Thứ nhất đó là, Diện tích cà phê kinh doanh đã được trồng từ những năm 1995-2000, già cỗi, năng suất giảm thấp, trình độ kỹ thuật canh tác chưa cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn c
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Gia Lai là một trong năm Tỉnh trọng điểm của khu vực Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông), có độ cao trung bình 700-800m so với mặt nước biển; Phía Đông Gia Lai giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên; Phía Tây giáp Cam-Pu-Chia với 90km là đường biên giới quốc gia; Phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; Phía Bắc giáp Tỉnh Kon Tum Gia Lai được thành lập ngày 12/08/1991 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII, tách Gia Lai- Kon Tum thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum Đến nay với dân số gần 1,4 triệu dân, phân bố khắp 17 huyện, thị xã, thành phố; 222 xã, phường, thị trấn Gia Lai là cửa ngỏ quan trọng, có vị trí chiến lược cả về an ninh chính trị vùng biên giới quốc gia lẫn kinh tế khu vực Tây Nguyên, có đặc thù kinh tế thuần nông nghiệp, trong đó cà phê là cây trồng công nghiệp chủ lực trong cơ cấu cây công nghiệp của Tỉnh (79.732 ha cà phê trên 330.200 ha cây công nghiệp) Điều đó cho thấy: Gia Lai có tiềm lực rất lớn để phát triển cây cà phê, bởi vị trí địa lý ở đây rất phù hợp về thời tiết, thổ nhưỡng để cây cà phê phát triển, mang lại nguồn thu lớn để phát triển kinh tế địa phương
Với diện tích cà phê kinh doanh là 76.523 ha, đa phần được trồng những năm 1995-2000, năng suất giảm thấp, già cỗi, trình độ kỹ thuật canh tác chưa cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, chủ yếu là các hộ nông dân trồng tự phát, chất lượng hạt cà phê sau thu hoạch chưa cao, làm giảm giá trị sản phẩm khi bán cho các doanh nghiệp để xuất khẩu
Theo đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của Chính phủ năm 2013, đề án phát triển ngành cà phê vùng Tây Nguyên bền vững đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2014, kế hoạch trồng tái canh và ghép cảo tạo cà phê giai đoạn 2015-2020 của UBND Tỉnh Gia Lai năm 2015, nhằm mục đích đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng, sản lượng sản phẩm đạt bình quân trên 3 tấn cà phê nhân/ha Điều đó cho thấy rõ nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển cà phê là rất lớn và cấp bách hơn bao giờ hết, việc tiếp tục đầu tư theo hướng có quy hoạch tổng thể, nâng cao sản lượng, giá trị sản phẩm cà phê cao hơn,…có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh Gia Lai trong những năm tiếp theo
Agribank Gia Lai là một Ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất Tỉnh hiện nay, mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch trãi rộng khắp toàn tỉnh bao gồm: 14 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố với quy mô 23 Chi nhánh, 08 Phòng giao dịch, 01 Hội sở chính; Agribank Gia Lai là ngân hàng có đủ điều kiện thuận lợi nhất để triển khai thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong việc thực hiện “Tam nông”, “Nông thôn mới” Với những kết quả kinh doanh đạt được trong những năm qua, Agribank Gia Lai luôn đứng đầu hệ thống ngân hàng tại Tỉnh Gia Lai, được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý, luôn đứng tóp đầu trong hệ thống toàn quốc của Agribank Tuy nhiên, nhìn chung những thành quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm lực cần phải đầu tư để phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt là đầu tư phát triển tín dụng cà phê, bởi Agribank Gia Lai cũng gặp không ít khó khăn từ thực tiễn kinh doanh, đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt với các ngân hàng khác trên địa bàn, địa bàn đầu tư trãi rộng khắp, cán bộ tín dụng vùng sâu vùng sâu vùng xa còn thiếu, chất lượng sản phẩm dịch vụ chưa cao,…cần phải xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp, đồng bộ và khoa học để tăng khả năng cạnh tranh, giữ vững thị phần là ngân hàng số một tại địa phương, mà trong đó đầu tư phát triển tín dụng cây cà phê là một tất yếu để phát triển kinh tế địa phương, cải thiện đời sống các hộ sản xuất cà phê, các tổ chức thu mua, chế biến, xuất khẩu cà phê trong Tỉnh hoạt động có hiệu quả, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế địa phương, khu vực Tây Nguyên và đất nước một cách bền vững
Xuất phát từ những lý do cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài “Phát triển tín dụng cây cà phê tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam-Chi nhánh Tỉnh Gia Lai” để thực hiện.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu tổng quát
Luận văn trên cơ sở phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị khả thi để đẩy mạnh mở rộng phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai trong thời gian đến.
Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát, luận văn đề ra những mục tiêu cụ thể như sau:
-Hệ thống hóa và làm rõ các cơ sở lý luận về phát triển tín dụng cây cà phê (Bao gồm các nội dung về khái niệm, đặc điểm, vai trò của ngân hàng hàng thương mại, hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng hộ sản xuất cà phê)
-Đánh giá thực trạng phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai trong những năm qua (Bao gồm những thành tựu, những tồn tại, hạn chế), từ đó tìm ra các nhân tố ảnh hưởng xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu nào đến việc phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai
-Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai một cách an toàn và hiệu quả hơn trong những năm tới.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả cần trả lời các câu hỏi sau:
-Đặc điểm sinh trưởng của cây cà phê có liên quan đến định kỳ hạn nợ của ngân hàng không?
-Phát triển tín dụng cây cà phê có vị trí, vai trò như thế nào?
-Thực trạng công tác cho vay phát triển tín dụng tại Agribank Gia Lai ra sao?
Có những tồn tại hạn chế gì? Nguyên nhân những tồn tại, hạn chế đó?
-Làm thế nào để nâng cao hiệu quả của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển cây cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong những năm sắp đến?
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
-Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tập hợp những lý luận về hoạt động của ngân hàng thương mại đối với hộ sản xuất, đặc biệt là hộ sản xuất cà phê từ sách, báo, tạp chí, Nghị định, thông tư, quyết định,…để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn
-Phương pháp thống kê và toán học: Được sử dụng để thu thập dữ liệu về hoạt động cho vay cây cà phê tại Agribank Gia Lai giai đoạn từ 2011 đến 2015 được rút trích từ các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm của đơn vị; Sử dụng các chỉ số, số tuyệt đối, số tương đối để phân tích, diễn đạt sự tăng giảm, tốc độ tăng giảm, tỷ trọng để phân tích hầu hết các nội dung trong luận văn; Thu thập thông tin từ “Phiếu khảo sát thông tin” (đối với khách hàng là hộ sản xuất cà phê và cán bộ ngân hàng) để đánh giá một cách khách quan, tổng quát hơn các nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển tín dụng cây cà phê tại Chi nhánh
-Phương pháp diễn giải và quy nạp: Được dùng để phân tích số liệu, dữ liệu liên quan để đưa ra những kết luận chung đến hoạt động kinh doanh của Agribank Gia Lai.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu thực trạng tín dụng cho cây cà phê tại Agribank Gia Lai trong những năm từ 2011-2015 Chỉ ra những mặt làm được cũng như các nguyên nhân, tồn tại, hạn chế trong công tác tín dụng và đề xuất hoàn thiện giải pháp tín dụng cho cây cà phê tại Agribank Gia Lai trong thời gian tới.
ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
*Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa kiến thức về tín dụng ngân hàng, làm sáng tỏ bản chất tín dụng ngân hàng đối với cây cà phê là kinh doanh tiền tệ, góp phần cung ứng vốn cho các hộ nông dân trồng cà phê Khẳng định tín dụng ngân hàng là kênh phân phối vốn quan trọng đối với việc phát triển cây cà phê
*Về mặt thực tiễn: Luận văn có những đóng góp như sau:
-Luận văn xác định được thực trạng công tác cho vay cây cà phê đang được triển khai tại Agribank Gia Lai, hiệu quả các phương thức cho vay hiện tại và đề xuất biện pháp cải thiện các phương thức cho vay nhằm nâng cao hiệu quả cho vay đối với cây cà phê trên địa bàn Tỉnh Góp phần làm sáng tỏ nội dung các phương thức cho vay đối với cây cà phê hiện đang được áp dụng tại Agribank Gia Lai -Thông qua điều tra khảo sát các hộ nông dân sản xuất cà phê và các cán bộ ngân hàng trực tiếp cho vay và quản lý, luận văn đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến việc sản xuất cà phê của hộ nông dân hiện tại, hiệu quả của việc sử dụng vốn vay ngân hàng Xác định được các khó khăn vướng mắc trong việc cho vay đến hộ sản xuất cà phê tại Agribank Gia Lai
-Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu, đặc biệt là đẩy mạnh phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thông qua tổ liên kết, nhằm phù hợp với đặc thù nông dân canh tác trên mật độ địa hình rộng khắp, xa xôi, khó tiếp cận vốn, đồng thời vừa giảm tải cho cán bộ quản lý khoản vay trong các vấn đề về thủ tục cho vay một cách nhanh gọn, thuận lợi trong giải ngân, thu nợ thông qua tổ trưởng tổ liên kết, nâng cao khả năng giám sát khoản vay, hạn chế tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay phát triển cây cà phê.
TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu các giải pháp để phát triển cho vay đối với cây cà phê tại Agribank Gia Lai với đối tượng chính là các hộ sản xuất cà phê, trong đó chú trọng đến các đặc điểm của kinh tế hộ gia đình, các chính sách vay vốn của ngân hàng, điều kiện sản xuất kinh doanh
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu các công trình nghiên cứu về phát triển cây cà phê của Việt Nam và khu vực Tây Nguyên như:
-Kinh tế Nông hộ ở Tây nguyên: Đặc điểm và triển vọng của Đỗ Thanh Phương (2009) đã cho rằng vấn đề về vốn sản xuất của các nông hộ luôn trong tình trạng căng thẳng, nhiều hộ nông dân nhận đất nhưng không thể sản xuất vì thiếu vốn và trong số các hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên có 70% hộ thiếu từ 40%-60% vốn đầu tư Cũng theo tác giả thì thời hạn Ngân hàng cho vay hiện nay là quá ngắn, không phù hợp với vòng quay vốn của hộ gia đình tại nông thôn, thêm vào đó, nhiều hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ không được sự bảo lãnh tín chấp của các đoàn hội chính trị nên rất khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng để tiến hành sản xuất
Luận văn nghiên cứu của tác giả sẽ hoàn thiện công tác cho vay đối với hộ sản xuất thông qua các tổ chức chính trị xã hội địa phương, đặc biệt là Hội nông dân, khai thông nguồn vốn đến được với hộ sản xuất thông qua việc thành lập các tổ liên kết để cho vay, giám sát vốn vay, đảm bảo hiệu quả cho cả ngân hàng và hộ sản xuất
-Luận văn của Nguyễn Ngọc Tuấn (2013) nghiên cứu Giải pháp tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông đối với hộ sản xuất cà phê Luận án đề xuất áp dụng phương thức cho vay hộ nông dân theo hạn mức tín dụng vì như vậy phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay của hộ nông dân đồng thời giảm bớt áp lực về hồ sơ cho cán bộ ngân hàng Luận án có nội dung nghiên cứu tương tự với luận văn mà tác giả nghiên cứu nhưng được tiến hành trên địa bàn tỉnh Đăk Nông và phục vụ cho hoạt động cho vay hộ sản xuất cà phê tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông
-Luận văn của Đoàn Thanh (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa định hướng và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh cà phê trên địa bàn Tỉnh Gia Lai Luận văn tập trung phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thị trường đến hiệu quả sản xuất-kinh doanh cà phê nhằm đưa ra các khuyến nghị tăng hiệu quả sản xuất-kinh doanh cà phê như: Thường xuyên tổ chức sự kiện vinh danh những doanh nghiệp kinh doanh cà phê có thành tích tốt trong Tỉnh, xúc tiến thương mại, nối kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, dự báo mùa vụ, định hướng xu thế ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của thị trường để hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp…Luận văn chỉ tập trung định hướng về thị trường và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn của tỉnh Gia Lai chứ chưa đưa ra các chính sách tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi mà các Ngân hàng thương mại đang áp dụng để chủ động có kế hoạch đầu tư trong ngắn hạn cũng như dài hạn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Luận văn nghiên cứu của tác giả sẽ chú trọng khai thông đồng vốn của ngân hàng khi đã có được định hướng thị trường, hiệu quả sản xuất kinh của hộ sản xuất cà phê
-Luận văn của Ngô Việt Nghĩa (2015) nghiên cứu phát triển cây cà phê trên địa bàn Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Luận văn tập trung nghiên cứu về các điều kiện, nguồn lực (Diện tích trồng cà phê, sản lượng cà phê, kỹ thuật thâm canh) nhằm mở rộng quy mô trồng cà phê hợp lý, nâng cao năng suất để đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh Đăk Lắk nói chung và Thị xã Buôn Hồ nói riêng
Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập đến vấn đề quan trọng để phát triển cà phê, đó là nguồn vốn đầu tư, yếu tố rất quan trọng để góp phần phát triển vùng cà phê có năng suất, chất lượng cao Luận văn của tác giả sẽ hoàn thiện điều đó
Các công trình nghiên cứu kể trên có nội dung liên quan phần nào đến nội dung nghiên cứu của luận văn, nhưng thời điểm, đối tượng nghiên cứu và địa phương nghiên cứu rải rác ở nhiều địa phương, chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu phát triển tín dụng đối với hộ sản xuất cây cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đặc biệt là tại Agribank Gia Lai.
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần “Lời mở đầu“ thì bố cục của luận văn bao gồm các chương sau:
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
1.1.1-Khái niệm về tín dụng hộ sản xuất
Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2009 và tái bản lần 1 năm
Tín dụng (TD) là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế TD bắt nguồn từ chữ Credit-Creditum hay được hiểu đơn giản là một quan hệ sử dụng sự tín nhiệm Trong nền kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình TD như: TD ngân hàng, TD thương mại, TD nhà nước, TD tiêu dùng Có thể xem xét khái niệm tín dụng dưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: trên thị trường tài chính, theo nguồn gốc lịch sử TD được nhìn nhận như là một chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng
Tín dụng ngân hàng (TDNH) là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp TD (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận
TD (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Do đặc điểm riêng của mình TDNH đạt được ưu thế hơn các hình thức TD khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư; Với đặc điểm TD bằng tiền, vốn TDNH có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa Vì vậy mà TDNH ngày càng trở thành hình thức TD quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có
Trong hoạt động TD của ngân hàng, loại hình tín dụng hộ sản suất là hết sức quan trọng để thực hiện chính sách nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đối với nền nông nghiệp như nước ta
Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ TDNH giữa một bên là ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hóa Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và đủ tư cách tham gia quan hệ TD với ngân hàng (trừ những chỉ định riêng không có tài sản thế chấp của Chính phủ) Đây cũng chính là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn của ngân hàng
1.1.2-Đặc điểm của tín dụng hộ sản xuất
Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu, Lê Thị Hiệp Thương (2009 và tái bản lần 1 năm
2011), liên hệ với lĩnh vực tín dụng hộ sản xuất tại NHTM thì có các đặc điểm như sau:
-Mang tính thời vụ và gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của cây, con trong sản xuất nông nghiệp Đặc điểm này quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của ngân hàng Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch tiêu thụ tiến hành thu nợ
-Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng Nguồn trả nợ ngân hàng của hộ sản xuất chủ yếu là tiền thu từ bán hàng nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản, như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng, mà sản lượng như ta biết thì chịu sự ảnh hưởng rất lớn của thiên nhiên
-Chi phí tổ chức cho vay cao: Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân, chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô từng món vay nhỏ, số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp nơi, nên mở rộng cho vay thường liên quan đến việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ Mở chi nhánh, phòng giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã, dẫn đến chi phí tăng cao hơn Ngoài ra, do đặc thù kinh doanh của sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác
-Thủ tục pháp lý cho vay hộ sản xuất đơn giản, chỉ cần chủ hộ là đại diện đứng tên giao dịch với ngân hàng hoặc thành viên khác trong hộ làm đại diện trên cơ sở có ủy quyền của chủ hộ; Quy mô giao dịch thường không lớn, không thường xuyên đối với một hộ/năm; Mục đích vay vốn của hộ sản xuất khá phức tạp, khả năng tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất và ý thức pháp luật của hộ vay còn hạn chế; Phần lớn tài sản của hộ sản xuất có giá trị thấp và khó phát mãi, nhất là ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
1.1.3-Vai trò tín dụng ngân hàng thương mại đối với hộ sản xuất
Theo Nguyễn Ngọc Tuấn (2013), liên hệ với lĩnh vực tín dụng hộ sản xuất tại NHTM thì có các vai trò tín dụng NHTM đối với hộ sản xuất như sau:
-Tín dụng ngân hàng (TDNH) đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hóa của sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch, chưa có sản phẩm hàng hóa để bán thì chưa có thu nhập, nhưng họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi khác trong sinh hoạt đời thường Những lúc đó hộ sản xuất cần có sự hỗ trợ của TDNH để có đủ vốn duy trì sản xuất liên tục Nhờ có sự hỗ trợ kịp thời về vốn của ngân hàng, các hộ sản xuất có thế sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người
-Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn, tập trung sản xuất của TDNH được thể hiện ở mức độ cao hơn hẳn so với cơ chế bao cấp cũ Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh giúp cho các hộ sản xuất có điều kiện để mở rộng sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng hạn chế được rủi ro tín dụng Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy dộng được để cho hộ sản xuất vay, vì vậy ngân hàng sẽ thức đẩy các hộ sản xuất sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông Trên cơ sở đó, hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn
-Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động Việt Nam là một nước có nhiều ngành nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, chúng ta cũng phải quan tâm đến ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp-nông thôn Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và TDNH sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút, giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó, góp phần phát triển toàn diện nông-lâm-ngư-diêm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại Do đó, TDNH còn là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ
-Tín dụng ngân hàng có vai trò rất to lớn về mặt chính trị và xã hội: Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta Khi người lao động có việc làm sẽ tạo thu nhập, sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội TDNH thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội tăng lên, khoản cách giữa nông thôn và thành thị được càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế sự phân hóa bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Ngoài ra, TDNH còn góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xóa đói giảm nghèo, TDNH đã thúc đẩy hộ sản xuất phát triển nhanh làm cho thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên giàu hơn Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần cũng được xóa bỏ bớt, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của người lao động cũng được nâng lên Qua đó cho thấy, vai trò của TDNH trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Tóm lại, TDNH đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề, khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất; Tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất; Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường; Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, góp phần thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; Thúc đẩy hộ sản xuất tính toán, hạch toán đầy đủ chi phí trong sản xuất kinh doanh, lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất, tạo nhiều việc làm cho người lao động; Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong khu vực nông thôn, hạn chế tình trạng bán sản phẩm non như lúa non, cà phê non ; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của hộ sản xuất trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục tiêu của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn cho vay hiện nay cho thấy cơ chế vẫn còn nhiều bất cập như quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử lý tài sản thế chấp giải quyết như thế nào, đầu mối với các ngành ra sao, sự không đồng bộ ở các văn bản dưới luật đã làm cho hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, chưa phù hợp với thực tiễn trong giải quyết tranh chấp xử lý tài sản thế chấp, việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản (hay còn gọi là cho vay tín chấp) nếu người vay không trả được thì các tổ chức đoàn thể
Chính sách tín dụng
Trong thời gian qua, những chính sách đối với hộ sản xuất nói riêng và ngành nông nghiệp nông thôn nói chung đã phần nào đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, trong hoạt động cho vay tín dụng đối với nông nghiệp nông thôn còn tồn tại nhiều khó khăn và thách thức cần có những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất trong thời gian tới Để tháo gỡ những khó khăn về tín dụng đối với hộ sản xuất nói riêng và nông nghiệp nông thôn nói chung, ngày 09/06/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn Nghị định này thay thế cho Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ, là một bước ngoặc phát triển mới trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp nông thôn
Tiếp đến, ngày 22/07/2015, Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 10/2015/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 55/2015/NĐ-CP Theo đó, các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn, hợp tác xã, chủ trang trại được cho vay không có bảo đảm bằng tài sản để thực hiện phương án hoặc dự án sản xuất-kinh doanh thuộc các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo các mức như sau:
-Tối đa 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp;
-Tối đa 100 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình cư trú tại địa bàn nông thôn; cá nhân và hộ gia đình cư trú ngoài khu vực nông thôn có tham gia liên kết trong sản xuất nông nghiệp với hợp tác xã hoặc doanh nghiệp;
-Tối đa 200 triệu đồng đối với cá nhân, hộ gia đình đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm;
-Tối đa 300 triệu đồng đối với tổ hợp tác và hộ kinh doanh;
-Tối đa 500 triệu đồng đối với hộ nuôi trồng thủy sản, hộ khai thác hải sản xa bờ có ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với tổ chức chế biến và xuất khẩu trực tiếp;
-Tối đa 01 tỷ đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp;
-Tối đa 02 tỷ đồng đối với hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ khai thác hải sản xa bờ; các chủ trang trại nuôi trồng thủy sản; liên hiệp hợp tác xã hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp;
-Tối đa 03 tỷ đồng đối với liên hiệp hợp tác xã nuôi trồng thủy sản hoặc khai thác hải sản xa bờ, cung cấp dịch vụ khai thác hải sản xa bờ
Về phía Agribank, ban hành một số văn bản quan trọng thực hiện chính sách nông nghiệp như sau:
Bảng 2.1: Những quy định chủ yếu về chính sách tín dụng của Agribank
STT TÊN VĂN BẢN NỘI DUNG GIAI ĐOẠN ÁP DỤNG
Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống
Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng tín dụng trong hệ thống Agribank
Sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo Quyết định số 66/QĐ-HĐTV-KHDN
07/08/2014 của Tổng Giám đốc Agribank
Quy trình cho vay đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân trong hệ thống Agribank
29/08/2014 của Tổng Giám đốc Agribank
Hướng dẫn cho vay lưu vụ trong hệ thống Agribank
29/08/2014 của Tổng Giám đốc Agribank
Hướng dẫn sản phẩm cho vay theo hạn mức tín dụng đối với hộ sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ trong hệ thống Agribank
Quy chế cấp tín dụng phục vụ chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP
Quy định giao dịch bảo đảm cấp tín dụng trong hệ thống
Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lú rủi ro trong hoạt động của Agribank
Quy định về phân cấp quyết định cấp tín dụng trong hệ thống Agribank
Sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo Quyết định số 31/QĐ-HĐTV-KHDN ngày
Sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo Quyết định số 31/QĐ-HĐTV-KHDN ngày
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các quy định nội bộ của Agribank)
Riêng đối với hộ sản xuất cà phê tại địa phương cũng đã có những chính sách tín dụng cụ thể Ngoài những quy định trên còn có các văn bản đặc thù khác của các Bộ ngành, UBND Tỉnh, Sở ban ngành của tỉnh và Chi nhánh Agribank Gia Lai như: Quyết định số 4521/QĐ-BNN-TT ngày 21/10/2014 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “Phê duyệt đề án tái canh cà phê các tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2015-2020”; Văn bản số 3227/NHNN-TD ngày 11/05/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về “Hướng dẫn cho vay tái canh cây cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên”, trong đó chỉ định ngân hàng cho vay chính là
Agribank; Văn bản số 3229/NHNN-TD ngày 11/05/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về “Trển khai chính sách cho vay tái canh cây cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2015-2020”; Văn bản số 3438/NHNo-HSX ngày 05/06/2015 của Agribank về “Cho vay tái canh cà phê bằng nguồn tái cấp vốn của Ngân hàng nhà nước”; Quyết định số 338/QĐ-UBND ngày 11/06/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai về “Kế hoạch tái canh và ghép cải tạo cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2015-2020”; Văn bản số 779/SNN-NN ngày 15/07/2015 của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai về “Triển khai thực hiện kế hoạch trồng tái canh và ghép cải tạo cà phê giai đoạn 2015-2020”; Văn bản số 858/SNN-NN ngày 03/08/2015 của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai về việc
“Tháo gỡ những vướng mắc trong triển khai thực hiện chương trình tái canh cà phê”; Văn bản số 608/GLA-TH&KSNB ngày 06/10/2015 của Ngân hàng nhà nước- Chi nhánh tỉnh Gia Lai về việc “Đôn đốc triển khai thực hiện chính sách cho vay tái canh cây cà phê tại tỉnh Gia Lai, trong đó giao cho Agribank Gia Lai chịu trách nhiệm phối hợp với các Sở ban ngành địa phương để phối hợp, tuyên truyền, hướng dẫn cho vay kịp thời
Tóm lại, chính sách tín dụng đối với cây cà phê đối với Vùng Tây Nguyên nói chung và tại Tỉnh Gia Lai nói riêng đã được sự quan tâm rất lớn của các Bộ ban ngành từ Trung ương đến địa phương, do đó nhiều năm qua sự phát triển tín dụng cây cà phê tại địa phương là phù hợp, đáp ứng cơ bản nhu cầu của đa số hộ sản xuất cà phê, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh nhà Tuy nhiên, vẫn còn đó những bất cập về chính sách cần được tháo gỡ, nhất là cho vay tái canh cây cà phê theo đề án đã được Chính phủ phê duyệt; Cần phải triển khai mạnh mẽ và đồng bộ hơn nữa của các Sở ban ngành địa phương, hệ thống ngân hàng và sự nhận thức đúng đắn của hộ sản xuất cà phê địa phương, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số, thì phát triển tín dụng cà phê mới nâng tầm về quy mô, chất lượng, giá trị sản phẩm cà phê được nâng lên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và trên thế giới.
Kết quả đầu tư nền kinh tế của Hệ thống ngân hàng tại Tỉnh Gia Lai (2011- 2015)
Theo kết quả tổng hợp số liệu từ ngân hàng nhà nước chi nhánh Tỉnh Gia Lai qua các năm, tác giả có kết quả sau:
Bảng 2.2: Kết quả đầu tư nền kinh tế Ngành ngân hàng Gia Lai (2011-2015)
STT CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ
I Nguồn vốn huy động Tỷ đồng 13.509 16.204 18.522 21.608 24.631
2 Ngoại tệ (quy đổi) Tỷ đồng 913 595 548 427 578
II Dư nợ cho vay nền kinh tế Tỷ đồng 25.547 29.421 36.699 43.309 55.644
Trong đó: -Cà phê Tỷ đồng 4.011 5.355 6.089 7.451 10.775
(Hộ SX cà phê) Tỷ đồng (3.209) (4.284) (4.870) (5.960) (8.620)
Trong đó: -Cà phê Tỷ đồng 3.471 4.625 5.315 6.493 9.609
2 Trung, dài hạn Tỷ đồng 10.832 10.966 12.421 14.751 19.752
Trong đó: -Cà phê Tỷ đồng 540 730 774 958 1.166
III Nợ xấu Tỷ đồng 310 235 269 329 282
Trong đó: -Cà phê Tỷ đồng 40 38 47 105 59
IV Thu dịch vụ Tỷ đồng 89 95 102 119 149
VI Máy POS/EDC Máy 196 229 635 825 800
VII Điểm giao dịch Đơn vị 96 96 101 105 105
2 Phòng giao dịch Đơn vị 57 56 60 62 62
(Nguồn: Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Gia Lai)
Theo bảng 2.2, tính đến cuối năm 2015, tổng số điểm giao dịch (chi nhánh, phòng giao dịch) của tất cả các tổ chức tín dụng trên địa bàn Tỉnh Gia Lai là 105 điểm giao dịch ngân hàng, tăng 9 điểm giao dịch (+9,38%) so với năm 2011, có tổng số 166 máy ATM (tăng 31 máy, +22,96% so năm 2011), có tổng số 800 máy POS/EDC để thanh toán thẻ không dùng tiền mặt (tăng 604 máy, +308,16% so năm
Nguồn vốn huy động tăng 11.122 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 82,33%) so với năm
2011, tăng bình quân 16,26%/năm Trong đó: Nội tệ chiếm tỷ lệ cao 97,65%/tổng nguồn vốn, ngoại tệ chỉ chiếm 2,35%; Nội tệ tăng 11.457 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 90,95%) so với năm 2011, tăng bình quân 17,61%/năm
Dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 30.097 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 117,81%) so với năm 2011, tăng bình quân 21,59%/năm, trong đó cho vay cà phê đạt 10.755 tỷ đồng năm 2015, tăng 6.764 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 168,63%) so với năm 2011, tăng bình quân 28,54%/năm Dư nợ ngắn hạn đạt 35.892 tỷ đồng năm 2015 (chiếm tỷ trọng 64,5% tổng dư nợ), tăng 21.177 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 143,91%) so với năm 2011, tăng bình quân 25,06%/năm, trong đó cho vay cà phê tăng bình quân 29,57%/năm; Dư nợ trung, dài hạn đạt 19.752 tỷ đồng năm 2015 (chiếm tỷ trọng 35,5% tổng dư nợ), tăng 8.920 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 82,34%) so với năm 2011, tăng bình quân 16,78%/năm, trong đó cho vay cà phê đạt 1.166 tỷ đồng năm 2015, tăng bình quân 21,67%/năm Dư nợ của ngành ngân hàng tại địa phương tăng trưởng hợp lý qua các năm, đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt cho vay cà phê có tỷ lệ tăng nhanh, thể hiện nhu cầu của khách hàng trong đầu tư chiều sâu cho cây cà phê trên địa bàn là khá lớn
Nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng của Gia Lai chiếm tỷ trọng trên dư nợ thấp, chỉ chiếm bình quân 0,8%/năm so với tổng dư nợ, trong đó nợ xấu cho vay cà phê cũng chỉ chiếm bình quân 0,36%/năm so với tổng dư nợ cho vay cà phê, chiếm bình quân 0,0015%/năm so với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế
Thu dịch vụ tăng 60 tỷ đồng (tỷ lệ tăng 67,41%) so với năm 2011, tăng bình quân 13,99%/năm Thu dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng nhanh, thể hiện ngành ngân hàng tại địa phương có sự chuyển biến về đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, khuyến khích người dân tham gia, giảm đáng kể số lượng sử dụng tiền mặt trong thanh toán.
Mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của Ngành ngân hàng Gia Lai (2016-2020)
Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020, Ngành ngân hàng tỉnh Gia Lai cũng xây dựng chương trình mục tiêu, nhiệm vụ của ngành như sau:
Tiếp tục củng cố và mở rộng mạng lưới ngân hàng trên địa bàn Tỉnh để đáp ứng nhu cầu, tiềm năng phát triển của các ngành, lĩnh vực tại địa phương, đặc biệt là địa bàn nông thôn, vùng sâu vùng xa nhằm tạo điều kiện cho người dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng, nhất là tiếp cận vốn tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao thu nhập, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn với thành thị
Tiếp tục nghiên cứu, chuyển dịch cơ cấu vốn tín dụng đầu tư phù hợp theo hướng mở rộng đầu tư cho kinh tế dân doanh, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình và tập trung đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh
Nâng cao hiệu lực công tác quản lý, điều hành của Ngân hàng nhà nước Tỉnh trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; nghiên cứu tổ chức triển khai các phương thức kinh doanh, các dịch vụ ngân hàng, bảo đảm an toàn, hiêu quả và bền vững của hệ thống
Tăng cường công tác huy động nguồn vốn tại chỗ; tập trung các phương tiện, khả năng để thu hút nguồn nhân lực về vốn đầu tư kể cả nội tệ và ngoại tệ, đặc biệt là vốn trung, dài hạn để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh trong dài hạn Phấn đấu nguồn vốn huy động hàng năm tăng bình quân 15%, đến cuối năm 2020 số dư huy động toàn tỉnh tăng +101,2%, đạt gần 50.000 tỷ đồng so với tổng nguồn huy động 2015 (24.631 tỷ đồng)
Tranh thủ nguồn vốn điều hòa từ Trụ sở chính, vốn ủy thác đầu tư, tập trung đầu tư khai thác tiềm năng kinh tế của Tỉnh, đặc biệt chú trọng đến các ngành, các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao Phấn đấu đến cuối năm 2020, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn Tỉnh tăng +76,3% so với cuối năm 2015 (55.644 tỷ đồng), tăng bình quân 12%/năm, đạt khoảng hơn 98.000 tỷ đồng; Tỷ lệ nợ xấu hàng năm không vượt quá 2% so với tổng dư nợ.
PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA AGRIBANK GIA
Trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Gia Lai, chương trình hành động của Ngành ngân hàng Tỉnh và Agribank, cùng với những kết quả đạt được, thực trạng hoạt động kinh doanh qua các năm, Agribank Gia Lai xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020 như sau:
Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục giữ vững vị thế là ngân hàng thương mại đứng đầu về quy mô trên địa bàn Tỉnh, vị thế hàng đầu so với các Chi nhánh Agribank khu vực Tây Nguyên và Miền trung, khẳng định vai trò chủ lực trên tất cả các lĩnh vực hoạt động tại thị trường khu vực nông thôn; hoạt động theo mô hình chung của Agribank là ngân hàng thương mại do nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, có nền tảng công nghệ, mô hình quản trị hiện đại, tiên tiến và năng lực tài chính cao; Tiếp tục tổ chức hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả, bền vững với tốc độ tăng trưởng khá và phù hợp với tình hình thực tế giai đoạn 2016-2020, đảm bảo phát triển toàn diện hơn so với giai đoạn 2011-2015
Nhiệm vụ chiến lược: Tiếp tục ưu tiên mọi nguồn lực về vốn, nhân lực, sắp xếp lại mạng lưới theo hướng phát triển mạnh thị phần khu vực nông thôn, giữ vững ổn định thị phần khu vực đô thị; Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, đổi mới toàn diện công tác quản trị điều hành nhằm phát huy nội lực để thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng cao; Tiếp tục phát triển quy mô kinh doanh hợp lý, đặc biệt nâng cao hiệu quả kinh doanh, xác định mục tiêu tài chính là hàng đầu và là trung tâm để làm nền tản xây dựng các chỉ tiêu kinh doanh khác; Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về khả năng cạnh tranh, phát triển khách hàng, đặc biệt là khách hàng lớn nhằm nâng cao vị thế và hiệu quả kinh doanh, góp phần giảm tải cho cán bộ viên chức; Khắc phục cho được những tồn tại, yếu kém giai đoạn 2011-2015, hạn chế tối đa tác động tiêu cực của những điểm yếu, những thách thức, khó khăn mà trong giai đoạn mới 2016-2020 không thể tránh khỏi
Mục tiêu tăng trưởng các chỉ tiêu kinh doanh chính:
Bảng 3.1: Chỉ tiêu nhiệm vụ kinh doanh của Agribank Gia Lai (2016-2020) ĐVT: Tỷ đồng; %
Tỷ trọng tiền gửi dân cư
Tỷ trọng dư nợ trung, dài hạn
3 Tỷ trọng dư nợ nông nghiệp nông thôn
6 Chênh lệch thu chi tài chính
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Đề án kế hoạch kinh doanh giai đoạn 2016-2020 của
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG CÂY CÀ PHÊ TẠI AGRIBANK
3.3.1-Nhóm giải pháp về chính sách
Thứ nhất: Tiếp tục mở rộng cho vay các sản phẩm thuộc thế mạnh của Agribank Gia Lai và chú trọng hơn nữa trong việc đẩy mạnh cho vay phát triển đối với hộ sản xuất cà phê Agribank Gia Lai là ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn
Tỉnh với nhiệm vụ thực hiện được Đảng, Nhà nước giao là đầu tư trọng yếu cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, chính sách “Tam nông”, “Nông thôn mới”; đồng thời với tiềm năng phát triển cây công nghiệp là lợi thế của tỉnh Gia Lai, Agribank Gia Lai đã thực hiện tốt nhiệm vụ vừa kinh doanh, vừa mang tính chính trị của mình trong việc thúc đẩy kinh tế của địa phương phát triển Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh của địa phương, đòi hỏi Agribank Gia Lai luôn phải có sự đổi mới toàn diện để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn của xã hội, cần tiếp tục phát huy những sản phẩm thuộc thế mạnh của mình (như: cho vay hạn mức tín dụng hộ gia đình sản xuất kinh doanh có quy mô sản xuất nhỏ, cho vay lưu vụ đối với hộ nông dân, cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay theo quyết định 68/2013/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp,…); Đồng thời đẩy mạnh cho vay tái canh cà phê theo Quyết định số 4521/QĐ-BNN-TT ngày 21/10/2014 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “Phê duyệt đề án tái canh cà phê các tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2015-2020”; Văn bản số 3227/NHNN-TD ngày 11/05/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về “Hướng dẫn cho vay tái canh cây cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên”, trong đó chỉ định ngân hàng cho vay chính là Agribank
Thứ hai: Nâng cao sự phối hợp giữa ngân hàng với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội của địa phương Agribank Gia Lai cần tiếp tục củng cố mối liên kết, phối hợp chặt chẽ đối với các Sở ban ngành, tổ chức chính trị-xã hội địa phương nhằm đẩy mạnh cho vay hộ sản xuất cà phê thông qua tổ liên kết với hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên tại địa phương theo Quyết định số 889/QĐ-NHNo-HSX ngày 29/08/2014 của Tổng giám đốc Agribank về “Hướng dẫn sản phẩm cho vay theo hạn mức tín dụng đối với hộ sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ trong hệ thống Agribank”, Quyết định số 515/QĐ-HĐTV-HSX ngày 31/07/2015 của Chủ tịch hội đồng thành viên Agribank về “Quy chế cấp tín dụng phục vụ chính sách nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ; Chú trọng đẩy mạnh hơn nữa trong việc ký các văn bản thỏa thuận liên ngành với các cơ quan cấp Tỉnh, triển khai đến từng thôn, làng về việc thành lập tổ vay vốn, ký hợp đồng dịch vụ bài bản để gắn trách nhiệm và quyền lợi của tổ trưởng với Ngân hàng, khai thác triệt để hộ sản xuất cà phê có nhu cầu vốn trên địa bàn vào Tổ để công tác thẩm định cho vay được khách quan, kịp thời, đúng đối tượng mục đích xin vay, giảm thiểu rủi ro tín dụng Qua đó, tại những vùng sâu vùng xa, cán bộ tín dụng phụ trách khu vực thôn-làng là một cầu nối hết sức quan trọng, thường xuyên bám sát địa bàn sẽ giới thiệu thêm nhiều sản phẩm dịch vụ của Agribank để hộ sản xuất cà phê biết đến những tiện ích của nó và sử dụng
Thứ ba: Vận dụng chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp đảm bảo tính cạnh tranh Hiện nay với sự xuất hiện của nhiều Chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn ngày một đông, yếu tố cạnh tranh về lãi suất luôn được khách hàng quan tâm khi các Chi nhánh mới mở thường đưa ra lãi suất cho vay thấp nhằm thu hút khách hàng Do đó, Agribank cần khai khác thế mạnh vốn có của mình, bằng cách đẩy mạnh ký kết các chương trình hợp tác cho vay lớn theo chính sách hỗ trợ từ nguồn vốn tái cấp vốn của Ngân hàng nhà nước, chương trình cho vay tái canh cây cà phê với lãi suất thấp, mà cụ thể là văn bản số 3227/NHNN-TD ngày 11/05/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về “Hướng dẫn cho vay tái canh cây cà phê tại các tỉnh khu vực Tây Nguyên”, trong đó chỉ định ngân hàng cho vay chính là Agribank
3.3.2-Nhóm giải pháp về nghiệp vụ
Thứ nhất: Áp dụng quy trình cho vay hộ sản xuất cà phê linh hoạt, phù hợp nhằm hạn chế rủi ro Theo quy định tại quyết định 66/QĐ-HĐTV-KHDN ngày
22/01/2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank và Quyết định số 836/QĐ-NHNo-HSX ngày 07/08/2014 của Tổng Giám đốc Agribank thì: Người thẩm định soạn thảo hồ sơ, đề xuất giải ngân, kiểm tra giám sát khoản vay đến khi thu hồi nợ, đồng thời cũng là người quản lý khoản vay nên việc kiêm nhiệm quá nhiều công việc sẽ dễ xảy ra sai xót, tiêu cực hoặc không sát khoản vay Do đó, Agribank Gia Lai cần linh hoạt hơn trong việc áp dụng thêm nhiều biện pháp khác để hạn chế tối đa một cán bộ kiêm quá nhiều việc để đảm bảo tính khách quan hơn (như: Thường xuyên đổi địa bàn quản lý tín dụng để phát hiện sai xót hoặc tiêu cực có thể xảy ra, việc thẩm định tài sản, phương án sản xuất, xét duyệt mức cho vay phải đảm bảo đủ thành phần khi đi kiểm tra thực tế trước khi trả lời chính thức cho khách hàng mức phê duyệt của ngân hàng nơi cho vay hoặc từ chối thì thông báo cho khách hàng một cách nhanh gọn, đặt hòm thư góp ý tại UBND cấp xã, phường có Tổ vay vốn đang hoạt động, công khai đường dây nóng đến tận xã, phường ); Ngoài ra cũng cần phải có những chế độ đối với những cán bộ tín dụng vùng sâu vùng xa một cách phù hợp (như: nâng mức phụ cấp công tác phí, hỗ trợ tiền điện thoại, trang bị những vật dụng cần thiết khi cán bộ đi cơ sở, )
Thứ hai: Nâng cao chất lượng phục vụ, đổi mới tác phong giao dịch, giải quyết hồ sơ nhanh chóng Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Cẩm nang văn hóa Agribank”, mối cán bộ viên chức Agribank phải biết tự đổi mới và hoàn thiện bản thân trong mọi nghiệp vụ; Đặc biệt, cán bộ tín dụng là người có điều kiện xâm nhập thị trường, tiếp cận khách hàng, phát triển các dịch vụ, do vậy yêu cầu đối với cán bộ này trong giai đoạn mới hiện nay phải đa năng, vừa giỏi nghiệp vụ tín dụng vừa phải am hiểu các sản phẩm dịch vụ để làm tốt công tác dịch vụ marketing, quảng bá sản phẩm đến khách hàng Ngoài ra cán bộ tín dụng cũng là người tư vấn, người cán bộ khuyến nông giúp đỡ hộ sản xuất cà phê đạt hiệu quả kinh tế cao, khi thực hiện cấp tín dụng phải hoàn thiện thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, dễ hiểu, phù hợp nhất cho khách hàng, nhất là hộ sản xuất cà phê ở vùng sâu vùng xa, nhận thức còn thấp Thực hiện phân cấp quản lý tín dụng hộ sản xuất cà phê theo trình độ, năng lực, kinh nghiệm công tác của mỗi cán bộ tín dụng, có đóng góp nhiều cho Agribank; tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức những hội thi nghiệp vụ chuyên môn giỏi để mỗi cán bộ tín dụng tự học tập, cập nhật những kiến thức chuyên môn và xã hội, gắn lý luận với thực tiễn, chia sẽ kinh nghiệm, bổ sung kiến thức cho nhau, nhằm vận dụng linh hoạt, sáng tạo và có hiệu quả trong công việc, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu chất lượng phục vụ ngày cao của nhân viên ngân hàng với khách hàng, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ cho vay khách hàng nhanh nhất có thể, chứ không như quy định hiện nay của Agribank
Thứ ba: Tăng cường công tác kiểm soát rủi ro đối với cho vay phát triển hộ sản xuất cà phê Tiếp tục nâng cao công tác chỉ đạo về chất lượng quản trị rủi ro, tiến tới hình thành bộ phận chuyên trách quản trị rủi ro theo mô hình ngân hàng hiện đại, trước mắt tổ chức thực hiện tốt mọi hoạt động kiểm tra kiểm soát (như: kiểm tra kiểm soát chuyên trách, kiển tra kiểm soát chuyên đề, công tác hậu kiểm, giám sát từ xa trên hệ thống IPCAS, kiểm tra kiểm soát an toàn vốn vay, an toàn công nghệ thông tin, an toàn kho quỹ, tài sản…); Kiện toàn bộ máy, tăng cường lực lượng, đổi mới về chất, đề cao trách nhiệm đối với đội ngũ làm công tác kiểm tra kiểm soát trên tất cả các mặt công tác có liên quan đến quản trị rủi ro như vừa trình bày; Đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác kiểm tra kiểm soát theo hướng coi trọng ngăn ngừa vi phạm hơn là phát hiện vi phạm, kiểm tra toàn diện, đầy đủ các lĩnh vực hoạt động, các đơn vị trực thuộc, không để một lĩnh vực, một đơn vị nào quá lâu mới được kiểm tra; ngoài ra cũng chú trọng kiểm tra sâu những lĩnh vực hoạt động quan trọng, những đơn vị, những lĩnh vực thường xảy ra vi phạm để nâng cao tính hiệu quả trong điều kiện biên chế có hạn, đồng thời coi trọng khâu chấn chỉnh, sửa sai và kiên quyết trong việc xử lý sai phạm, chấp hành kiến nghị sửa sai để đảm bảo tính hiệu lực của công tác kiểm tra kiểm soát; Tổng hợp và báo cáo kịp thời kết quả sửa sai sau khi được các Đoàn kiểm tra, kiểm toán, thanh tra của cấp trên, Ngân hàng nhà nước, kiểm toán nhà nước…đã thông qua; đồng thời gửi báo cáo định kỳ về Văn phòng đại diện khu vực Miền trung, Ban kiểm tra kiểm soát nội bộ Agribank, Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh Gia Lai, Ban giám đốc…giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành của cấp trên được thông suốt; Tăng cường tham mưu, đề xuất ý kiến đóng góp cho Ban giám đốc về các văn bản pháp chế, giải quyết đơn thư khiếu nại gửi về, công tác phòng chống tham nhũng, tham ô, lãng phí và thực hành tiết kiệm tại Chi nhánh
3.3.3-Nhóm giải pháp về Cơ cấu tổ chức mạng lưới và nhân sự
Thứ nhất: Sắp xếp, bố trí lại mạng lưới, cán bộ cho phù hợp Giữ nguyên mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch; mở thêm một chi nhánh huyện theo lộ trình của UBND Tỉnh Gia Lai tách huyện Chư Prông thêm một huyện mới; Thành lập thêm một phòng giao dịch tại những huyện, thị xã hiện chưa có phòng giao dịch mà có quy mô lớn về diện tích cà phê cũng như kết quả kinh doanh tốt của chi nhánh đó (như: 05 phòng giao dịch tại các Chi nhánh Huyện Chư Sê, Đak Đoa, Chư Pưh, Kbang, Mang Yang) và ít nhất 02 phòng giao dịch trên địa bàn thành phố Pleiku;
Mở thêm mạng lưới hoạt động theo mô hình Ngân hàng lưu động tại những chi nhánh trực thuộc có địa bàn hoạt động rộng, mật độ dân cư canh tác nông nghiệp thưa thớt có nhu cầu vay vốn tại những vùng sâu vùng xa, nhằm mở rộng thêm phương thức tiếp cận khách hàng, giải quyết nhanh chóng nhu cầu vốn của khách hàng, nhất là hộ sản xuất cà phê tại địa phương
Thứ hai: Không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ Tiếp tục tăng cường lực lượng lao động cho các chi nhánh trực thuộc có quy mô tăng trưởng cao và kinh doanh có hiệu quả; Đổi mới mạnh mẽ khâu tuyển dụng, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng lao động đầu vào, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới; Đổi mới công tác đào tạo theo hướng chú trọng về chất hơn về lượng, chú trọng khâu chuẩn bị bài giảng, kiểm tra, thu hoạch kiến thức hơn là khâu trình bày nội dung bài giảng, học tập phải đi đôi với thực hành và đạt mục tiêu hướng tới mỗi cán bộ viên chức Agribank Gia Lai phải sâu về nghiệp vụ chuyên môn chính của mình, hiểu rộng các nghiệp vụ khác và sản phẩm dịch vụ để tư vấn cho khách hàng, am hiểu về kiến thức bổ trợ (về kinh tế, pháp luật) để phục vụ tốt công tác chuyên môn được giao; Tăng cường công tác giáo dục, trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, nhằm đạt yêu cầu “vừa hồng vừa chuyên”; Rà soát, sắp xếp lao động hợp lý, bảo đảm đúng tiêu chuẩn quy định theo từng vị trí công tác cụ thể và phát huy tốt nhất năng lực sở trường của mỗi người, đồng thời thực hiện chuyển đổi vị trí công tác ở mức độ nhất định, nhằm đào tạo đa năng và hạn chế tiêu cực có thể phát sinh, đổi mới chất lượng công tác đánh giá, phân loại cán bộ để điều chỉnh, sắp xếp lại cho kịp thời và phù hợp; Làm tốt công tác quy hoạch đúng đối tượng, tiêu chuẩn theo hướng trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển đối với cán bộ quy hoạch để đạt yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực cán bộ quản lý; Thực hiện tốt chính sách với người lao động, có cơ chế khen thưởng thỏa đáng, kịp thời, nhằm tạo động lực thúc đẩy tinh thần đối với người lao động, đồng thời quy định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, nhằm đề cao trách nhiệm của người lao động đối với công việc, nhiệm vụ được giao
Thứ nhất: Xây dựng và tăng cường khai các chính sách marketing, chính sách hỗ trợ nhằm thu hút khách hàng Chú trọng hơn nữa công tác đào tạo nghiệp vụ marketing cho cán bộ nghiệp vụ bằng cách thường xuyên cử nhân viên tham gia các lớp tập huấn hàng năm của Trung ương và địa phương tổ chức hoặc mời các chuyên gia giảng dạy chương trình marketing chuyên nghiệp, nhằm xác định mỗi nhân viên Agribank Gia Lai là một tuyên truyền viên tích cực quảng bá sản phẩm dịch vụ của Agribank đến tận khách hàng, nhất là vùng sâu vùng xa, thu hút khách hàng, nâng cao thương hiệu Agribank đến mọi vùng xã xôi, hẻo lánh nhất của địa phương; Cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu cũng như những khó khăn, vướng mắc của khách hàng hoặc định kỳ gửi thư xin ý kiến đóng góp, nhận xét, thăm dò nhu cầu khách hàng tới các hộ sản xuất về những sản phẩm mà Chi nhánh chưa đáp ứng được thông qua nhiều kênh khác nhau (kênh nhân viên giao dịch tại quầy, hòm thư góp ý, hòm thư điện tử, bảng câu hỏi trực tiếp,…) để kịp thời chấn chỉnh những thiếu xót, cũng như có kế hoạch đưa ra sản phẩm mới cho phù hợp với thực tế; Nên triển khai các hình thức tiếp thị qua điện thoại để thông báo hoặc trực tiếp tư vấn, tìm hiểu nhu cầu, giới thiệu những ưu thế về sản phẩm của Chi nhánh hoặc thư ngỏ kèm tờ rơi,…; Tiếp tục nghiên cứu, đẩy mạnh các chương trình khuyến mãi hiện có ngày càng đa dạng, phong phú nhằm thu hút khách hàng mới, đồng thời cũng phải thường xuyên xây dựng chương trình chăm sóc khách hàng lớn, khách hàng truyền thống đã có quan hệ vay vốn và sử dụng nhiều dịch vụ của Agribank
Thứ hai: Gia tăng nguồn vốn huy động tại địa phương Tiếp tục phát huy các chương trình khuyến mãi huy động vốn đang triển khai (như: thẻ cào, rút thăm trúng thưởng ngay khi khách hàng gửi tiền), nghiên cứu triển khai thêm các chương trình khuyến mãi mới (như: quay số trúng thưởng, rút thăm trúng thưởng khi kết thúc đợt và giải thưởng bằng hiện vật…), tăng cường khuyến mãi bằng hiện vật đối với khách hàng chuyển tiền và gửi tiền theo sản phẩm tiết kiệm, tiền gửi tài khoản loại không kỳ hạn để thu hút nguồn vốn lãi suất thấp; Đổi mới phương pháp điều hành lãi suất huy động theo hướng có mức lãi suất khác nhau theo phân khúc thị trường (đô thị khác với nông thôn), theo đối tượng khách hàng (lớn khác với vừa và nhỏ), nâng lãi suất kỳ hạn ngắn lên gần hơn với lãi suất kỳ hạn dài (nếu Trụ sở chính cho phép) nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh; Tăng cường liên kết, hợp tác với các đơn vị kinh tế, tổ chức chính trị-xã hội địa phương, đặc biệt là quan tâm nhóm khách hàng có số dư hoạt động lớn, lãi suất thấp, phạm vi ảnh hưởng rộng (như Kho bạc, Ngân hàng chính sách xã hội, Bảo hiểm, Điện lực, Bưu điện, Xổ số kiến thiết, công ty xăng dầu, siêu thị…) để thu hút nguồn tiền gửi không kỳ hạn và phát triển các dịch vụ (như thu hộ ngân sách, phát hành thẻ liên kết, chi trả lương qua tài khoản, thu hộ tiền điện, tiền nước, đền bù giải tỏa…); Rà soát đánh giá lại khâu tổ chức huy động vốn để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời (như: việc sắp xếp nhân sự làm công tác huy động vốn, sắp đặt nơi giao dịch, bố trí các vật dụng phục vụ khách hàng đến giao dịch, cử cán bộ phụ trách khâu tiếp đón khách hàng, niêm yết công khai biểu lãi suất huy động, sản phẩm, chương trình huy động mới…); Tiếp tục thực hiện khoán huy động vốn mang tính bắt buộc đến tất cả các đơn vị trực thuộc, kiên quyết thực hiện khoán đến người lao động gắn với chi trả tiền lương, áp dụng thêm khoán bút toán giao dịch để mỗi giao dịch viên tự đổi mới tác phong, thái độ giao dịch nhằm tăng lượng khách hàng chuyển tiền, dịch vụ khác và thu hút nguồn vốn rẻ; đồng thời tiếp tục thực hiện khen thưởng huy động vốn hàng quý, chú trọng hơn về khen thưởng thỏa đáng đối với những cá nhân có thành tích trong việc huy động số lớn, lãi suất thấp; Phát triển thêm phương thức huy động vốn lưu động để tiếp cận với các nguồn vốn nhỏ lẻ, xa trụ sở ngân hàng; Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, đối thủ cạnh tranh (như: khảo sát thực tế, phân tích kỹ tiềm năng huy động vốn đến từng khu vực, địa bàn, từng nhóm khách hàng, khai thác nguồn thu theo mùa vụ thu hoạch sản phẩm), nguồn thu lớn (như đền bù giải tỏa), bám sát khách hàng diện giàu có hoặc có nguồn thu đột biến (như bán đất, trúng xổ số ), theo dõi tình hình lãi suất huy động, các chương trình khuyến mãi huy động của các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn để ứng xử nhanh và kịp thời.
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
3.4.1-Đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Ngân hàng nhà nước đóng vai trò lãnh đạo trong các hoạt động ngân hàng, để phát triển tín dụng cây cà phê khu vực Tây nguyên nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng cho phù hợp, đúng định hướng và hiệu quả thì Ngân hàng nhà nước cần thực hiện một số giải pháp sau đây:
-Ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp lý ảnh hưởng đến hoạt động phát triển tín dụng cây cà phê khu vực Tây nguyên theo đề án đã được Chính phủ, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt đến năm 2020, sao cho phù hợp với tình hình thực tế tại khu vực Tây Nguyên để hộ sản xuất cà phê tiếp cận nhanh chóng nhu cầu tư vấn, đầu tư từ phía các Chi nhánh Agribank tại khu vực Tây Nguyên, thủ tục cấp bù lãi suất ưu đãi cho các Chi nhánh trong việc cho vay tái canh cà phê được thông thoáng, kịp thời hơn
-Tiếp tục chỉ đạo các Chi nhánh ngân hàng nhà nước Tỉnh, thành phố nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức các buổi hội thảo theo chuyên đề, chú trọng tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các chính sách tín dụng của Đảng, Nhà nước
-Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại và có chế tài xử phạt nghiêm minh các ngân hàng vi phạm quy định trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, nhất là chính sách tín dụng nông nghiệp nông thôn, mà cụ thể là tín dụng phát triển tín dụng cây cà phê khu vực Tây Nguyên Ngoài ra, cần đẩy mạnh thanh tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ hơn nữa đối với hoạt động cho vay trả góp của các Công ty tài chính, tổ chức tín dụng nhỏ ngoài quốc doanh đang hoạt động có dấu hiệu “lách luật“, cho vay tiêu dùng trả góp lãi suất quá cao và ngoài địa bàn, gây khó khăn cho NHNN Chi nhánh các Tỉnh trong kiểm soát tín dụng của những tổ chức tài chính, TCTD này NHNH Việt Nam cần có sự điều chỉnh quy định đối với hệ thống CIC cho phù hợp với thực tiễn, không thể để tình trạng các bảng hiệu tại tất cả các cửa hàng, siêu thị lớn nhỏ đều ghi “Bán hàng trả góp lãi suất 0%“, dán các “tờ rơi“ cho vay tín chấp ở khắp phố phường nhưng lại được thừa nhận là chuẩn trong hệ thống CIC theo quốc tế, mà thực tế thì hoàn toàn khác xa khi nhận thức của người dân còn thiếu hiểu biết, nhất là xu hướng “dễ vay khó trả“ này đang chuyển hướng về khu vực nông thôn, dễ gây nhiều hệ lụy cho hệ thống ngân hàng
-Ngân hàng nhà nước Việt Nam cần phối hợp với Bộ tư pháp, tiếp tục chỉ đạo các Chi nhánh ngân hàng nhà nước Tỉnh, thành phố phối hợp với Cục thi hành án các Tỉnh, thành phố để đẩy mạnh công tác kê biên, xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi vốn cho hệ thống ngân hàng, nhằm rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc, giảm chi phí khi xử lý tài sản bảo đảm hoặc chống tiêu cực có thể xảy ra
3.4.2- Đối với Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
-Đề nghị Agribank chấp thuận và kiến nghị với Ngân hàng nhà nước Việt Nam ủng hộ cho Agribank Gia Lai phát triển thêm mạng lưới Chi nhánh, phòng giao dịch đến năm 2020 đã được nêu (tại mục 3.3.3, giải pháp thứ nhất), nhằm phù hợp với tình hình thực tế phát triển kinh tế-xã hội của địa phương đến năm 2020
-Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, sớm ban hành các quy định mở rộng mạng lưới hoạt động theo mô hình Ngân hàng lưu động tại các Chi nhánh có địa bàn hoạt động rộng, dân cư thưa thớt, đáp ứng yêu cầu phục vụ phát triển kinh tế xã hội những vùng sâu vùng xa trên toàn quốc, nhất là đáp ứng nhu cầu phát triển tín dụng cây cà phê trên địa bàn khu vực Tây nguyên nói chung, Agrbank Gia Lai nói riêng
Ngoài ra, cần sớm dự báo, xây dựng chính sách lãi suất cho vay linh hoạt, phù hợp theo gói hỗ trợ sớm ngay từ đầu hàng năm để Chi nhánh định hướng, triển khai sớm hơn và đạt hiệu quả cao hơn khi độ trễ của chính sách phát huy tác dụng
-Tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ viên chức theo hướng “Đào tạo tại chỗ“, thường xuyên và có sự kết hợp mời chuyên gia, trường đào tạo Agribank về giảng dạy tại từng địa phương hoặc từng khu vực, nhằm giảm chi phí đi lại, gây tốn kém cho Agribank
-Tiếp tục cải thiện hệ thống công nghệ thông tin theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, tiến đến 100% là khai thác thông tin trên hệ thống công nghệ để cập nhật đầy đủ các báo cáo định kỳ, báo cáo nhanh tình hình hoạt động kinh doanh đến từng Chi nhánh và cả hệ thống Agribank Ngoài ra, xây dựng hệ thống hộp thư điện tử hỏi đáp thông tin nghiệp vụ trên toàn hệ thống Agribank để mỗi cán bộ viên chức Agribank có thể cập nhật, trau dồi kiến thức, bổ sung nghiệp vụ, kinh nghiệm để bổ trợ cho nhau, cùng phát triển
-Cần có cơ chế rút ngắn luân chuyển cán bộ quản lý địa bàn, cán bộ lãnh đạo cho phù hợp, thời gian luân chuyển quy định như hiện nay là khá dài, làm chậm sự thay đổi trong tư duy của một bộ phận cán bộ viên chức, khả năng kiểm soát sai xót thiếu chặt chẽ hoặc tiêu cực dễ có thể phát sinh
3.4.3-Đối với chính quyền địa phương Đề nghị UBND Tỉnh Gia Lai tạo điều kiện cho Agribank Gia Lai tiếp cận huy động các nguồn vốn của địa phương như: nguồn vốn các dự án, ngân sách chưa sử dụng, để có thêm nguồn vốn nhằm đầu tư cho vay phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Đề nghị UBND Tỉnh Gia Lai chỉ đạo các Sở ban ngành địa phương nâng cao năng lực công tác quy hoạch vùng kinh tế, vùng chuyên canh và định hướng phát triển cây con, ngành nghề mang tính chiến lược trong dài hạn để giúp các hộ sản xuất giảm thiểu rủi ro do phát triển tự phát và thiếu thông tin; Khuyến khích nông dân tham gia mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị trong các khâu của quá trình sản xuất-thu mua-chế biến-tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp, hợp tác xã và mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Đầu tư ngành công nghiệp chế biến nông sản tại chỗ, phát huy thế mạnh về nguồn sản lượng lớn tại địa phương để tránh tình trạng người dân, đặc biệt là hộ sản xuất cà phê bán sản phẩm thô, giá trị kinh tế không cao Đề nghị UBND Tỉnh Gia Lai sớm chỉnh sửa và nâng khung giá đất trên địa bàn Tỉnh để theo kịp giá trị thị trường nhằm giúp cho Agribank Gia Lai nói riêng và các tổ chức tín dụng trên địa bàn Tỉnh nói chung được định giá gần với giá thị trường, để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của người dân, đặc biệt là hộ sản xuất cà phê tại địa phương Đề nghị UBND Tỉnh Gia Lai tiếp tục chỉ đạo sở tư pháp chủ trì, phối hợp các
Sở ban ngành sớm cập nhật, ban hành tài liệu hỗ trợ pháp lý cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình , để nắm bắt được những quy định của pháp luật, giúp nâng cao nhận thức và áp dụng theo những quy định của pháp luật, nhất là hộ sản xuất cà phê vùng sâu, vùng xa trên địa bàn Đề nghị UBND Tỉnh Gia Lai tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với Ngành ngân hàng Tỉnh triển khai đồng bộ, có hiệu quả: Quyết định số 4521/QĐ-BNN-TT ngày 21/10/2014 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “Phê duyệt đề án tái canh cà phê các tỉnh vùng Tây Nguyên giai đoạn 2014-2020”; Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN về hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm có hiệu lực từ ngày 22/07/2014, nhằm tạo điều kiện xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được thông thoáng và hiệu quả hơn Đề nghị Chủ tịch các UBND các Huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh chỉ đạo các UBND các Xã, phường, thị trấn tăng cường trách nhiệm trong việc xác nhận đất chưa được cấp quyền sử dụng đất và không có tranh chấp; theo dõi quản lý chặt chẽ để đảm bảo chỉ xác nhận cho hộ gia đình, cá nhân không có bảo đảm bằng tài sản tại một tổ chức tín dụng khi sử dụng loại giấy tờ này, đồng thời phối hợp thông báo kịp thời cho Agribank đóng chân tại địa bàn biết khi hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức, để có biện pháp quản lý thống nhất, tránh tình trạng cho vay trùng lắp giữa các ngân hàng Ngoài ra, tạo mọi điều kiện để người dân, đặc biệt là hộ sản xuất cà phê được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh sửa thông tin thay đổi liên quan trên giấy chứng nhận đã cấp; đồng thời xác nhận tài sản gắn liền với đất là cây công nghiệp lâu năm (Cà phê, hồ tiêu, cao su ) một cách nhanh chóng, thuận tiện nhất, để người dân có thể thực hiện việc đăng ký giao dịch khi vay vốn ngân hàng một cách nhanh nhất có thể
Chương 3 luận văn, tác giả đã đề cập đến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Gia Lai; mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của Ngành ngân hàng Gia Lai; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của Agribank Gia Lai giai đoạn 2016-2020
Với thực trạng, những nguyên nhân hạn chế, tồn tại tác động đến phát triển tín dụng cà phê tại Agribank Gia Lai trong những năm 2011-2015 trong Chương 2 Tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị đối với việc phát triển tín dụng cây cà phê tại Agribank Gia Lai trong những năm tiếp theo Ngoài ra tác giả còn đề xuất, kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Agribank và Chính quyền địa phương Từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của Agribank Gia Lai lên tầm cao mới, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương đạt được những kết quả khả quan theo những mục tiêu, định hướng đã đề ra trong những năm đến