1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN lực từ THỰC TIỄN TỈNH đắk NÔNG

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 204,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC (17)
    • 1.1. Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực (17)
    • 1.2. Khái niệm, vị trí, ý nghĩa thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (22)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (24)
    • 1.4. Nội dung quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 21 1.5. Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (30)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH ĐẮK NÔNG (37)
    • 2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu (37)
    • 2.2. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ năm 2011 đến nay (43)
    • 2.3. Tình hình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông (44)
    • 2.4. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông (71)
  • Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG (78)
    • 3.1. Mục tiêu, phương hướng về phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Đắk Nông trong thời gian tới............................................................................................................. 67 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 69 (78)
    • 3.3. Một số kiến nghị về thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (88)
  • KẾT LUẬN (90)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Các khái niệm liên quan đến chính sách phát triển nguồn nhân lực

Theo Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực được định nghĩa là tổng hợp trình độ, kiến thức và năng lực của con người, bao gồm cả tiềm năng, để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng.

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực được định nghĩa là tổng thể các tiềm năng lao động của một quốc gia hoặc địa phương, bao gồm những người lao động đã được chuẩn bị với các kỹ năng khác nhau, sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động Điều này phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động và kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Theo PGS.TS Hoàng Chí Bảo, nguồn lực con người được định nghĩa là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực, điều này thể hiện khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển con người trong tương lai.

Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người có khả năng tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội, cả hiện tại và tương lai Nó không chỉ là lực lượng lao động mà còn là sự kết hợp của thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ làm việc và phong cách làm việc Những yếu tố này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực và được đánh giá qua các chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến văn hóa lao động.

Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là tổng thể dân số và chất lượng con người, bao gồm các chỉ tiêu về thể chất, trí tuệ và tinh thần của cá nhân trong cộng đồng hay quốc gia NNL đóng vai trò quan trọng trong quá trình lao động sáng tạo, góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội.

1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực

Theo Liên Hiệp Quốc, phát triển nguồn nhân lực là quá trình bao gồm giáo dục, đào tạo và khai thác tiềm năng con người, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao toàn diện năng lực con người, bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực Đồng thời, cần phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm, nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Theo PGS Phạm Thành Nghị, phát triển nguồn nhân lực không chỉ là gia tăng giá trị vật chất mà còn nâng cao giá trị tinh thần, trí tuệ và kỹ năng nghề nghiệp Điều này giúp con người trở thành những lao động có năng lực và phẩm chất cao hơn, đáp ứng tốt hơn những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) là quá trình biến đổi cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực đang được chú trọng, với mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Để phát triển về mặt số lượng, cần tăng cường số lượng nhân lực trẻ trong lĩnh vực cơ khí thông qua việc thực hiện các chính sách dân số hợp lý, điều tiết cơ cấu vùng miền và cơ cấu sản xuất hiệu quả.

Phát triển chất lượng bao gồm việc cải thiện sức khỏe, thể lực, chiều cao, cân nặng hợp lý, nâng cao trình độ chuyên môn, văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức và lối sống.

Biến đổi cơ cấu nguồn nhân lực là việc điều chỉnh để đạt được sự cân đối giữa các vùng miền, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, khoa học, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong xã hội.

Chính sách đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia Một chính sách đúng đắn sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các ngành, lĩnh vực hoặc khu vực cụ thể, trong khi chính sách không phù hợp có thể cản trở sự tiến bộ Do đó, chính sách quyết định đến sự phát triển bền vững của vùng, địa phương và toàn quốc.

Qua nghiên cứu cho thấy có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm của chính sách Tuy nhiên, tác giả đồng ý với cách hiểu:

Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể nhằm thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể Bản chất và nội dung của chính sách phụ thuộc vào tính chất của đường lối và nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Để đạt được kết quả chính sách đúng đắn, cần giữ vững mục tiêu và phương hướng đã được xác định, đồng thời linh hoạt áp dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

475] Đây là một khái niệm tương đối hoàn chỉnh về chính sách nói chung, theo khái niệm này, nội hàm của chính sách gồm:

Khái niệm, vị trí, ý nghĩa thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) là giai đoạn quan trọng trong chu trình chính sách, chuyển hóa ý chí của Nhà nước thành hiện thực Quá trình này kết hợp con người với các nguồn lực vật chất, tài chính và khoa học công nghệ, nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra.

1.2.2 Vị trí của thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Tổ chức thực hiện chính sách PTNNL đóng vai trò then chốt trong chu trình chính sách, vì thiếu mắt xích này, chu trình sẽ không thể hoạt động Khi chính sách được triển khai vào đời sống xã hội, nhiều tình huống khác nhau sẽ phát sinh.

Một chính sách thành công phụ thuộc vào cách thực hiện; nếu một chính sách tốt được thực hiện hiệu quả, nó sẽ thành công, ngược lại, nếu thực hiện kém, nó sẽ thất bại Đối với một chính sách không tốt, nếu được thực hiện tốt, nó vẫn có thể thành công, nhưng nếu thực hiện kém, nó sẽ dẫn đến thất bại kép.

Tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông thôn là yếu tố kết nối các giai đoạn trong chu trình chính sách thành một hệ thống đồng bộ Giai đoạn này được xem là tổng hợp của hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách, đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa chính sách vào đời sống xã hội Việc thực hiện tốt chính sách không chỉ mang lại lợi ích lớn cho các đối tượng thụ hưởng mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách của Nhà nước, từ đó nâng cao uy tín của Nhà nước trong quản lý.

Chính sách phát triển nông thôn mới (PTNNL) có đặc thù sâu rộng, ảnh hưởng đến toàn thể nhân dân Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách này, cần chú ý đến những đặc điểm riêng để tìm ra giải pháp phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của chính sách.

Việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) là điều cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và hiệu quả của chính sách này như một công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, đồng thời giúp đạt được các mục tiêu mà chính sách phát triển NNL hướng tới.

1.2.3 Ý nghĩa của việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung.

Quá trình thực thi chính sách là hoạt động của các cơ quan nhà nước phối hợp với các đối tác xã hội nhằm đạt được các mục tiêu và mục đích đã đề ra Trong quá trình này, các cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành văn bản, chương trình hoặc dự án để hiện thực hóa các mục tiêu chính sách, đồng thời tiến hành các hoạt động cần thiết để triển khai các văn bản, chương trình và dự án đó.

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách.

Trong xã hội, việc nhận diện mâu thuẫn cần giải quyết thông qua hoạch định chính sách là rất quan trọng Tuy nhiên, tính đúng đắn của chính sách chỉ được khẳng định trong quá trình thực hiện Giai đoạn thực hiện chính sách cung cấp bằng chứng thực tiễn về sự phù hợp của mục tiêu và giải pháp chính sách với vấn đề cần giải quyết Mặc dù lý thuyết yêu cầu chính sách phải đáp ứng tiêu chuẩn tốt và được công nhận bởi các chủ thể ban hành, nhưng chỉ khi triển khai vào thực tế, tính hiệu quả và đúng đắn của chính sách mới được xã hội và đối tượng thụ hưởng xác nhận.

- Tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL là nhằm giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn.

Khi chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) được ban hành, nó chỉ mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan Dựa trên các mục tiêu và giải pháp này, các cơ quan nhà nước sẽ thiết kế và ban hành quy định, chương trình, thủ tục, và dự án phù hợp với điều kiện thực tế Trong quá trình thực hiện chính sách, những người thực hiện sẽ đưa ra đề xuất điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn xã hội và rút ra bài học cho các chính sách sau Do đó, giữa giai đoạn hoạch định và thực hiện chính sách có mối quan hệ hữu cơ, và việc phân tách rõ ràng giữa hai giai đoạn này đã không còn phù hợp.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Các yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn lực, độc lập với ý muốn của người quản lý Chúng tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan, ít gây ra thay đổi bất thường, nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện chính sách Do đó, mặc dù không thể thay đổi các yếu tố này, các nhà quản lý cần điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với quy luật và điều kiện không gian, thời gian Những yếu tố khách quan này chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn lực.

- Tính chất của vấn đề chính sách phát triển NNL:

Chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội và yêu cầu thời gian thực hiện dài Tính cấp bách của chính sách này ảnh hưởng lớn đến kết quả tổ chức thực hiện Để đạt được thành công trong phát triển NNL, cần có sự quan tâm đến tính chất của vấn đề chính sách và không thể mong đợi kết quả ngay lập tức.

Môi trường thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) ở Đắk Nông liên quan đến các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường tự nhiên Tỉnh Đắk Nông có tỷ lệ dân tộc thiểu số cao, với 32% dân số là người dân tộc thiểu số, bao gồm 40 dân tộc khác nhau Trong đó, các dân tộc M’Nông, Mạ và Ê Đê chiếm hơn 30% tổng số dân tộc thiểu số Đắk Nông nổi bật với nền văn hóa phong phú, đa dạng bao gồm các lễ hội, nghi lễ, và văn nghệ dân gian như sử thi và đàn đá Đắk Kar, thể hiện sự phong phú trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Năm 2011, tỉnh Đắk Nông có 315.675 người trong độ tuổi lao động, chiếm 60,5% dân số, với tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 27,75% Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh khoảng 16.492 người, trong đó có 6.359 nữ và 1.397 người thuộc dân tộc thiểu số.

- Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thiện chính sách phát triển NNL:

Sự thống nhất và không thống nhất về lợi ích giữa các đối tượng là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chính sách phát triển nguồn lực Do đó, cần chú ý đến mối quan hệ này trong quá trình triển khai chính sách Giải pháp tạo sự đồng thuận cao về lợi ích giữa các bên liên quan là cần thiết Bên cạnh đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các đối tượng tham gia về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của chính sách phát triển nguồn lực cũng rất quan trọng.

Tiềm lực của các nhóm đối tượng trong chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) thể hiện sức mạnh và khả năng so sánh giữa các nhóm này Các yếu tố tiềm lực bao gồm kinh tế, chính trị và xã hội, và sự khác biệt trong tiềm lực giữa các nhóm tại Việt Nam xuất phát từ hoàn cảnh tự nhiên, văn hóa và lịch sử Nguồn nhân lực ở nước ta rất đa dạng, với nhiều sắc tộc và phong phú, tạo nên sự không đồng đều trong phát triển.

- Đặc tính của đối tượng chính sách phát triển NNL:

Các đặc tính của đối tượng trong chính sách phát triển nguồn nhân lực (NNL) được hình thành từ bản tính cố hữu và môi trường sống qua quá trình lịch sử Những đặc tính này bao gồm tính kỷ luật, tính sáng tạo, tính tự giác, lòng quyết tâm và tính truyền thống Để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc thực hiện chính sách phát triển NNL, các tổ chức cần biết cách khơi gợi hoặc hạn chế những đặc tính này.

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, bên cạnh các yếu tố khách quan, cần chú ý đến các yếu tố chủ quan để đảm bảo hiệu quả.

- Các chính sách của địa phương về phát triển nguồn nhân lực:

Dựa trên nghiên cứu và nắm vững nội dung Nghị quyết số 05, HĐND tỉnh, UBND tỉnh cùng các huyện ủy, thi ủy, đảng ủy trực thuộc, các sở, ban, ngành, Mặt trận, đoàn thể và doanh nghiệp trong tỉnh đã cụ thể hóa Nghị quyết này thông qua việc xây dựng các đề án, kế hoạch, chương trình hành động và tổ chức thực hiện một cách hiệu quả.

Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh, quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015;

Nghị quyết số 38/2011/NQ-HĐND, ban hành ngày 09/12/2011, của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Nông, quy định về chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh và sinh viên là người dân tộc thiểu số Chính sách này áp dụng từ năm học 2011-2012 đến năm học 2015-2016, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số tiếp cận tri thức.

Nghị quyết số 41/2012/NQ-HĐND, ban hành ngày 20/12/2012, của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông đã thông qua Đề án nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông, áp dụng từ năm học 2012-2013 đến năm học 2015-2016.

Nghị quyết số 45/2012/NQ-HĐND, ban hành ngày 20/12/2012, của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông, nhằm thực hiện chính sách tạo quỹ đất ở và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho cán bộ, công chức và viên chức Nghị quyết này thể hiện cam kết của tỉnh trong việc phát triển hạ tầng và cải thiện điều kiện sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Nghị quyết số 09/2014/NQ-HĐND, ngày 16/7/2014 của HĐND tỉnh Đắk Nông, quy định chính sách thu hút và đãi ngộ bác sĩ, dược sĩ đại học và sau đại học làm việc tại các cơ quan y tế công lập trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2015-2020 Chính sách này nhằm nâng cao chất lượng nhân lực y tế, đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế tốt nhất cho người dân.

Quyết định số 1524/QĐ-UBND ngày 17/10/2011 của UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2020;

Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông quy định về số lượng, chức danh và chế độ, chính sách dành cho những người hoạt động không chuyên trách, cùng một số đối tượng khác làm việc tại xã, phường, thị trấn, thôn, buôn, bon, bản và tổ dân phố trên địa bàn tỉnh.

Quyết định số 1987/QĐ-UBND, ban hành ngày 15/12/2011, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, phê duyệt Đề án đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn 2011-2015, với định hướng phát triển đến năm 2020.

Nội dung quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực 21 1.5 Phương pháp tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

1.4.1 Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực Đây là bước đầu tiên trong việc tổ chức thực hiện chính sách PTNNL Quá trình thực hiện chính sách PTNNL là quá trình lâu dài, phức tạp Do đó, các cơ quan triển khai thực hiện chính sách PTNNL cần lập ra kế hoạch, chương trình để triển khai thực hiện chính sách PTNNL một cách chủ động hoàn toàn Nội dung xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện gồm:

Kế hoạch tổ chức và điều hành cần xác định rõ hệ thống các cơ quan tham gia chủ trì và phối hợp, đảm bảo số lượng và chất lượng nhân sự; phân công rõ trách nhiệm từ cán bộ thực thi đến quản lý, cùng cơ chế tác động giữa các cấp thực hiện chính sách Đồng thời, kế hoạch cũng phải dự kiến các nguồn lực cần thiết như cơ sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật và tài chính để triển khai chính sách hiệu quả.

Kế hoạch thời gian triển khai cần xác định rõ khoảng thời gian duy trì chính sách, cùng với các bước thực hiện, bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc cụ thể.

+ Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách: đưa ra các hình thức kiểm tra tiến độ, giám sát thực hiện và các phương pháp thực hiện.

Dự kiến cần ban hành rõ ràng các nội quy và quy chế liên quan đến tổ chức, điều hành, cũng như xác định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của từng cá nhân và các cơ quan tham gia thực hiện chính sách Ngoài ra, cần quy định các hình thức khen thưởng và kỷ luật trong quá trình thực hiện để đảm bảo tính hiệu quả và minh bạch.

1.4.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách phát triển nguồn nhân lực

Dựa trên kế hoạch triển khai đã được phê duyệt, các cơ quan nhà nước cần thực hiện đúng theo lộ trình Bước đầu tiên quan trọng trong quá trình này là tuyên truyền và vận động người dân tham gia vào việc thực hiện chính sách Hoạt động tuyên truyền chính sách đến toàn thể nhân dân không chỉ giúp các đối tượng chính sách hiểu rõ mục đích và yêu cầu mà còn khẳng định tính đúng đắn và khả thi của chính sách trong những điều kiện cụ thể.

Để đảm bảo sự tự giác thực hiện yêu cầu của quản lý nhà nước, mỗi cán bộ, công chức cần nhận thức rõ ràng về tính chất, trình độ và quy mô của chính sách đối với đời sống xã hội Điều này giúp họ chủ động tìm kiếm các giải pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu chính sách và triển khai hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn lực được giao.

Công tác tuyên truyền và vận động chính sách cần được đầu tư mạnh mẽ về chuyên môn và trang thiết bị kỹ thuật để nâng cao chất lượng Việc này cần diễn ra thường xuyên, liên tục, ngay cả trong quá trình thực thi chính sách, nhằm củng cố lòng tin của người dân Các hình thức tuyên truyền có thể đa dạng, từ tiếp xúc trực tiếp đến sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, tùy thuộc vào yêu cầu của cơ quan quản lý và tính chất của từng chính sách.

1.4.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Bước tiếp theo là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL theo kế hoạch đã được phê duyệt.

Chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông được thực thi trên địa bàn tỉnh với sự tham gia đông đảo của cá nhân và tổ chức Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng chịu tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi Để đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện chính sách, cần có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các cấp chính quyền địa phương, cùng với các yếu tố tham gia vào quá trình này và các yếu tố ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu chính sách.

Chính sách có thể ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quy trình khác nhau Để thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông đạt được mục tiêu quản lý, cần có sự phối hợp giữa các yếu tố, bộ phận và đối tượng liên quan.

Hoạt động phân công và phối hợp diễn ra một cách chủ động và sáng tạo, nhằm duy trì sự ổn định của chính sách và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của nó.

1.4.4 Duy trì chính sách phát triển nguồn nhân lực

Duy trì chính sách là việc đảm bảo chính sách tồn tại và phát huy hiệu quả, đặc biệt trong việc phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông Để thực hiện tốt điều này, cần có sự hợp tác từ nhiều bên, bao gồm tổ chức, thực thi và môi trường Các cơ quan Nhà nước cần thường xuyên tuyên truyền và vận động cộng đồng tham gia thực hiện chính sách Khi gặp khó khăn do thay đổi môi trường, cần sử dụng công cụ quản lý để tạo điều kiện thuận lợi và điều chỉnh chính sách cho phù hợp Đồng thời, các biện pháp hành chính có thể được áp dụng để duy trì chính sách, trong khi tăng cường thực hiện dân chủ để khuyến khích người dân tham gia quản lý xã hội, chấp hành chính sách và đề xuất giải pháp thực hiện mục tiêu.

1.4.5 Điều chỉnh chính sách phát triển nguồn nhân lực

Chính sách trong quá trình thực hiện thường bộc lộ những bất cập do tác động của nhiều yếu tố, vì vậy việc điều chỉnh chính sách là cần thiết và diễn ra thường xuyên Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện điều này nhằm đảm bảo chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan ban hành chính sách có quyền bổ sung và điều chỉnh, nhưng thực tế cho thấy việc điều chỉnh biện pháp và cơ chế chính sách diễn ra linh hoạt Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước các ngành, các cấp cần chủ động điều chỉnh để thực hiện hiệu quả chính sách mà không làm thay đổi mục tiêu của nó.

Một nguyên tắc quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách là đảm bảo tính bền vững của chính sách đó Chỉ nên điều chỉnh các biện pháp và cơ chế thực hiện mục tiêu, hoặc bổ sung và hoàn thiện mục tiêu theo yêu cầu thực tiễn Nếu việc điều chỉnh dẫn đến thay đổi mục tiêu, tức là thay đổi bản chất của chính sách, thì coi như chính sách đó không còn tồn tại.

Hoạt động điều chỉnh chính sách cần phải chính xác và hợp lý để tránh làm sai lệch và biến dạng chính sách, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả và sự tồn tại của nó Để đảm bảo điều này, các cơ quan nhà nước ở mọi cấp và ngành cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra và đôn đốc thực thi, nhằm kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót.

1.4.6 Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

Việc thực thi chính sách diễn ra trên diện rộng với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân, vì vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần theo dõi, kiểm tra và đôn đốc quá trình này Điều này giúp khẳng định các mục tiêu và biện pháp của chính sách, nhắc nhở cán bộ, công chức và các đối tượng liên quan chú trọng vào những nội dung ưu tiên Dựa trên kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt, các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm cần thực hiện hoạt động kiểm tra một cách hiệu quả.

Kiểm tra thường xuyên giúp cho nhà quản lý nắm được tình hình thực thi chính sách, nhờ đó:

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH ĐẮK NÔNG

Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắk Nông

Tỉnh Đắk Nông được thành lập vào đầu năm 2004, tách ra từ tỉnh Đắk Lắk theo Nghị quyết số 22/2003/NQ-QH11 của Quốc hội Việt Nam Hiện nay, Đắk Nông bao gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có thị xã Gia Nghĩa và các huyện Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’Lấp, và Krông.

Nô, Đắk G’Long, Tuy Đức) với tổng số 71 xã, phường, thị trấn [45].

Đắk Nông, tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Tây Nguyên, có tọa độ địa lý từ 11°45' đến 12°50' vĩ độ Bắc và 107°13' đến 108°10' kinh độ Đông Tỉnh này thuộc khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, với ranh giới phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, và phía Tây giáp Vương quốc Campuchia.

Quốc lộ 14 là tuyến đường quan trọng chạy qua tỉnh Đắk Nông, kết nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ với Tây Nguyên, cách thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và Buôn Ma Thuột 120 km về phía Tây Nam Bên cạnh đó, Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách Đà Lạt 180 km và Phan Thiết 230 km về phía Đông Tỉnh Đắk Nông còn có 130 km đường biên giới với Campuchia.

02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với các tỉnh Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap, v.v.

Dự án tuyến đường sắt Đắk Nông-Chơn Thành-Di An và Đắk Nông-Tân Rai ra cảng Kê Gà trong tương lai sẽ tạo ra cơ hội lớn cho tỉnh Đắk Nông, giúp tỉnh khai thác hiệu quả các thế mạnh của mình.

Tỉnh Đắk Nông sở hữu mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố đều khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng thủy điện, du lịch và nhu cầu dân sinh Các sông chính như Sêrêpôk, Krông Nô và Đồng Nai, cùng với các hồ, đập lớn như Hồ Tây, EaSnô, và Đắk R’tik, đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước cho các hoạt động sản xuất và phát triển kinh tế.

Tỉnh Đắk Nông có diện tích 650.927 ha, tọa lạc trên cao nguyên M’Nông với độ cao trung bình từ 600m đến 700m so với mực nước biển, có những điểm cao nhất lên tới 1.982m tại Tà Đùng Địa hình Đắk Nông rất đa dạng và phong phú, với sự phân chia mạnh mẽ giữa những ngọn núi cao hiểm trở và các cao nguyên rộng lớn, bằng phẳng, xen kẽ với những dải đồng bằng trũng thấp Tỉnh nằm giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng do độ cao địa hình, khí hậu có đặc trưng của vùng cao nguyên nhiệt đới ẩm, đồng thời chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng.

Diện tích đất nông nghiệp tại Đắk Nông đạt khoảng 306.749 ha, trong khi đất lâm nghiệp có rừng là 279.510 ha Ngoài ra, đất phi nông nghiệp chiếm 42.307 ha và đất chưa sử dụng khoảng 21.327 ha, trong đó có 17.994 ha là đất sông suối và núi đá không có cây rừng Đắk Nông cũng nổi bật với nhiều loại khoáng sản phong phú như boxit, wolfram, antimon, và các loại đá quý khác, trong đó boxit có trữ lượng lớn nhất ước tính lên đến 5,4 tỉ tấn.

2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Nông

Sau 15 năm kể từ khi thành lập đến nay, tỉnh Đắk Nông đã đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng (GRDP giá 1994) 12,6% Trong đó, khu vực nông nghiệp tăng 9,3%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,83%; khu vực dịch vụ tăng 15% [56, tr3]; Giai đoạn 2016-2018 đạt khoảng 9,26%, trong đó: Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16,78%; Khu vực nông nghiệp tăng 3,33%; khu vực dịch vụ tăng 18,54%.[57, tr2] Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn duy trì ở mức khá và ổn định Khu vực nông nghiệp duy trì mức tăng trưởng cao, góp phần đáng kể cho việc duy trì tăng trưởng kinh tế của tỉnh ở mức cao và ổn định, trong khi Khu vực công nghiệp - xây dựng thấp hơn so với kế hoạch (25,2%) chủ yếu là do một số dự án hạ tầng và khu công nghiệp lớn chậm tiến độ; Khu vực dịch vụ tuy chưa đạt kế hoạch (19%) nhưng vẫn đạt mức khá.

Tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP giá 2010) năm 2015 đạt khoảng 14.776 tỷ đồng, tăng 1,33 lần so với năm 2011 (11.143 tỷ đồng) Đến năm 2018, GRDP đạt 19.217 tỷ đồng, tăng 1,30 lần so với năm 2015.

Cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, với tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần và khu vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên đúng định hướng Đến năm 2015, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống 49,61%, trong khi ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên 26,71% và ngành dịch vụ đạt 23,68% Đến năm 2018, khu vực nông nghiệp chiếm 46,2%, khu vực công nghiệp – xây dựng giảm xuống 15,89%, trong khi khu vực dịch vụ tăng lên 32,85% và khu vực thuế chiếm 5,06%.

GRDP bình quân đầu người đã tăng qua từng năm, cho thấy sự cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế của người dân Cụ thể, GRDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 27,75 triệu đồng và đến năm 2015 đã tăng lên 35 triệu đồng.

Đến cuối năm 2016, tỉnh có hơn 2.782 cơ sở chế biến công nghiệp, tăng 1.387 so với năm 2004 Hiện tại, toàn tỉnh có 07 khu, cụm công nghiệp và đang triển khai khu công nghiệp Nhân cơ 2 nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp sau Nhôm Năm 2018, tổng thu nhập đạt 45,24 triệu đồng.

Từ năm 2004 đến 2018, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng 21 lần, với mức tăng bình quân 24,6% mỗi năm Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng trưởng bình quân 17,4%/năm, ngành chế biến tăng 11,92%/năm và ngành năng lượng đạt mức tăng 46,4%/năm Điều này cho thấy sự thu hút và triển khai đầu tư vào các dự án công nghiệp lớn là rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế.

30 động lan tỏa đến phát triển kinh tế xã hội Bước đầu hình thành chuỗi công nghiệp Alumin - luyện nhôm và sau nhôm trọng điểm của quốc gia.

Hoạt động văn hóa, thể dục và thể thao tại tỉnh đã được đẩy mạnh, thu hút đông đảo quần chúng tham gia với 14-16 giải thể thao cấp tỉnh, 06-08 giải cấp huyện và 01-03 giải cấp xã mỗi năm Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục phát triển, trong khi thể thao thành tích cao cũng có sự tiến bộ đáng kể Công tác tuyển chọn, đào tạo và huấn luyện vận động viên được chú trọng, nhằm xây dựng các đội tuyển thể thao chất lượng để tham gia các giải đấu khu vực và quốc tế Kết quả, vận động viên đã tham gia 28 giải đấu và giành được 127 huy chương các loại.

Quy mô giáo dục tại Đắk Nông đã có sự phát triển mạnh mẽ, với 402 cơ sở giáo dục và tổng số 170.592 học sinh vào năm 2018 Sự gia tăng này cho thấy nỗ lực mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục trong tỉnh.

82 cơ sở và 36.958 học sinh so với năm 2011[7] Tổng số trường chuẩn quốc gia là

Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông từ năm 2011 đến nay

Chính sách phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững đất nước Tỉnh Đắk Nông đã xác định PTNNL là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, với mục tiêu đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng phát triển và hội nhập quốc tế.

Nguồn nhân lực của Đắk Nông được cấu trúc hợp lý về trình độ và ngành nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại Tỉnh có đủ năng lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, với mục tiêu thoát khỏi tình trạng nghèo vào năm 2015 và đạt mức trung bình khá vào năm 2020 Đắk Nông không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế trong nền kinh tế quốc gia, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh - quốc phòng vững chắc cho đất nước.

Nguồn nhân lực của Đắk Nông được phát triển toàn diện về thể lực, trí lực và đạo đức, thể hiện sự năng động và chủ động trong công việc Nhân lực nơi đây có khả năng tự học, tự đào tạo cao, đồng thời thích nghi và hội nhập hiệu quả vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như hội nhập kinh tế quốc tế.

Cần xây dựng một đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh, khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa Sự phát triển bền vững và nhanh chóng đến năm 2020 phụ thuộc vào yếu tố này.

Để nâng cao trình độ học vấn làm nền tảng cho đào tạo nghề nghiệp, đến năm 2015, cần hoàn thành việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở bậc tiểu học, duy trì bền vững kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở và mở rộng quy mô học sinh trung học phổ thông.

(phấn đấu đến năm 2015 có 50% và năm 2020 có 70% dân số trong độ tuổi được phổ cập trung học phổ thông).

Tình hình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

2020 đạt 45%; trong đó: tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30% vào năm 2015 và 40% vào năm 2020.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh là mục tiêu quan trọng Đảm bảo 100% cán bộ đạt chuẩn ngạch công chức theo quy định và 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn chức danh Đồng thời, cần chú trọng đến cơ cấu tỷ lệ hợp lý về độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành và lĩnh vực để nâng cao hiệu quả công tác.

Tạo nguồn cán bộ trẻ: trong nhiệm kỳ 2011-2015 đào tạo, bồi dưỡng từ 300-

Trong tổng số 500 người sau đại học, chúng tôi sẽ đào tạo và thu hút từ 5 đến 10 tiến sĩ Mục tiêu là xây dựng đội ngũ giáo viên cho các trường Cao đẳng cộng đồng, trung học chuyên nghiệp và trường Chính trị, với hơn 300 người đạt chuẩn theo quy định.

Hàng năm, địa phương đào tạo từ 5.000 - 6.000 lao động và tạo việc làm cho 17.000 người Mục tiêu là tăng năng suất lao động trung bình giữa các ngành lên 1,2 lần vào năm 2015 và 1,5 lần vào năm 2020 so với năm 2005, đồng thời giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 1,15% vào năm 2015 và 1,1% vào năm 2020 Dự kiến, dân số sẽ đạt khoảng 830 nghìn người vào năm 2020, trong đó cần bố trí 418 nghìn lao động, với tỷ lệ 21,2% trong ngành công nghiệp - xây dựng, 54,1% trong nông, lâm nghiệp, và 24,7% trong khu vực dịch vụ.

2.3 Tình hình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

2.3.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 579/QĐ-TTg và Quyết định 1216/QĐ-TTg, tỉnh Đắk Nông đã triển khai các chính sách phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và biến nhân lực thành lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội Sau gần 10 năm thực hiện, tỉnh đã cụ thể hóa các nội dung như kế hoạch tổ chức, điều hành, cung cấp nguồn lực, thời gian triển khai, kiểm tra thực thi và các quy chế để đảm bảo thực hiện đầy đủ chính sách PTNNL.

Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 10/8/2011 của Tỉnh ủy Đắk Nông về việc phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;

Quyết định số 1524/QĐ-UBND ngày 17/10/2011 của UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011-2020;

Nghị quyết số 35/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh, quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2012-2015;

Nghị quyết số 38/2011/NQ-HĐND được ban hành vào ngày 09/12/2011 bởi HĐND tỉnh Đắk Nông, nhằm hỗ trợ kinh phí cho học sinh và sinh viên thuộc dân tộc thiểu số trong tỉnh Chính sách này áp dụng từ năm học 2011-2012 đến năm học 2015-2016, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và khuyến khích việc học tập của các em.

Quyết định số 1987/QĐ-UBND, ban hành ngày 15/12/2011 bởi Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, nhằm thực hiện Đề án đào tạo và bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn 2011-2015, với định hướng phát triển đến năm 2020.

Quyết định số 168/QĐ-UBND, ban hành ngày 08/02/2012, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông quy định về chính sách hỗ trợ kinh phí dành cho học sinh và sinh viên là người dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông, áp dụng từ năm học 2011-2012 đến năm học 2015-2016.

Quyết định số 03/2012/QĐ-UBND ngày 09/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông quy định các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị tỉnh Đắk Nông cho giai đoạn 2012-2015, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Quyết định này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển năng lực cho nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 14/3/2012 của UBND tỉnh Đắk Nông, Ban hành Quy định về số lượng, chức danh và chế độ, chính sách đối với

Tại tỉnh, có 36 người hoạt động không chuyên trách cùng một số đối tượng khác đang làm việc tại các xã, phường, thị trấn, thôn, buôn, bon, bản và tổ dân phố.

Quyết định số 18/2012/QĐ-UBND, ban hành ngày 21/9/2012 bởi Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, quy định về việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại tỉnh Đắk Nông nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ này.

Nghị quyết số 41/2012/NQ-HĐND, ban hành ngày 20/12/2012, của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số tại tỉnh Đắk Nông, áp dụng từ năm học 2012-2013 đến năm học 2015-2016.

Nghị quyết số 45/2012/NQ-HĐND, ban hành ngày 20/12/2012, của Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Nông nhằm mục tiêu tạo quỹ đất ở và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho cán bộ, công chức, viên chức Chính sách này không chỉ góp phần cải thiện đời sống của đội ngũ cán bộ mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Quyết định số 1594/QĐ-UBND, ban hành ngày 09/10/2013, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đã phê duyệt Đề án Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đắk Nông, với mục tiêu đến năm 2015 và định hướng phát triển đến năm 2020.

Nghị quyết số 09/2014/NQ-HĐND, ban hành ngày 16/7/2014, của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Nông quy định chính sách thu hút và đãi ngộ đối với bác sĩ, dược sĩ đại học và sau đại học làm việc tại các cơ quan y tế công lập trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2015-2020.

Quyết định số 1844/QĐ-UBND ngày 24/10/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông đã triển khai chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo và hộ cận nghèo Chính sách này áp dụng từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021, nhằm nâng cao điều kiện học tập và hỗ trợ phát triển giáo dục cho các đối tượng này tại tỉnh Đắk Nông.

Đánh giá tình hình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại tỉnh Đắk Nông

Triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) tại Đắk Nông, các cấp ủy đảng và chính quyền đã nhận thức rõ vai trò của PTNNL là nhiệm vụ chính trị quan trọng Quan điểm về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đã được hiểu đúng, dẫn đến việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức, và người lao động gắn liền với nhu cầu thực tế Công tác thu hút nhân lực chất lượng cao đã được triển khai, mang lại hiệu quả tích cực Dựa trên các chính sách của nhà nước về PTNNL, UBND tỉnh Đắk Nông đã thực hiện nhiều chính sách phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội địa phương, đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Đắk Nông đã chủ động và tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách phát triển nông thôn mới, đảm bảo thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách này.

HĐND và UBND tỉnh đã triển khai nhiều chính sách nhằm khuyến khích và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng cho cán bộ, công chức, viên chức, cũng như các chính sách thu hút nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị Bên cạnh đó, tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí cho học sinh và sinh viên thuộc các dân tộc thiểu số.

Quy trình tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn (PTNNL) của tỉnh bao gồm các bước từ xây dựng kế hoạch triển khai đến tổng kết và rút kinh nghiệm, tất cả đều được thực hiện theo thứ tự và đầy đủ.

Các yêu cầu trong tổ chức thực hiện chính sách bao gồm đảm bảo mục tiêu chính sách, tính hệ thống, tính khoa học và tính pháp lý, cũng như hài hòa lợi ích cho các đối tượng thụ hưởng Việc tuân thủ đầy đủ các bước và yêu cầu trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách giúp đảm bảo tính thống nhất, khoa học và liên tục, từ đó đạt được kết quả cao trong triển khai chính sách.

Mặc dù tỉnh còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, các sở, ban, ngành, huyện, thị xã đã tích cực ưu tiên phát triển nguồn nhân lực (PTNNL), tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ tài chính cho cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn Công tác quy hoạch, đào tạo và luân chuyển cán bộ được các cấp ủy và lãnh đạo chú trọng thực hiện đúng quy trình, nâng cao chất lượng và tỷ lệ cơ cấu cán bộ phù hợp với thực trạng tỉnh, bước đầu đáp ứng nguồn nhân lực cho việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo các cấp trong nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020 và những năm tiếp theo.

Chính sách đã tác động tích cực đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh, nâng cao chất lượng và củng cố nguồn cán bộ trẻ, nữ và dân tộc thiểu số Đa số công chức cấp tỉnh và huyện đạt chuẩn theo quy định, trong khi sự nghiệp giáo dục đào tạo có sự chuyển biến rõ rệt với quy mô trường lớp và số lượng học sinh tăng qua từng năm Cơ sở vật chất trường học cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học, và chương trình kiên cố hóa, chuẩn hóa trường lớp cùng nhà công vụ cho giáo viên đã mang lại hiệu quả ban đầu đến năm 2020.

Sự nghiệp y tế, văn hóa thể thao được quan tâm đầu tư phát triển; công tác đào tạo, dạy nghề cho người lao động từng bước được mở rộng.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện chính sách phát triển nông thôn mới (PTNNL) của tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2011 – 2015, định hướng đến năm 2020, nhưng vẫn còn một số hạn chế và bất cập cần khắc phục.

Sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc thực hiện chính sách hiện nay còn thiếu chặt chẽ và chưa kịp thời.

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực tại Đắk Nông, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương trong việc đăng ký và cử cán bộ tham gia đào tạo còn thiếu chặt chẽ và kịp thời Việc dự báo tình hình và xây dựng nhu cầu đào tạo chưa sát với thực tế, dẫn đến số lượng cán bộ tham gia chưa đạt chỉ tiêu Nhiều cán bộ tham gia đào tạo sau đại học không phù hợp với vị trí việc làm và chuyên môn đã được đào tạo Một số trường hợp cử cán bộ đi đào tạo trùng lặp nội dung, gây lãng phí ngân sách Ngoài ra, tình trạng cục bộ, lợi ích nhóm và ưu tiên người thân trong việc bố trí chức vụ cũng tạo ra dư luận không tốt, cùng với những vấn đề như “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy bằng cấp” đã trở thành mối quan tâm trong xã hội.

Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức hiện nay vẫn thiếu tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện chính sách, điều này chưa đáp ứng được yêu cầu của nền công vụ hiện đại.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực Mặc dù đã có tiến bộ trong việc chuẩn hóa, nhưng vẫn còn nhiều cán bộ chưa đạt yêu cầu chuyên nghiệp và chưa phát huy hết năng lực của mình Việc áp dụng chính sách còn chậm và thiếu gương mẫu trong lối sống Năng lực lãnh đạo và điều hành còn hạn chế, cùng với tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học thấp và thiếu chuyên gia giỏi Đặc biệt, tỷ lệ cán bộ xã, phường đạt chuẩn theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ chỉ đạt khoảng 56,28%.

Công tác kiểm tra và giám sát thực hiện chính sách chưa được thực hiện thường xuyên và thiếu quyết liệt, dẫn đến việc không phát hiện kịp thời những hạn chế và bất cập Điều này gây khó khăn trong việc kiến nghị sửa đổi, bổ sung và rút kinh nghiệm cho việc tổ chức thực hiện chính sách.

Việc kiện toàn hệ thống thanh tra và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm chống tiêu cực, tham nhũng và lãng phí là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, công tác này vẫn chủ yếu được thực hiện theo đoàn, theo đợt, chưa đạt được sự thường xuyên cần thiết Hoạt động kiểm tra, giám sát chưa kịp thời và thiếu nghiêm minh, trong khi một số cấp ủy và lãnh đạo địa phương chưa thực sự chú trọng và chưa có cơ chế hiệu quả Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát cũng còn mỏng và thiếu chuyên sâu.

Trong quá trình thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực (PTNNL), một số chính sách đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chưa được điều chỉnh kịp thời, dẫn đến việc không thu hút được cán bộ khoa học, quản lý và lao động có trình độ cao Các chính sách đào tạo nghề cho người dân còn dàn trải, thiếu sự chú trọng vào nhu cầu lao động của doanh nghiệp, không phù hợp với sản xuất và kinh doanh Nhiều trí thức trẻ, được đào tạo bài bản và có chuyên môn giỏi, có xu hướng tìm kiếm môi trường làm việc tốt hơn Học sinh có thành tích học tập xuất sắc, trúng tuyển vào các trường đại học chất lượng cao trong và ngoài nước nhưng lại không muốn trở về địa phương làm việc do chính sách thu hút chưa thỏa đáng và điều kiện làm việc còn khó khăn.

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG

Ngày đăng: 15/06/2021, 00:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w