- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phầnnâng cao nhận thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội, đoàn thểcác cấp từ tỉnh, huyện đến cơ sở hiểu r
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HOÀNG VŨ
TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêngtôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận văn chưa từngđược ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Hoàng Vũ
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
bảng
2.1 Tổng hợp tình hình tội chống người thi hành công vụ PL
tại tỉnh Quảng Nam (từ năm 2015 đến tháng 6/2019)
2.2 Thống kê số bị can phạm tội chống người thi hành PL
công vụ tại tỉnh Quảng Nam (từ năm 2015 đến tháng
6/2019)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 01
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI
CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 071.1 Những vấn đề lý luận về tội chống người thi hành công vụ 071.2 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội chống người thi hành công vụ 31
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG TẠI TỈNH
QUẢNG NAM 382.1 Định tội danh chống người thi hành công vụ 382.2 Quyết định hình phạt đối với tội chống người thi hành công vụ 472.3 Nhận xét, đánh giá trong thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt đốivới tội chống người thi hành công vụ tại tỉnh Quảng Nam 56
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG
VỤ 673.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm
chống người thi hành công vụ và hướng dẫn áp dụng pháp luật về tội phạmchống người thi hành công vụ tại tỉnh Quảng Nam 673.2 Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hànhcông vụ 693.3 Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự về tội chống
người thi hành công vụ 693.4 Các giải pháp, kiến nghị khác 70
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆUTHAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi Đảng ta đưa ra chính sách đổi mới vào năm 1986, lãnh đạotập trung thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt đượcnhững thành tựu vô cùng to lớn, đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội và tình trạng kém phát triển Nền kinh tế có những bước đột phávượt bậc Văn hoá - xã hội từng bước phát triển, bộ mặt nông thôn mới ngàycàng khởi sắc, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện An ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh đảm bảo Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những tiêu cực, tồn tại, hạn chế như:tình hình tội phạm nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nóiriêng diễn ra ngày càng phức tạp, gây bức xúc trong nhân dân
Tỉnh Quảng Nam với điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hóa, xã hội khi
có khu kinh tế mở Chu Lai và hai di sản văn hóa thế giới là Hội An và MỹSơn đã góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trên địa bàn tỉnh Tuynhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, cũng còn những hạn chế liên quan đếncông tác phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm chống người thi hànhcông vụ
Trong thời gian qua, tình hình tội phạm chống người thi hành công vụtrên địa bàn tỉnh Quảng Nam ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp, khólường Theo thống kê của cơ quan chức năng, từ năm 2015 đến tháng 6 năm
2019 đã xét xử 64 vụ án/ 87 bị cáo về tội chống người thi hành công vụ Quanghiên cứu các vụ án cho thấy, hành vi chống người thi hành công vụ của cácđối tượng ngày càng tinh vi, thể hiện sự chủ động, trắng trợn và có chuẩn bịtrước Các đối tượng dùng nhiều biện pháp rất côn đồ, hung hãn, chủ động tấn
Trang 8công các lực lượng khi đang xử lý vụ việc Có nhiều trường hợp, sau khi bịbắt giữ, xử lý, đối tượng lên kế hoạch, tìm cách tấn công lại lực lượng chứcnăng bằng vũ khí, công cụ rất nguy hiểm, làm ảnh hưởng đến tính mạng củangười thi hành công vụ.
Để ngăn chặn tình trạng này, thời gian qua các Cơ quan tiến hành tốtụng (THTT) tại tỉnh Quảng Nam đã không ngừng tăng cường các giải phápnhằm đấu tranh ngăn chặn hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ,góp phần ngăn chặn loại tội phạm này Tuy nhiên, hiệu quả trong hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử đối với loại tội phạm này chưa cao, còn có những hạnchế nhất định, làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống tội phạm nói riêng,tình hình an ninh chính trị nói chung trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Tội
chống người thi hành công vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” Với mong muốn là đề tài này sẽ góp phần nâng cao nhận
thức trong các cấp, các ngành, các địa phương về phương pháp tiếp cận các lýluận về tội chống người thi hành công vụ; đồng thời, qua nghiên cứu việc ápdụng pháp luật hình sự về tội chống người thi hành công vụ từ thực tiễn tỉnhQuảng Nam sẽ đánh giá kết quả đã đạt được, đồng thời rút ra được những mặtcòn hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong việc xử lý tội chốngngười thi hành công vụ Từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm gópphần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý tội phạm chống ngườithi hành công vụ thời gian đến ở tỉnh Quảng Nam và sẽ đóng góp thêm kinhnghiệm cho các địa phương khác trên cả nước
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Luận văn đã tập trung nghiên cứu những nội dung lý luận của tội chốngngười thi hành công vụ, dựa trên những thông tin từ thực tiễn của tỉnh Quảng
Trang 9Nam (từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2019) để làm rõ thêm một số vấn đề
trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt (QĐHP) đối với loại tộiphạm này, nhằm góp phần giúp các Cơ quan THTT tại địa phương có đượcbức tranh toàn cảnh về định tội danh và QĐHP đối với tội chống người thihành công vụ Từ đó, có những định hướng, giải pháp trong việc áp dụngpháp luật hình sự đối với tội này, góp phần đem lại niềm tin cho nhân dân vàchính quyền tỉnh Quảng Nam trong công cuộc đấu tranh phòng chống tộiphạm, đảm bảo trật tự - an toàn xã hội
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tội chống người thi hành công vụ trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam
+ Phạm vi về nội dung: Chuyên ngành Luật hình sự
+ Phạm vi về tội danh và hình phạt: Đề tài luận văn nghiên cứu tội
chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 330 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017) gọi chung là BLHS năm 2015
+ Phạm vi về địa bàn: Đề tài luận văn nghiên cứu khoa học về tội
chống người thi hành công vụ trên phạm vi tỉnh Quảng Nam
+ Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài luận văn giai
đoạn từ năm 2015 đến tháng 6/2019, gồm số liệu thống kê xét xử hình sự củaViện kiểm sát nhân dân (VKSND) và Tòa án nhân dân (TAND) hai cấp tỉnhQuảng Nam và 30 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Nhằm bổ sung, hoàn thiện lý luận về định tội
danh và QĐHP của tội chống người thi hành công vụ Từ đó, xem xét kết quả
Trang 10thực hiện, đánh giá ưu điểm, những hạn chế, bất cập, nguyên nhân ưu, khuyếtđiểm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý tộiphạm này trong thời gian đến.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Tác giả tập trung xem xét, giải quyết các vấn
đã đạt được, hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót
+ Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
và xử lý loại tội phạm này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luậncủa Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; pháp luật của Nhà nước vàphương pháp luận của khoa học Hình sự; khoa học Tố tụng Hình sự, các quy địnhcủa ngành Công an, Kiểm sát, Toà án trong đấu tranh phòng chống tội phạm này
- Một số phương pháp nghiên cứu,cụ thể như sau:
+ Phương pháp khảo sát thực tiễn: Phỏng vấn sâu 10 cán bộ công chứcđang thực hiện công tác phòng, chống người thi hành công vụ ở tỉnh Quảng
Nam
+ Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu các vụ án về tội chống người thi hành
công vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2019
Trang 11Số liệu sơ cấp: Tự thu thập qua điều tra thực tế.
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu Bộ Luật, Nghị định,Thông tư, Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước quy định về tội chốngngười thi hành công vụ và các công trình nghiên cứu khoa học khác
liên quan đến tội chống người thi hành công vụ
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn sử dụng phương phápnày để nghiên cứu, phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm liên quan đến tộichống người thi hành công vụ trên cơ sở quy định tại các Bộ Luật, Nghị định,Thông tư hướng dẫn, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ởTrung ương và tỉnh Quảng Nam liên quan đến loại tội phạm này; trên cơ sở đótổng hợp, xem xét hình thức xử lý đảm bảo theo đúng quy trình, quy định
+ Phương pháp chuyên gia: Chọn chuyên gia có năng lực chuyên môn
về tội chống người thi hành công vụ để tham khảo, trưng cầu ý kiến, làm cơ sở để
có xem xét, nhận định và tìm ra giải pháp cho nội dung của luận văn
+ Phương pháp trao đổi khoa học và nghiên cứu điển hình: Nghiên cứucác hồ sơ vụ án khởi tố, điều tra, truy tố tội chống người thi hành công vụ từ năm
2015 đến hết tháng 6 năm 2019
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Góp phần bổ sung hoàn thiện hệ thống lý luận về tội chốngngười thi hành công vụ Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn là tư liệu cho công tácnghiên cứu, giảng dạy đào tạo chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng
hình sự trong trường Học viện khoa học xã hội, đặc biệt giúp cho các nhànghiên cứu xây dựng, bổ sung hoàn thiện các quy phạm pháp luật trong côngtác phòng chống, đấu tranh chống loại tội phạm này
Trang 12- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phầnnâng cao nhận thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội, đoàn thểcác cấp từ tỉnh, huyện đến cơ sở hiểu rõ hơn về lý luận tội chống người thi hànhcông vụ ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thực hiện phápluật về tội chống người thi hành công vụ tại tỉnh Quảng Nam, từ đó định hướnggóp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý tội phạm chống ngườithi hành công vụ thời gian đến.
Kết quả đề tài luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụnghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ thuộc Cơ quanTHTT tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Giải pháp đảm bảo quả áp dụng đúng các quy định pháp luật
về tội chống người thi hành công vụ
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHỐNG
NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ 1.1 Những vấn đề lý luận về tội chống người thi hành công vụ
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ
1.1.1.1 Khái niệm tội chống người thi hành công vụ
Đến nay, thuật ngữ “công vụ” còn gây nhiều tranh cãi, chưa có kháiniệm thống nhất Theo cách hiểu chung nhất, “công vụ” là công việc vì lợi íchchung của Nhà nước Một số văn bản pháp luật cũng đề cập đến thuật ngữ nàynhư sau:
Ngày 29/11/1986, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghị
quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ có nội dung như sau: “Công vụ là một công
việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một người thực hiện” [Mục 1, Chương 2] Ta có thể thấy, quy định này được hiểu theo nghĩa
rộng, không có việc giới hạn phạm vi trong lĩnh vực công vụ và không giớihạn về phạm vi chủ thể của công vụ
Đối với Luật cán bộ, công chức năm 2008 được quy định như sau:
“Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [22, Điều 2] Quy định này đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng
của công vụ và giới hạn phạm vi chủ thể của hoạt động công vụ Công vụ làhoạt động được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thực hiện công việc do Nhànước giao Do đó, tính tuân theo pháp luật là đặc điểm quan trọng nhất của
Trang 14“công vụ” Định nghĩa này cũng giới hạn phạm vi đối tượng là cán bộ, côngchức.
Đối với Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ban hành năm2017: Luật này không quy định trực tiếp về công vụ nhưng lại có nội dung
xác định người thi hành công vụ Nội dung như sau: “Người thi hành công vụ
là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án” [21, Điều 3] Quy định này đã giới hạn phạm vi lĩnh
vực của công vụ là trong quản lý hành chính, tố tụng và trong thi hành án
Việc giới hạn phạm vi của công vụ chỉ trong ba lĩnh vực, gồm: quản lýhành chính, tố tụng và thi hành án là hoàn toàn phù hợp Hoạt động quản lýnhà nước trong những lĩnh vực này thông qua các quyết định mang tính chất
cá biệt, có tính chất mệnh lệnh - phục tùng và tác động tới từng cá nhân cụthể Cũng chính vì vậy, chủ thể của các hoạt động này cũng dễ bị các cá nhântác động của công vụ chống lại, gây thiệt hại
Từ một số định nghĩa nêu trên, có thể thấy đặc điểm của công vụ là tínhđúng pháp luật và được giới hạn trong phạm vi nhất định bao gồm giới hạn vềphạm vi chủ thể của công vụ và giới hạn về phạm vi lĩnh vực của công vụ.Theo đó, công vụ phải là hoạt động quản lý nhà nước và phải thực hiện theođúng pháp luật, tức là những hoạt động được thực hiện dựa trên quy định củapháp luật bao gồm pháp luật nội dung và pháp luật hình thức Phạm vi lĩnhvực của hoạt động công vụ được giới hạn trong ba lĩnh vực quản lý hànhchính, tố tụng và thi hành án Chủ đề của công vụ là người thuộc các cơ quan
Trang 15Nhà nước hoặc được cơ quan Nhà nước giao quyền thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể
Với cách hiểu như vừa nêu ở trên về công vụ thì đặc điểm quan trọngnhất của công vụ là tính đúng pháp luật Muốn được coi là công vụ thì hoạtđộng phải đúng pháp luật, đúng quy trình, thủ tục thực hiện đúng pháp luật vàngười thực hiện được giao thẩm quyền theo đúng pháp luật Tuân thủ Hiếnpháp và pháp luật được coi là một trong các nguyên tắc của hoạt động công
vụ Hoạt động không đúng pháp luật là hoạt động “làm trái công vụ” và rõràng không phải là công vụ
Như vậy, trong trường hợp người thi hành công vụ có hoạt động làmtrái công vụ thì hành vi không được xem là hành vi thực hiện công vụ và dẫnđến thực hiện cũng không được coi là người thi hành công vụ Việc xác địnhchính xác thế nào là hoạt động “công vụ” có ý nghĩa quan trọng trong việcxác định dấu hiệu “người thi hành công vụ”
Do chưa có khái niệm chưa thống nhất về “công vụ” nên khái niệm về
“người thi hành công vụ” nên cũng chưa thống nhất về khái niệm “người thihành công vụ” trong các văn bản pháp luật
Ngày 29/11/1986 Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ban hành Nghịquyết 04-HĐTPTANDTC/NQ hướng dẫn áp dụng một số quy định trong
phần các tội phạm của BLHS quy định như sau: “Người thi hành công vụ là
người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội, thực hiện chức năng, nghiệp vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nghiệp vụ (như: tuần tra, canh gác…) theo kế hoạch của
cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội” Từ
quy định trên, người thi hành công vụ là những người có chức vụ và quyềnhạn trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội mà các cơ quan này thực hiện
Trang 16chức năng, nhiệm vụ của mình hoặc những công dân được huy động làmnhiệm vụ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền.
Đối với Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2017 quy định như
sau: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng
hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án” [21, Điều 3].
Theo Nghị định 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 được Chính phủquy định về các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những hành vi
chống người thi hành công vụ xác định người thi hành công vụ “…là cán bộ,
công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội” [3, Điều 3].
Từ những khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của tội chốngngười thi hành công vụ như sau:
- Thứ nhất: Người thi hành công vụ là người được giao nhiệm vụ để
thực hiện công vụ nhất định, tư cách pháp lý là điều kiện để cá nhân trở thànhngười thi hành công vụ và quyền hạn là cơ sở, điều kiện để thực hiện công vụ nhấtđịnh Trong đó, quyền hạn được hiểu là quyền lực pháp lý của Nhà nước trong mộtphạm vi nhất định được trao cho các tổ chức, cá nhân để thực thi công vụ Nóicách khác, đó là quyền đã được xác định về nội dung, mức độ và phải gắn liền vớicông việc được giao Quyền hạn này có thể phát sinh từ vị trí công tác thườngxuyên của người thi hành công vụ và trên cơ sở phù hợp với công vụ cụ thể đượcgiao thực hiện Nếu công vụ được giao cho người thi
Trang 17hành công vụ mà không kèm theo các quyền hạn thì sẽ có một số công vụkhông được thực hiện và ngược lại khi có nhiều quyền hạn mà quá ít công vụphải thựu hiện thì có thể xảy ra những trường hợp lạm quyền.
- Thứ hai, người thi hành công vụ phải đang thực hiện một nhiệm vụ cụ
thể, nhất định Một người được xác định là người thi hành công vụ không chỉ vìngười đó có thẩm quyền trong việc thực hiện công vụ mà còn phải đang
làm nhiệm vụ được giao Nội dung này chỉ khẳng định một người có thể làngười thi hành công vụ vì họ có vị trí công tác có thẩm quyền tiến hành công
vụ Như vậy, người thi hành công vụ luôn gắn liền với công vụ cụ thể, việcxác định người thi hành công vụ đặt ra yêu cầu cần xác định sự tồn tại củamột công vụ thực tế và công vụ đó đang thực hiện một cách đúng pháp luậtbởi một chủ thể theo đúng thẩm quyền được giao
- Thứ ba, việc thực hiện công vụ của cá nhân phải theo đúng quy định
của pháp luật Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của công vụ Người thi hànhcông vụ theo đúng nghĩa phải là người thực hiện hoạt động đúng pháp luật cả vềnội dung, hình thức và thẩm quyền
Từ những nội dung được phân tích nêu trên, tác giả định nghĩa tội
chống người thi hành công vụ như sau: Tội chống người thi hành công vụ là
hành vi cố ý cản trở, gây khó khăn cho người thi hành công vụ trong khi người đó đang thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hành chính, tố tụng và thi hành án.
Từ định nghĩa này, có thể đưa ra một số đặc điểm của tội chống ngườithi hành công vụ như sau:
Thứ nhất, tội chống người thi hành công vụ xâm phạm hoạt động quản
lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính, tố tụng và thi hành án, xâm phạm hoạtđộng bình thường của cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu quả quản lý của các
Trang 18cơ quan này Quan hệ xã hội bị tội chống người thi hành công vụ xâm hại làquan hệ liên quan trực tiếp đến các hoạt động “công vụ”, là hoạt động thuộclĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án Tội chống người thi hànhcông vụ xâm hại đến các quan hệ xã hội trên thông qua việc tác động trực tiếpđến người đang thi hành công vụ.
Thứ hai, chủ thể của tội chống người thi hành công vụ phải đủ điều kiện
về năng lực trách nhiệm hình sự (đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của luật vàkhông thuộc trường hợp trong tình trạng mất năng lực nhận thức hoặc nănglực điều khiển do mắc bệnh)
Thứ ba, hành vi phạm tội của tội này là hành vi cố ý có khả năng cản
trở, gây khó khăn cho người thi hành công vụ trong khi người đó đang thựchiện công vụ của họ Trong đó, “cản trở người thi hành công vụ” có thể hiểulà: Làm họ không thực hiện được công vụ hoặc làm họ thực hiện hành vi tráivới công vụ
Việc cản trở này có thể được thực hiện bằng các thủ đoạn như dùng vũlực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác có khả năng cản trở, gây kho khăncho người thi hành công vụ Trong đó: Dùng vũ lực được hiểu là có sự tácđộng vào cơ thể của người thi hành công vụ (có hoặc không sử dụng công cụ,phương tiện) như đấm, đá, trói hoặc đánh bằng gậy, chém bằng dao…; đe dọadùng vũ lực được hiểu là sự tác động bằng cử chỉ, lời nói có tính răng đe, uyhiếp tinh thần để làm cho người thi hành công vụ lo sợ vũ lực sẽ xảy ra…;hoặc thủ đoạn khác được hiểu là các thủ đoạn tuy không phải là dùng vũ lựchay đe dọa dùng vũ lực nhưng vẫn có thể uy hiếp được tinh thần người thihành công vụ như đe dọa sẽ công bố những tin tức, tài liệu bất lợi cho ngườithi hành công vụ hoặc cho người thân thích của họ, đe dọa hủy hoại tài sản,
Trang 19cởi bỏ quần áo trước người đang thi hành công vụ; tự gây thương tích hoặcgiả gây thương tích để vu khống bị người thi hành công vụ hành hung…
Người phạm tội chống người thi hàh công vụ mặc dù hiểu và nhận thứcđược hành vi cản trở việc thực hiện công vụ của người thi hành công vụ củamình là trái pháp luặt nhưng vẫn thực hiện và tìm mọi cách để người đang thihành công vụ không thể hoàn thành công vụ mà họ được giao
Từ các đặc điểm chung trên đây, nhà làm luật có thể xây dựng cấuthành tội của tội chống người thi hành công vụ theo các mô hình khác nhauvới thời điểm hoàn thành của tội phạm khác nhau Trong đó, có thể xây dựnghành vi là thủ đoạn dùng vũ lực, thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực và thủ đoạnkhác và dấu hiệu mục đích phạm tội là “Cản trở người thi hành công vụ thựchiện công vụ” (không thực hiện được công vụ hoặc thực hiện hành vi tráicông vụ)
1.1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành công vụ
Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 quyđịnh về tội chống người thi hành công vụ cụ thể như sau:
Điều 330 Tội chống người thi hành công vụ
1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a Có tổ chức;
b Phạm tội 02 lần trở lên;
Trang 20c Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm
tội; d Giây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng
trở lên đ Tái phạm nguy hiểm.
Từ những quy định nêu trên, có thể khẳng định hành vi chống người thihành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đến dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạnkhác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc
họ thực hiện hành vi trái pháp luật
- Về khung cơ bản quy định mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến
03 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Khung cơ bản của tội này gồmnhững dấu hiệu đặc trưng bắt buộc đối với tội phạm được quy định tại khoản 1Điều 330 BLHS năm 2015, các dấu hiệu đó phản ánh tính chất của loại tội, chophép phân biệt nó với loại tội phạm khác Do đó, người thực hiện hành vi dùng vũlực hay đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công
vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
- Khung hình phạt tăng nặng được quy định tại Khoản 2 Điều 330
BLHS năm 2015: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Khung hình phạt tăng nặng của tội chống người thi hành công vụ gồm
05 tình tiết thể hiện tính nguy hiểm hơn của hành vi phạm tội so với trườnghợp phạm tội thông thường
Thứ nhất, “Phạm tội có tổ chức” Tình tiết “phạm tội có tổ chức” được
hiểu là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người (đồng phạm),cùng thực hiện tội phạm này Sự cấu kết ở đây thể hiện sự liên kết chặt chẽ vềmặt chủ quan, sự phân hóa vai trò về mặt khách quan của người phạm tội.Nghĩa là có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm và trước
Trang 21khi thực hiện hành vi phạm tội, các đối tượng đã có sự bàn bạc, cấu kết, phânchia công việc… Tất cả những điều này cho phép người phạm tội có thời gian
để xây dựng kế hoạch chuẩn bị tốt hơn về mọi mặt, có nhiều khả năng thựchiện tội phạm theo đúng ý muốn, liên tục, lâu dài và cản trở triệt để hơn việcthi hành công vụ có tổ chức, tùy thuộc vào quy mô và tính chất, mức độ mà cóthể có những người giữ những vai trò, vị trí khác nhau: Người tổ chức, ngườithực hành, người xúi giục, người giúp sức
Người tổ chức là xây dựng kế hoạch, lôi kéo, chỉ huy thực hiện các hoạtđộng phạm tội Họ là người có những hành vi vụ thể như: khởi xướng việcchống người thi hành công vụ; lên kế hoạch thực hiện hành vi chống người thihành công vụ, xíu giục, lôi kéo người khác cùng thực hiện hành vi chốngngười thi hành công vụ; phân công trách nhiệm cho người đồng phạm khác đểthống nhất thực hiện việc chống người thi hành công vụ; điều khiển hànhđộng của những người đồng phạm; yêu cầu, đôn đốc, thúc đẩy người đồngphạm khác thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ…
Họ là người trực tiếp thực hiện một trong các hành vi khách quan đượcquy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS năm 2015 Đây là người có vai tròquyết định việc thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ trên thực tế.Nếu người phạm tội xúi giục trẻ em dưới 14 tuổi hoặc người không có nănglực TNHS thực hiện tội phạm, thì hành vi xúi giục được coi là hành vi thựchành thông qua hành vi của người bị xúi giục mà không phải chịu TNHS
“Người giúp sức là người tạo điều kiện, hỗ trợ về tinh thần hoặc vậtchất cho việc thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ” Hành vi tạođiều kiện, hỗ trợ về tinh thần thường được biểu hiện như chỉ dẫn cho ngườiphạm tội cách thức thực hiện tội phạm, thông tin thời gian, địa điểm công vụđược tiến hành để người phạm tội chuẩn bị đối phó; hứa hẹn trước sẽ che giấungười phạm tội, đồng lõa với người phạm tội… hành vi tạo điều kiện về vật
Trang 22chất cho việc thực hiện tội phạm có thể là hành vi cung cấp phương tiện phạmtội như: cung cấp vũ khí như dao, súng, xe máy, xe ô tô… để người phạm tội
dễ thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ
Phạm tội có tổ chức trong tội chống người thi hành công vụ là mộttrong những trường hợp phạm tội này có tính nguy hiểm cao, bởi phạm tộithường có hung khí nguy hiểm và có tư tưởng muốn chống đối đến cùng Dovậy, trường hợp phạm tội này có nhiều khả năng dẫn đến những hậu quả rấtnghiêm trọng, không những làm cho người thi hành công vụ không hoànthành nhiệm vụ của mình mà họ còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, thậm chítính mạng của họ
Thứ hai, “Phạm tội 02 lần trở lên” được hiểu là có từ hai lần phạm tội
chống người thi hành công vụ trở lên, mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ các yếu
tố cấu thành của tội này và trong các lần phạm tội đó chưa bị truy cứu tráchnhim hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu tráh nhiệm hình sự
Thứ ba, “Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội” được hiểu
là hành vi của người phạm tội đã tác động vào ý chí, tư tưởng của người khácnhằm rủ rê, kêu gọi người khác cùng phạm tội (tuy không thuộc trường hợp
có tổ chức)
Tình tiết “Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội” được quyđịnh tại điểm c khoản 2 Điều 330 BLHS năm 2015 được hiểu là trường hợpngười phạm tội giữ vai trò là người xúi giục trong vụ phạm tội chống ngườithi hành công vụ Theo đó, họ đã có hành vi xúi giục, lôi kéo, kích động bằngcác thủ đoạn khác nhau khiến người khác có hành vi chống lại người thi hànhcông vụ có thể do thiếu hiểu biết, do ý thức chấp hành luật kém hoặc do nóngnảy, bức xúc hoặc do sĩ diện… Các thủ đoạn xúi giục, lôi kéo, kích động được
sử dụng có thể là mua chuộc, cưỡng ép hoặc lừa dối…
Trang 23Theo quy định của điều luật, chỉ cần người phạm tội có một trong cáchành vi xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác phạm tội mà không cầnphải thực hiện đầy đủ cả ba hành vi nói trên thì đã bị coi là có dấu hiệu địnhkhung hình phạt tăng nặng này Người phạm tội trong trường hợp này có thể
là người vừa có hành vi xúi giục người khác phạm tội, đồng thời trực tiếpthực hiện hành vi chống người thi hàh công vụ, nhưng cũng có thể là ngườikhông thực hiện hành vi chống người thi hành căng vụ mà chỉ có hành vi xúigiục người khác phạm tội
So với tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “Phạm tội có tổ chức”,tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “Xúi giục, lôi kéo, kích động ngườikhác phạm tội” là tình tiết áp dụng cho cá nhân còn tình tiết “Phạm tội có tổchức” áp dụng cho tất cả những người đồng phạm Trong trường hợp phạmtội chống người thi hành công vụ có tình tiết định khung hình phạt nặng “Xúigiục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội”, người phạm tội có hành vi nhưhành vi của người xúi giục trong trường hợp phạm tội có tổ chức “Xúi giục,lôi kéo, kích động người khác phạm tội” chỉ đòi hỏi vụ phạm tội có dấu hiệucủa đồng phạm mà không đòi hỏi phải là trường hợp đồng phạm có tổ chức
Thứ tư, “Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên” Tình tiết này
được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 330 BLHS năm 2015 Đây là trườnghợp hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ gây ra thiệt hại lớn về vậtchất Do đó, hành vi này cần được xử lý về hình sự với khung hình phạt caohơn so với khung cơ bản được áp dụng cho trường hợp chống người thi hànhcông vụ thông thường Điều luật quy định thiệt hại vật chất có giá trị tronggiới hạn từ “50.000.000 đồng trở lên” Theo đó, điều luật chỉ quy định mứcthấp nhất của giá trị thiệt hại vật chất mà không có giới hạn về mức cao nhất.Khi thỏa mãn mức thiệt hại về tài sản thấp nhất này, hành vi phạm tội chống
Trang 24người thi hành công vụ được coi thuộc trường hợp phạm tội có tình tiết địnhkhung hình phạt tăng nặng “Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên”.
Thứ năm, “Tái phạm nguy hiểm”: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 53
BLHS năm 2015, tái phạm nguy hiểm là những trường hợp sau: Một là, Đã bịkết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa đượcxóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cốý; Hai là, Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý
Như vậy, tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “Tái phạm nguyhiểm” của tội chống người thi hành công vụ theo BLHS năm 2015 là trườnghợp người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích lại phạm tội chốngngười thi hành công vụ Trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rấtnghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lạiphạm tội chống người thi hành công vụ không phải là “Tái phạm nguy hiểm”
vì tội chống người thi hành công vụ không thuộc loại tội phạm rất nghiêmtrọng cũng như đặc biệt nghiêm trọng (khung hình phạt nặng nhất của tội nàychỉ có mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù) Như vậy, tình tiết định khunghình phạt tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” của tội chống người thi hành công
vụ được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện sau:
Một là, người phạm tội đã tái phạm nghĩa là trước lần bị đưa ra xét xử,
người phạm tội đã có (ít nhất) hai lần bị kết án và trong lần bị kết án thứ hai,người phạm tội đã bị áp dụng tình tiết “tái phạm” được quy định tại khoản 1Điều 49 BLHS năm 1999 hoặc tại Khoản 1 Điều 53 BLHS năm 2015
Hai là, người bị kết án chưa được xóa án tích.
Nhìn chung, quy định về tội chống người thi hành công vụ của BLHSnăm 2015 không có thay đổi so với BLHS năm 1999 Điều 330 BLHS năm
2015 chỉ cụ thể hóa tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định
Trang 25tại điểm d khoản 2 Điều 257 BLHS năm 1999 Theo đó, “gây hậu quả nghiêmtrọng” được cụ thể hóa là “Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên”.
* Các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) như sau: a Về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo
vệ và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến
Tội chống người thi hành công vụ xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm
vụ của những người đang thi hành công vụ và từ đó xâm phạm đến hoạt độngcủa Nhà nước về quản lý hành chính khi thi hành nhiệm vụ công
Đối tượng tác động của tội phạm này là người thi hành công vụ, thôngqua việc xâm phạm đến người thi hành công vụ mà xâm phạm đến việc thựchiện nhiệm vụ công Trong thực tế, những người làm việc tại các cơ quan,đơn vị: Công an, kiểm sát, Tòa án, đơn vị tự vệ… Là những người có nguy
cơ bị thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ nhiều hơn
b Mặt khách quan của tội phạm
Đối với tội chống người thi hành công vụ thì mặc khách quan của tộiphạm là những gì được thể hiện ra bên ngoài của tội phạm, bao gồm: Hành vinguy hiểm cho xã hội, hành vi nguyên hiểm phải có mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi và hậu quả cũng như các biểu hiện bên ngoài khác (công cụ,phương tiện, địa điểm, thời gian, …)
Đối với tội chống người thi hành công vụ, dấu hiệu thuộc mặt kháchquan của tội phạm được mô tả trong cấu thành là dấu hiệu hành vi nguy hiểmcho xã hội Do đó, tội phạm này hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thựchiện hành vi chống người thi hành công vụ Theo Điều 330 BLHS năm 2015,
Trang 26hành vi tội chống người thi hành công vụ được mô tả là các dạng hành vikhách quan sau đây.
Thứ nhất, hành vi sử dụng vũ lực, vũ khí đe dọa, cản trở người thi hành
công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi tráipháp luật mà họ không mong muốn
Dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh của người thực hiện hành vi tấncông, hành hung, cản trở người thi hành công vụ thực hiện một công việcđược cho là công vụ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái với quy định phápluật Hành vi dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thựchiện và trực tiếp tác động vào cơ thể của người thi hành công vụ như bằngtay, chân để đấm, đá, trói hoặc cũng có thể thông qua công cụ, phương tiện đểthực hiện hành vi phạm tội như dùng dao, dùng gậy…
Hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể làm chongười thi hành công vụ bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe, nhưng không đòihỏi phải gây ra thương tích đáng kể (có tỷ lệ tổn thương cơ thể) Nếu hành vidùng vũ lực đã gây ra cho người thi hành công vụ chết, thì tùy trường hợp cụthể, hành vi này cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác theo Điều 134 BLHS năm 2015 hoặc tội giết người theoĐiều 123 BLHS năm 2015 có tình tiết định khung hình phạt năng nặng “đốivới người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân” Nhưvậy, người có hành vi dùng vũ lực đối với người thi hành công vụ có thể bịtruy cứu TNHS về các tội danh khác nhau tùy thuộc vào hậu quả mà hành vinày gây ra cho người thi hành công vụ
Thứ hai, hành vi đe dạo dùng vũ lực, vũ khí cản trở người thi hành công
vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái phấp luật
mà họ không mong muốn
Trang 27Đe dạo dùng vũ lực là hành vi uy hiếp, làm tổn thương tinh thần ngườithi hành công vụ, làm cho họ lo sợ, không dám thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nhim vụ được giao Hành vi đe dọa dùng vũ lực chống lại ngườithi hành công vụ là việc dùng cử chỉ, lời nói có tính răng đe, uy hiếp tinh thầnnhằm mục đích làm cho người thi hành công vụ sợ hãi phải chấm dứt việc thihành công vụ… Sự đe dọa phải xảy ra trên thực tế và có cơ sở để người bị đedọa tin rằng lời đe dọa đó sẽ được thực hiện nếu người thi hành công vụ tiếptục thực hiện công vụ của mình hoặc không thực hiện các hành vi trái phápluật theo yêu cầu của người phạm tội.
Thứ ba, hành vi dùng thủ đoạn của mình để cản trở, ngăn người thi
hành công vụ thực diện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hàh vi tráipháp luật mà họ không mong muốn
Trên thực tế, các dạng hành vi chống người thi hành công vụ hết sứcphức tạp với nhiều thủ đoạn khác nhau Do đó, trong giới hạn phạm vi mộtđiều luật không thể liệt kê được đầy đủ tất cả các hành vi Hành vi dùng thủđoạn khác để cản trở người thi hành công vụ có thể là hành vi đe dọa sẽ công
bố những tin tức, tài liệu bất lợi cho người thi hành công vụ hoặc cho ngườithân thích của họ, đe dọa gây thương tích cho người thân thích, hủy hoại tàisản; vu cáo bị người thi hành công vụ đánh đập, cởi bỏ quần áo trước ngườiđang thi hành công vụ; tự gây thương tích hoặc giả gây thương tích để vukhống bị người thi hành công vụ hành hung…
c Mặt chủ quan của tội phạm
Chủ quan của tội phạm là bao gồm: Về lỗi của thực hiện hành vi, mụcđích và động cơ phạm tội của họ Lỗi được phản ánh trong các cấu thành tộiphạm Như vậy, xác định đúng mặc chủ quan của tội phạm có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc xác định TNHS của một người Mục đích và động cơ tuy là
Trang 28dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng không phải là dấu hiệu luôn có ý nghĩaquyết định đối với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Như vậy, về mặt chủ quan, tội chống người thi hành công vụ đòi hỏihai dấu hiệu là lỗi cố ý trực tiếp và mục đích cản trở việc thi hành công vụ
Về lỗi của người phạm tội chống người thi hành công vụ: Trong mặtchủ quan của tội phạm, lỗi có yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định tộiphạm và TNHS Người phạm tội nhận thức được đầy đủ hành vi không đúngpháp luật của mình là chống hoặc cản trở việc thực hiện công vụ của chốngngười thi hành công vụ và mong muốn thực hiện hành vi phạm tội này nhằmlàm cho người đang thi hành công vụ không thể hoàn thành công vụ đượcgiao
Khi người phạm tội khng biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp pháp củangười đang thi hành công vụ thì tùy theo hậu quả để lại đối với từng trờnghợp cụ thể mà xác định người đó có sai hay không Tuy nhiên, trên thực tế,nhiều trờng hợp người phạm tội nhận thức rõ ràng là người mà họ trực tiếp tácđộng là người thi hành công vụ nhưng vẫn cố tình thể hiện là mình không biết
để nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật của mình
Về mục đích phạm tội: Mục đích của người thực hiện hành vi chốngngười thi hành công vụ là nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiệncông vụ hoặc khiến họ thực hiện một hành vi trái pháp luật nào đó Chính vìvậy, người phạm tội hướng hành vi phạm tội của mình vào chống người thihành công vụ Mục đích cụ thể có thể là để không phải thực hiện nghĩa vụ vềtài sản khi bị cưỡng chế, giải thoát kẻ phạm tội đang bị dẫn giải, tạm giữ; hoặc
để chính sách, quyết định nào đó của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khôngđược thực hiện
Trang 29Trong trường hợp, người thực hiện hành vi chống lại người đang thihành công vụ có mục đích khác thì họ có thể không bị truy cứu TNHS về tộichống người thi hành công vụ mà bị truy cứu TNHS về tội khác Ví dụ:Trường hợp người thực hiện hành vi chống người thi hành vi chống lại nhânviên nhà nước, cán bộ chính quyền đang thi hành công vụ nhưng nhằm mụcđích chống lại chính quyền nhân dân thì có thể bị truy cứu TNHS về Tộikhủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113 BLHS năm 2015)hoặc tội phá rối an ninh Điều 118 BLHS năm 2015) Như vậy đối với tộichống người thi hành công vụ, dấu hiệu mục đích thuộc mặt chủ quan của tộiphạm là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội này với một số tội khác.
2015 có thể xác định chủ thể của tội chống người thi hành công vụ phải làngười từ đủ 16 tuổi trở lên
Theo BLHS năm 1999, tuổi chịu TNHS được quy định có điểm khác sovới quy định của BLHS năm 2015 Tuy nhiên, theo cả hai BLHS, tuổi chịuTNHS đối với hành vi chống người thi hành công vụ đều phải là người từ đủ
16 tuổi trở lên
Trang 30Về NLTNHS thể hiện ở năng lực nhận thức và năng lực điều khiểnhành vi theo các đòi hỏi của xã hội BLHS năm 2015 không quy định trực tiếpthế nào là người có NLTNHS mà chỉ quy định thông qua tuổi chịu TNHS(Điều 12 BLHS năm 2015) và tình trạng không có NLTNHS (Điều 21 BLHSnăm 2015) Theo đó, người có NLTNHS là người đã đạt độ tuổi chịu TNHS
và không thuộc trường hợp không có NLTNHS
Điều 21 BLHS năm 2015 quy định: “Người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Như vậy, BLHS năm 2015 ghi nhận chủ thể của tội chống người thihành công vụ là người đủ 16 tuổi trở lên thực hiện hành vi chống người thihành công vụ và không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 21, tức làkhông bị mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thứchoặc điều khiển hành vi của mình
1.1.2 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với một số tội khác
1.1.2.1 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với một số tội khác
có dấu hiệu “chống người thi hành công vụ”
“Chống người thi hành công vụ” không chỉ là dấu hiệu định tội của tộichống người thi hành công vụ mà còn có thể là dấu hiệu định khung hình phạttăng nặng của nhiều tội khác và cá biệt còn có thể là dấu hiệu định tội của tộikhác Do vậy, cần phải làm rõ để phân biệt giữa tội chống người thi hànhcông vụ với những tội này Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ
có thể để cập việc phân biệt giữa tội chống người thi hành công vụ với một sốtội Việc phân biệt này nhằm mục đích xác định khi nào thì hành vi chốngngười thi hành công vụ cấu thành tội chống người thi hành công vụ và khi nào
Trang 31hành vi này cấu thành tội khác mà trong đó có dấu hiệu chống người thi hànhcông vụ.
1.1.2.2 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với tội giết người
có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “Giết người đang thi hành công
vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”.
Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân làtrường hợp phạm tội được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 123 BLHS năm
2015 Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân làhai trường hợp phạm tội giết người với hai tình tiết định khung hình phạt tăngnặng khác nhau Đó là tình tiết nạn nhân là người đang thi hành công vụ vàtình tiết “vì lý do công vụ của nạn nhân” Theo đó, trường hợp giết người mànạn nhân là người đang thi hành công vụ được hiểu là hành vi cố ý tước đoạttính mạng của người đang thi hành công vụ để cản trở họ thi hành công vụ;còn trường hợp giết người vì lý do công vụ của nạn nhân được hiểu là hành vi
cố ý tước đoạt mạng người có trách nhiệm thi hành công vụ khi người đóchưa hoặc đã thi hành công vụ để cản trở hoặc trả thù họ
Như vậy, trường hợp tội giết người đang thi hành công vụ (giết người
mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ) (ý thứ nhất điểm d khoản 1Điều 123 BLHS năm 2015 có điểm giống với tội chống người đang thi hànhcông vụ (khoản 1 Điều 330 BLHS năm 2015) Đó là:
- Cả hai trường hợp đều có đối tượng tác động là người đang thi hành công vụ
- Cả hai trường hợp phạm tội đều để cản trở người đang thi hành công
vụ của mình
Tuy nhiên, hai hành vi phạm tội này có điểm khác nhau cơ bản như sau:Hành vi phạm tội chống người đang thi hành công vụ không phải là hành vi
Trang 32cố ý tước đoạt tính mạng người thi hành công vụ; trong khi hành vi phạm tộicủa tội giết người (đang thi hành công vụ) là hành vi cố ý tước đoạt tính mạngngười đang thi hành công vụ Theo đó, hậu quả chết người và lỗi cố ý đối vớihậu quả là dấu hiệu của tội giết người (đang thi hành công vụ), trong khinhững dấu hiệu này không phải là dấu hiệu của tội chống người đang thi hànhcông vụ.
So sánh tội chống người đang thi hành công vụ với tội giết người trongtrường hợp “vì lý do công vụ của nạn nhân” có thể thấy, hai trường hợp này
có sự khác nhau rất rõ
- Về thời điểm thực hiện hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội chốngngười đang thi hành công vụ chỉ xảy ra trong quá trình người thi hành công vụđang thực hiện công vụ, còn đối với hành vi phạm tội giết người vì lý do công vụcủa nạn nhân thì có thể xảy ra trước hoặc sau khi kết thúc việc thi hành công vụ
- Về động cơ phạm tội: Đối với trường hợp phạm tội chống người thihành công vụ, động cơ của người phạm tội chỉ có thể là cản trở chống người thihành công vụ thực hiện công vụ của họ Trong trường hợp phạm tội giết người cótình tiết “vì lý do công vụ của nạn nhân” Động cơ của người phạm
tội có thể là ngăn cản không cho họ thực hiện công vụ hoặc để trả thù ngườithi hành công vụ
Từ sự so sánh trên, có thể rút ra kết luận: Việc phân biệt tội chốngngười thi hành công vụ với tội giết người theo điểm d khoản 1 Điều 123BLHS năm 2015 chỉ đặt ra cho trường hợp giết người (đang thi hành côngvụ) Dấu hiệu “chống người thi hành công vụ” ở tội chống người thi hànhcông vụ có nội dung trùng với dấu hiệu “(giết) người đang thi hành công vụ”
và khác với dấu hiệu “vì lý do công vụ của nạn nhân” Theo đó, tội chống
Trang 33người thi hành công vụ và tội giết người trong trường hợp có tình tiết “(giết)người đang thi hành công vụ” thì hành vi phạm tội không bị coi là cấu thànhtội chống người thi hành công vụ vì dấu hiệu “chống người thi hành công vụ”
đã được quy định và sử dụng là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng củatội giết người nên không được sử dụng tiếp là dấu hiệu định tội của tội chốngngười thi hành công vụ
1.1.2.3 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trường hợp
“đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”
Dấu hiệu “chống người thi hành công vụ” ở tội chống người thi hànhcông vụ và dấu hiệu “Đối với người thi hành công vụ” ở tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có nội dung trùng nhau.Ngược lại, dấu hiệu “vì lý do công vụ của nạn nhân” có nội dung khác với dấuhiệu “chống người thi hành công vụ” Do đó, luận văn chỉ so sánh giữa tộichống người thi hành công vụ với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác có nội dung trùng nhau Ngược lại, dấu hiệu “vì
lý do công vụ của nạn nhân” có nội dung khác với dấu hiệu “chống người thihành công vụ” Do vậy, luận văn chỉ so sánh giữa tội chống người thi hànhcông vụ với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe ngườikhác có dấu hiệu “đối với người thi hành công vụ”
Khác với tội giết người, ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe người khác, dấu hiệu “đối với người thi hành công vụ” không chỉquy định là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng mà còn được quy định làdấu hiệu định tội của tội này Cụ thể:
Về dấu hiệu định tội “đối với người đang thi hành công vụ”
Trang 34Dấu hiệu này được quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015.Theo quy định này, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% vẫn bị coi là tội phạmkhi thõa mãn dấu hiệu này Bình thường, hành vi cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe người khác chỉ cấu thành tội phạm khi tỷ lệ tổnthương cơ thể từ 11% trở lên Tuy nhiên, hành vi vẫn có thể cấu thành tộiphạm trong 14 trường hợp được liệt kê từ điểm a đến điểm o khoản 1 Điều
134 BLHS năm 2015 dù tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% Trong các trườnghợp này có trường hợp “đối với người đang thi hành công vụ”
Như vậy, dấu hiệu “đối với người thi hành công vụ” được quy định làdấu hiệu định tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác theo khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015
- Về dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng “đối với người đang thihành công vụ”
Dấu hiệu này được quy định tại các khoản 2 và 4 Điều 134 BLHS năm
2015 là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng Theo đó, trường hợp cố ýgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổnthương cơ thể từ 11% trở lên (khoản 2) cũng như từ 31% trở lên (khoản 4) códấu hiệu “đối với người đang thi hành công vụ” được quy định là các trườnghợp phạm tội có dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng
Trường hợp phạm tội chống người đang thi hành công vụ (khoản 1Điều 330 BLHS năm 2015) và trường hợp phạm tội có ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người đang thi hành công vụ theo các khoản 1, 2
và 4 Điều 134 BLHS năm 2015 có điểm giống nhau về đối tượng tác động làngười thi hành công vụ và đều nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiệncông vụ của mình Hành vi phạm tội thuộc hai trường hợp trên đều tác động
Trang 35lên thân thể người thi hành công vụ bằng thủ đoạn dũng vũ lực như bằng tay,chân để đấm, đá, trói hoặc cũng có thể thông qua công cụ, phương tiện đểthực hiện hành vi phạm tội như dùng dao, dùng gậy… Tuy nhiên, hai hành viphạm tội này có điểm khác nhau cơ bản như sau:
Điều 134 BLHS năm 2015 đòi hỏi hành vi phạm tội phải gây ra hậu quả
có tỷ lệ tổn thương cơ thể Tỷ lệ này là dưới 11% đối với khoản 1, là từ 11%đến 31% đối với khoản 2 và từ 31% đến 60% đối với khoản 4 Trong khi đó,tội chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 330 BLHS năm 2015) khôngđòi hỏi có tỉ lệ tổn thương cơ thể
Như vậy, trường hợp cố ý dùng vũ lực đối với người đang thi hànhcông vụ và có tỷ lệ tổn thương cơ thể sẽ cấu thành tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, thuộc khoản 1, khoản 2 hoặckhoản 4 Điều 134 BLHS năm 2015 tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể
Trái lại, hành vi cố ý dùng vũ lực đối với người đang thi hành công vụ
để cản trở việc thi hành công vụ sẽ cấu thành tội chống người thi hành công
vụ trong trường hợp không có tỷ lệ tổn thương cơ thể
1.1.2.4 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ với tội làm nhục người khác trong trường hợp có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng
“đối với người đang thi hành công vụ”.
Tội làm nhục người khác trong trường hợp có tình tiết định khung hìnhphạt tăng nặng “đối với người đang thi hành công vụ” là trường hợp phạm tộiđược quy định tại điểm d khoản 2 Điều 155 BLHS năm 2015 Theo đó, làmnhục người đang thi hành công vụ là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhânphẩm, danh dự của người đang thi hành công vụ
Trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 330BLHS năm 2015) và trường hợp phạm tội làm nhục người đang thi hành công
Trang 36vụ (điểm d khoản 2 Điều 155 BLHS năm 2015) có điểm trùng và giống nhau.Trước hết, cần khẳng định, hành vi làm nhục vừa là hành vi phạm tội của tộilàm nhục người khác và vừa là thủ đoạn cản trở việc thi hành công vụ của tộichống người thi hành công vụ Hành vi làm nhục ở cả hai trường hợp đều cóđối tượng tác động là người đang thi hành công vụ Từ đó cũng dẫn đến sựgiống nhau về thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ở hai trường hợp Hành viphạm tội của tội chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 330 BLHS năm2015) và của tội làm nhục người đang thi hành công vụ (điểm d khoản 2 Điều
155 BLHS năm 2015) đều diễn ra khi người nạn nhân đang thực hiện côngvụ
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai trường hợp phạm tội trên là mức độnghiêm trọng của hành vi làm nhục (trong đó có mức độ thiệt hại về tinh thần
do hành vi phạm tội gây ra) Cụ thể: Tội làm nhục người khác đòi hỏi hành vilàm nhục phải có mức độ nghiêm trọng Do vậy, khi hành vi làm nhục ngườiđang thi hành công vụ chưa xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dựngười đang thi hành công vụ thì hành vi này cấu thành tội chống người đangthi hành công vụ Trái lại, khi hành vi làm nhục đã xúc phạm nghiêm trọngdanh dự, nhân phẩm người đang thi hành công vụ thì hành vi bị coi là phạmtội làm nhục người khác với tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “đối vớingười thi hành công vụ”
Việc xác định như thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêmtrọng là vấn đề khá phức tạp và chưa có sự hướng dẫn cụ thể của cơ quan cóthẩm quyền Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hayngười thi hành công vụ thì chưa thể xác định được một cách chính xác màphải kết hợp với các yếu tố khác như: trình độ nhận thức, môi trường diễn rahành vi xúc phạm, sự tác động cụ thể đối với người thi hành công vụ (bị ảnhhưởng về tâm lý)… Dư luận xã hội, sự đánh giá của xã hội trong trường hợp
Trang 37này cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định nhân phẩm, danh dự của người thi hành công vụ bị xâm phạm tới mức nào.
1.2 Pháp luật hình sự Việt Nam về tội chống người thi hành công vụ
1.2.1 Quy định về tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn
từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời là mốc lịch sử quan trọngtrong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong giai đoạn này,nước ta chưa có BLHS mà chỉ có các văn bản pháp luật riêng lẻ quy định cácvấn đề hình sự Cụ thể:
- Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định:
“Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây:
1 Cấu kết với đế quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầunhững tổ chức, những đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại khángchiến, làm hại nhân dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên; … thì sẽ bị phạt
tù từ 10 năm đến chung thân hoặc xử tử hình…”
- Điều 14 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967 quy định về tội phá rối trật tự, an ninh như sau:
“1 Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà kích động, lôi kéo, tụ tập
nhiều người nhằm phá rối trật tự, an ninh, ngăn trở cán bộ, nhân viên nhànước, bộ đội, công an thi hành nhiệm vụ thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm”
- Công văn số 452 – HS2 ngày 10/8/1970 của TAND tối cao về thựctiễn xét xử tội giết người quy định những tình tiết tăng nặng đặc biệt của tội giếtngười Trong đó, có tình tiết “giết người được giao nhiệm vụ công tác hoặc trongkhi nạn nhân thi hành nhiệm vụ”
Trang 38- Điều 9 Sắc lệnh số 03 – SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chínhphủ cách mạng lâm thời quy định dấu hiệu của Tội xâm phạm đến trật tự côngcộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Trong đó, có dấu hiệu “…chống lại nhân viên nhà nước khi làm nhiệm vụ”.
Những quy định nêu trên mặc dù chưa thực sự cụ thể, rõ ràng nhưng là
cơ sở cho những quy định về tội chống người thi hành công vụ sau này Quanhững quy định này, cho thấy Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến công tác bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thi hành công vụ
1.2.2 Quy định về tội chống người thi hành công vụ theo
BLHS năm 1985
BLHS đầu tiên của nước Việt Nam được ban hành vào năm 1985 vàđược sửa đổi, bổ sung 4 lần vào năm 1989, 1991, 1992 và 1997 So với phấpluật hình sự trong nững giai đoạn trước thì BLHS năm 1985 có ưu điểm hơn,
cụ thể có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, với những quy định rõ ràng về tộiphạm và khung hình phạt đối với loại tội phạm này
Trong BLHS năm 1985, tội chống người thi hành công vụ được quyđịnh tại Điều 205 Điều 205 quy định về tội chống người thi hành công vụ cụthể như sau như sau:
“1 Người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng các thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành
vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều
109, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2 Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm”.
Trang 39Hành vi khách quan của tội chống người thi hành công vụ đã đượchướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết số 04-HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986như sau:
“Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ như đánh, trói… nhưng chưa gây chết người, thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc đe dọa sẽ đánh, trói… người đó.
- Dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện những hành vi trái pháp luật như: dùng số đông người lấy danh nghĩa thương binh cưỡng ép cán bộ quản lý thị trường cho đem hàng hóa đầu cơ đang bị tạm giữ, cưỡng ép cán bộ kiểm lâm cho chở gỗ khai thác trái phép đang bị tạm giữ…”
Dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 205 BLHSnăm 1985 cũng được Nghị quyết giải thích như sau: “Hậu quả nghiêm trọng(quy định ở khoản 2) có thể là: người thi hành công vụ không hoàn thànhđược nhiệm vụ, việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trở nênlỏng lẻo, kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận gây ảnh hưởng xấu.”
Có thể nói việc quy định tội chống người thi hành công vụ thành mộttội danh độc lập trong BLHS năm 1985 của nước ta là một bước tiến quantrọng của hoạt động lập pháp nước ta Nó chứng tỏ rằng, Nhà nước rất quantâm đến việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, danh dự và uy tín củanhững người thực hiện chức trách mà Nhà nước giao
Trang 401.2.3 Quy định về tội chống người thi hành công vụ theo BLHS
năm 1999
BLHS thứ hai của nước ta được ban hành vào năm 1999, có ý nghĩaquan trọng, cho thấy sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, góp phầnvào công tác phòng chống tội phạm, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
Trên cơ sở đó, BLHS năm 1999 quy định tội chống người thi hành công
vụ tại Điều 257 thuộc chương XX – Các tội xâm phạm trật tự quản lý hànhchính
Điều 257 BLHS năm 1999 quy định như sau:
“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc
họ thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến 3 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ từ năm đến bảy năm.
a Có tổ chức;
b Phạm tội nhiều lần;
c Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm
tội; d Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ Tái phạm nguy hiểm”.
So sánh quy định về tội chống người thi hành công vụ trong BLHS năm
1985 với quy định tương ứng trong BLHS năm 1999, có thể nhận ra nhữngthay đổi của hai điều luật như sau: