Để đấu tranh với tội phạm giết người cơquan tiến hành tố tụng phải tiến hành nhiều các biện pháp khác nhau trong đó hoạtđộng thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tr
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG XUÂN LƯU
THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ
ÁN GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính mạng con người là vô giá, bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ Điều
19 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người đượcpháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Cụ thể hóa quy định củaHiến pháp, BLHS nước ta quy định tội phạm giết người là loại tội đặc biệt nghiêmtrọng, có mức hình phạt cao nhất là tử hình Hành vi giết người không chỉ tước đi mạngsống con người một cách trái pháp luật mà còn gây ra những hậu quả khác cho giađình, người thân của họ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình, hoang mang trong
dư luận quần chúng nhân dân Chính vì vậy mọi hành vi phạm tội giết người đều phảiđược điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm minh Để đấu tranh với tội phạm giết người cơquan tiến hành tố tụng phải tiến hành nhiều các biện pháp khác nhau trong đó hoạtđộng thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra đóng vai trò vô cùng
to lớn trong việc chứng minh sự thật của vụ án
Bình Phước là một tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là cầu nốicủa vùng với Tây Nguyên và Campuchia có 240 km đường biên giới với Vương quốcCampuchia Dưới sự lãnh đạo toàn diện của các cấp các ngành trong những năm qua các cơquan tiến hành tố tụng mà nòng cốt là lực lượng Công an tỉnh đã có nhiều nỗ lực cố gắngtrong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm giết người nóiriêng Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước: Trong 05 năm qua Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tiến hành xét xử sơ thẩm 138/253 vụ án giết người (chiếm54,5 % tổng số vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án tỉnh) với 250/406 bị cáo(chiếm 61,6 % tổng số bị cáo bị Tòa án tỉnh xét xử sơ thẩm) Từ số liệu trên cho thấy tộiphạm giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước chiếm tỷ lệ lớn trong các loại tội phạm và cóchiều hướng diễn biến khá phức tạp Tuy nhiên các vụ án giết người Tòa án trả hồ sơ điềutra bổ sung cho Viện kiểm sát hay Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quanđiều tra chiếm tỷ lệ không hề nhỏ Lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung là cần bổ sung chứng
cứ, nhiều vụ án phải gia hạn thời hạn điều tra, có vụ án kéo dài nhiều năm mới giải quyếtđược… cho thấy các cơ quan tiến hành
Trang 3tố tụng còn bộc lộ những hạn chế như: Không thu thập đầy đủ kịp thời các loại chứng
cứ, vi phạm thủ tục thu thập chứng cứ, không đánh giá đúng giá trị của từng chứng cứ
và xác định chính xác mối liên hệ giữa các chứng cứ trong tổng thể hệ thống toàn diệnchứng cứ trong từng vụ án giết người cụ thể, còn có sự khác nhau trong nhận thức,trong phương pháp phân tích đánh giá chứng cứ giữa những người tiến hành tố tụngcủa vụ án… Do đó, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt độngthu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các vụ án giết người, trên cơ sở đó đánhgiá thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các vụ án giếtngười trên địa bàn tỉnh Bình Phước đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, kếtquả hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước
là yêu cầu rất bức thiết Đó chính là lý do tác giả chọn vấn đề: “Thu thập,
đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội giết người theo Luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm đề tài Luận văn Thạc sỹ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua đã có một số một số công trình khoa học và đề tài công
bố liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài như:
* Những công trình lý luận chung của Luật tố tụng hình sự
- Trần Quang Tiệp, Chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự năm 2017, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội
- Nguyễn Ngọc Anh – Phan Trung Hoài, Bình luận khoa học bộ luật tố tụng năm 2015, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
* Những công trình liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu:
- Nguyễn Văn Đương, Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học năm 2000, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
- Hoàng Trung Thực, Hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án hình sự theo chức năng của lực lượng Cảnh sát nhân dân công an
Trang 4tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ Luật học năm 2015, Học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội.
- Võ Minh Cảnh, Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Dương trong điều tra vụ
án giết người, Luận văn Thạc sỹ luật học năm 2017, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Chạm, Hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn địa bàn tỉnh Bình Phước, Luận văn Thạc
sỹ luật học năm 2017, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội
Ngoài ra, còn có một số bài viết, bài nghiên cứu có liên quan như:
- Trần Quang Tiệp (2003), Một số vấn đề về chứng minh trong TTHS, Tạp
Do đó, đề tài: “Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” là một đề tài mới, không trùng lặp với các đề tài đã công bố.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứtrong điều tra vụ án giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh BìnhPhước; đề tài tìm ra những ưu điểm, những hạn chế khó khăn và nguyên nhân để đề
Trang 5xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả cần đạt được các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và lý luận cụ thể có liên quan đến tộiphạm giết người; hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra tộiphạm giết người; tình hình, đặc điểm hình sự tội phạm giết người trên địa bàn tỉnh
- Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứtrong điều tra vụ án giết người từ năm 2014 đến năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ đó rút ra nhận xét, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
- Dự báo tình hình tội phạm giết người nói chung và đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước nói riêng trong những năm tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn chính là thực trạng hoạt động thuthập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụngchứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từthực tiễn tỉnh Bình Phước
- Không gian: Trên địa bàn tỉnh Bình Phước
- Thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 6Đề tài nghiên cứu dựa trên những cơ sở phương pháp luận của phép biệnchứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng Cộngsản Việt Nam, nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác chính sách pháp luật nóichung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng trong đấu tranh phòng chống tội phạmgiai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận cơ bản của cácngành khoa học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Lý luận chung về khoa học điềutra hình sự, Chiến thuật điều tra hình sự, Phương pháp điều tra hình sự, Tội phạm học
Đề tài cũng tiếp thu các luận điểm, luận chứng khoa học của các công trình nghiêncứu đã nghiệm thu và được công bố, những kinh nghiệm từ thực tiễn thông qua các
hồ sơ vụ án, tài liệu sơ kết, tổng kết, hội thảo và của các lực lượng điều tra viên,kiểm sát viên, thẩm phán khi thực hiện hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng
cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đề tài đã đề ra, trong quá trìnhnghiên cứu học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu khảo sát, đánh giá;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp tọa đàm, trao đổi;
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung lý luận về hoạt động thu thập,đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người; là tài liệu nghiên cứu,tham khảo của cán bộ, học viên các trường Công an nhân dân, các cơ sở đào tạo củangành kiểm sát và Tòa án trong quá trình học tập, nghiên cứu, trao đổi về hoạt độngthu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ nói chung và quá trình thu thập, đánh giá, sửdụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 7Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao nhận thức và quy trình,biện pháp công tác đối với các cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền trong quátrình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo phápluật tố tụng hình sự Việt Nam từ địa bàn tỉnh Bình phước và có thể dùng làm tài liệutham khảo cho các đơn vị, địa phương khác trong phạm vi cả nước.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,luận văn được cấu trúc thành 03 chương
Chương 1: Nhận thức chung về hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng
cứ trong vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật về thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn
áp dụng tại Bình Phước
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng
chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 8Chương 1NHẬN THỨC CHUNG VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ,
SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI
1.1 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Chứng cứ và nguồn chứng cứ
- Khái niệm chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, muốn xácđịnh sự thật khách quan và có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy rađòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ
để chứng minh hành vi xảy ra là tội phạm và người phạm tội Chứng cứ là phươngtiện của việc chứng minh có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án hình sự Việc xácđịnh đúng đắn khái niệm chứng cứ sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đề
ra các nguyên tắc, biện pháp hữu hiệu nhằm thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứvào mục đích chứng minh trong vụ án hình sự
Tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “Chứng cứ là những gì cóthật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn
cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội vànhững tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” [ Luật TTHS, tr 39]
Như vậy, chứng cứ là những gì có thật, tức là chứng cứ luôn tồn tại một cáchkhách quan khi vụ án hình sự xảy ra, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của conngười Chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và
là căn cứ duy nhất để CQĐT, VKS, TA xác định có hay không có hành vi phạm tội,người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa trongviệc giải quyết vụ án
Khác với Điều 64 BLTTHS 2003 Điều 86 BLTTHS năm 2015 không quy định
về “chủ thể” sử dụng chứng cứ trong khái niệm chứng cứ, đó chính là điểm mới tiến bộtrong luật tố tụng hình sự tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt làngười bị buộc tội, người bào chữa, bị hại có thể tham gia vào quá trình chứng
Trang 9minh, giải quyết vụ án hình sự Trong quá trình tiến hành tố tụng, không chỉ có các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được đưa ra chứng cứ, sử dụngchứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tốtụng đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm bảo vệ quyền lợi hợppháp của mình, nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan Đối với quy định quyền vànghĩa vụ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trườnghợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bịđơn dân sự; người bào chữa đều có quyền: “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu,
đồ vật liên quan và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiếnhành tố tụng kiểm tra, đánh giá những chứng cứ ấy” Đồng thời cũng bổ sung thêmcác quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcho người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho bị hại, đương sự cũng có quyền “thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ”
Chứng cứ có vai trò rất quan trọng đối với việc chứng minh của cả cơ quan
tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra VAHS Chứng cứ cónhững thuộc tính sau đây:
Thứ nhất: Tính khách quan: Tính khách quan của chứng cứ là tính có thật, tức là
những thông tin chứa đựng trong các dấu vết, đồ vật, tài liệu, lời khai phản ánh về VAHSphải tồn tại một cách khách quan đúng như thực tế vụ án đã xảy ra, không phụ thuộc vào
ý thức chủ quan của con người và con người có thể nhận thức được Những gì không cóthật, không tồn tại khách quan thì không được coi là chứng cứ Con người phát hiện, thuthập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó
Thứ hai: Tính liên quan: Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ
khách quan với những vấn đề phải chứng minh trong VAHS, giúp xác định một haynhiều tình tiết của vụ án góp phần làm rõ một phần hay toàn bộ những vấn đề phảichứng minh trong VAHS
Thứ ba: Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện ở chỗ, chứng
cứ phải được thu thập, xác định từ những nguồn và bằng biện pháp theo đúng trình
tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định
Trang 10- Nguồn chứng cứ
Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm cụthể như thế nào là nguồn chứng cứ Trong thực tiễn có nhiều cách khác nhau địnhnghĩa về nguồn chứng cứ như “Nguồn chứng cứ là những sự vật chứa đựng chứng
cứ, tức là chứa đựng các thông tin, tư liệu tồn tại trong thực tế khách quan, liên quanđến vụ án và được thu thập theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định” [5, tr.166] hay
“Nguồn chứng cứ là nơi chứa đựng những thông tin phản ánh trung thực về VAHS,được Luật TTHS quy định” [4, tr.59] Tại Khoản 1, Điều 87 của BLTTHS 2015 đãliệt kê các chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn cụ thể sau đây: Vậtchứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản;các loại biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kếtquả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác
Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội,những vật mang dấu vết tội phạm hoặc là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác
có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa nhất định trongviệc giải quyết vụ án Trong thực tế cuộc sống cho thấy, vật chứng rất đa dạng, cóthể là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm,vật là đối tượng của tội phạm,… có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tộihoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết đúng đắn vụ án Nói tóm lại, vật chứng trướctiên phải tồn tại ở dạng vật chất, phải liên quan chặt chẽ và phản ánh được những sựkiện khách quan của vụ án hình sự Vật chứng có giá trị chứng minh rất cao trongquá trình giải quyết VAHS Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng phải phát hiện kịp thời, thu giữ đầy đủ, bảo quản và xử lý theo đúng quyđịnh của pháp luật Tuy nhiên, vật chứng không phải là nguồn chứng cứ duy nhấtnên cần được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ với các nguồn chứng cứ khác
Về lời khai, lời trình bày: Theo quy định lời khai được dùng làm chứng cứ cũngrất đa dạng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lời khai của bị can, bị cáo, bị hại, người làmchứng… So với vật chứng, lời khai là nguồn chứng cứ mang tính chủ quan và chịu sựtác động của nhiều yếu tố khác nhau Do đó, trong nhiều vụ án, việc chỉ
Trang 11đánh giá lời khai mà đưa ra quyết định có hay không hành vi phạm tội trong nhiềutrường hợp sẽ mang tính chủ quan và rất dễ dẫn đến oan sai Lời khai ban đầu do cơquan điều tra thông qua các biện pháp nghiệp vụ mà có được, sau đó trong quá trìnhxét xử toà án tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp của nguồn chứng cứ này Lời nhận tộicủa bị can, bị cáo trong quá trình tiến hành tố tụng chỉ có thể được coi là chứng cứnếu phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong vụ án Không được dùnglợi nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất trong vụ án để kết tội họ Mọilời khai của bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, so sánh, đối chiếu với các chứng
vụ và giám định chuyên ngành mới xác lập được chứng cứ điện tử Thực tiễn đấutranh chống tội phạm cho thấy: các đối tượng đã lợi dụng triệt để sự phát triểnnhanh chóng, mạnh mẽ của khoa học, công nghệ để ứng dụng vào việc thực hiện vàche dấu hành vi phạm tội, nên để giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự, việc thuthập các chứng cứ điện tử là rất quan trọng Giá trị chứng minh của chứng cứ là dữliệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi,phát tán dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điệntử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác
Về kết luận giám định, kết luận định giá tài sản: Thực tiễn giải quyết các vụ ánhình sự liên quan đến tài sản như: trộm cắp tài sản, hủy hoại tài sản, các vụ án về giaothông… các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu định giá tài sảnlàm căn cứ cho việc giải quyết vụ án Đối với kết luận giám định là văn bản do
Trang 12cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định thành lập để kết luận chuyên môn về nhữngvấn đề được yêu cầu trong quyết định trưng cầu giám định Kết luận định giá tài sản làvăn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm: Những tình tiết đượcghi trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm được lậptheo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự có thể được coi là chứng cứ.
Về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp về hình sự: Ủy thác tư pháp chính làviệc yêu cầu bằng văn bản của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam yêu cầu các
cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng của nước ngoài tương trợ tư pháp về hình sựcủa nước ngoài theo Điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương đã ký kết hoặc
đã tham gia
Như vậy, so với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm 3 nguồnchứng cứ gồm: Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản; Kết quả thực hiện ủythác tư pháp và hợp tác quốc tế khác Quy định là cần thiết và phù hợp trong bốicảnh tội phạm ngày nay phát triển ngày càng tinh vi, phức tạp và đã vượt ra ngoàibiên giới quốc gia Tuy nhiên, những gì “có thật” được liệt kê như trên nhưng khôngđược thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì không
có giá trị pháp lý và cũng không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.Điều này cho thấy, chứng cứ có một vai trò quan trọng, thông qua đó cơ quan tưpháp tìm ra sự thật của vụ án, góp phần hiệu quả vào công tác đấu tranh phòng,chống tội phạm hiện nay
1.1.2 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
Quá trình giải quyết VAHS thực chất là quá trình thu thập, đánh giá và sử dụngchứng cứ để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không? chứng minh sự có tội hoặc vôtội của một con người cụ thể Tất cả các sự việc và tình tiết của vụ án phải phù hợp vớihiện thực khách quan Việc nghiên cứu, xác định, đánh giá các sự kiện, tình tiết của vụ
án xảy ra được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào cácchứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong VAHS
Trang 13Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụnghình sự, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành
tố tụng, chủ thể tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu, xem xét đầy đủ và toàn diệncác tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm rachân lý sự thật khách quan Như vậy, quá trình chứng minh trong VAHS thực chất
là quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự đềuxuất phát từ chứng cứ Vì vậy, chứng cứ có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luậncũng như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự Việc nhận thức đúng vấn đềchứng cứ sẽ là cơ sở lý luận vững chắc, định hướng đúng đắn cho quá trình thuthập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong hoạt động điều tra vụ án hình sự làmột chuỗi các hoạt động được thực hiện nhằm đạt được mục đích là làm sáng tỏ sự thậtcủa vụ án và các hoạt động đó được tiến hành trên cơ sở khoa học, cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác – Lê nin về quy luật của các hiện tượng, sự việc trong thế giớikhách quan và con đường nhận thức các sự vật, hiện tượng ấy Cụ thể:
- Thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghinhận, thu giữ, củng cố và bảo quản chứng cứ
Để thu thập chứng cứ, CQĐT, VKS và TA có quyền triệu tập những ngườibiết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án,trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều trakhác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhâncung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết có ý nghĩa làm sáng tỏ vụ án
Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể thu thập và đưa ra tài liệu, đồ vật, trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ
án hình sự
Hoạt động thu thập chứng cứ gồm các bước sau đây: Phát hiện chứng cứ là hoạtđộng đầu tiên của quá trình thu thập chứng cứ Đó là việc người tiến hành thu thậpchứng cứ quan sát, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra những nơi xảy ra sự việc phạm tội,tìm kiếm, gặp gỡ những người biết về sự việc phạm tội, hoặc trưng cầu giám định
Trang 14nhằm phát hiện vật chứng, dấu vết, các thông tin, tài liệu… có liên quan đến vụ ánđang ở đâu, tồn tại dưới dạng nào?
Ghi nhận và thu giữ chứng cứ là bước tiếp theo của hoạt động thu thập chứng
cứ mà cụ thể là việc xác định, mô tả, ghi chép, xác nhận đặc điểm, tính chất, sốlượng, chất lượng, phân loại vào biên bản và thu giữ các thông tin, tài liệu hoặc vậtchứng có liên quan đến VAHS theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Củng cố chứng cứ là việc tiến hành bổ sung về nội dung và hình thức đảmbảo cho chứng cứ có giá trị chứng minh cao
Bảo quản chứng cứ là cơ quan có thẩm quyền sắp xếp, trông coi và đưa vàolưu giữ các tài liệu, vật chứng… từ khi thu giữ đến khi sử dụng theo đúng quy địnhcủa pháp luật, không để bị hư hỏng, mất mát, sai lệch hay bị tiêu hủy
- Đánh giá chứng cứ: Đánh giá chứng cứ là quá trình nghiên cứu, xem xét mộtcách toàn diện với từng chứng cứ cùng toàn bộ hệ thống chứng cứ đã thu thập đượctrong mối quan hệ biện chứng với nhau để xác định nó đã giúp làm sáng tỏ vấn đề
gì trong vụ án trên cơ sở đó có kết luận về sự thật vụ án đã xảy ra, kết luận về tộiphạm và người phạm tội trong VAHS
Mỗi chứng cứ phải được đánh giá toàn diện để xác định tính hợp pháp, xácthực và liên quan đến vụ án, bảo đảm đủ để giải quyết các vấn đề trong VAHS
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm là những chủ thể cóthẩm quyền xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm,sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tìnhtiết của vụ án
Chứng cứ trong VAHS nằm trong mối quan hệ biện chứng có liên quan mậtthiết với nhau Xác định được mối quan hệ đó là điều kiện cần thiết đối với việc xácđịnh sự thật khách quan trong vụ án hình sự Việc đánh giá chứng cứ phải dựa vào các
cơ sở như: Phải dựa trên các quy định của LHS như những quy định về tội phạm, cấuthành tội phạm, quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… đểlàm cơ sở đánh giá những chứng cứ đã thu thập trong vụ án, phải dựa trên các quy địnhcủa LTTHS để xác định tính hợp pháp của các chứng cứ cũng như giá
Trang 15trị chứng minh của các chứng cứ Ngoài ra phải dựa vào niềm tin nội tâm, trình độ,năng lực, kinh nghiệm, sự hiểu biết về xã hội cũng như trách nhiệm và lương tri củangười tiến hành tố tụng.
- Sử dụng chứng cứ: là hoạt động của người tiến hành tố tụng nhằm sử dụngnhững tài liệu đủ tính pháp lý thu được trong quá điều tra VAHS để chứng minh cóhay không có hành vi phạm tội, làm rõ sự thật vụ án
Đây là hoạt động mang tính quyết định của điều tra viên trong quá trình điềutra VAHS Việc lựa chọn, cân nhắc sử dụng chứng cứ, trong từng thời điểm vàtrường hợp cụ thể như: lấy lời khai của đối tượng, hỏi cung bị can, đối chất, nhậndạng hay hoàn thành hồ sơ để truy tố, xét xử… phần nào quyết định sự thành cônghay thất bại của quá trình chứng minh một hành vi phạm tội, là cơ sở để đưa ra kếtluận có hay không có hành vi phạm tội
1.2 Khái niệm tội giết người, đặc điểm tội giết người theo pháp luật hình sự
1.2.1 Khái niệm tội giết người
Tội giết người là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tước đoạt trái pháp luậtquyền sống của con người Nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nhân lực quantrọng nhất của xã hội, gây tác động ngược lại đối với sự phát triển bình thường của
xã hội
Hiện nay tội phạm giết người đang diễn ra rất phức tạp, cùng với sự gia tăng
về số vụ xảy ra, tính chất mức độ nghiêm trọng, thủ đoạn gây án ngày càng manhđộng, trắng trợn hơn, gây tác động xấu cho tình hình ANTT
Qua nghiên cứu quy định về lịch sử quy định tội phạm giết người ở Việt Nam,cho thấy: Tội giết người đã được quy định từ lâu trong Quốc triều hình luật (Luật hìnhtriều Lê) tại chương: Đạo tặc, từ Điều 415 đến Điều 417 và từ Điều 420 đến Điều 422với các hành vi phạm tội cụ thể và hình phạt tương ứng dành cho những người thựchiện hành vi đó Ví dụ như: Điều 417 quy định: Nô tỳ mà giết chủ, thì đều phải tộichém Hay Điều 420 quy định: Kẻ giết tới 3 người trong một gia đình, hay xả thâyngười ta, thì xử tội chém bêu đầu; tòng phạm xử tội chém Như vậy, lịch sử
Trang 16đã quy định rất cụ thể, chi tiết về tội giết người và áp dụng hình phạt nghiêm khắcđối với người thực hiện hành vi giết người.
Khi Nhà nước chưa tiến hành pháp điển hoá luật hình sự thì trong các vănbản pháp luật hình sự tội giết người được quy định tại Pháp lệnh trừng trị các tộixâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân ban hành ngày21/10/1970 Tuy nhiên, hành vi giết người được quy định tại Pháp lệnh này tươngđối đơn giản Ví dụ: Hành vi giết người được Pháp lệnh quy định như sau: “Kẻ nàogiết người thì bị phạt tù…”
Đến năm 1985 khi BLHS đầu tiên của nước ta được ban hành lúc này hành vigiết người được quy định tại Điều 101 như sau: “Người nào giết người thuộc mộttrong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tùchung thân hoặc tử hình …” Đến BLHS 1999 tội giết người được kế thừa theo quyđịnh của BLHS 1985 tại Điều 93
BLHS 2015 (sửa đổi 2017) Chương XIV quy định về các tội xâm phạm tínhmạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm của con người cụ thể Điều 123 quy định Tộigiết người như sau:
Khoản 1 quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sauđây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 ngườitrở lên; b) Giết người dưới 16 tuổi; c) Giết phụ nữ mà biết là có thai; d) Giết ngườiđang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ,người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặcngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạnnhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l)Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giếtngười thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn
Khoản 2 quy định như sau: Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
Trang 17Khoản 3 quy định: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến
5 năm
Khoản 4 quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01năm đến 05 năm
Như vậy, BLSH không quy định cụ thể thế nào là tội giết người nhưng trên
cơ sở quy định về tội phạm tại Điều 8 BLHS và trên cơ sở quy định của Điều 123
BLHS 2015 sửa đổi 2017 có thể đưa ra khái niệm tội giết người như sau: “Tội giết người là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và xâm phạm đến quyền được bảo hộ tính mạng của con người”.
1.2.2 Đặc điểm tội giết người theo pháp luật hình sự Việt Nam
Trong quá trình tiến hành tố tụng một VAHS nói chung và trong hoạt động điềutra tội phạm nói riêng, để đảm bảo giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan,toàn diện và đầy đủ thì một trong những yêu cầu quan trọng là phải hiểu rõ về bản chấtcủa hành vi phạm tội cũng như những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm đó.Chính vì vậy, để đấu tranh phòng chống tội phạm giết người có hiệu quả, vấn đề đầutiên là phải xác định rõ những dấu hiệu pháp lý của tội phạm này hay nói cách khác làhiểu rõ những đặc điểm của tội này Những đặc điểm đó bao gồm:
Thứ nhất, về khách thể của tội phạm giết người
Tội giết người là một tội nguy hiểm nhất trong nhóm tội xâm phạm tính mạng,sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người vì nó xâm phạm trực tiếp đến một khách thểđặc biệt quan trọng là quyền được sống của con người Quyền sống là quyền cơ bảnnhất của con người Cuộc sống con người bắt đầu từ khi họ sinh ra và chấm dứt chođến khi họ chết Khoa học pháp lý khẳng định sự sống của con người được xác định từkhi con người được sinh ra (đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ cất tiếng khóc chào đời) cho đếnkhi sự sống hoàn toàn chấm dứt đối với người đó Người chết là người mà không cònhoạt động sống như tim ngừng đập, thần kinh ngừng hoạt động Cần phân biệt ngườichết với người chết dần từng bộ phận, nếu còn một số bộ phận hoạt động
Trang 18thì vẫn coi là người sống Vì vậy, khi người phụ nữ mang thai (cái thai còn đangtrong bụng người mẹ) thì hành vi phá thai không phạm vào tội giết người, nhưngkhi cái thai đó ra khỏi bụng người mẹ, đứa trẻ chào đời và vì một lí do nào đó màmột người đã thực hiện hành vi giết đứa trẻ thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự vềtội giết người; ngược lại, sau khi sự sống đã chấm dứt đối với một người thì cáchành vi xâm hại đến thi thể nạn nhân cũng không bị xem là xâm phạm quyền đượcsống và không phạm vào tội giết người.
Khách thể của tội phạm giết người trực tiếp xâm phạm quyền sống của conngười Đối tượng tác động của tội phạm giết người chính là thân thể của con ngườiđang sống
Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm giết người
Mặt khách quan của tội phạm là những yếu tố được thể hiện ra bên ngoài tộiphạm Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, thờigian, địa điểm, phương thức phạm tội, phương tiện và công cụ tiến hành tội phạm,hậu quả do hành vi đó gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Các Mác đã từng nói: “Ngoài những hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn khôngtồn tại đối với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó” [Các Mác vàĂngghen toàn tập, tập 1 NXB Sự thật, Hà Nội năm 1978] Nếu một người có ý địnhgiết người nhưng chưa thể hiện ý định đó ra thế giới khách quan bằng hành vi cụ thể thì
họ không phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ khi nào họ bắt tay vào việc thực hiện
ý định giết người, nghĩa là ý định của họ đã được thể hiện ra bên ngoài bằng hành vikhách quan thì họ mới phải chịu trách nhiệm hình sự
Trong mặt khách quan của tội phạm giết người phải có các dấu hiệu: Hành
vi, hậu quả, mối liên hệ giữa hành vi và hậu quả Hành vi trong mặt khách quan củatội giết người là hành vi tước đoạt sinh mạng của người khác trái pháp luật, tronghành vi phạm tội, người phạm tội đã biểu hiện được ý chí phạm tội ra thế giới kháchquan Hành vi này là hoạt động có ý thức và ý chí, có tính nguy hiểm cao cho xã hội
và là hành vi trái pháp luật hình sự
Trang 19Hành vi “tước đoạt sinh mạng” trong tội giết người được thực hiện bằnghành động phạm tội Các hành động này có thể chỉ là một động tác giản đơn diễn ratrong một thời gian ngắn hoặc là những hành động phức tạp là tổng hợp của nhiềuđộng tác khác nhau.
Hậu quả trong cấu thành tội giết người là sự thiệt hại về tính mạng do hành viphạm tội gây ra Hậu quả trực tiếp của tội phạm là gây ra cái chết cho nạn nhân, nếuhậu quả giết người đã xảy ra thì tội phạm đã hoàn thành Trong trường hợp hậu quảchết người không xảy ra vì các lí do khách quan khác nhau thì tội phạm chưa đạt.Trong tội giết người, phạm tội chưa đạt có hai trường hợp sau đây:
+ Giết người chưa đạt chưa hoàn thành: Người phạm tội vì những nguyên nhânkhách quan nên chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả chết người(như hành vi: nhặt dao để đâm, lắp đạn vào súng để bắn nhưng các hành vi này đều
Trang 20phạm tội nào (dù chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người)cũng đều gây ra hậu quả chết người, trong nhiều vụ án hậu quả chết người xảy ra donhiều nguyên nhân khác nhau Thực tiễn, có vụ án do các cơ quan tiến hành tố tụng
đã không xác định đúng mối liên hệ nhân quả dẫn đến làm oan sai người vô tội Vìthế, khi cân nhắc, đối chiếu một cách toàn diện và biện chứng mọi tình tiết kháchquan của vụ án cần phải đặc biệt chú ý đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vàhậu quả để xét xử cho chính xác
Các dấu hiệu khác trong mặt khách quan như: thời gian, địa điểm và hoàncảnh phạm tội không có tính chất bắt buộc trong cấu thành tội giết người Tuynhiên, trong một số trường hợp các dấu hiệu này có ý nghĩa bắt buộc trong địnhkhung hoặc quyết định hình phạt
Thứ ba, về mặt chủ quan của tội giết người
Thực tiễn cho thấy có những hành vi khách quan giống nhau gây hậu quảchết người cũng xảy ra nhưng có trường hợp người phạm tội đã phạm tội giết người
và có trường hợp lại không phạm phải tội này vì diễn biến bên trong của tội phạmkhác nhau Vì vậy, việc xác định mặt chủ quan trong tội giết người rất quan trọng.Mặt chủ quan bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội
Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của mọi tội phạm Tội giết ngườiluôn luôn được thực hiện bằng lỗi cố ý Chủ thể của tội giết người có thể thực hiệntội phạm với lỗi cố ý trực tiếp hoặc với lỗi cố ý gián tiếp Điều 10 BLHS 2015 quyđịnh: “cố ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp sau đây: Người phạm tội nhậnthức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó và mong muốn hậu quả xảy ra; tuy không mong muốn nhưng có ý thức bỏ mặccho hậu quả xảy ra” Căn cứ vào nội dung của điều luật, ta thấy:
Về mặt lí trí: các chủ thể của tội giết người đều biết rằng hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội, đều thấy trước hành vi của họ sẽ hoặc có thể gây hậu quả chết người
Về mặt ý chí: Nếu chủ thể mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra thì họphạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Nếu họ có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra thì họphạm tội với lỗi cố ý gián tiếp
Trang 21Động cơ và mục đích phạm tội giết người: tất cả những người có ý thức và ýchí khi phạm tội đều do một động cơ thúc đẩy và để nhằm đạt đến một mục đíchnhất định Nhưng đối với tội giết người thì dấu hiệu động cơ, mục đích không phải
là dấu hiệu bắt buộc phải có trong cấu thành tội phạm
Tóm lại, trong mặt chủ quan của tội giết người, lỗi là dấu hiệu chính để xácđịnh tội nhưng ta phải xem xét, đánh giá lỗi trong quan hệ thống nhất với động cơ,mục đích để định hình một cách chính xác khả năng nhận thức của người phạm tội,
từ đó mới xác định đúng thái độ chủ quan của họ
Thứ tư, về chủ thể của tội giết người
Chủ thể của tội giết người là người có đầy đủ điều kiện chủ thể, họ phải cónăng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do luật định: “người có năng lực tráchnhiệm hình sự là người khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năngnhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khảnăng điều khiển hành vi ấy”
1.3 Khái niệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người
Bộ luật TTHS năm 2015, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 vàcác văn bản hướng dẫn về phân công, tổ chức hoạt động điều tra quy định Cơ quanCảnh sát điều tra gồm lực lượng Cảnh sát hình sự, Cảnh sát phòng, chống tội phạm
về ma túy, Cảnh sát kinh tế được xác định là Cơ quan điều tra chuyên trách có tráchnhiệm thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ nhằm giải quyết vụ án một cách nhanhchóng, kịp thời, hiệu quả Ngoài cơ quan Cảnh sát điều tra thì Kiểm sát viên, Thẩmphán, Hội thẩm và những người tham gia tố tụng khác cũng có thể tiến hành thuthập chứng cứ
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người được tiếnhành ngay từ khi tiếp nhận xử lý tố giác, tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố về tộiphạm giết người và kết thúc sau khi có bản kết luận điều tra đề nghị truy tố người phạmtội hoặc đình chỉ vụ án, nếu xét thấy sự việc xảy ra chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạmgiết người Trong khoảng thời gian đó, lực lượng Cảnh sát điều tra được áp
Trang 22dụng mọi biện pháp theo quy định của pháp luật TTHS để thu thập thông tin, tài liệuphục vụ cho việc chứng minh làm rõ sự thật vụ án, như: Khám nghiệm hiện trường,khám nghiệm tử thi, khám xét, trưng cầu giám định, lấy lời khai người bị hại cònsống, lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can…
Nếu thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người có thể được tiến hànhbởi các chủ thể là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thì hoạtđộng đánh giá và sử dụng chứng cứ là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các cơ quantiến hành tố tụng trong việc xem xét, cân nhắc và áp dụng để giải quyết vụ án.Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề cóliên quan đến vụ án giết người
Về bản chất, thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giếtngười là hoạt động có mục đích nhằm chứng minh làm rõ sự thật về vụ án giết người đãxảy ra trên thực tế Từ sự phân tích trên có thể hiểu hoạt động thu thập, đánh giá, sử
dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người, như sau: Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là quá trình hoạt động của các cơ quan tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm áp dụng những biện pháp khác nhau theo quy định của pháp luật để phát hiện, mô tả, thu lượm và xác định độ tin cậy, giá trị chứng minh của những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án giết người, qua đó sử dụng từng chứng cứ vào mục đích chứng minh làm rõ sự thật về vụ án.
Trang 23Chương 2QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU THẬP, ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNGCHỨNG CỨ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN GIẾT NGƯỜI THEO PHÁP LUẬT TỐTỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI BÌNH PHƯỚC
2.1 Quy định của pháp luật về thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
2.1.1 Cơ sở pháp lý của thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra
vụ án giết người
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người luônphải được tiến hành theo các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hay nói cáchkhác, hoạt động đó phải được điều chỉnh bằng pháp luật
Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người chính làquá trình làm rõ, xây dựng, tái hiện cụ thể về hành vi giết người đã xảy ra trong quákhứ bằng việc tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập, đánh giá, sử dụngchứng cứ trên cơ sở những quy định của pháp luật để làm sáng tỏ sự thật kháchquan của vụ án đúng như những gì đã xảy ra trên thực tế Để đạt được mục đíchtrên, các hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giếtngười phải được tiến hành dựa trên các quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộluật TTHS, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành…Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo tính đúng đắn và hiệu quả cho hoạtđộng thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Khoản 1 Điều 2 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về cơ sở
của trách nhiệm hình sự như sau: “Chỉ người nào phạm một tội được Bộ luật hình
sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [Bộ luật hình sự, tr 1] Điều này có
nghĩa chỉ người nào thực hiện một trong các hành vi nguy hiểm cho xã hội, tráipháp luật được quy định tại một điều luật cụ thể trong Bộ luật hình sự mới phải chịutrách nhiệm hình sự, còn những hành vi mặc dù trong thực tế đã gây hậu quảnghiêm trọng cho xã hội nhưng hành vi ấy chưa được quy định trong Bộ luật
Trang 24hình sự thì không được phép tiến hành các biện pháp ngăn chặn, khởi tố, điều tra với những hành vi này Tội giết người được quy định tại Điều 123 BLHS năm 2015(sửa đổi 2017) Do đó, khi một người có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng củangười khác một cách trái pháp luật xảy ra trên thực tế thì trong chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình các cơ quan tố tụng phải tiến hành các hoạt động theo quyđịnh pháp luật TTHS nhằm thu thập chứng cứ làm rõ vụ án
Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án giết người trên thực tế được xác địnhtại Điều 15 BLTTHS như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa
vụ buộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp phápkhác nhau để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng vàtình tiết giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội” [BLTTHS, tr.5] Đây là một trongnhững cơ sở quan trọng để Cơ quan điều tra mà cụ thể là Điều tra viên trong quátrình điều tra làm rõ sự thật của vụ án giết người được tiến hành các hoạt động, biệnpháp điều tra theo quy định của Luật TTHS, như: Khám nghiệm hiện trường, khámnghiệm tử thi, lấy lời khai người làm chứng và các hoạt động điều tra khác nhằmmục đích xác định sự thật của vụ án
Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Tòa án đều là những cơ quan có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, nhưng việc chứngminh tội phạm của các cơ quan này ở mỗi giai đoạn tố tụng có những đặc điểm khácnhau, cụ thể: Ở giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm, còn ở giai đoạn xét xử, nghĩa vụ chứngminh tội phạm thuộc về đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và Hội đồngxét xử Trách nhiệm chứng minh một người có phải là tội phạm hay không thuộc về các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, do vậy, kể cả trong trường hợp người phạmtội không đưa ra được những chứng cứ để chứng minh là bản thân họ vô tội thì các cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng không thể tự nhiên kết tội họ
Trang 25Ngoài ra, những quy phạm pháp luật được thể hiện trong Điều 88, Điều 108 Bộluật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2017) là một trong những cơ sở pháp lý quan trọngcho hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người.
Điều 88 BLTTHS 2015 quy định như sau: “1 Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật,
dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án” [25, tr 37] Cơ sở của quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ được quy định tại Điều 108 BLTTHS cụ thể như sau: “1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến
vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết
vụ án hình sự.
2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ
đã thu thập được về vụ án”.
Bên cạnh đó những quy định trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm
2015 quy định về thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Công an nhân dân; Thông tư28/2014/TT-BCA ngày 7/7/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về công tác điềutra hình sự trong Công an nhân dân; Quyết định 1319/QĐ-BCA ngày 20/3/2015 của Bộtrưởng Bộ Công an ban hành Quy trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố trong Công an nhân dân;… Tất cả các quy phạm pháp luậttrong các văn bản nói trên chính là cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt động thu thập,đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người Ngoài việc quy
Trang 26định những vấn đề có tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục và phương pháp tiến hành,khoa học luật TTHS còn quy định một cách chi tiết, rõ ràng những chỉ dẫn cơ bản
về phương pháp, chiến thuật của hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ.Việc tôn trọng và nghiêm túc trong thực hiện các quy định này nhằm tìm ra sự thậtkhách quan trong quá trình điều tra VAHS nói chung và vụ án giết người nói riêng
2.1.2 Nội dung của thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
2.2.1.1 Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Dựa trên những quy định của pháp luật TTHS và xuất phát từ thực tiễn điềutra các vụ án giết người, chúng ta có thể khái quát hoạt động thu thập chứng cứ
trong điều tra vụ án giết người như sau: Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng áp dụng những biện pháp, phương pháp khác nhau theo quy định của pháp luật, để phát hiện, mô tả, thu lượm những đồ vật, tài liệu theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự có liên quan đến vụ án giết người nhằm làm rõ sự thật vụ án giết người.
Thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người là một giai đoạn của quátrình chứng minh có tội phạm giết người xảy ra hay không? Đây là giai đoạn đầutiên của quá trình chứng minh tội phạm Nếu không có hoạt động thu thập chứng cứthì cũng không có hoạt động kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ
Khoản 1 Điều 88 BLTTHS quy định chủ thể có thẩm quyền thu thập chứng
cứ trong các VAHS nói chung và các vụ án giết người nói riêng là các cơ quan tiếnhành tố tụng có thẩm quyền thu thập chứng cứ Theo quy định tại Khoản 1 Điều 88BLTTHS thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập chứng cứ bằng cách:yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện
tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Trong quá trình tiến hành thu thậpchứng cứ các vụ án giết người phải tuân thủ những quy định như:
Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: Thủ tục nàyđược áp dụng trong quá trình điều tra khi tiến hành các biện pháp hỏi cung; lấy lời
Trang 27khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; khi tiếnhành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở, địa điểm.
Quy định về việc phải có người chứng kiến trong các trường hợp:
Đối với biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể bị can, bị hại,nhân chứng khám nghiệm hiện trường, khám nghiện tử thi, thực nghiệm điều tra,nhận dạng thì người chứng kiến việc khám có thể là bất kỳ ai và chỉ cần một người(riêng đối với biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể, thì phải làngười cùng giới)
Biện pháp khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm đòi hỏi trong quá trình khámphải có sự chứng kiến của người láng giềng, đại diện chính quyền địa phương (nơilàm việc thì đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc) Trường hợp vắng chủnhà thì phải có hai người trở lên chứng kiến việc khám xét này
Biện pháp thu giữ thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện tại bưu điện thì phải
có sự chứng kiến của đại diện cơ quan bưu điện
Nội dung của hoạt động thu thập chứng cứ bao gồm: Phát hiện chứng cứ làviệc quan sát, nghiên cứu, xem xét, kiểm tra những nơi xảy ra sự việc phạm tội, tìmkiếm, gặp gỡ những người biết về sự việc phạm tội, hoặc trưng cầu giám định nhằmphát hiện vật chứng, dấu vết, các thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án đang ởđâu, tồn tại dưới dạng nào
Ghi nhận và thu giữ chứng cứ là việc xác định, mô tả, ghi chép, xác nhận đặc điểm,tính chất, số lượng, chất lượng, phân loại vào biên bản và thu giữ các thông tin, tài liệuhoặc những vật chứng có liên quan đến vụ án theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Củng cố chứng cứ là việc bổ sung về nội dung và hình thức đảm bảo chochứng cứ có giá trị chứng minh cao
Bảo quản chứng cứ là việc xắp xếp, trông coi và đưa vào lưu giữ các tài liệu,vật chứng… từ khi thu giữ đến khi sử dụng theo đúng quy định của pháp luật,không để bị hư hỏng, mất mát, sai lệch hay bị tiêu hủy
Theo quy định của BLTTHS, các biện pháp thu thập chứng cứ trong điều traVAHS nói chung và trong điều tra vụ án giết người nói riêng được xác định thông
Trang 28qua các hoạt động tố tụng hình sự bao gồm các hoạt động điều tra tố tụng và cáchoạt động tố tụng khác Chính vì vậy, dựa trên những quy định của pháp luật có thểthấy phương pháp thu thập chứng cứ trong vụ án giết người được xác định bằngviệc tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng hình sự, bao gồm:
Một là, có thể tiến hành lấy lời khai của những người biết về vụ án giết người
đó, ví dụ: Hỏi cung bị can (Điều 183); lấy lời khai người làm chứng (Điều 186); lấylời khai bị hại, nguyên đơn (Điều 187); đối chất (Điều 189); nhận dạng (Điều 190)
Hai là, có thể tiến hành các hoạt động thu thập dấu vết, tài liệu, đồ vật liênquan đến vụ án, như: Khám xét người (Điều 194); khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địađiểm, phương tiện (Điều 195); thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưuđiện, dữ liệu điện tử (Điều 196,197); khám nghiệm hiện trường (Điều 201), khámnghiệm tử thi (Điều 202); xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 203); thực nghiệmđiều tra (Điều 204)…
Phương pháp thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người thông qua cáchoạt động tố tụng khác bao gồm: Người bào chữa có quyền gặp người mà mình bàochữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để tìm hiểu, hỏi,nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cánhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa cho thânchủ của mình
Ngoài ra, hoạt động thu thập chứng cứ trong vụ án giết người còn được thựchiện thông qua hoạt động chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ pháp lý, như:Thu thập những thông tin, tài liệu về vụ án giết người thông qua việc chuyển hóanhững thông tin, tài liệu, dữ liệu thu thập được từ đặc tình, cơ sở bí mật, hòm thư bímật cung cấp, thông qua hoạt động trinh sát ngoại tuyến… của lực lượng Cảnh sátđiều tra Đây được coi là một nội dung khá quan trọng trong quá trình thu thậpchứng cứ trong điều tra vụ án giết người xảy ra hiện nay
Theo quy định của pháp luật TTHS thì việc mô tả, sao chép chứng cứ được thựchiện bằng các biện pháp sau đây: Lập biên bản ghi nhận kết quả các hoạt động điều tra
Trang 29thu thập chứng cứ; thu giữ vật chứng; chụp ảnh các tài liệu, chụp ảnh các đồ vật,dấu vết… ghi âm lời khai.
Thực tiễn quá trình điều tra vụ án giết người thì vấn đề thu thập chứng cứtrong vụ án giết người cần phải lưu ý một số trường hợp sau:
Thứ nhất, đối với dấu vết trong vụ án giết người, khi thu thập các cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ghi rõ trong biên
bản: Dấu vết thu thập được là dấu vết gì, vị trí, đặc điểm ra sao? Việc thu thập cácdấu vết này được thực hiện thông qua biện pháp khám nghiệm hiện trường và khámnghiệm tử thi
Khám nghiệm hiện trường là hoạt động thu thập thông tin, tài liệu, dấu vết, vậtchứng liên quan đến vụ việc tại chính nơi vụ việc đó xảy ra hoặc tại nơi phát hiện tộiphạm Đó là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật, có sự hỗ trợ của cácphương tiện nghiệp vụ, nhằm phát hiện thu thập thông tin, dấu vết, vật chứng của tộiphạm hoặc nghi có liên quan đến tội phạm để xác định có hay không có tội phạm xảy ra
và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án Việc khám nghiệm hiện trườngcác vụ án giết người phụ thuộc vào hiện trường cụ thể trong nhà, ngoài trời, nơi côngcộng, khu tập thể, công trường xây dựng… Khi tiến hành khám nghiệm hiện trườngcần thu thập những dấu vết như: dấu vết do sự vật lộn, chống trả của người bị hại đốivới thủ phạm, dấu vết giày dép để lại trên lối vào lối ra, dấu vết để lại trên vật tại hiệntrường, dấu vân tay để lại ở các các đồ vật, dụng cụ mà đối tượng phạm tội cầm, nắmtới trong khi gây án; dấu vết sinh học để lại trong lúc thực hiện hành vi giết người, công
cụ, đồ vật mà thủ phạm mang theo để thực hiện tội phạm; những dấu vết khác Từ đótiến hành đánh giá dấu vết, vật chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường và các thôngtin khác trong mối quan hệ của chúng để rút ra kết luận về việc chuẩn bị gây án của thủphạm, diễn biến của vụ án, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm, các tài liệu cần thiết
có thể áp dụng biện pháp truy nguyên đối tượng gây án, nhận định hướng truy tìm thủphạm và lập kế hoạch điều tra… Đồng thời, bước đầu đánh giá tất cả các thông tin thuthập được qua hoạt động điều tra ban đầu các vụ án giết người để xác định việc áp dụngcác biện pháp truy tìm thủ phạm
Trang 30Khám nghiệm tử thi là biện pháp điều tra phải được tiến hành đồng thời vớibiện pháp khám nghiệm hiện trường với mục đích tìm ra dấu vết của tội phạm trênthi thể nạn nhân Biện pháp này phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục doBLTTHS quy định để đảm bảo cho việc sử dụng chứng cứ trong quá trình tiến hành
tố tụng đối với vụ án Kết quả công tác khám nghiệm tử thi còn phục vụ tốt chocông tác truy tìm thủ phạm Khi tiến hành khám nghiệm cần phải tỉ mỉ, thận trọng,khách quan để thu thập hết, chính xác các dấu vết; phải chú ý đến các dấu vết cơhọc, sinh học làm cơ sở cho công tác xác định nguyên nhân chết, hướng điều tra,xây dựng giả thuyết điều tra
Về tên của dấu vết cần ghi rõ đó là dấu vết gì: Là vân tay, vết máu, vết cày,vết cạy phá, dấu chân, dấu tay, dấu giày dép Tên của dấu vết phải được ghi rõtrong biên bản Trường hợp khó đặt tên dấu vết ngắn gọn thì phải mô tả cụ thể vềdấu vết nhưng phải phản ánh được nội dung chủ yếu, cơ bản
Về đặc điểm của dấu vết: Cần mô tả các nội dung đặc điểm về hình dáng,kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của dấu vết để phục vụ tốt cho công tácgiám định làm rõ nguyên nhân chết của nạn nhân
Thứ hai, đối với vật chứng trong vụ án giết người
Khi thu thập vật chứng trong mọi trường hợp đều phải ghi cụ thể trong biênbản thu giữ các nội dung sau:
Tên của vật là gì (con dao, khẩu súng, hay công cụ phương tiện khác) nếu là
mô tô xe máy, thì phải ghi rõ biển số, số khung, số máy Trường hợp vật chứngkhông phải là những vật thông dụng, khó đặt tên, thì có thể đặt tên dạng mô tả đặcđiểm, hình dạng, kích thước, màu sắc
Đặc điểm của vật, tùy từng loại vật cụ thể mà có cách mô tả khác nhau,nhưng nhìn chung trong quá trình mô tả phải thể hiện được các nội dung: Số lượng,chất lượng, trọng lượng, khối lượng, hình dạng kích thước, màu sắc, mùi vị, tínhnguyên vẹn và trạng thái của vật Những dấu vết của tội phạm để lại trên vật chứng
Trang 31Trường hợp trên vật chứng có nhiều dấu vết thì phải mô tả từng dấu vết theonội dung củng cố từng dấu vết đã nêu trên Phải mô tả cụ thể, chi tiết từng dấu vết,kích thước của dấu vết, màu sắc của dấu vết, chiều hướng của dấu vết
Địa điểm tìm thấy vật: Địa điểm tìm thấy vật và cách thức cất giấu liên quanchặt chẽ tới giá trị chứng minh của chứng cứ, giá trị pháp lý của chứng cứ, làm phátsinh căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng khác
Thứ ba, đối với những tài liệu, thông tin phản ánh về nhân thân và thông tin
các mối quan hệ của đối tượng giết người; nạn nhân trong vụ án giết người… vànhững loại tài liệu khác có ý nghĩa trong quá trình điều tra vụ án giết người
2.2.1.2 Đánh giá chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Thực tế cho thấy, việc đánh giá chứng cứ chính xác, khách quan, toàn diệnphụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng, dựa vào khảnăng nhận thức đúng về bản chất của vụ việc, bản chất của chứng cứ trong vụ việc
đó để vận dụng linh hoạt các biện pháp đánh giá, sử dụng chứng cứ vào quá trìnhchứng minh sự thật khách quan của vụ án
Do đó, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự là hoạt động nhận thức, tư duy logic của các chủ thể tiến hành tố tụng trên cơ sở vận dụng các quy định của pháp luật nhằm xác định giá trị của từng chứng cứ và tổng thể các chứng cứ thu thập được để rút ra kết luận về vụ án.
Điều 108 BLTTHS năm 2015 quy định như sau:
“1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp,xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phảibảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự
2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạncủa mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thuthập được về vụ án”
Các chứng cứ được thu thập được trong quá trình điều tra vụ án giết ngườiphải liên quan đến vụ án, đều phải được đánh giá riêng biệt và tổng thể; có như vậy
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mới giải quyết được vụ án giết người Phân
Trang 32tích chứng cứ trong những vụ án giết người là việc phân chia toàn bộ chứng cứ đãthu thập được về vụ án, phân biệt chứng cứ này với chứng cứ khác, phân chia từngchứng cứ riêng lẻ thành các bộ phận cấu thành, chọn ra trong đó các sự kiện khẳngđịnh, đặc điểm riêng, đối chiếu, so sánh các yếu tố riêng lẻ của từng chứng cứ vớinhau và của chứng cứ này với chứng cứ khác.
Tổng hợp chứng cứ trong vụ án giết người là rút ra kết luận từ các chứng cứ
đã được thu thập về vụ án, từ việc xác định dựa trên cơ sở của tất cả các chứng cứ,các sự kiện và các tình tiết của vụ án đang được điều tra và giải quyết Từ đó xácđịnh đối tượng giết người, nguyên nhân chết người…
Việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ có ý nghĩa quyết định đối với việc giảiquyết vụ án hình sự nói chung và vụ án giết người nói riêng Đó chính là tráchnhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến hành tố tụng
Khi tiến hành đánh giá chứng cứ trong vụ án giết người phải tuân thủ cácnguyên tắc sau: Nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ khi xem xét đánh giáchứng cứ Tiêu chuẩn để đánh giá chứng cứ là thực tế khách quan vụ án đã xảy ra.Trong trường hợp có nhiều chứng cứ thu được phản ánh những thông tin trái ngượcnhau thì phải căn cứ vào thực tế khách quan để xem xét, đánh giá mà không địnhtrước giá trị của bất kỳ chứng cứ nào
Trong hoạt động xét xử, việc xác định và đánh giá các chứng cứ tại phiên tòađược thực hiện theo nguyên tắc này nhằm đảo bảo cho Hội đồng xét xử thực sự độclập trong việc xác định sự thật của vụ án để quyết định hình phạt mà không phụthuộc vào các quan điểm đánh giá chứng cứ của vụ án trong các giai đoạn trước đónhư khởi tố, điều tra, truy tố
Nguyên tắc đánh giá chứng cứ trong mối quan hệ tổng thể các vấn đề phảichứng minh trong vụ án hình sự Thực hiện nguyên tắc này trong trường hợp khi cómột vấn đề nào đó đang tồn tại đủ chi phối toàn bộ quá trình bao gồm nhiều vấn đềkhác nhau thì ta không cần chứng minh thêm vấn đề khác nữa
Nguyên tắc giải thích sự nghi ngờ theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo Mọiquyết định TTHS phải được dựa trên những căn cứ đầy đủ và chính xác Tuy nhiên,
Trang 33trong những trường hợp nhất định, do những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến quá trìnhlàm sáng tỏ sự thật của vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chỉ thu thập được một
số tài liệu, chứng cứ nhất định mà khi đánh giá những chứng đó thì không đưa ra đượckết luận dứt khoát mà chỉ đưa ra được một nhận định có tính nghi ngờ về bị can, bị cáo.Khi đó, cần áp dụng nguyên tắc này để loại trừ khả năng có thể làm oan người vô tội.Tuy vậy, không phải cứ có sự nghi ngờ thì lập tức áp dụng nguyên tắc này mà chỉ ápdụng khi điều nghi ngờ không thể làm rõ được nữa vì không còn cơ sở xác minh, khôngthể xác minh được, không còn thời hạn do luật quy định…
Đánh giá chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động TTHS, có ý nghĩaquan trọng trong việc chứng minh tội phạm, người phạm tội và giải quyết cácVAHS Kiểm tra, đánh giá chứng cứ là cơ sở quan trọng cho hoạt động thu thập,kiểm tra, sử dụng chứng cứ; kiểm tra, đánh giá chứng cứ có vai trò quan trọng trongviệc xác định sự thật khách quan của vụ án; đánh giá chứng cứ là căn cứ để đi đếnkết luận và ra quyết định giải quyết thực chất vụ án hình sự
2.2.1.3 Sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người
Để việc sử dụng chứng cứ trong vụ án giết người đạt được mục đích, dựatrên cơ sở, yêu cầu của pháp luật và thực tiễn tiến hành hoạt động chứng minh trong
vụ án giết người, chủ thể tiến hành tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một sốvấn đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ như: Sử dụng chứng cứ phảituân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự Chỉ sửdụng các chứng cứ được phát hiện, thu thập theo đúng quy định của pháp luật tốtụng hình sự, và các chứng cứ đó phải được kiểm tra đầy đủ, bảo đảm ba thuộc tínhcủa chứng cứ và phải phù hợp với thực tế khách quan Trong quá trình tiến hành tốtụng, không chỉ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được sử dụngchứng cứ vào quá trình chứng minh tội phạm mà tất cả những người tham gia tốtụng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều có quyền đưa
ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Theo khoa học điều tra hình sự, việc sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ ángiết người thường gắn vào các mục đích cơ bản sau đây:
Trang 34+ Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được để ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
Đa số các vụ án giết người là do các nguyên nhân xã hội (tình cảm, thùhằn…), mâu thuẫn giữa nạn nhân và thủ phạm đã có quá trình và bộc lộ ra ngoài mànhiều người có thể biết Do đó, phần lớn có thể được xác định ngay là vụ án sau khinhận được tin báo và tiến hành các biện pháp điều tra cấp bách
+ Căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được để áp dụng các biện pháp ngănchặn: Điều tra viên tiến hành kiểm tra đánh giá lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ của vụ
án, đối chiếu với những vấn đề cần chứng minh trong vụ án giết người để khởi tốhay không khởi tố vụ án, bị can và các biện pháp khác như bắt hay khám xét…
+ Chứng cứ là cơ sở quan trọng để tổ chức tiến hành các biện pháp điều tratrong quá trình điều tra vụ án giết người: Trên cơ sở phân tích, đánh giá, tổng hợpnhững tài liệu đã thu thập được, CQĐT đưa ra các giả thuyết sau về vụ án giết ngườinhư: Vụ án xảy ra bắt nguồn từ động cơ, mục đích nào? Thời gian xảy ra vụ án? Nơiphát hiện tử thi có phải là nơi xảy ra vụ án hay là nơi giấu xác nạn nhân? Vụ án cóđồng phạm hay không? Giữa đối tượng và nạn nhân có mối quan hệ không? Đốitượng là người ở tại địa phương hay nơi khác đến, mức độ am hiểu địa điểm gây án
ra sao? Đặc điểm tâm sinh lý đối tượng? Hướng đến và rút khỏi hiện trường của thủphạm? Đối tượng có bị thương hay trầy xước gì không? Diễn biến vụ án theo chiềuhướng nào? Nạn nhân có chống cự lại thủ phạm hay không? Thủ đoạn gây án?Hung khí mà đối tượng đã sử dụng? Tài sản có thể bị chiếm đoạt? Đặc điểm và giátrị của các tài sản đó? Nạn nhân là ai?
Trên cơ sở giả thuyết điều tra, điều tra viên dự kiến những biện pháp điều tra
và biện pháp khác hỗ trợ cho các biện pháp điều tra để kiểm tra từng giả thuyết.Cùng với việc đưa ra các biện pháp cần xác định lực lượng, phương tiện nghiệp vụ
và các yêu cầu cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch
Kế hoạch phải xác định tính khẩn trương kịp thời khi tiến hành biện pháp cấpbách vì nếu chậm trễ sẽ bị mất thông tin, bỏ lỡ cơ hội khám phá vụ án, đối tượng cóthể sẽ bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra
Trang 35+ Chứng cứ còn là cơ sở quan trọng để CQĐT đưa ra kết luận điều tra vụ ángiết người và là căn cứ quan trọng để ra quyết định truy tố hoặc không truy tố bị cantrong vụ án giết người.
Trong bản kết luận điều tra cần nêu diễn biến của vụ án giết người, nêunhững chứng cứ dùng để chứng minh hành vi phạm tội giết người, nêu những ý kiến
đề xuất giải quyết vụ án và bị can cùng với lý do và căn cứ đưa ra đề xuất đó
Tóm lại, việc thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong các vụ án giếtngười luôn phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện, tổng hợp Và những chứng cứ
ấy là cơ sở quan trọng để giải quyết vụ án, giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét
xử có định hướng; nhanh chóng, đạt hiệu quả cao; tránh việc tiến hành các hoạtđộng tố tụng hình sự một cách tùy tiện, tràn lan
2.2 Thực tiễn hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người tại Bình Phước
2.2.1 Tình hình tội giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước từ năm 2014 đến năm 2018
Cùng với sự quyết liệt của các cấp có thẩm quyền, trong những năm qua,Công an tỉnh Bình Phước đã mở nhiều đợt tấn công trấn áp các loại tội phạm, khôngngừng tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việcphòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm nhưng hiệu quả chưa cao Tình hìnhphạm pháp hình sự nói chung trên địa bàn toàn tỉnh có chiếu hướng diễn biến phứctạp cả về số vụ phạm tội lẫn tính chất, mức độ phạm tội (bảng 2.1 – Phần phụ lục).Đặc biệt một số loại tội phạm như giết người, giết người cướp tài sản, giết ngườihiếp dâm, trộm cắp… ngày càng có chiều hướng diễn biến phức tạp hơn, nghiêmtrọng nhất vẫn là tội giết người
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước từ năm 2014 đếnnăm 2018 TAND tỉnh xét xử 126 vụ án giết người với 226 bị cáo trong tổng số
5001 vụ với 9605 bị cáo chiếm tỷ lệ 2,5 % số vụ và 2,4 % số bị cáo mà Tòa án nhândân tỉnh Bình Phước đã xét xử [Bảng 2.2 – Phần phụ lục] Điều đó cho thấy sự diễnbiến phức tạp của loại tội phạm này
Trang 36Đặc biệt, số vụ án giết người do đối tượng là người ở địa phương khác tớitạm trú, làm ăn sinh sống thực hiện ngày càng cao và có dấu hiệu gia tăng cả về số
vụ và số bị cáo Mặc dù tỷ lệ tội giết người so với các loại tội khác không nhiềunhưng thiệt hại gây ra cho xã hội lại rất nghiêm trọng Phân tích số liệu của Tòa ánnhân dân tỉnh Bình Phước cho thấy như sau:
Năm 2014 xét xử 27 vụ án giết người với 36 bị cáo
Năm 2015 xét xử 21 vụ án giết người với 64 bị cáo, giảm 6 vụ (=22,2), tăng
28 bị cáo (= 77,8%) so với năm 2014;
Năm 2016 xét xử 33 vụ án giết người với 54 bị cáo, tăng 12 vụ (=57,1%),giảm 10 bị cáo (=15,6%); so với năm 2015;
Năm 2017 xét xử 26 vụ án giết người với 36 bị cáo, tăng 07 vụ (=21,2%),giảm 18 bị cáo (=33,3%); so với năm 2016;
Năm 2018 xét xử 19 vụ án giết người với 24 bị cáo, giảm 7 vụ (=26,9%),giảm 12 bị cáo (=33,3%) so với năm 2011;
[Xem bảng 2.1 – Phần Phụ lục]
Qua phân tích số liệu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước cho thấy:trong những năm qua số vụ án giết người trên địa bàn tỉnh được đưa ra xét xử cónăm tăng, có năm giảm nhưng sự tăng giảm lại không đều nhau cả về số vụ và số bịcáo cho thấy sự phức tạp của loại tội phạm này Đặc biệt, trong các vụ án giết ngườitrên địa bàn tình có sự xuất hiện của nhiều phương thức, thủ đoạn gây án tinh vi, táobáo, trắng trợn và gây ra hậu quả đặc biệ lớn cho xã hội cũng như gia đình các nạnnhân… Qua đó cũng cho thấy nếu có những biện pháp phòng ngừa, biện pháp điềutra hiệu quả đối với tội phạm này sẽ góp phần lớn vào việc làm giảm tội phạm giếtngười trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.2.2 Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ án giết người tại Bình Phước giai đoạn 2014 – 2018
2.2.2.1 Tình hình, kết quả thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết ngườitại Bình Phước giai đoạn 2014 – 2018
Trong thực tế khi vụ án giết người xảy ra, các cơ quan tố tụng có trách nhiệm
Trang 37phải chứng minh tội phạm và người phạm tội giết người Điều tra viên không phải
là những người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội xảy ra nhưng họ là nhữngngười có trách nhiệm phải chứng minh và tìm ra sự thật khách quan của vụ án Giaiđoạn điều tra có vai trò rất quan trọng trong việc thu thập chứng cứ và chứng minhtrong các vụ án giết người Trong giai đoạn này, CQĐT có thẩm quyền áp dụng mọibiện pháp điều tra theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người thựchiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố
Là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự, quá trình điều tra vụ
án giết người được tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự Để chứng minh vụ án giếtngười, các cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể nhất là cơ quan điều tra cần phải ápdụng những biện pháp, phương pháp được pháp luật quy định, để phát hiện, mô tả
và thu lượm những thông tin, đồ vật, tài liệu hay nói cách khác là để thu thập chứngcứ… theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ đã được Bộ luật TTHS đã quy định, từ đó
có những căn cứ chắc chắn để chứng minh làm rõ sự thật của vụ án giết người
Quá trình thu thập chứng cứ trong điều tra vụ án giết người trên địa bàn tỉnhBình Phước được lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước tiến hànhthông qua các bước sau đây:
- Thu thập chứng cứ thông qua thông qua phát hiện, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm giết người
Từ thực tiễn điều tra tội giết người trên địa bàn tỉnh Bình Phước cho thấy, hoạtđộng tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm được tiến hành tương đối đầy đủ, cơ bảnđảm bảo tuân thủ các quy định về thủ tục, quy trình theo Bộ luật TTHS và Thông tưliên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02 tháng 8năm 2013 của BCA, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luậtTTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Quyếtđịnh 1319/QĐ-BCA-C41 ngày 20 tháng 3 năm 2015 của Bộ Công an ban hành Quytrình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong Công
an nhân dân; Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/07/2014 của Bộ
Trang 38Công an quy định về công tác điều tra hình sự trong Công an nhân dân và hiện nay làThông tư liên tịch số 01/BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một sốquy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố Qua nghiên cứu hồ sơ 85 vụ trong tổng số 126 vụ ángiết người đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử từ năm 2014 đến 2018 trênđịa bàn tỉnh Bình Phước cho thấy, thông tin tố giác, tin báo về tội phạm giết người chủyếu từ các nguồn sau: Thông qua tố giác, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp chiếm số lượng lớn, chiếm 72/85 vụ (= 84,7%) Tuy nhiên, qua quá trình trựctiếp, nghiên cứu và trao đổi với một số lãnh đạo, chỉ huy cũng như cán bộ trực tiếp điềutra cho thấy, công tác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an vẫncòn một số tồn tại như: Khi tiếp nhận tin báo, một số cán bộ trực ban không vào sổ sáchtheo đúng quy định hoặc còn chậm trễ trong việc báo cáo lãnh đạo chỉ huy để phâncông cán bộ điều tra xác minh, giải quyết tin báo; có nhiều trường hợp cán bộ điều tra
vì nhiều lý do khác nhau nên quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo còn lúng túng và mangtính hình thức, qua loa, đại khái, dẫn tới tình trạng chưa ghi nhận được những thông tin
cơ bản, quan trọng về vụ án giết người dẫn đến nhiều khó khăn cho việc thu thập cácchứng cứ trong giai đoạn tố tụng tiếp theo
- Thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường vụ án giết người
Cơ sở thực tiễn của hoạt động thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khámnghiệm hiện trường vụ án giết người là việc tổ chức, phân công, phối kết hợp giữacác lực lượng có liên quan đến công tác điều tra án giết người trong quá trình thựchiện việc phát hiện, thu thập và khai thác dấu vết hình sự khi khám nghiệm hiệntrường, mà cụ thể là sự phân công phối hợp giữa các lực lượng khi tham gia côngtác khám nghiệm hiện trường và trong việc giám định chứng cứ thu được thông quaquá trình khám nghiệm
Khi khám nghiệm hiện trường vụ án giết người, lực lượng khám nghiệm hiệntrường Công an tỉnh Bình Phước tiến hành khám nghiệm theo sự chủ trì của Điều tra
Trang 39viên được phân công của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công antỉnh Bình Phước và có sự giám sát của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnhBình Phước Tất cả những dấu vết, vật chứng được phát hiện ở hiện trường thì lựclượng khám nghiệm hiện trường tiến hành chụp ảnh, đo đạc, thu giữ, niêm phongrồi giao lại cho Điều tra viên chủ trì Riêng biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ
đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường không được thông qua ngay sau khi kết thúckhám nghiệm mà phải chờ lực lượng khám nghiệm hoàn thành và bổ sung sau
Kết quả thực tế nghiên cứu hồ sơ 85 vụ án giết người xảy ra trên địa bàn tỉnhBình Phước từ năm 2014 đến năm 2018 cho thấy, 100% các vụ án giết người đều đượctiến hành khám nghiệm hiện trường Các loại hiện trường như hiện trường nơi vụ ánxảy ra, hiện trường nơi phát hiện xác nạn nhân… đều được khám nghiệm một cách đầy
đủ ĐTV của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội chủ trì khám nghiệmhiện trường, phân công ĐTV cấp quận, huyện và cán bộ điều tra được phân công đicùng lấy lời khai người bị hại, nhân chứng và những người có liên quan (nếu có), thuthập thông tin từ các dấu vết, vật chứng của vụ án, phối hợp với lực lượng kỹ thuật hình
sự trong việc thu thập các dấu vết, tài liệu thu được ở hiện trường vụ án Lực lượng Kỹthuật hình sự cùng với ĐTV tiến hành khám nghiệm hiện trường phát hiện, ghi nhận,thu lượm, bảo quản và đánh giá các dấu vết, vật chứng tồn tại ở hiện trường, chụp ảnh,
vẽ sơ đồ hiện trường, viết biên bản khám nghiệm hiện trường, tiến hành giải phẫu tử thi(do bác sỹ pháp y tiến hành), viết biên bản khám nghiệm tử thi
Thực tiễn trao đổi với một số ĐTV là những người đã từng trực tiếp chủ trìkhám nghiệm hiện trường các vụ án giết người và các ĐTV cùng tham gia cho thấycông tác thu thập chứng cứ thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường của lựclượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước còn những tồn tại như: Lực lượngĐTV, kỹ thuật hình sự có mặt tại hiện trường chậm nên không thu thập được hết cácthông tin cần thiết cho việc xác định thủ phạm; sự phối hợp giữa ĐTV, cán bộ khámnghiệm hiện trường còn chưa chặt chẽ, nhất là trong việc trao đổi thông tin, kiểm tra,xác minh nhanh các chứng cứ (chủ yếu là dấu vết, đồ vật, tài liệu…) thu được tại hiệntrường giá trị chứng minh nhanh thủ phạm không, hướng truy bắt thủ phạm…; một