.

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 14

Cùng với việc ghi nhận Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủthực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án thực hiệnquyền tư pháp Trong cơ chế phân công quyền lực nhà nước, việc xác định rõquyền tư pháp của Tòa án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo

sự độc lập của quyền tư pháp đối với quyền lập pháp và quyền hành pháp

Mặc dù tuyên bố Tòa án thực hiện quyền tư pháp, nhưng Hiến pháp năm

2013 không xác định phạm vi của quyền tư pháp, trong khi đồng thời khẳng định

“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam” [11, Điều 102] Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm quyền tư pháp vẫn cónhững cách hiểu khác nhau Sự không rõ ràng này được thể hiện trong việc ghinhận của Hiến pháp năm 2013 về cả quyền xét xử và tư pháp Trong giới họcthuật, trong khi đa số đều cho rằng xét xử là nội dung cơ bản, cốt lõi của quyền

tư pháp, nhưng một số vẫn cho rằng hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm Tòa

án, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án Theo quan điểm củatôi, nội dung cốt lõi của quyền tư pháp là xét xử - thẩm quyền được Hiến pháp vàpháp luật trao cho các Tòa án và Thẩm phán trong việc xem xét và phán quyếtcác vụ việc tranh chấp, vi phạm theo trình tự tố tụng Tuy vậy,

Trang 15

trong khoa học và thực tiễn xét xử trên thế giới, phạm vi quyền tư pháp ngàyđược mở rộng, bao gồm quyền xét xử, quyền xem xét tính hợp hiến của cácđạo luật, văn bản quy phạm pháp luật và quyền giải thích hiến pháp, luật [45].Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Thẩm phán được làm nhiệm

vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Tòa ántheo sự phân công của Chánh án nơi Thẩm phán đó công tác hoặc thực hiệnbiệt phái đến Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính với tưcách là người tiến hành tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Khi tham gia tố tụng hành chính, Thẩm phán có quyền thẩm tra, xácminh và tiến hành lập hồ sơ vụ án Để việc xác minh có hiệu quả thì trước hếtThẩm phán phải có định hướng cụ thể như tự mình thẩm tra, xác minh hay ủythác cho tòa án khác thực hiện quyền đó hiệu quả hơn? Nhứng quan hệ tốtụng nào cần được xác định? Vụ việc đó có thuộc thẩm quyền của tòa hànhchính nơi mình được giao nhiệm vụ không ?

Thẩm phán là người có quyền xem xét một cách toàn diện vụ án hànhchính để có thể ra những quyết định cần thiết, phù hợp với yêu cầu giải quyết

vụ án hành chính ở các giai đoạn xét xử vụ án hành chính Những quyết địnhnày có thể là: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ việc áp dụng các biệnpháp khẩn cấp tạm thời hay quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc giảiquyết vụ án hành chính hoặc quyết định bác kháng cáo, kháng nghị quá hạn,quyết định việc triệu tập người tham gia phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xétxử

Khi xét xử vụ án hành chính theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốcthẩm hay tái thẩm, Thẩm phán có quyền cùng các thành viên khác của Hội đồngxét xử bàn bạc dân chủ để đi tới phán quyết “thấu tình, đạt lý” nhất cho vụ án.Khi xét xử các vụ án hành chính, Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo phápluật Họ không chịu sự chi phối của bất kỳ ai hoặc bất kỳ cơ quan nào, trái lại,

Trang 16

họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân về các hoạt động củamình Ngoài ra, Thẩm phán cũng có quyền tiến hành các hoạt động khácthuộc thẩm quyền khi xét xử vụ án hành chính theo quy định của pháp luật.

1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo Luật Tố tụng hành chính năm

2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi được Chánh án Tòa

án phân công, Thẩm phán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1 Xử lý đơn khởi kiện;

2 Lập hồ sơ vụ án hành chính;

3 Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên tòa, phiên họp đểgiải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật này;

4 Quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

5 Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục đưa vụ án hành chính ra giải quyết;

6 Giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;

7 Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ và đối thoại theo quy định của Luật này;

8.Quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử;

9.Triệu tập người tham gia phiên tòa, phiên họp;

10 Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật này;

11 Chủ tọa hoặc tham gia Hội đồng xét xử vụ án hành chính; biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;

12 Xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hành chính

có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và đề nghị

Trang 17

Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét văn bản hành chính, hành vi hành chính đó theo quy định của pháp luật;

13 Phát hiện và đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị với cơ quan có thẩmquyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật códấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quannhà nước cấp trên theo quy định của Luật này;

14 Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hành chính theo quy định củapháp luật;

15.Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này [Điều

38, 12]

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Tốtụng hành chính năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn cho Thẩm phán trong những giai đoạn tố tụng cụ thể và trên cơ sở lý luận chung

1.2 Cơ sở của việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

1.2.1 Cơ sở lý luận

Theo Hiến pháp, quyền lực nhà nước của ta hiện nay, Bộ máy nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc “Tất cảquyền lực nhà nước thuộc về nhân dân … quyền lực nhà nước là thống nhất, có

sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp” [11, Điều 2] Hoạtđộng tư pháp nói chung theo quy định pháp luật hiện hành là hoạt động khởi tố,điều tra, truy tố và xét xử Các hoạt động này do Tòa án nhân dân, Viện kiểm sátnhân dân và cơ quan điều tra thực hiện, trong đó, Tòa án nhân dân là cơ quanduy nhất thực hiện chức năng xét xử Vì vậy, trong bối cảnh đất nước ta hiệnnay, việc trao thêm cho Tòa án nhân dân chức năng xét xử vụ án hành chính làphù hợp với cách thức phân công thẩm quyền của các cơ quan trong

Trang 18

bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng, bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa.

Vụ án hành chính chỉ phát sinh khi có đơn khởi kiện của cơ quan, tổ chức,

cá nhân yêu cầu Tòa án bảo vệ và bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp củamình, bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước thông qua hành

vi nộp đơn khởi kiện tại Tòa án Nguyên tắc này thể hiện quyền tự định đoạt và

tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc lựa chọn cơ chếgiải quyết tranh chấp bằng thủ tục tố tụng

Bảo đảm sự thống nhất trong giải quyết khiêu kiện hành chính: Vềnguyên tắc, một vụ việc không thể do hai cơ quan đồng thời thụ lý giải quyết

vì rất dễ dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, chồng chéo của các cơ quan

có thẩm quyền và người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước hoặc có thểxảy ra tình trạng không thống nhất trong kết quả giải quyết, gây lãng phí thờigian, công sức, tiền bạc của cơ quan công quyền; ảnh hưởng niềm tin củangười dân vào hoạt động quản lý nhà nước Vì vậy, khi cơ quan, tổ chức, cánhân đồng thời khiếu nại và khiếu kiện thì pháp luật quy định họ phải lựachọn cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của mình

Hoạt động xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân đáp ứng đượcyêu cầu cải cách tư pháp và cải cách hành chính theo tinh thần nghị quyết củaĐảng đề ra; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ con người, quyền công dân, bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,

cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Đồng thời,thông qua hoạt đông xét xử của mình, Tòa án có những kiến nghị thích hợpnhằm bảo đảm tính ổn định, thông suốt và hiệu lực của nền hành chính quốc gia;nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước bằng Hiến pháp và pháp luật

Việc trao quyền cho Tòa án nhân dân xét xử các vụ án hành chính đã gópphần thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, buộc các cõ quan nhà nýớc phải

Trang 19

tự nâng cao nãng lực quản lý và ý thức trách nhiệm; làm cho các cơ quanquản lý hành chính nhà nước và cán bộ, công chức trong các cơ quan đó phảithận trọng, cân nhắc hơn khi ban hành một quyết định hoặc thực hiện mộthành vi hành chính trong hoạt động công vụ.

Việc giải quyết khiếu kiện đối với quyết định hành chính, hành vi hànhchính phù hợp với quy định của pháp luật đem lại niềm tin của nhân dân vàopháp luật, vào cơ quan xét xử, vào cơ quan quản lý hành chính nhà nước Qua

đó góp phần tuyên truyền, giáo dục đường lối của Đảng và chính sách, phápluật của Nhà nước; nâng cao ý thức pháp luật của các cơ quan nhà nước vàcủa công dân

Phán quyết của Tòa án nhân dân về tính hợp pháp của quyết định, hành

vi bị khiếu kiện bảo đảm được tính khách quan, đem lại lòng tin cho người khiếukiện, từ đó có thể chấm dứt tình trạng khiếu kiện đông ngườu, vượt cấp, gópphần giữ vững và ổn định tình hình chính trị, xã hội của đất nước trong giaiđoạn hội nhập Quốc tế hiện nay

Hoạt động xét xử hành chính còn góp phần nâng cao hiệu quả công tácxây dựng pháp luật

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Do truyền thống pháp lý, tâm lý xã hội và các yếu tố khác tác động đếnxét xử hành chính: người dân e ngại khiếu nại hành chính, cơ quan công quyềntìm cách trù dập người khiếu nại … Vì vậy, xây dựng thẩm quyền xét xử hànhchính của Tòa án là giải pháp cần thiết để phát huy dân chủ, coi trọng và bảo vệNhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, kiên quyết xử lýnghiêm minh, kịp thời những hành vi độc đoán, chuyên quyền, ức hiếp dân, đồngthời có cơ chế hữu hiệu, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đượckhách quan, công bằng, đúng quy định của pháp luật và kết quả giải quyết

Trang 20

vụ án được tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tôn trọng vànghiêm túc chấp hành.

Dó tính độc lập trong tổ chức hoạt động và xét xử của Tòa án nên việcgiải quyết tranh chấp hành chính thông qua tố tụng sẽ khắc phục tình trạng

“vừa đá bóng, vừa thổi còi”, tạo cho công dân một cơ chế hữu hiệu bảo vệquyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật

Hiệu quả của thực tiễn xét xử hành chính: Vì tính chất độc lập trunggian của Tòa án nên hoạt động xét xử hành chính góp phần tăng cường hiệulực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân

Bản chất của tố tụng hành chính thể hiện ở việc quy định giữa pháp luật tốtụng hành chính với các loại tố tụng khác, nó vừa mang tính đặc thù nhưng đồngthời cũng mang tính phổ quát bởi các đặc điểm của các quy phạm tố tụng hànhchính cũng như tính phổ quát trong quá trình tố tụng nói chung Nghiên cứu về

tố tụng hành chính cho thấy tố tụng hành chính là một loại hoạt động đặc thù dotòa án thực hiện, để xét xử các vụ án hành chính Đây là một trong nhữngphương thức hữu hiệu bảo vệ hiệu quả quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân,

tổ chức Tố tụng hành chính được điều chỉnh bằng quy phạm tố tụng hành chính.Trọng tâm của hoạt động tố tụng là xét xử, phán quyết về tính hợp pháp của cácquyết định hành chính, hành vi hành chính, tuyên hủy toàn bộ hay từng phầnquyết định hành chính, đình chỉ hành vi hành chính trái pháp luật của cơ quanhành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan đó xâm hại tớiquyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Hoạt động xét xử vụ án hành chính

sẽ làm cho cơ quan hành chính nhà nước nâng cao trách nhiệm, tăng cường phápchế trong quản lý hành chính nhà nước và thông qua hoạt động này nâng cao tinhthần, ý thức của cán bộ công chức trong thực thi công vụ, tôn

Trang 21

trọng bảo vệ quyền tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp của công dân Tố tụnghành chính khác biệt với các loại hình tố tụng khác ở những nội dung sau:

1.2.2.1 Đối tượng xét xử trong vụ án hành chính.

Đối tượng xét xử trong một vụ án hành chính do tòa án thực hiện là cácquyết định hành chính bị kiện, hành vi hành chính bị kiện, quyết định kỷ luậtbuộc thôi việc đối với cán bộ công chức do các cơ quan nhà nước, cơ quanhành chính nhà nước ban hành và những hành vi do những người có thẩmquyền trong những cơ quan đó thực hiện Ngoài các quyết định đề cập ở trên,

cơ quan hành chính còn ban hành nhiều quyết định hành chính trong lĩnh vực

an ninh, quốc phòng, đối ngoại…Quyết định hành chính cá biệt còn được thểhiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: văn bản, công điện, điện báo, fax,khẩu lệnh…Trong số các quyết định hành chính thì quyết định hành chính thểhiện bằng hình thức văn bản (giấy tờ) là quan trọng nhất

Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính luôn gắnvới quyền lực nhà nước thể hiện ở nội dung công vụ (lợi ích chung của Nhànước, xã hội) Đây là điểm khác biệt với các quyết định hành chính nội bộ của cơquan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, ban hành nhằm giải quyếtnhững vấn đề nội bộ và lợi ích của chính cơ quan tổ chức đó Căn cứ vào sựphân tích trên có thể khẳng định đối tượng xét xử vụ án hành chính là một trongnhững điểm khác biệt cơ bản nhất so với các loại hình tố tụng khác

Đối tượng xét xử trong vụ án hành chính ngoài quyết định hành chính còncác hành vi hành chính bị kiện, đó là “là hành vi của cơ quan hành chính nhànước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơquan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nýớc thực hiện hoặckhông thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật; làm ảnh hưởngđến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”

Trang 22

Hành động ở đây đồng nghĩa với hành vi vì nó đều là cách xử sự của cán

bộ, công chức biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng các việc làm cụthể theo quy định của pháp luật Như vậy, hoạt động công vụ chính là các hành

vi của đội ngũ cán bộ, công chức

Hoạt động công vụ, xét trong mối quan hệ với hệ thống hành pháp, lànhững hành vi do đội ngũ cán bộ công chức trong cơ quan hành chính tiếnhành nhằm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên các mặt khác nhau củađời sống xã hội…Đó là hành vi thực hiện chức trách do Nhà nước quy định.Hành vi hành chính là một dạng của hành vi công vụ ngoài các dấu hiệuchung như các hành vi công vụ khác

Lĩnh vực quản lý hành chính là một lĩnh vực hết sức phong phú, phức tạp,theo đó hành vi hành chính của cán bộ, công chức thực hiện công vụ cũng có sốlượng đặc biệt lớn và đa dạng, phong phú như vậy Tuy nhiên, hành vi hànhchính thuộc đối tượng xét xử trong vụ án hành chính chỉ là một loại hành

vi hành chính, được pháp luật tố tụng hành chính quy định, đó là hành vi củangười có thẩm quyền (cán bộ, công chức) trong cơ quan Nhà nước, cơ quanhành chính Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ của quản lý hành chínhNhà nước

Hành vi hành chính được biểu hiện dưới hai hình thức hành động, khônghành động, hợp pháp và không hợp pháp Ở đây chỉ xem xét đến những hành

vi không hợp pháp gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi ích hợp pháp của cánhân, tổ chức Đó là những hành vi lạm dụng quyền hạn hoặc không thực hiệnnghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu phải làm để thỏa mãn yêu cầu hợp pháp của cánhân, tổ chức Việc nghiên cứu về quyết định hành chính, hành vi hành chính

có ý nghĩa thiết thực cho việc xác định rõ phạm vi thẩm quyền của Tòa án xét

xử vụ án hành chính và đồng thời hoàn thiện cơ chế khiếu kiện hành chính vàgiải quyết khiếu kiện do Tòa án thực hiện

Trang 23

1.2.2.2 Quy trình trong hoạt động tố tụng hành chính

Tố tụng hành chính là một loại thủ tục pháp lý được quy định trong luật

tố tụng hành chính Đó chính là tổng thể các quy phạm pháp luật tố tụng hànhchính quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của tòa án, trong đó

có tòa hành chính nhằm giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền lợi ích hợppháp của cá nhân, tổ chức Đây là đặc thù của tố tụng hành chính so với tốtụng hình sự, tố tụng dân sự Trong quá trình thực hiện hoạt động xét xử vụ ánhành chính (hoạt động trọng tâm của tố tụng hành chính) Tòa án thực hiệnnhững hoạt động tác nghiệp theo trình tự tố tụng hành chính nhất định làmphát sinh quan hệ giữa các chủ thể mang quyền lực nhà nước với nhau đó làquan hệ giữa tòa án cấp dưới với tòa cấp trên trong trường hợp xét lại bản án,quyết định theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án quyết định sơ thẩm chưa cóhiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; trong trường hợp ủy thác điều tracho tòa án khác điều tra xác minh thu thập chứng cứ mà mình không có điềukiện tiến hành; quan hệ giữa các thành viên của hội đồng xét xử với nhau,giữa chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng, quan hệ giữa cácđương sự với nhau tại phiên tòa hành chính Đặc biệt thủ tục tố tụng hànhchính diễn ra tại tòa án luôn có sự hiện diện của cơ quan nhà nước, cơ quanhành chính và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó Các loại hình tốtụng khác không có các chủ thể tham gia này

Trong khi tiến hành giải quyết một vụ án hành chính, tòa án còn tiến hànhhàng loạt các hoạt động từ khâu thụ lý, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm, xét xửphúc thẩm và thi hành án Toàn bộ những hoạt động này phải tuân thủ một cáchnghiêm ngặt trình tự thủ tục tố tụng hành chính Hoạt động này diễn ra đúngtrình tự, thủ tục sẽ tạo điều kiện đưa các quy phạm pháp luật có liên quan vàogiải quyết một vụ việc tranh chấp hành chính cụ thể Chính thủ tục tố

Trang 24

tụng hành chính là một trong những yếu tố dẫn đến sự khác biệt về hoạt độngxét xử vụ án hành chính với hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự…

Như vậy thủ tục tố tụng hành chính là phương tiện quan trọng giúp tòa

án giải quyết vụ án hành chính đạt hiệu quả cao phù hợp với thực tiễn kháchquan và đúng tiến độ Thủ tục tố tụng hành chính còn giới hạn những phạm vinhững vấn đề nhất định mà tòa án nói chung, tòa hành chính nói riêng đượcthực hiện nhằm giải quyết những công việc cụ thể thuộc thẩm quyền

1.2.3 Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hành chính

Việc thông qua Hiến pháp năm 2013 đã mở ra bước ngoặt mới trongnhận thức mang tính Hiến định về quyền Tư pháp ở Việt Nam Có thể nói, từkhi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, trong nhận thức của xã hội ViệtNam đã đánh dấu một bước ngoặt mới trong nhận thức mang tính hiến định

về quyền tư pháp Bởi lẽ, căn cứ vào quy phạm đã được ghi nhận trong Hiếnpháp năm 2013 thì chỉ có Tòa án nhân dân, với tư cách là cơ quan tư pháp củaViệt Nam mới có thẩm quyền “thực hiện quyền tư pháp” [11 , Điều 102]

Hiến pháp năm 2013 là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam đãkhẳng định Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người vàquyền công dân lên trước nhiệm vụ bảo vệ chế độ, song nhiều khi cũng có sựkhác biệt Bảo vệ công lý luôn được thừa nhận là đặc trưng riêng có của tư pháp– Tòa án Chỉ với nhiệm vụ bảo vệ công lý thì Tòa án mới có thể bảo vệ đượcquyền con người và quyền công dân Chỉ Tòa án mới có thể là nơi bảo vệ tàisản và danh dự, nhân phẩm của con người…

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, các nhà làm luật cần xác định rõ phạm viquyền tư pháp Hiện nay, Tòa hành chính chỉ có quyền xét xử các quyết địnhhành chính, hành vi hành chính nhưng không có quyền xem xét tính hợp hiến,hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật Việc giới hạn quyền này của Tòa

án trở thành rào cản trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống

Trang 25

nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo vệ các quyền con người,quyền công dân Do vậy, việc trao quyền cho Tòa hành chính xem xét các vãnbản quy phạm pháp luật là cần thiết và phù hợp Ở một phýõng diện khác, theoquy ðịnh của Luật xử lý vi phạm hành chính, quyền quyết định áp dụng các biệnpháp xử lý hành chính không còn được trao cho các cơ quan hành chính , màthuộc quyền phán quyết của Tòa án Theo quan điểm của các nhà làm luật, việc

áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắtbuộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hạn chế một số quyền tự do cơ bản,

do vậy cần phải được Tòa án quyết định Cách tiếp cận này có ý nghĩa rất quantrọng trong việc xác định phạm vi quyền tư pháp trong các vụ việc liên quan đếnviệc giới hạn các quyền con người, quyền cơ bản của công dân Các vấn đề liênquan đến việc xác định phạm vi quyền tư pháp như việc quyền của Tòa án nhândân Tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhấtpháp luật trong xét xử [11, Điều 104]

Thẩm phán là người có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ sở các sự việc,tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, các Thẩm phán sẽ thựchiện trực tiếp việc thẩm vấn các nhân chứng một cách tích cực chứ không phảiKiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa và luật sư bào chữa Chính

vì vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa theo tố tụng thẩm vấn được đề caonhư vậy, nên Thẩm phán vừa là người tiến hành tố tụng, vừa là người điều khiểntoàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng vànhững người tham gia tố tụng khác Để thực hiện chức năng của mình, trước khi

mở phiên tòa xét xử Thẩm phán phải lập kế hoạch xét hỏ, dự kiến xét hỏi nhữngngười tham gia tố tụng tại phiên tòa Theo quy định tại Điều

207 về trình tự xét hỏi thì “khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước

rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự…” Do vậy, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải xác

Trang 26

định được dầy đủ các tình tiết về từng sự việc, từng hành vi phạm tội và cáctình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lýNếu vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh tụng, thường có vai trò thụđộng, rất ít khi hoặc không tham gia thẩm vấn mà chỉ là người điều khiểnphần thẩm vấn cũng như phần tranh tụng của các bên Do Tòa án không biếttrước hồ sơ vụ án, nên sự tranh tụng giữa hai bên là nội dung chủ yếu củaphiên tòa và nhiệm vụ của các bên trong quá trình tranh tụng là thuyết phụcTòa án mà đại diện là Thẩm phán tại phiên tòa chấp nhận yêu cầu của mình.Còn đối với vai trò của Thẩm phán trong tố tụng xét hỏi (thẩm vấn) thì lạikhác Trong tố tụng thẩm vấn thì Thẩm phán là người có vị trí trung tâm trongquá trình giải quyết các vụ án hình sự so với những người tiến hành tố tụngkhác, đồng thời Thẩm phán còn là người giữ vai trò quyết định trong hoạtđộng xét xử Chính vì vậy, so sánh với Tố tụng tranh tụng khi vai trò củaThẩm phán được đề cao và nắm giữ vai trò quyết định thì các chức năng buộctội và bào chữa tồn tại khá mờ nhạt và thụ động.

Quyền xét xử trong nhà nước pháp quyền giao cho một cơ quan duy nhất

là Tòa án, không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có thể đưa ra phán quyết đốivới các tranh chấp Do vậy, cơ quan tư pháp trong nhà nước pháp quyền chỉ làTòa án, cơ quan công tố và cơ quan điều tra là những cơ quan thuộc nhánh quyềnhành pháp [25] Chủ thể thực hiện quyền lực tư pháp không phải bất kỳ cơ quannhà nước nào mà chỉ là nhà nước – cơ quan có khả năng và năng lực vốn có củamình để tác động đến hành vi của con người và thông qua đó tác động đến quátrình diễn ra trong xã hội Tòa án là một tư pháp độc lập trong bộ máy nhà nước

“Quyền tư pháp là khả năng và năng lực riêng của các cơ quan tòa án, chiếm vịtrí đặc biệt trong bộ máy nhà nước thực hiện để tác động đến hành vi con người,đến quá trình xã hội” [24] Ngược lại, ở Việt Nam hoặc những nước tổ chức vàhoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập quyền thì

Trang 27

hoạt động tư pháp có phạm vi rộng hơn, không chỉ có hoạt động xét xử màcòn có cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và thi hành án Do đó, cơ quan tưpháp bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan Thi hành án.Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng hoạt động tư pháp không chỉ làhoạt động xét xử của Tòa án mà còn là hoạt động của các cơ quan, tổ chứccủa nhà nước trực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho hoạt động xét xử của Tòa

án Theo đó, Tòa án sử dụng các kết quả của quá trình điều tra, truy tố, bàochữa, giám định tư pháp… một cách công khai và áp dụng các thủ tục tố tụng

để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng Trên cơ sở này, ở ViệtNam hoạt động tư pháp được hiểu là hoạt động mang tính quyền lực nhà nướccủa các cơ quan tư pháp gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm cơ quanđiều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan Thi hành án và các cơ quan, tổ chứcliên quan hoặc bổ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án, được quy định trong

tố tụng và trực tiếp liên quan đến quá trình giải quyết vụ án

Như vậy, xét xử khách quan, công bằng là quyền quan trọng nhất, thể hiệnbản chất của tư pháp trong nhà nước pháp quyền làm nên sự khác biệt so với cácnhà nước trước đó Nói cách khác, mức độ dân chủ, mức độ bảo đảm quyền conngười của một xã hội được đo bằng tính hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án.Thông qua việc phán xét về tình hợp pháp, tính đúng đắn của hành

vi của các chủ thể pháp luật, Thẩm phán duy trì công lý trong xã hội, kiểm soát

xã hội trong vòng trật tự, bảo đảm cuộc sống bình yên cho nhân dân Đó là môitrường xã hội phù hợp cho sự tồn tại của nhà nước pháp quyền Mặt khác, Tòa ánkhông chỉ là nơi hoạt động xét xử các tranh chấp, kiện tụng, vi phạm pháp luật

mà còn là nơi thực hiện quyền tư pháp “bảo vệ những gì đúng đắn, công bằnghay hợp pháp” ngay cả đối với các nhánh quyền lực nhà nước khác Ngoài ra,thông qua hoạt động xét xử, Tòa án có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp hiến, hợppháp của các quyết định và hoạt động của các cơ quan nhà nước và những người

Trang 28

có thẩm quyền và giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành về những vấn

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính năm 1996

Ở Việt Nam, ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước ViệtNam dân chủ Cộng hòa được thành lập thì chính quyền cách mạng đã quan

tâm tới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, trong đó có các khiếukiện hành chính Điều này được thể hiện trong tinh thần của các bản Hiến phápđầu tiên của nước ta là Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 Ngay từtháng 11 năm 1945, Ban Thanh tra đặc biệt đã được thành lập với hai chức năng

cơ bản: Một là, giám sát việc thi hành pháp luật và chính sách của Nhà nước ởcác cấp hành chính; hai là, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Sắc lệnh số04/SLT ban hành ngày 20 tháng 7 năm 1957 về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủyban hành chính các cấp đã trao cho Tòa án nhân dân thẩm quyền giải quyết khiếukiện về danh sách cử tri nếu người khiếu kiện không đồng ý với việc giải quyếtcủa cơ quan lập danh sách cử tri Tuy nhiên, trong giai đoạn này, do chịu ảnhhưởng của mô hình hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trước đây nên pháp luậtViệt Nam chỉ thừa nhận khiếu kiện hành chính phát sinh giữa công dân, cơ quan,

tổ chức với các cơ quan công quyền và các khiếu nại này được giải quyết theothủ tục hành chính, không được giải quyết thông qua tố

Trang 29

tụng tại Tòa án Trong giai đoạn này, hoạt động tài phán hành chính ở ViệtNam có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, pháp luật ghi nhận quyền khiếu nại của các công dân, cơ quan, tổ chức đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của các

cơ quan công quyền và cán bộ có thẩm quyền phát sinh trong các lĩnh vựckhác nhau của hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Thứ hai, người có thẩm quyền giải quyết cac khiếu nại hành chính là các

cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ có thẩm quyền của các cơ quan đó trongquá trình thực hiện công vụ đã ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiệnhành vi hành chính bị khiếu nại Như vậy, các cơ quan hành chính, người cóthẩm quyền trong các cơ quan đó vừa là người bị khiếu nại, vừa là người giảiquyết khiếu nại, đây được xem là cơ chế “Bộ trưởng – Quan tòa” Từ đó, có thểthất một số hạn chế lớn của cơ chế này là thiếu một cơ quan tài phán độc lập đểgiải quyết các tranh chấp hành chính, chưa thật sự bảo đảm được quyền, lợi íchhợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức khi những quyền lợi đó bị xâm phạmbởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật

Thứ ba, có nhiều văn bản pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các

chủ thể khác nhau trong việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại, do đó, người daab

có thể khiếu nại tới nhiều cơ quan khác nhau cùng lúc Các khiếu nại này sau đóđược chuyển tới cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đó, kết quả là quátrình khiếu nại phải mất rất nhiều thời gian để chờ đợi kết quả giải quyết

Thứ tư, có nhiều cơ quan nhà nước được trao quyền giải quyết khiếunại hành chính, tuy nhiên, trách nhiệm của từng cơ quan chưa được quy địnhmột cách rõ ràng Thêm vào đó, quy trình giải quyết các khiếu nại hành chínhlại không được công khai nên người dân không biết, không kiểm soát đượcquá trình giải quyết khiếu nại này

Trang 30

1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 đến trước khi ban hành Luật tố tụng Hành chính năm 2010

Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế ký XX, nhu cầu của thực tiễn đòihỏi phải thiết lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính độc lập để giải quyếtcác tranh chấp hành chính thông qua tư pháp Đáp ứng nhu cầu đó các chuyêngia pháp lý đã tập trung nghiên cứu và tiến hành khảo sát thực tế các mô hìnhtài pháp cũng như kinh nghiệm thực tiễn giải quyết khiếu kiện hành chính trênthế giới để đưa ra mô hình phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam Sau quátrình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa VII (ngày 23 tháng 01 năm 1995) đã quyết định về việc thành lập Tòahành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân

Ngày 28 tháng 10 năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, trong đó giai thêm choTòa án nhân dân chức năng xét xử những vụ án hành chính Và hệ thống Tòahành chính được thành lập bên cạnh các tòa chuyên trách khác Như vậy, mộtthiết chế tài phán mới – thiết chế bảo vệ hữu hiệu quyền hợp pháp của cơquan, tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước đã chính thứcđược thành lập

Với một hệ thống cơ quan tài phán hành chính mới ra đời là hệ thống Tòa

án hành chính nằm trong Tòa án nhân dân, cần phải có một hệ thống chính sáchtương ứng để nó có thể vận hành và đi vào hoạt động một cách hữu hiệu Do đó,sau khi Tòa hành chính được thành lập với tư cách là một tòa chuyên trách củaTòa án nhân dân, ngày 21 tháng 5 năm 1996, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đãthông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (có hiệu lực ngày 01tháng 7 năm 1996) làm cơ sở cho hoạt động xét xử các vụ án hành chính, trongquá trình thực thi, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành

Trang 31

chính đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung hai lần vào cácnăm 1998 và năm 2006.

Việc Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được ban hành

đã tạo ra một cơ chế mới để giải quyết các khiếu kiện hành chính, góp phầnbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân khỏi viphậm từ phía các cơ quan công quyền, đồng thời góp phần cũng cố hoạt độngcủa các cơ quan hành chính nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong lĩnh vực quản lý nhà nước Tuy nhiên, kể từ khi Pháp lệnh thủ tụcgiải quyết các vụ án hành chính đi vào cuộc sống, thực tiễn giải quyết các vụ

án hành chính cho thấy các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án hành chính đã bộc lộ những bất cập nhất định, có những quy định mâuthuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác (Luật đất đai, Luật khiếu nại,

tố cáo …) một số quy định chưa rõ ràng và chưa đầy đủ, đặc biệt là các quyđịnh về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án, điềukiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, vấn đề chứng minh và chứng cứ… Bêncạnh đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính còn có một hạnchế lớn đó là chưa có quy định về việc thi hành bản án, quyết định của Tòa

án, trong khi đó đây là một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa bảo đảm tính hiệulực của các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cũng như bảo đảm thiết thựcquyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức

Những hạn chế, bất cập nêu trên đã làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyếtcác vụ án hành chính tại Tòa án, khiến cho việc giải quyết này vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, lòng tin của người dân vào cơ chế giải quyết khiếu kiệnhành chính bằng con đường tố tụng tại ṭa án vẫn c ̣n chưa cao Từ đó, nhu cầu hoàn thiện pháp luật về tố tụng hành chính được đặt ra ngày càng bức thiết… Bêncạnh đó, hội nhập quốc tế đang ngày càng diễn ra sâu rộng trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống kinh tế - xã hội cũng đòi hỏi sự tương

Trang 32

thích, phù hợp của pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về tố tụng hànhchính nói riêng với các nguyên tắc và tư tưởng tiến bộ của pháp luật quốc tế.

Từ những yêu cầu đó, việc pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyếtcác vụ án hành chính thành Luật Tố tụng hành chính với hiệu lực pháp lý cao

là cần thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như bảo đảm tính thốngnhất của hệ thống pháp luật Việt Nam

1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đến trước khi ban hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Từ khi Luật Tố tụng ahnfh chính năm 2010 ra đời đã quy định một cáchchặt chẽ các trình tự, thủ tục giải quyết đối với một vụ án hành chính, đồngthời mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc hành chính khôngchỉ giới hạn ở 22 loại vụ việc như trước kia

Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính nước ta thời gian qua cũng

có một số điểm đáng lưu ý Đó là: “Các khiếu nại hành chính ở nước ta ngày

càng nhiều và ở nhiều lĩnh vực khác nhau”.

- Năm 2012: Các Tòa án nhân dân đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm,phúc thẩm và giám đốc thẩm được 4.742 vụ trong tổng số 6.177 vụ, đạt 76,76%;trong đó:

+ Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã giải quyết 3.834 vụ trong số 5.172

vụ đã thụ lý, đạt 74,1% (các Tòa án cấp huyện đã giải quyết 3.225 vụ; các Tòa

án cấp tỉnh đã giải quyết 609 vụ);

+ Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm đã giải quyết 878 vụ trong tổng số

972 vụ đã thụ lý, đạt 90,3% (các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 740 vụ; cácTòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giải quyết 138 vụ);

+Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã giải quyết 30 vụ trong tổng số 33

vụ đã thụ lý, đạt 90,9% (các Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 04vụ; Tòa hành chính và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải

Trang 33

quyết 26 vụ).

+ Không có quyết định giám đốc thẩm nào của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao về vụ án hành chính bị xem xét lại theo thủ tục đặc biệt

+ Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 3,5% (do nguyên nhân chủ quan3% và do nguyên nhân khách quan 0,5%); bị sửa là 3,1% (do nguyên nhân chủquan 2,7% và do nguyên nhân khách quan 0,4%)

- Năm 2013: Các Tòa án nhân dân đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm,

phúc thẩm và giám đốc thẩm được 6.430 vụ việc trong tổng số 7.738 vụ, đạt83,09%; trong đó:

+ Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã giải quyết 4.671 vụ trong số 5.858

vụ đã thụ lý, đạt 79,7% (các Tòa án cấp huyện đã giải quyết 3.877 vụ; các Tòa

án cấp tỉnh đã giải quyết 794 vụ);

+ Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm đã giải quyết 1.751 vụ trong tổng số1.861 vụ đã thụ lý, đạt 94,2% (các Tòa án cấp tỉnh đã giải quyết 1.444 vụ; cácTòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã giải quyết 307 vụ);

+ Các Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm đã giải quyết 8 vụ việc trongtổng số 19 vụ đã thụ lý, đạt 42,1% (các Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh đãgiải quyết 03 vụ; Tòa hành chính và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao đã giải quyết 05 vụ)

+ Không có quyết định giám đốc thẩm nào của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao về vụ án hành chính bị xem xét lại theo thủ tục đặc biệt

+Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 3,4% (do nguyên nhân chủquan 2,8% và do nguyên nhân khách quan 0,6%); bị sửa là 4,2% (do nguyênnhân chủ quan 3% và do nguyên nhân khách quan 1,2%)

- Năm 2014 (tính đến 30-9-2014): Các Tòa án nhân dân đã giải quyết theothủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm được 6.244 vụ trong tổng số

7.317 vụ, đạt 85,3%, trong đó:

Trang 34

+ Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã giải quyết 4.455 vụ trong số 5.345 vụ

+Không có quyết định giám đốc thẩm nào của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao về vụ án hành chính bị xem xét lại theo thủ tục đặc biệt

+ Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 4,64% (do nguyên nhân chủquan 3,77% và do nguyên nhân khách quan 0,87%); bị sửa là 4,3% (donguyên nhân chủ quan 3,4% và do nguyên nhân khách quan 0,9%) [53]

Tuy nhiên, các đơn khởi kiện hành chính bằng con đường tòa án lại hếtsức hạn chế Cụ thể, theo báo cáo kết quả giám sát việc thi hành pháp luật vềkhiếu nại, tố cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số liệu thống kê từ 28 tỉnh,thành thì trong số 56.788 vụ việc đã giải quyết, chỉ có 310 vụ việc công dânkhởi kiện ra tòa Số vụ việc công dân khởi kiện ra tòa tính trên số vụ việckhiếu nại cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết đạt tỷ lệ rất thấp (dưới1%) Hay theo Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại kỳ họp thứ 8Quốc hội khóa IX về công tác tòa án ( ngày 20 tháng 10 năm 2000) cũng chothấy thực trạng trong quý IV năm 1999 và 9 tháng năm 2000, Tòa án các cấpcũng chỉ thụ lý 453 vụ án hành chính và đã giải quyết 338 vụ

Vấn đề đặt ra là: phải chăng việc giải quyết các vụ án hành chính bằngcon đường hành chính thuận tiện hơn hay việc quy định về trình tự, thủ tụcgiải quyết các vụ án hành chính bằng con đường tố tụng phức tạp hơn ?

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính hiện hành và Pháp lệnh thủtục giải quyết các vụ án hành chính trước đây, đã có những ý kiến cho rằng:

Thứ nhất, việc giải quyết khiếu nại hành chính tại Tòa án được thực hiện theo

Trang 35

trình tự, thủ tục chặt chẽ, mất nhiều thời gian, giải quyết kéo dài Mặt kháccác bên đương sự phải tự chứng minh, người khởi kiện phải nộp án phí…, nên

công dân, tổ chức, doanh nghiệp sợ bị phiền hà; Thứ hai, việc thực hiện các

bản án, quyết định của Tòa án đối với các vụ kiện hành chính phải được

“chuyển hóa” qua cơ quan hành chính Do đó, cơ quan hành chính khôngnghiêm túc thực hiện biện pháp cưỡng chế sẽ gặp khó khăn [23, tr 142]

Từ những thực tiễn trên có thể thấy rằng trong hoạt động tố tụng hànhchính, các vụ án hành chính được thực hiện bằng con đường tư pháp (Tòa án)

ở nước ta là không nhiều Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật tố tụng hànhchính cho thấy, mặc dù số lượng các vụ án hành chính ngày càng gia tăng nhưngchất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hành chính chưa thực sự bảo đảm; sốlượng các bản án, quyết định về vụ án hành chính bị huỷ, sửa chưa giảmmạnh; thời hạn giải quyết, xét xử các vụ án hành chính theo quy định của Luậttrong một số trường hợp vẫn còn bị vi phạm; có những khiếu kiện hành chínhđơn giản, chứng cứ rõ ràng, nhưng việc giải quyết, xét xử phải qua đầy đủ cácgiai đoạn tố tụng nên tốn kém thời gian, chi phí của người dân và Toà án; việcthi hành các bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính chưa thực sựhiệu quả, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan, tổchức có liên quan, mặc dù đã có phán quyết của Toà án về việc buộc người bịkiện phải sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế quyết định hành chính, dừng, khắcphục hành vi hành chính bị khởi kiện

Tình hình trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyênnhân là một số quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, gây khókhăn, vướng mắc trong việc giải quyết, xét xử vụ án kể từ khi thụ lý cho đếnkhi thi hành bản án, quyết định của Toà án

1.3.4 Những nội dung cơ bản về Luật Tố tụng hành chính năm 2015

ở nước ta hiện na

Trang 36

Các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhân dânnăm 2014 nêu trên là những nội dung quan trọng cần được cụ thể hóa trong cácluật tố tụng nói chung và Luật tố tụng hành chính nói riêng; đồng thời, cần sửađổi, bổ sung các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hành nhằm tháo gỡnhững khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các khiếu kiện hànhchính, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lư để Tòa án nhân dân thực hiện có hiệuquả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệthống pháp luật Nhìn chung, công tác xét xử các vụ án hành chính của Tòa ánnhân dân chưa đáp ứng được sự mong đợi của người dân và toàn xã hội Từ thựctiễn trên, cùng với chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việcViệt Nam trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế và đã gia nhập Tổchức thương mại thế giới (WTO); đồng thời, để thể chế hóa quan điểm, địnhhướng của Đảng về cải cách tư pháp được xác định tại Nghị quyết số 49-NQ/TWngày 02-6-2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Quốc hội khóaXIII đã thông qua luật Luật Tố tụng hành chính năm 2015 với cấu trúc gồm 23chương, 372 điều So với Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Tố tụng hànhchính năm 2015 tăng thêm 107 điều, bổ sung 05 chương mới.

Một số điểm mới trong Luật Tố tụng năm 2015, như: Xác định rõ hơn đốitượng khởi kiện là “quyết định hành chính bị kiện”, “hành vi hành chính bị kiện”(các khoản 2, 4 Điều 3); Về nguyên tắc xem xét, xử lý văn bản quy phạm phápluật, văn bản hành chính, hành vi hành chính có liên quan trong vụ án hành chínhTòa án có quyền xem xét về tính hợp pháp của văn bản hành chính, hành vi hànhchính có liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện và kiếnnghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại văn bản hành chính,hành vi hành chính đó và trả lời cho Tòa án; Tòa án có quyền kiến nghị cơ quan,

cá nhân có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạmpháp luật nếu phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái với

Trang 37

Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời làm cơ sở để Tòa ángiải quyết vụ án [15, Điều 6]; Trách nhiệm của Thẩm phán trong thực hiệnnhiệm vụ liên quan đến luật bồi thường nhà nước và các văn bản liên quan;

Về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử [15, Điều 18]; mở rộng thẩmquyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh [15, Điều 31]; bổ sung quy định mới vềngười tiến hành tố tụng; trách nhiệm trong chứng cứ, chứng minh của vụ án;

bổ sung quy định về phiên tòa; cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng; tăng thẩmquyền của Hội đồng xét xử; thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án đã có hiệulực pháp luật…

Theo quy định của Luật tố tụng hành chính thì thẩm quyền giải quyếtcác khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân dân được mở rộng; trình tự, thủ tụcgiải quyết cũng có những sửa đổi, bổ sung quan trọng tạo cơ sở pháp lý đầy

đủ và toàn diện hơn để Toà án nhân dân giải quyết các khiếu kiện hành chính

có hiệu quả, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân,

cơ quan, tổ chức; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa và phù hợp với những cam kết quốc tế của Việt Nam

án hành chính làm phát sinh quan hệ giữa các chủ thể này với nhau Chủ thể trong quan hệ tố tụng hành chính được phân làm hai loại: chủ thể tiến

Trang 38

hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng Chủ thể tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng, cá nhân tiến hành tố tụng Chủ thể tham gia tố tụng là các cá nhân, tổ chức tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Tòa án nhândân năm 2014 nêu trên là những nội dung quan trọng cần được cụ thể hóatrong các luật tố tụng nói chung và Luật tố tụng hành chính nói riêng; đồngthời, cần sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật tố tụng hành chính hiện hànhnhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử cáckhiếu kiện hành chính, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để Tòa án nhân dânthực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ,thống nhất của hệ thống pháp luật

Khi Quốc hội khóa XIII đã thông qua luật Luật Tố tụng hành chínhnăm 2015 với cấu trúc gồm 23 chương, 372 điều So với Luật Tố tụng hànhchính năm 2010, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tăng thêm 107 điều, bổsung 05 chương mới

Ở nước ta hiện nay, theo quy định Luật Tố tụng hành chính năn 2015

có những loại chủ thể tham gia tố tụng hành chính như sau:

- Cơ quan tiến hành tố tụng hành chính: là cơ quan có thẩm quyền tham

gia vào quá trình giải quyết vụ án hành chính và thi hành án hành chính luôn có

sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau Trong đó, có một số cơ quan nhà nướcnhư Tòa án, Viện kiểm sát Hoạt động này mang tính chủ động và độc lập vớinhau Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng hành chính, các cơ quan nàyđược thực hiện quyền lực nhà nước trong việc giải quyết vụ án hành chính đểbảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Tính thực hiện quyềnlực nhà nước của các cơ quan này được thể hiện ở quyết định mang tính

Trang 39

bắt buộc các chủ thể khác phải chấp hành, hoạt động tố tụng của các cơ quantiến hành tố tụng mang tính độc lập, không bị lệ thuộc vào các cá nhân, cơquan, tổ chức khác.

- Người tiến hành tố tụng hành chính: Để thống nhất với các quy định

của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật tổ chức Viện kiểm sátnhân dân năm 2014 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định người tiếnhành tố tụng hành chính gồm có: Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩmnhân dân, Thư ký Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; bổ sunghai chủ thể mới là người tiến hành tố tụng gồm Thẩm tra viên, Kiểm tra viên

và quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của hai chủ thể này trong tố tụnghành chính [15, Điều 40, Điều 44)

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định bổ sung nhiều nhiệm vụ, quyền hạn mới của Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và yêu cầu thực tiễn.

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã sửa đổi quy định về việc thựchiện quyền kháng nghị của Chánh án, Viện trưởng trong trường hợp Chánh

án, Viện trưởng vắng mặt giải quyết như sau: Khi Chánh án, Viện trưởngvắng mặt, một Phó Chánh án, Phó Viện trưởng được Chánh án, Viện trưởng

ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Viện trưởng trừquyền quyết định kháng nghị [15, Điều 37, Điều 42]

- Người tham gia tố tụng hành chính: Quy định mới về người tham gia tố

tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cho phù hợp với Bộ luậtDân sự năm 2015 về người đại diện, người đại diện theo quỷ quyền, như: vềngười đại diện trong tố tụng hành chính [15, Điều 60] Về người đại diện theo

ủy quyền; về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự [15, Điều 61]; Về người phiên dịch [15, Điều 64]; Quy định mới về kế thừa quyền, nghĩa

Trang 40

vụ tố tụng hành chính; bổ sung quy định mới về trường hợp sáp nhập, chia,tách, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính trong một đơn vị hành chính màđối tượng của quyết định hành chính có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức, cánhân đã ra quyết định hành chính có trách nhiệm tham gia tố tụng với tư cách

là người bị kiện tại Tòa án nơi cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hànhchính bị kiện Cơ quan tiếp nhận đối tượng của quyết định hành chính bị kiệnphải tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[15, Điều 59]

Mỗi một chủ thể trong quá trình tham gia giải quyết vụ án hành chính

có những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định Trong tố tụng hành chính, địa

vị pháp lý của các chủ thể là không giống nhau Điều này thể hiện ở quyền vànghĩa vụ tố tụng mà các chủ thể được phép thực hiện Tuy vậy, những hoạtđộng tố tụng của các chủ thể đều liên quan đến việc thực hiện mục đích của tốtụng hành chính là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức

Tố tụng hành chính là một loại hoạt động cụ thể do các chủ thể tiến hành

tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện Hoạt động này được thực hiệnbằng một loạt các hành động kế tiếp nhau theo một trình tự nhất định, tức là diễn

ra theo một thủ tục nhất định Tính trình tự thể hiện sự thay đổi kế tiếp nhau củacác hành vi của các chủ thể nhằm một mục đích cụ thể nào đó Hoạt động tố tụnghành chính là thủ tục mà các chủ thể phải tuân theo khi tham gia vào quan hệ tốtụng Nói một cách khác tố tụng hành chính là biểu hiện về mặt hình thức củacác hoạt động do các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện nhằm đưa quy phạm vậtchất (quy phạm nội dung của luật hành chính, luật đất đai, tài chính…) vào đểgiải quyết vụ án hành chính Dưới góc độ luật thực định, có thể khái quát hoạtđộng tố tụng hành chính qua các giai đoạn sau:

+ Khởi kiện, khởi tố, thụ lý vụ án hành chính;

+ Chuẩn bị xét xử;

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Học viện hành chính quốc gia (2003), Thuật ngữ hành chính, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ hành chính
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: NxbVăn hóa thông tin
Năm: 2003
29. Lã Khánh Tùng: Chuyên đề “Quyền được xét xử công bằng trong luật pháp quốc tế”, Đề tài QGTA: 09.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền được xét xử công bằng trong luật pháp quốc tế
35. Lưu Tiến Dũng, “Độc lập xét xử ở các nước quá độ: Một góc nhìn so sánh”, Tạp chí Tòa án tháng 9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc lập xét xử ở các nước quá độ: Một góc nhìn so sánh
36. Nguyễn Ngọc Chí, “Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng,người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự
38. Bùi Ngọc Sơn, “Sự độc lập của Tòa án trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 4, năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự độc lập của Tòa án trong nhà nước pháp quyền
46. Georg Heinrich, Hội thảo “Juducal Independence and Incampatilities of the office of judge with Other Activities” do Hội đồng châu Âu phới hợp với Tòa án nhân dân tối cao Kyrgystan tổ chức vào ngày 20 – 21 tháng 4 năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Juducal Independence and Incampatilitiesof the office of judge with Other Activities
47. J.Clifford Wallace “khắc phục tham nhũng tư pháp trong khi phải đảm bảo độc lập tư pháp” Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: khắc phục tham nhũng tư pháp trong khi phảiđảm bảo độc lập tư pháp
45. Black’s law Dictionary, http://thelawdictionary.org/judicial-power/ Link
2. Quốc triều hình Luật, Viện sử học Việt Nam (1991) Khác
7. Từ điển tiếng Việt năm 2013 của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Khác
13. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 Khác
15. Luật Tố tụng hành chính năm 2015;II. Sách lý luận và các bài viết đăng ở tạp chí Khác
16. Viện Chính sách công và Pháp luật: Bình Luận khoa học Hiên pháp năm 2013 Khác
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
18. Trường Đại học Luật Hà Nội – Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội 1999 Khác
19. Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt nam – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 1997 Khác
21. Từ điển tiếng Việt (1994) Nxb Khoa học xã hội Hà Nội Khác
23. PGS.TS. Nguyễn Như Phát, PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương: Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học Xã hội 2010 Khác
24. GS, TS Võ Khánh Vinh (2003), Quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Khác
25. GS, TS Nguyễn Đăng Dung, Hệ thống Tòa án Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà nội năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w