Nội dung đề tài gồm 3 phần chính: - Cơ sở lý luận về thẩm định tín dụng: Trình bày tổng quan về ngân hàng thương mại, cơ sở lý luận về thẩm định tín dụng, các lý thuyết về chất lượng thẩ
GIỚI THIỆU
Tính cấp thiết của đề tài
Tín dụng luôn là hoạt động cốt lõi của ngân hàng Tăng trưởng tín dụng là vấn đề sống còn đối với sự tồn tại của ngân hàng Đối với cán bộ khách hàng (hay còn gọi là cán bộ tín dụng) có hai nhiệm vụ chính vô cùng quan trọng là quan hệ khách hàng và thẩm định tín dụng Hai nhiệm vụ này song hành với nhau để đảm bảo tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng Nếu như khi thực hiện nhiệm vụ quan hệ khách hàng, cán bộ khách hàng hết sức nhiệt tình tìm kiếm, chăm sóc thu hút khách hàng với mục tiêu càng nhiều dư nợ càng tốt thì công tác thẩm định như một chiếc máy lọc để loại bỏ rủi ro, giữ lại những khách hàng, những khoản vay tốt, đảm bảo cho sự phát triển bền vững Khi thực hiện công việc thẩm định thì cán bộ tín dụng còn được gọi là cán bộ thẩm định Trong phạm vi bài viết này, ba khái niệm cán bộ khách hàng (CBKH), cán bộ tín dụng (CBTD) và cán bộ thẩm định (CBTĐ) sẽ được sử dụng với ý nghĩa tương đương nhau
Thẩm định tín dụng là việc thu thập, tìm kiếm các dữ liệu thông tin, hình ảnh, thực tế, để đánh giá, phân tích mức độ rủi ro của việc cho vay và khả năng thu hồi cũng như lợi nhuận đạt được Thẩm định hay phân tích tín dụng là cơ sở quan trọng nhất để ra quyết định cho vay hoặc không cho vay, cũng như đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng Mặt khác, phân tích tín dụng còn giúp cho ngân hàng định giá tiền vay và có các giải pháp kiểm soát rủi ro cho từng khách hàng cụ thể Phân tích tín dụng cũng rất cần thiết cho các khoản vay đã cấp để ngân hàng biết được những thay đổi về rủi ro và đề ra được các giải pháp đúng cho việc thu hồi nợ, cũng như xử lý nợ có vấn đề Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Tuy nhiên, các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản là: Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp; Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh; Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp Tuy Basel đã khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (XHTDNB) trong quản lý rủi ro tín dụng nhưng đối với mảng thẩm định tín dụng vẫn chưa có những hướng dẫn cụ thể và chi tiết Để thực hiện quản lý rủi ro tín dụng, Ngân hàng nhà nước có quy định về các nội dung theo quy trình tín dụng, cụ thể: thẩm định tín dụng, phê duyệt cấp tín dụng, quản lý tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, theo dõi, kiểm soát rủi ro tín dụng Đi kèm theo đó là các quy định về quản lý tài sản đảm bảo, quản lý các khoản cấp tín dụng có vấn đề, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, báo cáo nội bộ về rủi ro tín dụng, hệ thống thông tin quản lý Nhưng đối với các quy trình thẩm định tín dụng vẫn thuộc quyền tự quyết của các ngân hàng
Trong nghiên cứu khoa học Ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng là một vấn đề rất được quan tâm Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu thường chú trọng về mảng quản lý rủi ro và chỉ đề cập đến thẩm định như một phần trong đó, hầu như chưa có nghiên cứu nào đi sâu chuyên biệt về lĩnh vực này Đối với hoạt động thực tiễn của ngân hàng, mỗi đơn vị đề có những quy định riêng về thẩm định Giữa các ngân hàng với nhau có những điểm giống và khác nhau, nhưng chỉ áp dụng nội bộ không phổ biến ra bên ngoài Hầu như chưa có đề tài nào tổng hợp và so sánh các quy định này để rút ra bài học kinh nghiệm và áp dụng vào việc thẩm định
Mặt khác, tại các ngân hàng Việt Nam nói chung, tại Ngân hàng Thương mại
Cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam nói riêng, đối tượng khách hàng doanh nghiệp luôn được tập trung theo dõi, cải tiến quy trình và có bộ xếp hạng tín dụng tương đối hoàn chỉnh Còn khách hàng cá nhân chưa được coi trọng đúng mức nên các quy định còn mang tính chung chung, tùy từng chi nhánh, từng cán bộ có cách làm riêng Đối tượng này lại rất phong phú cả về mục đích vay, nguồn trả nợ, và các vấn đề khác, không thể áp dụng tiêu chuẩn đánh giá như bên doanh nghiệp
Như vậy, đề tài này vẫn còn nhiều điều để nghiên cứu và rất cần những đề xuất để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
Với đặc thù đi lên từ một Ngân hàng bán buôn, tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chưa được đầu tư đúng mức
Từ khi xác định trọng tâm phát triển khối bán lẻ, Vietcombank không ngừng đưa ra các giải pháp cải thiện hiệu quả Hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bến Thành (Vietcombank Bến Thành) thời gian gân đây đã có những bước tiến vượt bậc Trước thực tiễn đó, công tác thẩm định tín dụng lại càng đòi hỏi những yêu cầu gắt gao Vì vậy, tôi chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam chi nhánh Bến Thành ” để làm luận văn với mong muốn có thể ứng dụng nghiên cứu của mình vào công việc.
Mục tiêu của đề tài
Đề tài nghiên cứu chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Vietcombank Bến Thành Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định góp phần hạn chế rủi ro trong việc cấp tín dụng đối với khách hàng cá nhân của Vietcombank, đảm bảo an toàn trong cuộc chạy đua tăng trưởng tín dụng, phát huy thế mạnh và khắc phục điểm yếu, từ đó đảm bảo chất lượng tăng trưởng tín dụng bền vững, giảm thiểu rủi ro nợ xấu.
Câu hỏi nghiên cứu
- Chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Vietcombank Bến Thành hiện nay như thế nào? Ưu điểm của việc thẩm định tín dụng khách hàng các nhân tại Vietcombank Bến Thành hiện nay là gì? Nhược điểm là gì? Nguyên nhân nào dẫn đến các nhược điểm đó?
- Các giải pháp nào để phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm, góp phần nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Vietcombank Bến Thành?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Vietcombank Bến Thành
+ Không gian: Nghiên cứu khảo sát tại Vietcombank Bến Thành
+ Thời gian: Bắt đầu từ năm 2011 là thời điểm triển khai các quy định mới nhất về thẩm định tín dụng, chú trọng giai đoạn từ tháng 06/2013 đến tháng 12/2014 vì đây là thời điểm thành lập Phòng Khách hàng cá nhân tại Vietcombank Bến Thành.
Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế của Vietcombank để phân tích và đánh giá thực trạng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp điều tra, đánh giá một số Ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng cũng như các biện pháp thẩm định định tính, định lượng khác
Bên cạnh đó, để đánh giá sơ bộ các biện pháp luận văn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế các cán bộ làm công tác thẩm định tại Vietcombank, một số ngân hàng bạn và các công ty thẩm định giá
Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng.
Đóng góp của đề tài
Thẩm định là một hoạt động cốt lõi có vai trò quan trọng quyết định chất lượng của tín dụng Tuy nhiên đối với mảng bán lẻ còn non trẻ, thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Vietcombank mới đang ở những bước đầu định hình và phát triển Trong khi đó, rất nhiều các ngân hàng khác đã có một bề dày kinh nghiệm trong hoạt động bán lẻ, với những quy trình thẩm định tương đối đầy đủ, đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản Môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi các ngân hàng không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hoàn thiện dịch vụ cả về mặt quy trình nghiệp vụ cũng như yếu tố con người
Xác định tầm quan trọng của kinh doanh bán lẻ, Vietcombank Bến Thành đã có những bước chuyển đổi để phù hợp với đối tượng khách hàng mới, thiết kế nhiều sản phẩm tín dụng đáp ứng nhu cầu đa dạng của đối tượng này Việc thành lập Phòng Khách hàng Cá nhân tách biệt với mảng khách hàng Doanh nghiệp là bước đầu chuyên biệt định hướng cho lĩnh vực này với những đặc thù riêng Tiếp nối kết quả đạt được khi còn là một bộ phận của Phòng Khách hàng, Phòng Khách hàng Cá nhân đã có những phát triển mạnh mẽ vượt bậc
Vấn đề đặt ra là với những phương thức, quy định hiện tại, công tác thẩm định đã đóng góp đến mức nào trong việc quản lý chất lượng tín dụng? Sau gần hai năm hoạt động, rất cần thiết đưa ra những đánh giá nhận định, tổng kết lại những điểm được và chưa được của mảng cho vay bán lẻ nói chung, của công tác thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng Đặt trong sự so sánh tương quan với các ngân hàng khác để làm nổi bật rõ các ưu và nhược điểm của quy trình thẩm định hiện tại, trong đó có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Từ đó, rút ra được những bài học kinh nghiệm để áp dụng tại Vietcombank Bến Thành cũng như toàn hệ thống Vietcombank
Qua nghiên cứu ta sẽ thấy rõ nâng cao chất lượng thẩm định là chìa khóa then chốt để đảm bảo tăng trưởng tín dụng bền vững, và giữ vai trò to lớn đối với kết quả hoạt động kinh doanh và sự phát triển của ngân hàng Luận văn sẽ đưa ra những biện pháp thiết thực để áp dụng trong thực tiễn, góp phần đạt được mục tiêu then chốt nói trên.
Cấu trúc của luận văn
Luận văn kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 2: Tổng quan về Ngân hàng thương mại và công tác thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân
Chương 3: Tình hình thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bến Thành
Chương 4: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Bến Thành
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN
Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại
2.1.1 Sơ lược về ngân hàng thương mại
Có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau theo quy định từng quốc gia, nhưng nhìn chung, ngân hàng thương mại được hiểu là ngân hàng giao dịch trực tiếp với các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức bằng việc huy động vốn qua hình thức nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, và dùng số tiền huy động được để cho vay, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế, là mạch máu lưu thông tiền tệ, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi và đưa đến các cá nhân và tổ chức kinh tế để phục vụ nhu cầu đời sống, kinh doanh và phát triển kinh tế xã hội
Tùy theo tiêu chí mà có nhiều cách phân loại ngân hàng thương mại khác nhau Xét theo tính chất và mục tiêu hoạt động thì có Ngân hàng thương mại (Commercial Bank), Ngân hàng Đầu tư (Investment Bank) và Ngân hàng Phát triển (Development Bank) Xét theo đối tượng khách hàng thì có Ngân hàng bán buôn (Wholesale Banking) và Ngân hàng bán lẻ (Retail Banking) Xét theo lĩnh vực hoạt động thì có Ngân hàng chuyên doanh (Limited Speciality Banking) và Ngân hàng đa năng (Synthesis Banking) Xét theo hình thức sở hữu thì có Ngân hàng thương mại Nhà nước (State Ownes Commercial Banks), Ngân hàng thương mại cổ phần (Joint Stock Commercial Banks), Ngân hàng thương mại liên doanh (Joint Venture Commercial Banks), Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài (Foreign Bank Branches) và Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
2.1.2 Lý luận chung về tín dụng
2.1.2.1 Khái niệm và phân loại
Tín dụng xuất phát từ thuật ngữ Credits Thuật ngữ này được hiểu là sự cho vay, cho mượn và cũng được hiểu là sự tín nhiệm, sự tin tưởng Do đó, tín dụng là sự cho vay, cho mượn dựa trên sự tín nhiệm và uy tín của các bên tham gia
Theo “Giáo trình thẩm định tín dụng” của Trường Đại học Ngân hàng
TP.HCM năm 2014 thì “Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả Nói cách khác tín dụng là sự chuyển giao tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị được biểu hiện bằng hình thái tiền tệ hoặc tài sản hiện vật từ người cho vay sang người vay với những điều kiện nhất định để sau một thời gian nhất định người cho vay thu được một lượng giá trị danh nghĩa lớn hơn ban đầu.”
Như vậy có thể hiểu tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể với ba nội dung Một là người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản Hai là người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay Ba là giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay)
Tín dụng được mô tả theo sơ đồ sau:
Chủ thể cho vay Chủ thể đi vay
2 Hoàn trả vốn và lãi
Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi
Tùy chủ thể và hình thức giao dịch mà ta phân loại tín dụng thành Tín dụng thương mại, Tín dụng ngân hàng, Tín dụng nhà nước, Tín dụng tiêu dùng, Tín dụng thuê mua, Tín dụng quốc tế
2.1.2.2 Vai trò và đặc điểm
Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là huy động vốn và cho vay vốn tiền tệ trên nguyên tắc hoàn trả có lãi Chức năng này gồm hai loại nghiệp vụ được tách hẳn ra là huy động vốn tạm thời nhàn rỗi và cho vay vốn đối với các nhu cầu cần thiết của nền kinh tế Vai trò thứ hai của tín dụng là kiểm soát các hoạt động kinh tế thông qua các quan hệ tín dụng đối với các tổ chức và cá nhân
Phân tích theo khái niệm, tín dụng sẽ có ba đặc điểm
Thứ nhất, tín dụng là có lòng tin Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện “mức tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay Yếu tố lòng tin tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh “Lòng tin” được biểu hiện từ nhiều phía Nếu người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay và ngược lại, nếu người đi vay cảm nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín dụng, về thời hạn vay,…thì quan hệ tín dụng đều không thể phát sinh Tuy nhiên, lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trong hơn nhiều vì người cho vay giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng
Thứ hai, tín dụng có tính thời hạn Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sở hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định Sau khi khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo như cam kết đã giao ước với người cho vay
Thứ ba, tín dụng có tính hoàn trả Đây là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Sau khi kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay kèm theo một phần lãi như đã thoả thuận
Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu được thực hiện với đầy đủ các đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn
2.1.3 Tổng quan về tín dụng Ngân hàng
Theo Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Theo “Giáo trình thẩm định tín dụng” của Trường Đại học Ngân hàng
TP.HCM năm 2014 thì “Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên.”
Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư Trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa tín dụng Ngân hàng với các loại hình tín dụng khác Vì ưu điểm đó mà tín dụng ngân hàng trở thành hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế với các hình thức hoạt động chuyên nghiệp, đa dạng và phong phú
Tổng quan về thẩm định tín dụng
2.2.1 Khái niệm về thẩm định tín dụng
Theo “Giáo trình thẩm định tín dụng” của Trường Đại học Ngân hàng
TP.HCM năm 2014 thì “Thẩm định tín dụng là việc thẩm tra, so sánh, đánh giá một cách khách quan, khoa học, toàn diện các nội dung có liên quan dể đánh giá tính hợp lý, tính khả thi và mức độ hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư,… để làm cơ sở ra quyết định tín dụng Thẩm định tín dụng là quá trình sử dụng các phương pháp phân tích nhằm thẩm định, kiểm tra, đánh giá tính khả thi, mức độ tin cậy và hiệu quả, mức độ rủi ro của phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư của khách hàng, làm căn cứ chủ yếu cho việc ra quyết định tín dụng.”
2.2.2 Ý nghĩa của thẩm định tín dụng
Về phía ngân hàng, thẩm định hay phân tích tín dụng là cơ sở quan trọng nhất để ra quyết định cho vay hoặc không cho vay, cũng như đo lường và kiểm soát rủi ro tín dụng Mặt khác, phân tích tín dụng còn giúp cho ngân hàng định giá tiền vay và có các giải pháp kiểm soát rủi ro cho từng khách hàng cụ thể Phân tích tín dụng cũng rất cần thiết cho các khoản vay đã cấp để ngân hàng biết được những thay đổi về rủi ro và đề ra được các giải pháp đúng cho việc thu hồi nợ, cũng như xử lý nợ có vấn đề
Về phía khách hàng, việc thẩm định của khách hàng sẽ hỗ trợ phát hiện những lỗ hổng trong quản lý kinh doanh, trong phương án tài chính và sử dụng vốn cũng như trong pháp lý giấy tờ, tài sản, từ đó phát hiện, khắc phục điểm yếu và phát huy lợi thế, đem lại lợi ích cho chính khách hàng vay vốn
Về phía nền kinh tế - xã hội, thẩm định tín dụng phát hiện, ngăn ngừa những hiện tượng tiêu cực vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh, ngăn chặn những hành vi móc nối làm thất thoát tiền vốn tài sản vì mục đích cá nhân hoặc nhóm lợi ích
2.2.3 Mục đích của thẩm định tín dụng
Một là đánh giá một cách trung thực khách quan những ưu nhược điểm, lợi thế và khó khăn tồn tại của khách hàng trên nhiều phương diện khác nhau, làm căn cứ để quyết định tín dụng
Hai là, qua thẩm định tín dụng mà có thể chủ động tạo ra một danh mục tín dụng phù hợp với tình hình thực tiễn, cũng như phù hợp với chủ trương và định hướng phát triển chung của ngân hàng
Ba là, thông qua thẩm định tín dụng mà góp phần ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động cơ bản, mang tính sống còn tại các ngân hàng thương mại, đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu nhưng đồng thời cũng là hoạt động nghiệp vụ tiềm ẩn mức độ rủi ro rất cao trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Chính vì vậy, việc tìm kiếm những giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng luôn là vấn đề được các cấp lãnh đạo ngân hàng quan tâm Thẩm định tín dụng sẽ giúp đạt được mục đích đó
Bốn là nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Trong suốt quá trình thực hiện xét cấp tín dụng cho khách hàng, công tác thẩm định tín dụng là khâu khởi đầu, đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả và chất lượng tín dụng Do đó thẩm định tín dụng là một trong những giải pháp nghiệp vụ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Năm là tăng cường vai trò và trách nhiệm của cán bộ thẩm định đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cán bộ hoặc bộ phận thẩm định tín dụng là người nắm bắt được nhiều thông tin qua các nguồn tài liệu, họ phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo ngân hàng trong các ý kiến đề xuất về tín dụng cho khách hàng Đối với nhân viên thẩm định tín dụng được giao nhiệm vụ thẩm định phải có trách nhiệm cao trong công việc của mình, qua đó báo cáo với cấp có thẩm quyền những kết quả trung thực khách quan, đặt lợi ích của ngân hàng lên trên hết, giúp lãnh đạo phê duyệt tín dụng an toàn chắc chắn
2.2.4 Nội dung cơ bản của thẩm định tín dụng
Công tác thẩm định tín dụng có thể tiến hành theo nhiều nội dung và yêu cầu khác nhau
Cách đầu tiên là xét theo điều kiện cho vay, cán bộ tín dụng sẽ thẩm định năng lực pháp lý và năng lực tài chính của khách hàng, thẩm định kế hoạch hoặc dự án đầu tư và thẩm định tài sản đảm bảo
Cách thứ hai là thẩm đinh tín dụng theo tiêu chuẩn chất lượng Ta có một số bộ tiêu chuẩn phổ biến như 5C, 5P, CAMPARIC Thẩm định tín dụng theo tiêu chuẩn 5C là Character (tính cách, đặc điểm của người vay), Capacity (khả năng hoàn trả khoản vay), Capital (vốn), Collateral (tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay) và Conditions (Môi trường hoạt động và những điều kiện khác) Thẩm định tín dụng theo tiêu chuẩn 5P là Purpose (Mục đích sử dung vốn), Pay ment (Khả năng thanh toán), Protection (Bảo vệ), Policy (Chính sách phát triển) và Pricing (Định giá sản phẩm) Thẩm định theo tiêu chuẩn CAMPARIC là Character (Tư cách người vay), Ability (Năng lực của người vay), Margin (Lãi tiền vay), Purpose (Mục đích vay), Amount (Số tiền vay), Repayment (Sự hoàn trả tiền vay), Insurance (Bảo đảm tiền vay) và Conditions (Điều kiện chung)
Tuy có nhiều kiểu phân chia khác nhau, nhưng nhìn chung hai cách thẩm định nói trên đều thiên về nhận xét định tính, phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của cán bộ thẩm định
Cách thứ ba là thẩm định theo thang điểm định lượng Tùy điều kiện cụ thể và quan điểm chấp nhận rủi ro của từng Ngân hàng sẽ xây dựng Hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng khác nhau Căn cứ vào số liệu thống kê trong quá khứ về khả năng rủi ro của các loại khách hàng có điểm số giống nhau, các Ngân hàng sẽ đưa ra các hạn mức tối đã có thể cho vay tối đa đối với từng khách hàng có điểm số ở những nhóm điểm số khác nhau
Xuất phát từ đặc điểm riêng biệt của mỗi đối tượng mà thẩm định khách hàng cá nhân khác với thẩm định khách hàng doanh nghiệp Khách hàng cá nhân thường có hồ sơ tương đối đơn giản hơn Mục đích vay vốn thì rất đa dạng, phong phú nhưng thường là phục vụ nhu cầu cuộc sống Trong đó, chủ lực là các sản phẩm cho vay bất động sản như mua nhà, đất, căn hộ, xây, sửa nhà Khi thẩm định khách hàng cá nhân thì đánh giá định tính về cá nhân khách hàng và phân tích định lượng sơ bộ về thu nhập, định giá tài sản So với phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp thì đánh giá khách hàng cá nhân đơn giản hơn, không yêu cầu hiểu biết sâu rộng về ngành nghề, nhưng đòi hỏi tốc làm việc phải thật nhanh, thật chuẩn xác.
Lý thuyết về chất lượng thẩm định tín dụng
2.3.1 Quan điểm về chất lượng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Doanh nghiệp nào cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm Đối với ngân hàng thương mại thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Do đó, song song với việc tăng trưởng số lượng khách hàng vay thì nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng là điều kiện hàng đầu để ngân hàng không ngừng phát triển
Chất lượng và hiệu quả của thẩm định tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào Cán bộ tín dụng Chất lượng thẩm định tín dụng thể hiện trước hết ở các Báo cáo thẩm định hoặc Tờ trình tín dụng vì đây là sự phản ánh khả năng, năng lực đánh giá và phân tích khách hàng trong việc áp dụng quy trình thẩm định Chất lượng thẩm định tín dụng còn thể hiện ở thời gian thẩm định và chi phí của quá trình thẩm định Nói cách khác công tác thẩm định tín dụng đạt chất lượng khi nó giúp cho quyết định của ngân hàng trong việc cho vay là đúng đắn, đảm bảo khả năng thu hồi nợ, không phát sinh nợ quá hạn và vẫn đảm bảo lợi ích của khách hàng với lãi suất phù hợp và các chính sách ưu đãi thích đáng
Xuất phát từ mối quan hệ tín dụng, chất lượng thẩm định tín dụng cần được nhìn nhận trên ba góc độ là từ phía ngân hàng thương mại, từ phía khách hàng và từ phía nền kinh tế nói chung
Thứ nhất, về phía ngân hàng thương mại thì chất lượng thẩm định tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Chất lượng tín dụng phải đảm đảm chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo và giảm thiểu, đảm bảo cân đối giữa cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn
Thứ hai, về phía khách hàng, đòi hỏi ngân hàng am hiểu và thỏa mãn nhu cầu về vốn, thời gian, thủ tục và các ưu đãi về lãi suất, phí Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay, chất lượng thẩm định tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thu hút được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng
Thứ ba, về phía nền kinh tế, tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, thu hút tối đã nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo các mục tiêu kinh tế của Nhà nước và chính phủ đặt ra
Như vậy, chất lượng thẩm định tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp được đánh giá trên quan điểm của: ngân hàng, khách hàng và của nền kinh tế Thẩm định tín dụng được đánh giá là có chất lượng khi khoản tín dụng đó đạt được mục đích vay vốn đã đề ra, hoàn trả vốn vay đầy đủ, đúng hạn, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho cả người vay và người đi vay
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tín trừu tượng Do đó, để đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng cần thiết lập hai nhóm chỉ tiêu là chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng:
Chỉ tiêu định tính thứ nhất là có quy trình thẩm định hợp lý, các quy định hướng dẫn rõ ràng, chi tiết, phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận, tránh chồng chéo dẫn đến sai sót, phù hợp với quy mô hoạt động và cơ cấu tổ chức của ngân hàng Chỉ tiêu thứ hai là cán ngân hàng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cấp tín dụng, được trang bị tốt và đầy đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất, phục vụ cho việc thẩm định, đồng thời cán bộ ngân hàng không ngừng học hỏi, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng và trau dồi kinh nghiệm Chỉ tiêu định tính thứ ba là ngân hàng có đối tượng khách hàng đa dạng và số lượng khách hàng, không ngừng được mở rộng Để đánh giá chỉ tiêu định tính thường dùng các biện pháp trong thống kê học như điều tra, phỏng vấn và phương pháp chuyên gia Thông qua điều tra, quan sát có thể nhận xét được thủ tục cho vay đối với khách hàng như thế nào, cơ sở vật chất của ngân hàng ra sao Thông qua điều tra cũng thấy được đối tượng khách hàng là ai, số lượng là bao nhiêu, đang kinh doanh ngành nghề gì, cần vay sử dụng vào mục đích nào và hình thức huy động vốn, đầu tư, cho vay của ngân hàng đa dạng hay không Phương pháp phỏng vấn để thấy được khách hàng có hài lòng với ngân hàng hay không, các chuyên gia đánh giá về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng ra sao
Các chỉ tiêu định lượng bao gồm dư nợ tín dụng, tốc độ tăng doanh số, vòng quay vốn tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn và hệ số thu nợ
Tổng dư nợ của ngân hàng bao gồm dư nợ vốn ngắn hạn, dư nợ vốn trung dài hạn, vốn góp đồng tài trợ Chỉ tiêu dư nợ phản ánh số còn cho vay của ngân hàng trong một thời kì nhất định – thường là một năm Chỉ tiêu này phản ánh một phần uy tín, khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng Tổng dư nợ cao, chứng tỏ ngân hàng cho vay được nhiều, có hút được nhiều khách hàng, uy tín của ngân hàng tương tối tốt Ngược lại, tổng dư nợ thấp cho thấy ngân hàng khả năng thu hút khách hàng là thấp, uy tín chưa cao, khả năng mở rộng khách hàng còn hạn chế Tốc độ tăng doanh số cho vay (DSCV) tính theo công thức:
Tốc độ tăng doanh số cho vay
DSCV kỳ này – DSCV kỳ trước x 100%
Tốc độ tăng doanh số thể hiện khả năng mở rộng quy mô đầu tư tín dụng qua các thời kỳ Doanh số cho vay lớn và tốc độ cho vay tăng cho thấy khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng Đây là điều kiện đầu tiên để thể hiện tình hình hoạt động tốt của ngân hàng Tuy nhiên để đánh giá chính xác hiệu quả tín dụng thì cần phải kết hợp nghiên cứu, phân tích với các chỉ tiêu khác
Chỉ tiêu Vòng quay vốn tín dụng được tính như sau:
Vòng quay vốn tín dụng Doanh số thu nợ bình quân trong kỳ
Dư nợ tín dụng bình quân trong kỳ
Vòng quay vốn phản ánh số vòng chu chuyển vốn tín dụng trong chu kỳ (thường là một năm) Vòng quay vốn tín dụng cho biết hiệu quả trong việc sử dụng vốn ngân hàng Vòng quay càng lớn chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn có hiệu quả, khả năng thu nợ của ngân hàng tốt Vòng quay vốn tín dụng nhỏ chứng tỏ, khách hàng không thể hoàn trả nợ đúng hạn, làm phát sinh nợ quá hạn hoặc ngân hàng phải tiến hành gia hạn nợ cho khách hàng
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn tính như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn
Khi đến kỳ hạn trả nợ, nếu khách hàng không thể hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, không được ngân hàng gia hạn nợ thì khoản nợ đó chuyển thành nợ quá hạn Các ngân hàng đều cố gắng sao cho hạ tỉ lệ này xuống càng thấp càng tốt, bởi lẽ tỷ lệ này cao thì chứng tỏ ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro Tuy nhiên, trên thực tế, do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi nên các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định coi như giới hạn an toàn Tuy nhiên chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng tín dụng của ngân hàng Bởi vì, bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng quy định
Chỉ tiêu về nợ quá hạn phản ánh rõ nét nhất chất lượng tín dụng của ngân hàng Chỉ tiêu này cho thấy không phải lúc nào dư nợ tín dụng cao cũng tốt vì nếu ngân hàng không có chiến lược quản lý nợ tốt thì sẽ dẫn đến phát sinh nhiều nợ quá hạn
Hệ số thu nợ (Ratio obtained debt - ROD) được tính bằng công thức:
Hệ số thu nợ Doanh số thu nợ x