Gần đây nhất Luật bảo hiểm xãhội năm 2014 cũng ghi nhận CĐTS theo hướng mở rộng hơn diện hưởng và đặc biệt chế độ này cũng được áp dụng cho lao động nam khi vợ sinhcon.Các chính sách bảo
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củariêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất cứ côngtrình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Bùi Ngọc Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo vàđịnh hướng sâu sát, nhiệt tình quý báu của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn HữuChí
Tác giả luận văn xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Họcviện khoa học xã hội, khoa Luật của học viện cùng các giảng viên, nhữngngười đã giúp tôi trang bị và nâng cao kiến thức trong quá trình học tập
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tác giả xin trân trọng cảm ơnPhó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Chí đã định hướng, chỉ bảo tận tình giúp tôihoàn thành luận văn này
Do thời gian có hạn, luận văn của tôi sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mongđược sự đóng góp của các Thầy, Cô giáo và quý độc giả
Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2019
Tác giả luận văn
Bùi Ngọc Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ THÁI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘBẢO HIỂM THAI SẢN Ở VIỆT NAM 10
1.1 Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản 101.2 Các nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản 141.3 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ bảo hiểm thai sản .18
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CHẾ ĐỘ THAI
SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 35
2.1 Khái quát về lao động, việc làm tỉnh Thái Nguyên và bảo hiểm xã hộitỉnh Thái Nguyên 352.2 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật chế độ bảohiểm xã hội thai sản tỉnh Thái Nguyên 362.3 Những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật chế độ bảo
hiểm xã hội thai sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và nguyên nhân 40
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI THAI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 47
3.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội thai sản 473.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội thai sản.503.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật chế độ bảohiểm xã hội thai sản trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 54
KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 6BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CEDAW Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử
với phụ nữ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số người tham gia BHXHTS (năm 2016-2018) 38
Bảng 2.2: Bảng chi trả trợ cấp BHXHTS( từ 2016-2018) 39
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia lực lượnglaođộng cao nhất trên thế giới (khoảng 48,3%) Trong tất cả các lĩnh vực từđời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… đều có sự tham gia đông đảocủa lực lượng lao động nữ, với tỷ trọng chiếm khá lớn trong lực lượng laođộng Như vậy việc họ đóng góp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra cácsản phẩm vềvật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích xã hội, thì nhữngquyềnlợi của học phải được hưởng phải xứng đáng theo đúng quy định củapháp luật hiện hành Hiện nay trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, tầmquan trọng của các lao động nữ là rất lớn, nhất là trong những ngành đòihỏi sự khéo léo và linh hoạt trong sản xuất và lao động Ngoài đóng góplớn vào cho xã hội, người phụ nữ với thiên chức làm vợ, làm mẹ cũng đồngthời phải gánh vác phần lớn công việc trong gia đình
Cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam với sự lớn mạnhkhông ngừng của hệ thống an sinh xã hội.Thêm vào đó là các quy định vềBHXH hướng tới NLĐ với mục đích giúp họ vượt qua khó khăn, rủi rotrong lao động Các quy định này đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống
an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh BHXH được coi là mộtchính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà nước đối với NLĐ nhằm từng bước
mở rộng và nâng cao đảm bảo vật chất, góp phần ổn định đời sống choNLĐ khi gặp rủi ro như bị ốm đau, hết tuổi lao động, qua đời, tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp Vì thế việc tham gia chế độ BHXH là của NLĐ làrất cần thiết để đảm bảo quyền lợi của NLĐ khi gặp rủi ro và xác định trách
Trang 9nhiệm pháp lý của NLĐ, NSDLĐ khi NLĐ gặp khó khăn thông qua đónggóp nghĩa vụ tài chính bắt buộc.
Ở Việt Nam, việc trợ cấp cho lao động nữ khi mang thai, sinh con,nuôi con được ghi nhận trong các văn bản pháp luật ngay từ những ngàyđầu tiên giành độc lập Tiếp sau đó hàng loạt các văn bản pháp luật vềBHXH cũng đều đã ghi nhận vấn đề này Gần đây nhất Luật bảo hiểm xãhội năm 2014 cũng ghi nhận CĐTS theo hướng mở rộng hơn diện hưởng
và đặc biệt chế độ này cũng được áp dụng cho lao động nam khi vợ sinhcon.Các chính sách bảo đảm ưu tiên lao động nữ, trong đó quan trọng nhất
là quyền lợi, đặc biệt là quyền lợi trong chế độ trợ cấp thai sản cho phụ nữkhi có thai, sinh con và nuôi con luôn được chú trọng khi xây dựng hệthống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam.Việc giải quyết và chi trả chế
độ ốm đau thai sản cho NLĐ luôn được coi là nhiệm vụ trung tâm và có vaitrò rất quan trọng trong hoạt độngcủa hệ thống an sinh xã hội Giải quyết vàchi trả kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ có tác động trực tiếp tới quyền lợi củangười tham gia bảo hiểm đócũng là yêu cầu quan trọng đối với hệ thống ansinh xã hội Việt Nam
Tổ chức lao động quốc tế ILO đã ban hành Công ước số 102 về quyphạm tối thiểu trong an toàn xã hội năm 1952 khẳng định lao động nữ đượcquyền hưởng trợ cấp thai sản và chăm sóc trong giai đoạn trước khi sinh,trong khi sinh và sau khi sinh.[16]
Pháp luật về bảo hiểm thai sản về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầuthực tiễn, đảm bảo được quyền lợi cho lao động nữ Tuy nhiên, bên cạnh đóvẫn còn một số quy định chưa phù hợpthiếu tính khả thi Chính vì vậy, việcnghiên cứu pháp luật về CĐTS gắn với thực tiễn thực hiện của một địa
Trang 10phương có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Nhận thức được tầm quan
trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, tôi thực hiện đề tài “Chế độ thai sản theo pháp luật lao động Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” làm
đề tài nghiên cứu Trong phạm vi của luận văn, tác giả hy vọng rằng nghiêncứu sẽ góp phần nào vào việc hoàn thiện chính sách CĐTS nói chung cũngnhưnhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi của lao động nữ nói riêng
2 Tình hình hình nghiên cứu đề tài
CĐTS nói chung và chế độ về BHXHTS nói riêng không phải là vấn
đề mới nhưng nó trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu và hoạtđộng thực tiễn
Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu vànhững người quan tâm đến CĐTS đã có nhiều bài viết, công trình khoa họcnhằm đóng góp ý kiến xây dựng hệ thống CĐTS ở nước ta như: Có thể kểđến một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật An sinh xã hội củatrường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư Pháp; sách chuyên khảo:Quyền an sinh xã hội và đảm bảo thực hiện trong pháp luật Việt Nam,Nhàxuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu làm chủbiên Các bài tạp chí có thể kể đến: “Chế độ bảo hiểm thai sản và hướnghoàn thiện nhằmbảo đảm quyền lợi của lao động nữ” của Đỗ Thị Dung,Tạp chí Luật học số 3/2006; “Nội luật hoá CEDAW về bảo hiểm xã hội đốivới lao động nữ khi dự thảo Luật bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Luật học số3/2006 của TS Nguyễn Thị Kim Phụng; đề tài nghiên cứu cấp trường,trường Đại học Luật Hà Nội: “Bình luận khoa học một số quy định củaLuật Bảo hiểm xã hội năm 2014” do TS Nguyễn Hiền Phương làm chủbiên.Về luận văn thạc sĩ có thể kể đến luận văn “Những điểm mới của Luật
Trang 11bảo hiểm xã hội của Chu Hà My năm 2015, trường Đại học Luật Hà Nội,trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Chế độ bảo hiểm thai sản
và thực tiễn thực hiện tại quận Thanh Xuân- Hà Nội” của Hoàng Thuý Hànăm 2017; Luận văn thạc sĩ luật học“Chế độ bảo hiểm thai sản ở ViệtNam” của Đặng Thị Thơm năm 2007…
Các bài viết, công trình nghiên cứu đề cập đến một hoặc một số vấn đề
lý luận và quy định pháp luật về CĐTS.Nhìn chung các công trình nghiêncứu trên đã đề cập đến những vấn đề cụ thể sau:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận về CĐTS nói chung Làm
rõ những vấn đề cơ bản về khái niệm và các đặc trưng cơ bản của CĐTS.Ngoài ra, nghiên cứu cũng làm rõ những vấn đề lí luận của pháp luật vềCĐTS Lịch sử hình thành và phát triển của CĐTS và chế độ BHXHTS
Hai là, nghiên cứu những quy định pháp luật về CĐTS nói chung,thực trạng pháp luật về CĐTS nói chung trong đó có BHXHTS
Ba là, nghiên cứu những giải pháp hoàn thiện pháp luật CĐTS, cácgiải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về CĐTS
Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, các công trình nghiên cứu trênchưa có công trình nào đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật về CĐTStạitỉnh Thái Nguyên thông qua luật BHXH
Nhìn nhận một cách chung nhất, các công trình nghiên cứu trên đã đềcập một số vấn đề cơ bản về pháp luật CĐTS nói chung trong đó cóBHXHTS Luận văn kế thừa các nội dung nghiên cứu đó, đồng thời làm rõ
và nghiên cứu cụ thể các vấn đề về CĐTS và đánh giá thực tiễn thi hànhpháp luật về chế độ BHXHTS tại tỉnh Thái Nguyên
Trang 123 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về CĐTS, đánh giá một cách toàn diện pháp luật BHXHTS hiện hành cũngnhư thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thái Nguyên đồng thời đưa ra những giảipháp cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHXHTS trên địa bàntỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở mục tiêu đó luận văn sẽ giải quyết các nhiệm
vụ sau đây:
Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về CĐTS
Hai là, phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về CĐTS vàthực trạng thực hiện pháp luật chế độ BHXHTS ở địa bàn tỉnh TháiNguyên
Ba là, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật chế độBHXHTS và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tại tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của CĐTS có tính chất đặc thù chủ yếu là lao động nữ trong
độ tuổi sinh đẻ, lao động nữ đang trong thời kỳ nuôi con sơ sinh hay thựchiện các biện pháp tránh thai, nạo hút thai Thông qua việc bù đắp mộtphần chi phí tăng lên trong quá trình đó, CĐTS nhằm mục đích giúp bình
ổn về mặt vật chất, cân bằng về thu nhập, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữnói riêng, NLĐ nói chung Chế độ thai sản là một chế độ gồm nhiều chế độkhác nhau được thực hiện từ nhiều chủ thể như người sử dụng lao động, cơquan BHXH Tuy nhiên trong luận văn này, chủ yếu nghiên cứu CĐTStrong luật BHXH hay nói cách khác là nghiên cứu chế độ thai sản với tưcách là một chế độ BHXH bắt buộc ở các nội dung như đối tượng và điều
Trang 13kiện hưởng, chế độ hưởng, thủ tục hưởng BHXHTS…theo pháp luật laođộng Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu CĐTS trong luật BHXH tức là các vấn đề liên quanđến NLĐ khi thực hiện chủ yếu chức năng duy trì nòi giống, nuôi con…các quyền lợi của họ được hưởng khi có tham gia BHXH và mục đích củaBHXHTS Trong phạm vi luận văn, tập trung phân tích các quy định vềCĐTS trong Luật bảo hiểm xã hội 2014, một số văn bản hướng dẫn, cùngvới các số liệu thực tiễn tại tỉnh Thái Nguyên (từ năm 2016 đến năm 2018).Chỉ tập trung vào thực trạng áp dụng CĐTS tại tỉnh Thái Nguyên theo Luậtbảo hiểm xã hội 2014, Luật lao động 2012, qua đó đưa ra những giải pháptrong phạm vi nghiên cứu và hiểu biết của mình
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Thứ nhất, về cơ sở khoa học: Thực hiện chủ trương đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, hướng tới một xã hội công bằng dân chủ vănminh, đảm bảo quyền con người, tất cả vì con người, do con người chonên vấn đề đảm bảo chính sách an sinh xã hội nhất là CĐTS là một trongnhững mục tiêu lớn thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa
Ngay từ khi có Hiến pháp năm 1946 Nhà nước ta đã rất quan tâm đếnquyền lợi của phụ nữ, rút ngắn khoảng cách phân biệt đối xử Lần đầu tiêntrong lịch sử Nhà nước Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật của mọicông dân được Hiến pháp ghi nhận.[13]
Luật hoá các nhu cầu an sinh xã hội là một bước tiến quan trọng của
hệ thống chính sách xã hội Dựa trên hai nguyên tắc của an sinh xã hội là
Trang 14san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội cho nên BHXH nóichung và BHXHTS nói riêng đảm bảo an toàn cho các thành viên trong xãhội (chủ yếu là NLĐ có tham gia BHXH) cho phép họ sống có ý nghĩatrong các trường hợp thai sản: sinh sản, nuôi con sơ sinh thực hiện các biệnpháp tránh thai khi họ tạm thời khó khăn không có thu nhập Hơn nữa, ViệtNam đang từng bước hội nhập khu vực và quốc tế trên tất cả các lĩnh vựctrong đó có pháp luật Việt Nam đã chính thức phê chuẩn công ướcCEDAW và trở thành thành viên thứ 35 của Công ước này Nước ta là mộttrong số các quốc gia có nhiều ưu tiên cho phụ nữ trong lĩnh vực thai sản,đặc biệt các công ước ILO như:Công ước số 3 năm 1919, Công ước số 103năm 1952… là tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo quyền của phụ nữ được đặcbiệt quan tâm về CĐTS.
Như vậy, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, Hiếnpháp, các văn bản pháp luật, các điều ước quốc tế đa phương và songphương là cơ sở pháp lý đáp ứng đòi hỏi thực tế của cuộc sống là cơ sởkhoa học cho chế độ bảo hiểm thai sản ở nước ta
Thứ hai, về cơ sở thực tiễn: Nền kinh tế thị trường sức lao động đượccoi là hàng hoá, sự thuê mướn nhân công phát triển, quan hệ lao động trởnên bất ổn cho NLĐ làm công ăn lương như ốm đau, tai nạn, thai sản chonên rất cần có sự san sẻ rủi ro và chính sách trợ giúp của nhà nước vàNSDLĐ Những nguyên nhân khách quan và chủ quan đã khiến NLĐ rơivào cảnh bất lợi nên nhu cầu an sinh xã hội càng cao như nhu cầu trợ giúp
xã hội thường xuyên đối với đối tượng yếu thế có nguy cơ bị xã hội loại trừnhư người già, con trẻ, người sinh con…giúp họ thăng bằng thu nhập bịgiảm sút hay bị mất Chế độ Bảo hiểm thai sản chủ yếu dành cho lao động
Trang 15nữ như khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, sinh con, nuôi con nuôi Ướctính ở nước ta mỗi nămcó gần hai triệu người bước vào độ tuổi lao động,với những đặc thù về giới như thể lực, tâm sinh lí, cùng với chức năng làm
mẹ và trách nhiệm chăm sóc gia đình đã gặp rất nhiều khó khăn Vì thế,cần phải có CĐTS phù hợp để khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi choNLĐ khi tham gia vào quan hệ lao động
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp mô tả,phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp …Kết hợp với việc sửdụng kiến thức của các môn học chuyên ngành kinh tế để đánh giá, kháiquát, phân tích các nội dung kinh tế
Nguồn số liệu được trích dẫn từ các Quy định, quy chế hoạt động, Báocáo tổng kết,báo cáo hàng kỳtại BHXHtỉnh Thái Nguyên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn phân tích những vấn đề lý luận cũng như
quy định của pháp luật hiện hành về BHXHTS tạo cơ sở cho việc hoànthiện các quy định của pháp luật về CĐTS cũng như đưa ra các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CĐTS
Ý nghĩa thực tiễn: bản thân tác giả có cơ hội tìm hiểu sâu về chế độ
BHXHTS, thông qua đó nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học của bảnthân và tăng cường hiểu biết trong thực tế
Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trongcông tác giảng dạy và nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai cóquan tâm đến CĐTS nói chung cũng như pháp luật về BHXHTS nói riêng
Trang 167 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về CĐTSvà quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về xã hội thai sản
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật BHXHTS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật BHXHTS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ THÁI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘBẢO HIỂM THAI SẢN Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản.
1.1.1 Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản
Ý tưởng về BHXH chỉ thực sự hình thành và phát triển khi xảy racuộc cách mạng công nghiệp tại Châu Âu Từ khi kinh tế hàng hóa pháttriển, việc thuê mướn nhân công ngày càng trở nên phổ biến Ban đầu giớichủ chỉ cam kết trả công lao động Dần dần, NLĐ muốn NSDLĐ phải camkết trả thêm những khoản thu nhập cho NLĐ để họ trang trải những nhucầu thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản hay tuổi già… Vấn đề mâu thuẫnlợi ích giữa hai bên dẫn tới việc nhà nước phải can thiệp điều chỉnh
BHXH chính thức xuất hiện tại Châu Âu từ đầu thế kỉ XIX khi nềncông nghiệp và kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ Bộ luật đầu tiên đềcập tới chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 là Luật nhà máy Năm
1883, nước Đức dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành Đạo luậtBHXH, đây là văn bản về BHXH đầu tiên trên thế giới Theo đạo luật này,
hệ thống BHXH ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người làm công ănlương và cả giới chủ Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng hoạt độngcủa BHXH Sau đó nhiều nước Châu Âu cũng cho ra đời các Đạo luật củamình như Bỉ (1905), Ý, Áo, Pháp, Đến đầu thế kỷ XX, BHXH đã mởrộng ra nhiều nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa
Kỳ, Canada và một số nước khác
Trang 18Sau chiến tranh thế giới thứ II, tổ chức liên hợp quốc được thành lập.Ngày 10/12/1949, Liên Hợp Quốc thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền
mà trong đó đã khẳng định mọi thành viên trong xã hội đều có quyềnhưởng an sinh xã hội Không lâu sau đó, đến ngày 25/6/1952 tổ chức laođộng quốc tế (ILO) thuộc liên hợp quốc lần đầu tiên thông qua Công ước
102 về an sinh xã hội Đây là mốc son nổi bật đánh dấu sự phát triển củaBHXH thế giới Công ước 102 của ILO có đề cập đến một số chế độBHXH trong đó có CĐTS ILO cho rằng việc đảm bảo thu nhập cho NLĐ,đặc biệt là lao động nữ khi mang thai, sinh con là hết sức cần thiết.[20]
Ở Việt Nam, ngay từ khi giành chính quyền Đảng và Nhà nước tacũng đã rất quan tâm đến chính sách BHXH trong đó có chế độ BHTS.BHTS được xác định là chế độ bảo hiểm mang tính bắt buộc áp dụng choNLĐ khi tham gia quan hệ lao động Nó bao gồm những quy định của Nhànước nhằm đảm bảo thu nhập và sức khỏe của NLĐ nữ khi mang thai, sinhcon; NLĐ khi nhận nuôi con là trẻ sơ sinh; lao động nữ khi thực hiện biệnpháp tránh thai Cụ thể BHXH quy định về thời gian nghỉ khám thai, thờigian nghỉ trước và sau khi sinh con; mức hưởng trợ cấp; các điều kiện đểhưởng trợ cấp; thời gian nghỉ dành cho lao động nam khi có vợ sinh con;mức hưởng trợ cấp thai sản với các trường hợp tương ứng; hướng dẫn quytrình thủ tục.Như vậy, bảo hiểm thai sản là gì
“BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập củaNLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vàoquỹ BHXH”[15] Trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động, người laođộng có thể sẽ gặp phải các rủi ro khác nhau như ốm đau, tai nạn Đồng
Trang 19thời trong quá trình tham gia quan hệ lao động, cùng với việc thực hiện cácnghĩa vụ của người lao động, người lao động cũng thực hiện thiên chức củamình, đó là sinh đẻ và nuôi con Khi đó người lao động có thể phải dừngviệc tham gia quan hệ lao động khiến thu nhập của họ sẽ bị gián đoạn.BHXH sẽ bù đắp thu nhập cho người lao động trong thời gian này, giúp họthực hiện thiên chức của mình, yên tâm sinh đẻ và nuôi con Bởi vậylà mộttrong những chế độ bảo hiểm xã hội, BHXHTS thực chất cũng chính là sựbảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sở đóng vàoquỹ BHXH
Vì vậy có thể đưa ra định nghĩa về bảo hiểm xã hội thai sản như sau:BHXHTS là chế độ BHXH nhằm đảm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhậpcho người lao động khi bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sảntrên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH, do Nhà nước tổ chức thực hiện
Người lao động được hưởng BHXHTS ở đây không có nghĩa chỉ làlao động nữ mà có thể còn là lao động nam Sự kiện thai sản ở đây baogồm mang thai, sinh con hoặc có các sự kiện thai sản khác như thực hiệncác biện pháp kế hoạch hóa gia đình Tùy thuộc vào từng điều kiện, trườnghợp cụ thể mà lao động nữ hoặc lao động nam sẽ được hưởng chế độ thaisản theo quy định
1.1.2.Vai trò, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản
Thứ nhất, chế độ BHTS có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thunhập của NLĐ Đó là quá trong quá trình thai sản NLĐ phải nghỉ việc,không có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm Chế độ BHTS trợ cấp cho NLĐmột mặt đã bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ các khoản
Trang 20chi phí tăng thêm Đồng thời góp phần thực hiện tốt chức năng và bảo vệquyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ Quy định trong chế độ BHTS đãgóp phần ổn định tâm lý cho NLĐ, đặc biệt là lao động nữ khi họ có nhucầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái bảo vệ sứckhỏe của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không thamgia lao động Chế độ BHTS đồng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước,NSDLĐ và cả những NLĐ với nhau.
Thứ hai, đối với NSDLĐ, thực hiện chính sách thai sản tốt góp phầnthu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ thamgia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và trình độ ngày càng cao trongcác lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ Thông qua chính sáchnày NSDLĐthể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với NLĐ và đốivới toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lựclượng lớn lao động
Thứ ba, đối với Nhà nước và xã hội, chế độ BHTS là sự chia sẻ củanhững người tham gia bảo hiểm đối với NLĐ khi thực hiện thiên chức.Tính
xã hội được thể hiện là do có sự chia sẻ rủi ro của bảo hiểm thai sản,NLĐkhông phải đóng phí, phí đóng cho NLĐ hưởng được tính từ lợi nhuậnsau thuế của NSDLĐ Khoản tiền nàygiúp đảm bảo cuộc sống đối vớiNLĐkhi đang ở trong chế độ thai sản Vì thế CĐTS thể hiện trách nhiệmđặc biệt của NSDLĐ đối với NLĐ, tạo công bằng xã hội, tâm lý yên tâmcho NLĐ, góp phần dung hòa mối quan hệ NSDLĐ và NLĐ giúp cho việcsản xuất diễn ra liên tục giúp phát triển kinh tế gia đình và nền kinh tếchung của đất nước Việc thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thai sản sẽ gópphần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai
Trang 21BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thântương ái của cộng đồng thông qua việc chia sẻ rủi ro của một người haycủa một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi rocùng loại Với chế độ bảo hiểm thai sản, đó là sự sẻ chia, quan tâm từ cộngđồng và xã hội đối với phụ nữ, trẻ em là những đối tượng cần có sự quantâm, chăm sóc đặc biệt Đồng thời, còn thể hiện chính sách bình đẳng giớikhi san sẻ gánh nặng, trách nhiệm đối với gia đình giữa lao động namvà laođộng nữ Do đó BHXHTS góp phần ổn định trật tự xã hội.
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản
Các nguyên tắc cơ bản của BHXH là những tư tưởng chỉ đạo xuyênsuốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHXH BHXHluôn chứa đựng và đan xen hai yếu tố kinh tế và xã hội Là một trongnhững chế độ BHXH, bảo hiểm thai sản mang bản chất chung của BHXHđồng thời cũng có những nguyên tắc đặc trưng riêng khác biệt với nhữngchế độ BHXH khác Theo Điều 5 của Luật Bảo hiểm xã hội quy định:
1 Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thờigian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội
2 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiềnlương tháng của NLĐ Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên
cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn
3 NLĐ vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thờigian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ
tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội Thời gian đóng bảo
Trang 22hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vàothời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
4 Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, côngkhai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lậptheo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương
do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định
5 Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện,bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội
Ngoài những nguyên tắc chung của BHXH thì BHXHTS còn cónhững nguyên tắc riêng như:
Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóngBHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.Nói cách khác, cầncăn cứ vào mức đóng góp của NLĐ để từ đó quy định mức trợ cấp phù hợpvới đóng góp của NLĐ đó cho xã hội Cụ thể, nguyên tắc này được thể hiệntrên các mặt sau: Có đóng BHXH thì được hưởng CĐTS; mức đóng gópcao thì mức trợ cấp thai sản được hưởng với mức cao và ngược lại Tuynhiên, về nguyên tắc, mức trợ cấp cho CĐTS phải không được cao hơn tiềnlương nhưng vẫn phải đảm bảo mức sống tối thiểu Về bản chất, trợ cấpbảo hiểm thai sản là loại trợ cấp thay thế tiền lương được chi trả cho nguờilao động khi NLĐ có sức khỏe bình thường lao động bình thường Do đó,mức trợ cấp cho CĐTS phải không được cao hơn mức tiền lương lúc đang
đi làm Ngoài ra, với đặc tính của bảo hiểm thì chia sẻ giữa những ngườitham gia là không thể thiếu Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” thể hiện tínhnhân đạo xã hội
Trang 23Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng củaNLĐ Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhậptháng do NLĐ lựa chọn Thu nhập được BHXH thực tế là phần thu nhậpcủa NLĐ tham gia bảo hiểm mà nếu nó biến động giảm hoặc mất do bịgiảm hoặc mất khả năng lao động thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp đểthay thế hoặc bù đắp Theo đó, tại nước ta, mức đóng BHXH được tính trên
cơ sở tiền công, tiền lương của NLĐ và mức đóng BHXH tự nguyện dựatrên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng không thấp hơn mức tối thiểuchung Như vậy, mới có thể đảm bảo NLĐ khi xảy ra sự kiện thai sản đượccung cấp một nguồn tài chính ổn định, bằng với mức sống tối thiểu
Nhà nước thống nhất quản lý chính sách và quỹ BHXH nói chung vàBHTS nói riêng theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch Hệ thốngBHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành Trong đó, bộphận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ nhữngngười hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và NLĐ thuộc khu vực kinh tếquan trọng của đất nước Ở nước ta do những điều kiện kinh tế, xã hội chưacho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH mà chỉ có BHXH củaNhà nước Để đảm bảo BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảmbảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳtiện, tính cục bộ hoặc những mâu thuẫn nảy sinh Đồng thời cũng phải có
cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng cóthể bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau Bên cạnh đó, quỹ BHXH làhạt nhân của chính sách BHXH nói chung và bảo hiểm thai sản nói riêng,vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ
sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và
Trang 24phát triển Do đó, quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theocác quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mụcđích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụcho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh vềchính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khicác quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyềnlợi của người tham gia BHXH Có như vậy thì mới đảm bảo được mục đích
ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro hoặc
sự kiện thai sản làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động
Việc thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản phải đơn giản, dễ dàng,thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham giaBHXH Với nguyên tắc này, việc thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản đối vớiNLĐ phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạngiải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ, NSDLĐkhi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH
Các quy định về CĐTS phải đảm bảo quyền lợi về vật chất và tinhthần của cả NLĐ và trẻ sơ sinh Đặc điểm của thời kỳ thai sản là một chu
kỳ liên tục và kéo dài bắt đầu từ lúc mang thai, đến quá trình nghỉ sinh con,sau đó là chăm sóc trẻ sơ sinh cho đến khi NLĐ ổn định lại sức khoẻ trở lạilao động như bình thường, nên trong việc khám thai phải được khám và tưvấn một cách đều đặn để phát hiện sớm các sự cố trong quá trình mangthai, quá trình nghỉ sinh con, khi nuôi con nuôi sơ sinh… phải có nhữngchính sách cụ thể và nhằm đảm bảo người phụ nữ phải được chăm sóc mộtcách thật sự chu đáo cà có tính liên tục, kéo dài Các chính sách chế địnhbảo hiểm thai sản cũng phải bảo đảm đủ thời gian để người mẹ ổn định và
Trang 25phục hồi sức khoẻ sau khi sinh con và chăm sóc con trong thời gian banđầu cũng như tạo điều kiện cho trẻ sơ sinh thích nghivà phát triển trongmôi trường mới.
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ bảo hiểm thai sản
1.3.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Đối tượng áp dụng BHXHTS
Đối tượng áp dụng chế độ thai sản được quy định tại các điểm a, b, c,
d, đ và h khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, theo đó bao gồm:
Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn,hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặctheo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng,
kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theopháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 thángđến dưới 03 tháng;
Trang 26Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã cóhưởng tiền lương.[15]
Qua đây có thể thấy, đối tượng hưởng CĐTS theo quy định của phápluật hiện hành bao gồm những người hưởng lương từ ngân sách nhà nướcnhư cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và những người hưởng lươngtheo hợp đồng lao động So với Luật bảo hiểm xã hội 2006, những đốitượng được hưởng CĐTS đã được mở rộng hơn, bao gồm cả người làmviệc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng
và người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã cóhưởng tiền lương Quy định mở rộng này rõ ràng đã tạo điều kiện tốt hơntrong việc bảo vệ quyền lợi của NLĐ
Điều kiện hưởng CĐTS:
Theo Khoản 1 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 để được hưởng CĐTSthì NLĐ phải thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lao động nữ mang thai;
- Lao động nữ sinh con;
- Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
- NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
- Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản;
- Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con
Theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội thì đối tượng được nghỉ việcđược hưởng trợ cấp thai sản phải thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc.Trong hai trường hợp: lao động nữ sinh con và NLĐ nói chung nhận nuôi
Trang 27con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng phí BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nuôi con nuôi mới được hưởng CĐTS Rõ ràng quy định này thể hiện được mục đích xây dựng luật nhằm bảo vệ quyền lợi an sinh xã hội của NLĐ Việt Nam Tính bắt buộc ở đây không thể hiện mục đích cưỡng chế nhưng thể hiện tầm quan trọng củaviệc áp dụng CĐTS Ngoài ra, luật còn quy định điều kiện hưởng CĐTS với các trường hợp: lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; NLĐ đặt vòng tránh thai; thực hiện biện pháp triệt sản Với hai trường hợp lao động nữ sinh con, NLĐ nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi Quy định về điềukiện đóng BHXH đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hay nhận nuôi con nuôi đảm bảo nguyên tắc của BHXH, dựa trên cơ sởđóng góp của chính NLĐ Hoàn toàn khác biệt với giai đoạn nhận trợ cấp của Nhà nước trước đây Điều kiện này không chỉ thể hiện ý nghĩa thật sự của BHXH nói chung, CĐTS nói riêng, nhưng còn ảnh hưởng đến nguồn quỹ BHXH Ngoài ra, Nghị định số 143/2018/NĐ-CP cũng quy định
trường hợp NLĐ đủ điều kiện nêu trên nhưng nghỉ việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì vẫn được hưởng CĐTS theo quy định tại điều 36, 38 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.[9] 1.3.2 Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản
Quyền lợi chính yếu của NLĐ khi hưởng CĐTS chính là thời giandành để nghỉ ngơi, khám thai, phục hồi sức khỏe và mức trợ cấp tương ứngnhằm đảm bảo thu nhập, phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong giai đoạn đặc biệtnày.[15]
Trang 28Nghỉ khám thai:
Cũng giống như quy định của các nước trên thế giới, Luật bảo hiểm xãhội Việt Nam cho phép lao động nữ khi mang thai có thời gian nghỉ đểkhám thai, cụ thể: nghỉ 5 ngày cho 5 lần đi khám thai Trường hợp ở xa cơ
sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường cóthể nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai Tuy nhiên, luật cũng quy định thờigian nghỉ việc để khám thai tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ,nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Nghỉ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu:
Trong trường hợp sự cố ngoài ý muốn xảy ra như sẩy thai, nạo, hút thaihoặc thai chết lưu, NLĐ nữ là người trực tiếp gánh chịu những đau đớn vềmặt thể xác và tinh thần Luật pháp Việt Nam dành riêng cho họ nhữngngày nghỉ hưởng trợ cấp để có thể phục hồi sức khỏe và tinh thần, trước khiquay trở lại với môi trường làm việc Cụ thể, lao động nữ nghỉ hưởng trợcấp 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi, 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến
13 tuần tuổi, 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến 25 tuần tuổi tuổi và
50 ngày nếu thai từ 25 tuần trở lên Thời gian nghỉ hưởng CĐTS kể trên bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Nghỉ khi sinh con:
Giai đoạn sau khi sinh là giai đoạn lao động nữ cần hồi phục sức khỏe,thực hiện nghĩa vụ nuôi con nhỏ, đặc biệt nuôi con bằng sữa mẹ và làmquen cuộc sống mới Pháp luật Việt Nam căn cứ vào từng trường hợp cụthể dành cho lao động nữ thời gian nghỉ sau khi sinh thích hợp Theo quyđịnh của Luật bảo hiểm xã hộinăm 2014 quy định thời gian nghỉ thai sảncủa lao động nữ là 6 tháng Riêng trường hợp một lần lao động nữ sinh đôi
Trang 29trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, lao động nữ sẽ được nghỉthêm 01 tháng.
Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹđược nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; Nếu con từ 02 tháng tuổi trởlên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết và thờigian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng
Ngoài ra, khi vợ sinh con, nam giới cũng được nghỉ làm trong cáctrường hợp sau: đối với lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con thìtrong vòng 30 ngày đầu kể từ ngày sinh được nghỉ 5 ngày làm việc nếu vợsinh thường; 7 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh condưới 32 tuần tuổi; 10 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh đôi, từ sinh
ba trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 3 ngày làm việc; 14 ngàylàm việc trong trường hợp vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật
Quy định về thời gian nghỉ sau khi sinh không chỉ đảm bảo sức khỏecho người mẹ, luật pháp còn chú trọng đến quyền được nhận sự nuôi dưỡngđầy đủ từ bố mẹ của trẻ nhỏ Trong trường hợp xấu xảy ra, chỉ có cha thamgia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh màkhông còn đủ sức khỏe để chăm sóccon theo xác nhận của cơ sở y tế cóthẩm quyền thì: Cha được nghỉ việc hưởng CĐTS cho đến khi con đủ 06tháng tuổi Trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đềutham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha được nghỉ việc hưởngCĐTS đối với thời gian còn lại của người mẹ Nếu mẹ tham gia BHXHnhưng không đủ điều kiện hưởng và mẹ chết sau sinh thì cha được nghỉviệc hưởng CĐTS cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi Thời gian nghỉ thaisản sau khi sinh tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Trang 30Nghỉ khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi:
Pháp luật Việt Nam cho phép công dân nước mình được phép nhậnnuôi con nuôi Theo đó, cũng phải xây dựng cơ chế đảm bảo cho họ thựchiện quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng của mình Luật BHXH Việt Nam quyđịnh trường hợp NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉviệc hưởng CĐTS cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi
Nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:
Thực hiện các biện pháp tránh thai là quyền lợi hợp pháp của NLĐ Do
đó, Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam có điều khoản quy định về ngày nghỉhưởng CĐTS cho những trường hợp đặc biệt này Cụ thể, NLĐ được phépnghỉ 07 ngày khi đặt vòng tránh thai; 15 ngày khi thực hiện biện pháp triệtsản Thời gian nghỉ việc hưởng CĐTS nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉTết, ngày nghỉ hằng tuần
Thời gian nghỉ của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ:
Đây là lần đầu tiên trong luật quy định mang tính nguyên tắc vềquyền hưởng BHTS đối với người mẹ nhờ mang thai hộ và người mangthai hộ mà trước đó luật chưa quy định Quy định thêm này của Luật bảohiểm xã hội 2014 cho người mẹ nhờ mang thai hộ và lao động nữ mangthai hộ vì mục đích nhân đạo để phù hợp và nhất quán với Luật hôn nhân
và gia đình từ ngày 01/01/2015 cho phép lao động nữ mang thai hộ vì mụcđích nhân đạo Điều này giúp đảm bảo cho người phụ nữ phục hồi sứckhỏe, tinh thần khi cùng gánh vác nhiệm vụ mang thai và nuôi dạy trẻ sơsinh và mang tính chất nhân đạo cao.[16]
Trang 31Quy định này được quy định cụ thể tại Điều 35 Luật bảo hiểm xã hộinăm 2014: “Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai,sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khisinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộnhưng không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luậtnày Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thờigian hưởng CĐTS chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn đượchưởng CĐTS cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngàynghỉ hằng tuần Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng CĐTS từ thờiđiểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi”.
Như vậy có thể thấy, trong trường hợp lao động nữ là người mẹ nhờmang thai hộ hay là người mang thai hộ, thì vẫn được hưởng đầy đủ quyền
về bảo hiểm thai sản như những trường hợp mang thai và sinh con thôngthường khác
Do có sự chuyển giao việc nuôi dưỡng con sơ sinh được sinh ra nênthời gian hưởng BHTS của lao động nữ mang thai hộ sẽ được tính đến thờiđiểm giao đứa trẻ cho người nhờ mang thai hộ Khi đó, sức khỏe của cả laođộng nữ mang thai hộ cũng như đứa trẻ được đảm bảo một cách tốt nhất,tuy nhiên không vượt quá mức quy định là 06 tháng
Còn đối với người mẹ nhờ mang thai hộ, họ có quyền được nghỉhưởng BHTS kể từ thời điểm nhận con đến khi con đủ 06 tháng tuổi nhằmđảm bảo quỹ thời gian hợp lý chăm sóc con trong giai đoạn sơ sinh mộtcách tốt nhất
Ngoài những thời gian nghỉ nói trên, nếu sức khỏe của lao động nữ vẫnchưa hồi phục, chưa thể hòa nhập với môi trường làm việc, họ vẫn có thể
Trang 32nghỉ thêm và vẫn được hưởng mức trợ cấp tương ứng theo luật định LuậtBảo hiểm xã hội quy định vấn đề này tại điều khoản về dưỡng sức, phụchồi sức khỏe sau thai sản Theo đó, lao động nữ sẽ được nghỉ tối đa thêm
10 ngày nếu sinh một lần từ 2 con trở lên, tối đa 7 ngày nếu sinh con phải phẫu thuật và 5 ngày với các trường hợp khác
Pháp luật Việt Nam cũng rất mở cho NLĐ Trước khi hết thời hạnnghỉ sinh con, lao động nữ vẫn có thể đi làm nếu thỏa đủ các điều kiện luậtđịnh: sau khi sinh con từ đủ 04 tháng trở lên; có xác nhận của cơ sở y tế vềviệc đi là Sau khi đã nghỉ hưởng chế độ ít nhất được 04 tháng; phải báotrước và được NSDLĐ đồng ý Trong thời gian này, ngoài tiền lương, tiềncông, NLĐ vẫn tiếp tục được hưởng CĐTS cho đến khi hết thời hạn theoquy định
1.3.3 Mức trợ cấp thai sản
Trong thời gian nghỉ việc hưởng CĐTS, NLĐ nữ sẽ được hưởng tiềntrợ cấp từ cơ quan BHXH thay vào phần thu nhập bị mất do không cólương Theo Công ước 102, mức trợ cấp bằng tiền sẽ do pháp luật hoặcpháp quy quốc gia ấn định, sao cho có thể bảo đảm đầy đủ việc nuôi dưỡng
cả người mẹ và đứa con trong những điều kiện vệ sinh tốt và ở một mứcsống thỏa đáng.[20]
Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, lao động nữ sinh con sẽđược hưởng trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tạitháng lao động nữ sinh con Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha thamgia BHXH thì cha được nhận khoản trợ cấp này.Hiện nay, mức lương cơ sở
là 1,39 triệu đồng/tháng (theo Nghị định 72/2018/NĐ-CP), tức tiền trợ cấpthai sản là 2,78 triệu đồng.[8]
Trang 33Từ ngày 01/07/2019, mức lương cơ sở sẽ chính thức tăng lên 1,49triệu đồng/tháng (theo Nghị quyết 70/2018/QH14).Theo đó, kể từ thờiđiểm này, lao động nữ sinh con sẽ được nhận tiền trợ cấp thai sản là 2,98triệu đồng/tháng; tăng 200.000 đồng so với hiện nay.[18]
Khám thai:Trong thời gian mang thai, lao động nữ được đi khám thai
5 lần, mỗi lần 1 ngày; trường hợp xa cơ sở y tế hoặc thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 2 ngày/1 lần khám thai
Mức hưởng = {(mức bình quân tiền lương đóng BHXH 6 tháng liền kềtrước khi nghỉ việc) / 24 ngày }x 100% x số ngày nghỉ
Sẩy thai, nạo thai, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý:10
ngày: nếu thai dưới 5 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 5 đến dưới 13 tuần; 40ngày nếu thai từ 13 đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần trởlên Thời gian nghỉ tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần.Mức hưởng = {Mức bình quân tiền lương đóng BHXH 6 tháng liền kềtrước khi nghỉ việc/ 30 ngày} x 100% x số ngày nghỉ
Khi thực hiện biện pháp tránh thai:Đặt vòng tránh thai (nghỉ 7 ngày);
Mức hưởng: Mức bình quân tiền lương đóng BHXH 6 tháng liền kềtrước khi nghỉ việc x 100% x số tháng nghỉ việc do sinh con hoặc nuôi connuôi
Trang 34Điều này cho thấy mức hưởng cũng căn cứ trên tiền lương, nói kháchơn căn cứ trên mức đóng bảo hiểm, đảm bảo nguyên tắc dựa trên cơ sởđóng góp của người tham gia bảo hiểm Thời gian nghỉ việc hưởng CĐTSđược tính là thời gian đóng BHXH Thời gian này NLĐ và NSDLĐ khôngphải đóng BHXH Đây là một điểm đặc biệt của CĐTS.
Ngoài nhận trợ cấp thai sản, NLĐ còn được hưởng trợ cấp một lần khisinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Theo đó, lao động nữ sinh con hoặcNLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằnghai tháng lương cơ sở cho mỗi con Trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH
mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lươngtối thiểu chung cho mỗi con
Đối với nam giới khi nghỉ chăm con sẽ có chế độ hưởng BHXH nhưsau:
Mức hưởng = 100% x (mức bình quân tiền lương: 24) x số ngày đượcnghỉ
Trong đó, nếu đã đóng BHXH từ 6 tháng trở lên tính tới thời điểm sinhcon thì mức bình quân tiền lương bằng mức bình quân tiền lương thángđóng BHXH của 6 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ; nếu đóngBHXH chưa đủ 6 tháng thì mức bình quân tiền lương bằng mức bình quântiền lương tháng của các tháng đã đóng
Trong trường hợp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản, laođộng nữ được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản mộtngày bằng 30% mức lương cơ sở
Mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH làm cơ sở tínhhưởng CĐTS là mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH