Luận văn trình bày những cơ sở lý luận về báo cáo tài chính và chuẩn mực kế toán quốc tế; nghiên cứu thực trạng lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, hạn chế của việc lậ
Trang 1
NGUYỄN THỊ DIỆU ANH
LẬP VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ
QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2014
Trang 2
NGUYỄN THỊ DIỆU ANH
LẬP VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ
QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số: 60.31.12
Người hướng dẫn khoa học: TS LÂM THỊ HỒNG HOA
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2014
Trang 3Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn quốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh được với nhau; để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phải được ghi nhận trên cùng hệ thống chuẩn mực kế toán chung Báo cáo tài chính có vai trò quan trọng và ngày càng được sử dụng nhiều hơn, cơ quan quản lý Nhà nước, nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư, đối tác kinh doanh trong và ngoài nước Do đó, trong điều kiện hội nhập hiện nay, hoàn thiện việc lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, tiến gần với chuẩn mực kế toán quốc tế ngày càng trở nên cần thiết
Luận văn trình bày những cơ sở lý luận về báo cáo tài chính và chuẩn mực kế toán quốc tế; nghiên cứu thực trạng lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, hạn chế của việc lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực
kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế, tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở những nguyên nhân đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại
Tác giả sử dụng các phương pháp như: phân tích - tổng hợp, qui nạp - diễn dịch, đối chiếu, so sánh, đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trang 4Sinh ngày 14 tháng 11 năm 1986 tại Lâm Đồng
Quê quán: Hữu Chung –Tân Phong – Ninh Giang – Hải Dương
Hiện cư ngụ tại: 101/34 Bắc Hải P15 Q10 HCM
Hiện công tác tại: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh 1 HCM
Là học viên cao học khóa 12 của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Mã số học viên:
Cam đoan đề tài: “Lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại
theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế”
Người hướng dẫn khoa học: TS Lâm Thị Hồng Hoa
Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP.HCM, ngày … tháng 04 năm 2014
Tác giả
Trang 5Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Lâm Thị Hồng Hoa đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi vô cùng biết ơn các Thầy Cô trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường
Tôi xin trân trọng cám ơn Phòng quản lý đào tạo sau đại học – Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ, chia sẻ và không ngừng động viên tôi trong suốt thời gian qua
NGUYỄN THỊ DIỆU ANH
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu: 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 5
5 Nguồn dữ liệu: 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn: 6
7 Kết cấu của đề tài: 6
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương: 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH, BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN 7
1 1.Tổng quan về báo cáo tài chính 7
1 1.1 Khái niệm báo cáo tài chính 7
1.1.2 Hệ thống báo cáo tài chính 7
1.1.2.1 Bảng cân đối kế toán 7
1.1.2.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 9
1.1.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 10
1.1.2.4.Thuyết minh báo cáo tài chính 12
1.1.2.5 Báo cáo tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu 13
1.1.3 Vai trò của báo cáo tài chính 14
1.2 Quy chuẩn lập báo cáo tài chính 15
1.2.1 Luật 15
1.2.2 Chuẩn mực kế toán 17
1.2.2.1 Sơ lược về chuẩn mực kế toán quốc tế 17
1.2.2.2 Sơ lược về chuẩn mực kế toán Việt Nam 18
1.2.2.3 Những điểm khác biệt chính giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính 19
1.2.3 Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính 21
1.3 Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại 23
1.3.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 23
1.3.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại 24
1.3.3 Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại 26
1.3.3.1 Bảng cân đối kế toán 26
1.3.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh 27
Trang 71.4 Sự cần thiết lập và công bố báo cáo tài chính thương mại theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và
quốc tế 30
CHƯƠNG 2: LẬP VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 34
2.1 Các văn bản quy định về lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại 34
2.1.1 Các văn bản pháp luật 34
2.1.2 Chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính của ngân hàng và các tổ chức tài chính tương tự (VAS 22 và IFRS 7) 36
2.1.2.1 VAS 22 trước khi IFRS 7 ra đời 36
2.1.2.2 VAS 22 sau khi IFRS 7 ra đời 39
2.2 Thực tế lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại Việt Nam 41
2.2.1 Về loại hình báo cáo tài chính công bố 41
2.2.2 Về thời điểm công bố 43
2.2.3 Về áp dụng chuẩn mực kế toán trong nội dung của báo cáo tài chính 45
2.3 Hạn chế trong việc lập và công bố báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại việt nam và các nguyên nhân 49
2.3.1 Hạn chế trong việc lập và công bố báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 49
2.3.1.1 Hạn chế trong lập và trình bày bảng cân đối kế toán 49
2.3.1.2 Hạn chế về lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 59
2.3.1.3 Hạn chế trong lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ 61
2.3.1.4 Hạn chế trong lập và trình bày thuyết minh báo cáo tài chính 61
2.3.2 Hạn chế về công bố báo cáo tài chính 62
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong lập và công bố báo cáo tài chính 63
2.3.3.1 Hệ thống văn bản hướng dẫn việc lập và trình bày báo cáo tài chính còn nhiều bất cập, chưa theo tiêu chuẩn quốc tế 63
2.3.3.2 Kinh nghiệm ban hành và ứng dụng chuẩn mực kế toán vào thực tế còn hạn chế 69
2.3.3.3 Nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại 71
2.3.3.4 Đội ngũ kiểm toán viên còn thiếu 72
CHƯƠNG 3: CÁC ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN LẬP VÀ CÔNG BỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 74
3.1 Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật 74
3.1.1 Xây dựng chuẩn mực kế toán công cụ tài chính, văn bản về việc xác định giá trị hợp lý của các tài sản tài chính và công nợ tài chính 74
3.1.1.1 Xây dựng chuẩn mực kế toán công cụ tài chính 74
Trang 83.1.4 Điều chỉnh cách lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ 81
3.1.5 Trình bày thuyết minh báo cáo tài chính 81
3.2 Các giải pháp hỗ trợ 83
3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý về kế toán gần với chuẩn mực kế toán quốc tế 83
3.2.2 Nguồn nhân lực – phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng 85
3.2.3 Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại, phục vụ công tác kế toán 87
3.2.4 Các kiến nghị khác 88
3.2.4.1 Đối với ngân hàng 88 3.2.2.3 Đối với kiểm toán viên độc lập Error! Bookmark not defined.91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế hiện hành
Phụ lục 2: Bảng cân đối kế toán hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS
Phụ lục 3: Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Các chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế hiện hành
Phụ lục 2: Bảng cân đối kế toán hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS
Phụ lục 3: Báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS
Trang 9STT Chữ viết tắt Dịch nghĩa
Nam
Nam
Trang 1025 Maritimebank Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam
Trang 11Bảng 2.1 Tình hình lập BCTC của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2008-2013
tr.46 Bảng 2.2 Thời điểm lập và công bố BCTC ngân hàng thương mại giai đoạn 2008-2013
tr.48 Bảng 2.3 Trích bảng cân đối kế toán hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS tr.50 Bảng 2.4 Trích báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo VAS và IFRS tr.51 Bảng 2.5 Trích BCĐKT và BCKQHĐKD của BIDV năm 2011 tr.53 Bảng 2.6 Trích Bảng cân đối kế toán năm 2011 của BIDV tr.56 Bảng 2.7 Trích Bảng cân đối kế toán năm 2008 của Agribank tr.56 Bảng 3.1 Các nghiệp vụ phái sinh đang áp dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
tr.86
Trang 12Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn quốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh được với nhau; để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phải được ghi nhận trên cùng hệ thống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) được hình thành Có thể nói rằng, chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực chuẩn để các quốc gia tham chiếu khi xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán của mình Và có ba cách tiếp cận phổ biến (1) chấp nhận chuẩn mực kế toán quốc tế là chuẩn mực của quốc gia; (2) dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế để hình thành chuẩn mực kế toán quốc gia; (3) tự phát triển các chuẩn mực quốc gia và điều chỉnh dần khoảng cách với chuẩn mực quốc tế Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, với các chuẩn mực kế toán đầu tiên được ban hành vào ngày 31/12/2000, việc xây dựng các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh các chuẩn mực kế toán quốc tế cho phù hợp với đặc điểm và tình hình của Việt Nam
Trang 13Song, giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn còn
có khoảng cách, gây khó khăn cho việc cung cấp thông tin cũng như thu hút các luồng vốn đầu tư nước ngoài Vì thế, việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc
tế, được thừa nhận và sử dụng rộng rãi, là một đòi hỏi tất yếu Nhưng để làm được điều này, cần có thời gian nghiên cứu sâu hơn về chuẩn mực kế toán quốc tế để có thể áp dụng cho phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam Hơn nữa, người sử dụng báo cáo tài chính ngân hàng thương mại trong nước cũng không nhỏ, và số ít trong họ mới biết và hiểu chuẩn mực kế toán quốc tế Nên báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cũng cần phải lập dựa trên chuẩn mực kế toán Việt Nam Vì thế trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần hoàn thiện báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng vẫn dựa trên chuẩn mực kế toán Việt Nam
Bên cạnh đó, người sử dụng luôn mong muốn ngân hàng công khai thông tin của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng Và bản thân các ngân hàng cũng phải nhận thức rõ việc này, không nên công bố chỉ để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan chức năng, mà phải chủ động
Với những suy nghĩ và nhận thức nêu trên, nên tôi chọn đề tài “Lập và công bố
báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, nhằm nghiên cứu, phân tích, đưa ra các
giải pháp hoàn thiện báo cáo tài chính ngân hàng thương mại Việt Nam (không kể các ngân hàng liên doanh và nước ngoài)
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Hiện nay, 5 ngân hàng thương mại Nhà nước, có vốn Nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo cả 2 chuẩn mực kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế do các ngân hàng này nằm trong Dự án tái cơ cấu lại các ngân hàng thương mại Nhà nước do
WB tài trợ Trong khi hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần chỉ thực hiện kiểm toán báo tài chính hàng năm theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (trừ một số ngân hàng được WB lựa chọn vào dự án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam như
Trang 14Eximbank, Hàng Hải hoặc ngân hàng chủ động thực hiện như Techcombank) Vì thế
có không ít những bài viết nghiên cứu về vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, cũng như về sự khác biệt giữa chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam và quốc tế
Trong đó, tiêu biểu là cuốn sách “So sánh (tóm tắt) IFRS và VAS” của Deloite Việt Nam, cuốn sách nhằm cung cấp thông tin trợ giúp các doanh nghiệp trong việc lập, chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS, và chỉ mang tính hướng dẫn, các nội dung cụ thể cần được xem xét chi tiết trong Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
và các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Bài viết “Thực trạng và định hướng sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán Việt Nam”- ThS Lê Hoàng Phúc – Trường CĐ Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long, trên
Tạp chí Kiểm toán số xuân 2012, trình bày khái quát về giá trị hợp lý và xu hướng sử dụng giá trị hợp lý để định giá trong kế toán trên thế giới hiện nay, sơ lược về thực trạng sử dụng giá trị hợp lý ở Việt Nam, từ đó đề xuất nguyên tắc và định hướng việc
sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Đinh Thanh Lan “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc
tế về công cụ tài chính để hoàn thiện chế độ kế toán Việt Nam” tìm hiểu kế toán về
công cụ tài chính hiện đang được áp dụng tại Việt Nam và theo quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế, cũng như các khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam khi thiếu chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính
Luân văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Liên Hương “Phân tích ảnh hưởng của
sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế đến quyết định của nhà đầu tư” phân tích sự khác biệt của một số khoản mục giữa hai hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Nhìn chung, các bài viết trên đã nghiên cứu về chuẩn mực kế toán quốc tế, sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế một cách tổng thể hoặc một vài khía cạnh như công cụ tài chính, giá trị hợp lý nhưng chưa nghiên cứu về sự khác
Trang 15biệt trong việc lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực
kế toán Việt Nam và quốc tế Do đó, đề tài tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vào việc hoàn thiện báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, thu hẹp sự khác biệt trên
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Mục đích:
Phân tích những điểm khác biệt trong việc lập báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm hoàn thiện báo cáo tài chính ngân hàng thương mại phù hợp hơn với chuẩn mực kế toán quốc tế
3.2 Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày tổng quan về báo cáo tài chính; luật, các chuẩn mực kế toán Việt Nam
và quốc tế chi phối việc lập báo cáo tài chính; đặc điểm hoạt động của ngân hàng thương mại từ đó trình bày về báo cáo tài chính ngân hàng thương mại; sự cần thiết phải lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế
- Phân tích cơ sở và thực trạng lập, công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, so sánh giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam, các văn bản hiện hành của ngân hàng Nhà nước về lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại với chuẩn mực kế toán quốc tế Đồng thời chỉ ra những tồn tại của hệ thống báo cáo tài chính và nguyên nhân
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và công
bố thông tin của ngân hàng thương mại trong ngắn hạn và dài hạn Và các biện pháp hỗ trợ để thực hiện được điều đó
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ nghiên cứu về báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại nằm trong Dự án tái cơ cấu lại các ngân hàng thương mại Nhà nước do WB tài trợ (Nông
Trang 16nghiệp, Công thương, Đầu tư, Ngoại thương), các ngân hàng được WB lựa chọn vào
dự án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam (Eximbank, Hàng hải), ngân hàng chủ động thực hiện – Techcombank, các ngân hàng này đã thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và quốc tế Và các ngân hàng đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (Sacombank, ACB)
vì đây là các công ty đại chúng, báo cáo tài chính phải được kiểm toán và công bố đúng thời hạn quy định
Các ngân hàng thương mại còn lại luận văn không đề cập, không sử dụng số liệu cho nghiên cứu, do các ngân hàng này chưa niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
Hồ Chí Minh nên việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán quốc tế hay công
bố rộng rãi chưa trở thành nhu cầu thật sự cần thiết
Luận văn nghiên cứu báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại được lựa chọn trong 5 năm – 2008 đến 2012 Từ năm 2011, Thông tư “Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công vụ tài chính” được áp dụng để trình bày và thuyết minh các công cụ tài chính trên Báo cáo tài chính, thông tư này góp phần trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế Việt Nam với thế giới và nâng cao tính minh bạch của Báo cáo tài chính
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn dựa trên nền tảng lý thuyết về báo cáo tài chính, chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam đã được ban hành
- Luận văn sử dụng các phương pháp như: phân tích - tổng hợp, qui nạp - diễn dịch, đối chiếu, so sánh
Trang 176 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu, chỉ ra những tồn tại trong việc lập và công bố báo cáo tài chính ngân hàng thương mại Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện báo cáo tài chính ngân hàng thương mại, rút ngắn khoảng cách mà báo cáo tài chính ngân hàng thương mại được lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế
Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy
và học tập môn Kế toán ngân hàng – Báo cáo tài chính tại ngân hàng thương mại - ở các trường Đại học hiện nay hoặc cho những ai quan tâm đến báo cáo tài chính ngân hàng thương mại
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về báo cáo tài chính, báo cáo tài chính ngân hàng thương mại và chuẩn mực kế toán
- Chương 2: Lập và công bố báo cáo tài chính tại ngân hàng thương mại Việt Nam
- Chương 3: Các đề xuất hoàn thiện lập và công bố báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH, BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
1 1.Tổng quan về báo cáo tài chính
1 1.1 Khái niệm báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại một thời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định
Theo khái niệm trên báo cáo tài chính sẽ:
- Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài chính, nguồn vốn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một năm tài chính
- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong năm tài chính đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra những quyết định về quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước
1.1.2 Hệ thống báo cáo tài chính
Theo thông lệ quốc tế thì hệ thống báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bản Thuyết minh báo cáo tài chính và Báo cáo vốn chủ sở hữu
1.1.2.1 Bảng cân đối kế toán
Khái niệm:
Trang 19Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng thể, là bảng tổng hợp – cân đối
tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn vốn hiện có của đơn vị ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định và ngày cuối cùng của một kỳ báo cáo
Thực chất của bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp cuối kỳ hạch toán Số liệu trên Bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản, nguồn vốn
và cơ cấu nguồn hình thành các tài sản đó Căn cứ vào Bảng cân đối kế toán, người đọc
có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp
Vai trò của Bảng cân đối kế toán :
Bảng cân đối kế toán có một vai trò quan trọng, bởi nó là tài liệu để nghiên cứu, đánh giá tổng quát tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình
độ sử dụng vốn ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của
kỳ báo cáo Đồng thời Bảng cân đối kế toán còn thể hiện triển vọng kinh tế tài chính của đơn vị
Ý nghĩa của bảng cân đối kế toán:
Thông qua Bảng cân đối kế toán, người đọc có thể xem xét quan hệ cân đối từng
bộ phận và nguồn vốn, cũng như các mối quan hệ khác Và thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ đó giúp cho người quản lý thấy rõ tình hình huy động vốn chủ sở hữu và nguồn vay nợ để mua sắm từng loại tài sản, hoặc quan hệ giữa công nợ khả năng thanh toán, kiểm tra các quá trình hoạt động, kiểm tra tình hình chấp hành kế hoạch… Từ đó phát hiện được tình trạng mất cân đối, và có phương hướng và biện pháp kịp thời đảm bảo các mối quan hệ cân đối cho hoạt động tài chính thực sự trở nên có hiệu quả, tiết kiệm và có lợi cho doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu biểu hiện hai mặt khác nhau của tài sản trong doanh nghiệp: tài sản gồm những gì và tài sản do đâu mà có nên kết cấu của Bảng cân đối kế toán xây dựng theo kết cấu hai bên: tài sản và nguồn vốn Hai bên của Bảng cân đối kế toán
Trang 20phản ánh hai mặt khác nhau của tài sản trong doanh nghiệp nên chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Xét về mặt lượng bao giờ cũng có:
Bản chất của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là chỉ ra sự cân bằng giữa doanh thu và chi phí trong từng kỳ kế toán và thể hiện tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Báo cáo này còn được sử dụng như một bảng hướng dẫn để xem xét cách doanh nghiệp sẽ hoạt động như thế nào trong tương lai
Trang 21năng sinh lời, xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm ra các biện pháp khai thác khả năng tiềm tàng và khắc phục những tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong toàn doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có vai trò quan trọng đối với kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có biện pháp điều chỉnh kịp thời
Việc lập Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được căn cứ vào các tài liệu sau:
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm trước
- Sổ kế toán tổng hợp và chi tiết trong kỳ dùng cho các loại tài khoản thể hiện doanh thu, chi phí, lợi nhuận, các khoản giảm trừ
1.1.2.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Khái niệm
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu và chi tiền trong kỳ của doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Vai trò
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trình bày cho người sử dụng biết luồng tiền của doanh nghiệp được sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụng chúng ra sao trong kỳ báo cáo Mặt khác, đây cũng là công cụ hữu ích trong việc kiểm tra lại tính chính xác của đánh giá trước kia về các luồng tiền trong tương lai và trong việc kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp với các ảnh hưởng của thay đổi giá cả dựa trên các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp đặt ra Từ đó,
Trang 22người sử dụng có thể đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán luồng tiền trong kỳ tiếp theo
Nội dung và phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Có 2 phương pháp để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp Mỗi phương pháp đều có những căn cứ, nguyên tắc, ưu điểm, nhược điểm riêng Doanh nghiệp trình bày Báo cáo lưu chuyển tiền tệ tùy theo cách thức nào cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị Điều này sẽ cung cấp các thông tin cho phép những người sử dụng đánh giá được ảnh hưởng của các nội dung trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, cũng như đánh giá mối liên hệ giữa các nội dung, các hoạt động trong doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất
Kết cấu của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm ba phần là:
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào
và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như tiền thu bán hàng hay cung cấp dịch vụ, tiền thu từ các khoản phải thu thương mại, các chi phí bằng tiền như tiền trả cho các nhà cung cấp (trả ngay trong kỳ và tiền trả cho khoản nợ
từ kỳ trước), tiền thanh toán cho công nhân viên về tiền lương và bảo hiểm xã hội, các chi phí khác bằng tiền (chi phí văn phòng phẩm, công tác phí, …)
- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bao gồm 2 phần là: Đầu tư cơ sở vật chất cho bản thân doanh nghiệp,
và đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay, không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu do bán, thanh lý tài sản cố định, thu hồi các khoản đầu tư vào các đơn vị khác… và các khoản chi thanh
lý, chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định, chi về đầu tư vào các đơn vị khác
Trang 23- Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào
và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ làm tăng giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn (không phân biệt vay vốn dài hạn hay vay vốn ngắn hạn), nhận góp vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, trả nợ các khoản vay hoặc thanh toán trái phiếu, cổ phiếu …
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm các khoản thu, chi liên quan như tiền vay đã nhận, tiền thu được do phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả cho các bên góp vốn, trả lãi cổ phiếu, trái phiếu bằng tiền, thu lãi tiền gửi…
1.1.2.4.Thuyết minh báo cáo tài chính
Khái niệm
Bản thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể tách rởi của báo cáo tài chính, dùng để mô tả mang tính tường thuật hoặc phân tích chi tiết các thông tin số liêu đã được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể Bản thuyết minh báo cáo tài chính cũng có thể trình bày những thông tin khác nếu doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực, hợp lý báo cáo tài chính
Nội dung
Phải trình bày những nội dung sau:
- Các thông tin về cơ sở lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng
- Trình bày các thông tin theo quy định của các chuẩn mực kế toán chưa được trình bày trong các báo cáo tài chính khác (Các thông tin trọng yếu)
- Cung cấp các thông tin bổ sung chưa được trình bày trong báo cáo tài chính khác nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài chính doanh nghiệp
Trang 24Bản thuyết minh báo cáo tài chính phải được trình bày một các có hệ thống Mỗi khoản mục trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Ý nghĩa
Thuyết minh báo cáo tài chính giúp cho người sử dụng hiểu rõ và chính xác hơn
về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cách ghi nhận doanh thu và chi phí, chi tiết đóng góp của hoạt động kinh doanh chính và phụ vào lợi nhuận, các khoản đầu tư tài chính (ngắn hạn và dài hạn), tình trạng hàng tồn kho Từ những hiểu biết trên, kết hợp với các thông tin thu thập được
từ các nguồn khác, nhà quản trị có thể đề ra chiến lược, hành động hợp lý nhằm tăng sức cạnh tranh, đưa doanh nghiệp phát triển hơn nữa; nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu
1.1.2.5 Báo cáo tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu
Báo cáo vốn chủ sở hữu mang lại cho người sử dụng thông tin về nguyên nhân gây ra các biến động của các tài khoản trong vốn cổ phần Vốn cổ phần tăng lên hay giảm xuống là do sự phát hành, do sự gia tăng của lợi nhuận giữ lại hay do việc mua lại
cổ phiếu Thay đổi trong thu nhập giữ lại là rất quan trọng vì nó thể hiện sự liên kết giữa bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Bảng cân đối kế toán Cổ tức thường được chi trả từ lợi nhuận giữ lại nên số dư tài khoản lợi nhuận giữ lại cho thấy giới hạn trên đối với khoản chi trả cổ tức
Trang 251.1.3 Vai trò của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Đây là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế
Đối với Nhà nước: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc
thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, giúp cho các cơ quan tài chính Nhà nước thực hiện việc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động của doanh nghiệp; giám sát, hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp; đồng thời làm cơ sở cho việc tính thuế và các khoản phải nộp của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước
Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: Báo cáo tài chính sẽ giúp cho nhà quản lý
doanh nghiệp nắm bắt được kết quả kinh doanh, tình hình tài sản – nguồn vốn của doanh nghiệp sau một chu kỳ; làm cơ sở cho việc lập kế hoạch kinh doanh; làm cơ sở
để thuyết phục nhà đầu tư và là cơ sở để báo cáo cho cấp quản lý
Đối với các nhà đầu tư: Báo cáo tài chính cho họ cơ sở để đánh giá tình hình hoạt
động kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp, kể cả năng lực quản trị của đối tác mà họ
dự kiến đầu tư
Đối với các kiểm toán viên độc lập: Báo cáo tài chính là đối tượng để xem xét
kiểm tra và đưa ra các ý kiến đánh giá về báo cáo tài chính giúp cho người sử dụng thông tin có cơ sở hơn đối với việc nhận định sự trung thực, hợp lý của các thông tin đã công bố
Đối với nhà cung cấp: Báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng thanh toán,
để từ đó họ quyết định bán hàng cho doanh nghiệp nữa hay thôi, hoặc cần áp dụng phương thức thanh toán như thế nào cho hợp lý
Đối với khách hàng: Báo cáo tài chính giúp cho họ có những thông tin về khả
năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp, chính
Trang 26sách đãi ngộ khách hàng … để họ có quyết định đúng đắn trong việc mua hàng của doanh nghiệp
Đối với cổ đông, công nhân viên: Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về khả
năng cũng như chính sách chi trả cổ tức, tiền lương, bảo hiểm xã hội, và các vấn đề khác liên quan đến lợi ích của họ
1.2 Quy chuẩn lập báo cáo tài chính
1.2.1 Luật
Pháp luật có tính địa lý nên không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới đều
có luật, chuẩn mực kế toán riêng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế ở mỗi nước
Do đó báo cáo tài chính được lập trên các cơ sở khác nhau Các quốc gia thường có các quy định riêng trong việc áp dụng các chuẩn mực kế toán và gọi là các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP), ví dụ ở Mỹ có US GAAP, ở Canada có Canada GAAP Các nước cộng đồng chung Châu Âu cũng có những quy định chuẩn mực chung cho mình như IAS và sau này là IFRS Ở Việt Nam, việc lập báo cáo tài chính phải tuân thủ quy định trong Luật Kế toán số 03/2003/QH11 có hiệu lực ngày 01/01/2004
Theo Khoản 3 Điều 29 Luật Kế toán thì báo cáo tài chính gồm:
- Bảng cân đối kế toán;
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
- Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Việc lập báo cáo tài chính được thực hiện như sau: (Điều 30 Luật Kế toán)
- Đơn vị kế toán phải lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm; trường hợp pháp luật có quy định lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác thì đơn vị kế toán phải lập theo kỳ kế toán đó
Trang 27- Việc lập báo cáo tài chính phải căn cứ vào số liệu sau khi khóa sổ kế toán Đơn
vị kế toán cấp trên phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trong cùng đơn vị kế toán cấp trên
- Báo cáo tài chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán; trường hợp báo cáo tài chính trình bày khác nhau giữa các kỳ
kế toán thì phải thuyết minh rõ lý do
- Báo cáo tài chính phải được người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán ký Người ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo
Thời hạn nộp báo cáo tài chính (Điều 31)
Báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật
Nội dung công khai báo cáo tài chính của đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm: (Điều 32)
- Tình hình tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
- Kết quả hoạt động kinh doanh;
- Trích lập và sử dụng các quỹ;
- Thu nhập của người lao động
Hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính (Điều 33)
Việc công khai báo cáo tài chính được thực hiện theo các hình thức:
+ Phát hành ấn phẩm;
+Thông báo bằng văn bản;
+ Niêm yết;
+ Các hình thức khác theo quy định của pháp luật
Đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh phải công khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm Báo cáo tài chính năm của
Trang 28đơn vị kế toán mà pháp luật quy định phải kiểm toán thì phải được kiểm toán trước khi nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trước khi công khai
1.2.2 Chuẩn mực kế toán
Chuẩn mực kế toán là những quy ước, nguyên tắc, thủ tục được công nhận như những hướng dẫn cho nghề nghiệp kế toán trong việc lựa chọn các phương pháp để ghi chép, đánh giá các yếu tố trong việc soạn thảo báo cáo tài chính và là cơ sở đánh giá chất lượng công việc kế toán
1.2.2.1 Sơ lược về chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống các nguyên tắc hạch toán kế toán, trình bày báo cáo tài chính, các quy định về kế toán được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới do Hội đồng Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB) ban hành và thường xuyên nghiên cứu cập nhật sửa đổi, bổ sung Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm các các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), sau đây gọi chung là Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS)
Các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do IASB ban hành bao gồm ba phần chính:
- Khuôn mẫu khái niệm cho báo cáo tài chính (The Conceptual Framework);
- Các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS);
- Hướng dẫn giải thích chuẩn mực kế toán (IFRIC/SIC)
Chuẩn mực kế toán quốc tế bao gồm 3 nhóm chính là IASs (International Accounting Standards) – nhóm chuẩn mực kế toán do IASC (International Accounting Standards Committee) ban hành; IFRSs (International Finalcial Reporting Standards) – chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do IASB ban hành; các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do Ủy ban hướng dẫn IFRS (International Finalcial Report Interpretations Committee) ban hành
Tháng 09/2010, Khuôn mẫu khái niệm cho báo cáo tài chính (The Conceptual Framework - IFRS Framework) được IASB phê duyệt và phát hành, thay thế cho
Trang 29Frameword năm 2001.IFRS Framework đặt ra các khái niệm cơ sở cho việc chuẩn bị
và trình bày BCTC cho người sử dụng bên ngoài Mục đích chính của IFRS Framework là hỗ trợ IASB trong việc phát triển các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc
tế trong tương lai và xem xét các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện có; thúc đẩy việc hài hòa các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các thủ tục liên quan đến việc soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính (IASB, 2010)
Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) do IASC (Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế) và IASB (Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế) ban hành IASB thay thế IASC vào năm 2001 Kể từ thời điểm đó, IASB đã thực hiện sửa đổi một số IAS
và kiến nghị thêm các sửa đổi khác, thay thế một số IAS bằng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Đến 30/06/2013, có 42 IAS/IFRS đang và sắp có hiệu lực, trong đó có 29 IAS và 13 IFRS
Các hướng dẫn giải thích IAS/IFRS (IFRIC/SIC) do Ủy Ban hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) xây dựng, đưa ra lấy ý kiến công chúng và sau đó được IFRIC gửi tới Hội đồng IASB soát xét và chuẩn y trở thành các hướng dẫn giải thích chính thức
1.2.2.2 Sơ lược về chuẩn mực kế toán Việt Nam
Từ những năm 1993 – 1994 Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế và được nghiên cứu một cách đầy đủ từ giai đoạn năm 1996 – 1998, khi thực hiện dự án kế toán kiểm toán của cộng đồng Châu Âu (EURO – TAPVIET) Kể từ năm
1999, Việt Nam đã bắt tay vào soạn thảo và xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế
Cho đến thời điểm hiện tại thì Bộ Tài chính đã ban hành được 5 đợt gồm 26 chuẩn mực kế toán (các chuẩn mực cụ thể được trình bày trong phụ lục 1.2):
- Năm 2001 lần đầu tiên 4 chuẩn mực kế toán được ban hành gồm: Hàng tồn kho; Tài sản cố định hữu hình; Tài sản cố định vô hình; Doanh thu và thu nhập khác
Trang 30- Năm 2002, thêm 6 chuẩn mực kế toán được ban hành gồm: Chuẩn mực chung; Thuê tài sản; Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái; Hợp đồng xây dựng; Chi phí
đi vay; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Năm 2003, thêm 6 chuẩn mực kế toán được ban hành gồm: Bất động sản đầu tư;
Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết; Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh; Trình bày báo cáo tài chính; Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con; Thông tin về các bên liên quan
- Năm 2005, thêm 10 chuẩn mực kế toán được ban hành gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp; Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự; Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm; Báo cáo tài chính giữa niên độ; Báo cáo bộ phận; Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót; Hợp nhất kinh doanh; Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng; Hợp đồng bảo hiểm; Lãi trên cổ phiếu
Chuẩn mực kế toán Việt Nam áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp trong tất cả các ngành, các lĩnh vực thuộc các thành phần kinh tế, trong đó bao gồm cả các doanh nghiệp là tổ chức tín dụng
1.2.2.3 Những điểm khác biệt chính giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế về lập và trình bày báo cáo tài chính
Khi xây dựng các các chuẩn mực kế toán, quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế VAS cơ bản đã được xây dựng dựa trên IAS/IFRS, theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam Do vậy, VAS đã cơ bản tiếp cận với IAS/IFRS, phản ánh được phần lớn các giao dịch của nền kinh tế thị trường, nâng cao tính công khai, minh bạch thông tin về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Mặc dù vậy, VAS hiện nay vẫn còn nhiều điểm khác biệt với IAS/IFRS Điều này thể hiện qua một số biểu hiện chủ yếu sau:
Trang 31- Quy định về đánh giá lại tài sản và nợ phải trả: Đây được xem là khác biệt cơ
bản nhất, do VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm suy giảm tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính và chưa phù hợp với IAS/IFRS
- Trình bày báo cáo tài chính: VAS 21 không quy định trình bày Báo cáo biến
động vốn chủ sở hữu thành một báo cáo riêng biệt như IAS 1, mà chỉ yêu cầu trình bày trong thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài ra, chế độ kế toán Việt Nam quy định mẫu biểu báo cáo một cách cứng nhắc, làm triệt tiêu tính linh hoạt và đa dạng của hệ thống báo cáo tài chính, trong khi IAS/IFRS không đưa ra mẫu biểu cụ thể của báo cáo;
- Theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc
tế, khi các khoản lãi/lỗ bán cổ phiếu vốn không phải của hoạt động mang tính thường xuyên của doanh nghiệp lại được hiểu là kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu;
- IAS 2 cho phép sử dụng các phương pháp ước tính giá trị hàng tồn kho như phương pháp chi phí định mức hoặc phương pháp giá bán lẻ, nhưng vấn đề này không được đề cập ở VAS 2 VAS 2 cho phép áp dụng phương pháp “Nhập sau - Xuất trước” (LIFO) trong khi IAS/ IFRS không cho phép áp dụng phương pháp này;
- VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36;
- VAS 11 quy định lợi thế thương mại được phân bổ dần trong thời gian không quá 10 năm kể từ ngày mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh Trong khi đó, IFRS
3 quy định doanh nghiệp phải đánh giá giá trị lợi thế thương mại tổn thất;
Trang 32- VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh như: thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); công cụ tài chính (IFRS 9); tổn thất tài sản (IAS 19) các khoản tài trợ của Chính phủ (IAS 20); nông nghiệp (IAS 41); phúc lợi của nhân viên ( IAS 36)…
Có một số nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế Kết quả của một nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ hòa hợp của VAS với IAS/IFRS liên quan đến 10 chuẩn mực được chọn nghiên cứu ở mức bình quân là 68% Theo đó, các chuẩn mực về doanh thu và chi phí có mức độ hòa hợp cao hơn các chuẩn mực về tài sản Mức độ hòa hợp về đo lường (81,2%) cao hơn nhiều so với mức độ hài hòa về khai báo thông tin (57%) (Võ Thị Nhị và Lê Hoàng Phúc – 2011)
Như vậy, mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS thấp hơn so với mục tiêu đề ra
là 90%, theo phát biểu của ông Bùi Văn Mai – nguyên Vụ trưởng Vụ chế độ kế toán -
Bộ Tài chính trong một phỏng vấn của báo Vnexpress, nghĩa là tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế Trong một chừng mực nào đó, rõ ràng những khác biệt này có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam, dù rằng, không phải là không có những nguyên nhân khách quan của nó
1.2.3 Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
Mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính (bảng cân đối tài sản), kết quả hoạt động (báo cáo thu nhập), và những thay đổi
về tình hình tài chính (báo cáo lưu chuyển tiền tệ) của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra các quyết định kinh tế Do vậy đòi hỏi sự tuân thủ các nguyên tắc thừa nhận chung như cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh được
Cơ sở dồn tích
Trang 33Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ
sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn
cứ vào thời điểm thực tế thu tiền, chi tiền, hay tương đương tiền
Nguyên tắc “cơ sở dồn tích” áp dụng cho việc lập Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, nhưng không áp dụng cho Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Hoạt động liên tục
Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình
Khi lập và trình bày Báo cáo tài chính, giám đốc doanh nghiệp cần phải đánh giá
về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp Khi có nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những căn cứ của nghi ngờ đó cần được nêu rõ và trình bày cơ sở dùng để lập Báo cáo tài chính Đánh giá khả năng hoạt động liên tục cần xem xét thông tin tối thiểu trong vòng 12 tháng
Nhất quán
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong Báo cáo tài chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất hoạt động của doanh nghiệp, hoặc khi xem xét lại cách trình bày trên Báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch, sự kiện, hoặc một chuẩn mực khác yêu cầu có sự thay đổi trong trình bày
Khi có sự thay đổi, doanh nghiệp phải phân loại các thông tin mang tính so sánh, giải thích lý do thay đổi, ảnh hưởng của những thay đổi trong Thuyết minh báo cáo tài chính
Trọng yếu và tập hợp
Từng khoản mục thông tin trọng yếu (là những thông tin ảnh hưởng đến quá trình
ra các quyết định của người sử dụng thông tin) cần được trình bày riêng trên Báo cáo
Trang 34tài chính, những thông tin không trọng yếu được tập hợp vào các khoản mục có cùng tính chất hay chức năng Tùy từng tình huống cụ thể mà tính chất hay quy mô của khoản mục là nhân tố quyết định trọng yếu
Tuy nhiên có những khoản mục không được xem là trọng yếu để có thể được trình bày riêng trên Báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải trình bày riêng biệt trong phần Thuyết minh báo cáo tài chính Doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các quy định về trình bày Báo cáo tài chính của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tính trọng yếu
Ví dụ thông tin về chứng khoán kinh doanh hay chứng khoán đầu tư là trọng yếu cho quá trình ra các quyết định nên phải được trình bày riêng, nhưng thông tin về các tài sản phi tài chính như vật liệu, công cụ lao động đối với doanh nghiệp không trọng yếu do vậy có thể được trình bày chung
Bù trừ
Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trên Báo cáo tài chính không được bù trừ, trừ khi một chuẩn mực khác quy định hay cho phép bù trừ
Có thể so sánh được:
Người sử dụng thông tin cần so sánh tình hình tài chính của doanh nghiệp qua các
kỳ cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau Muốn vậy, doanh nghiệp cần công bố chính sách kế toán mà mình áp dụng để lập báo cáo tài chính, cũng như mọi thay đổi
về các chính sách này là những ảnh hưởng của các thay đổi đó
1.3 Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì
Trang 35ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12) quy định: “Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Theo Luật Ngân hàng nhà nước (Luật số 46/2010/QH12) thì “Hoạt động ngân
hàng việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên hoặc một số nghiệp vụ sau: nhận tiền
gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền nhàn rỗi
sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh
tế
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
– Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế
– Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
1.3.2 Chức năng của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là ngân hàng thực hiện nhiều loại nghiệp vụ ngân hàng hơn hết trong số các ngân hàng trung gian Chức năng của nó thể hiện ở những mặt sau:
Chức năng trung gian tín dụng
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người
Trang 36cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…
Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của
Trang 37tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu của nó là kinh doanh tiền tệ
1.3.3 Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, từ chức năng hoạt động của mình mà báo cáo tài chính ngân hàng thương mại có những đặc điểm riêng, như sau:
1.3.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán phản ánh thực trạng tài chính của ngân hàng thông qua trình bày các thông tin về tài sản, nợ và nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng tại một thời điểm, với 2 cách phân loại là: kết cấu tài sản và nguồn hình thành tài sản
Theo VAS 22 thì nhóm tài sản và nợ phải trả được trình bày theo bản chất và tính thanh khoản giảm dần, không chia ra thành ngắn hạn và dài hạn như ở bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp do phần lớn tài sản và nợ phải trả của ngân hàng là tài sản tài chính, có thể dễ dàng chuyển đổi kỳ hạn
Khoản mục Tiền gửi ngân hàng” đối với doanh nghiệp sản xuất thì chỉ tiền gửi
tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác Bảng cân đối kế toán ngân
hàng còn trình bày thêm về “Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước”; “Tiền, vàng gửi tại tổ
chức tín dụng và cho vay các tổ chức tín dụng khác” Việc phân biệt số dư tiền gửi tại
các ngân hàng khác và tại các đơn vị khác trên thị trường tiền tệ là cần thiết để đánh giá mối liên hệ và sự độc lập của ngân hàng này với ngân hàng khác và với thị trường tiền tệ
Nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là từ hoạt động mua bán, các khoản phải thu, từ hàng tồn kho,… Trong khi đó nguồn hình thành tài sản của các ngân hàng thương mại là từ tín dụng và cung cấp dịch vụ Do đặc trưng kinh doanh
Trang 38tiền tệ tài chính nên trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng không có khoản mục hàng tồn kho
Các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết không hủy ngang của ngân hàng là khá lớn Vì vậy, ngân hàng phải trình bày các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn và các cam kết không thể hủy ngang như: bảo lãnh nợ, bảo lãnh thanh toán, thư tín dụng dự phòng, bão lãnh thực hiện hợp đồng, các cam kết bảo lãnh phát hành giấy tờ có giá … Từ đó, người sử dụng thông tin báo cáo tài chính có thể đánh giá tính thanh khoản, khả năng trả nợ và khả năng cố hữu của các khoản lỗ tiềm tàng
Các tổn thất cho vay và ứng trước ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính cũng như quá trình hoạt động của ngân hàng vì liên quan đến dự báo khả năng thanh khoản, tổn thất dự tính Đặc điểm này khác với doanh nghiệp, do vậy ngân hàng phải trình bày trên bảng cân đối kế toán tổng giá trị dự phòng tổn thất cho vay và ứng trước tại ngày khóa sổ lập báo cáo tài chính và các thay đổi dự phòng trong kỳ Qua đó, người sử dụng thông tin báo cáo tài chính có thể đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của ngân hàng Đồng thời, thông tin về chính sách xóa sổ các khoản cho vay và ứng trước cũng cần được ngân hàng trình bày trên báo cáo tài chính
1.3.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp các thông tin về các loại thu nhập, chi phí chủ yếu, lãi ròng hay lỗ ròng của ngân hàng thương mại trong một thời kỳ nhất định Qua báo cáo này người sử dụng thông tin có thể đánh giá tổng quan kết quả mà ngân hàng đạt được trong kỳ báo cáo qua các chỉ tiêu về thu nhập và lợi nhuận
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau vì vậy ngân hàng cần phải trình bày các khoản thu nhập, chi phí theo bản chất của chúng và trình bày riêng các khoản thu nhập, chi phí chủ yếu Đây là điểm khác biệt so với báo cáo kết quả hoạt động của doanh nghiệp, trình bày về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giá vốn hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp… Các loại thu nhập chủ yếu phát sinh từ các hoạt động kinh
Trang 39doanh bao gồm: thu nhập lãi, thu nhập dịch vụ, hoa hồng, các kết quả kinh doanh khác Các loại chi phí chủ yếu phát sinh từ hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm: chi phí lãi, chi phí hoa hồng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư và chi phí quản lý
Một số giao dịch lãi lỗ được trình bày trên cơ sở thuần như: thanh lý chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và hoạt động kinh doanh ngoại hối Với các giao dịch này nếu kinh doanh lỗ thì trình bày khoản lỗ đó như một khoản chi phí (chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá mua) và ngược lại chênh lệch giá bán lớn hơn giá mua (lãi) được trình bày là một khoản thu nhập của ngân hàng
Các khoản dự phòng lập cho các rủi ro chung trong hoạt động của ngân hàng, bao gồm các khoản lỗ dự kiến trong tương lai và các khoản rủi ro không thể dự kiến khác hoặc các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn đều phải được trình bày riêng rẽ như là phần trích lập từ lợi nhuận sau thuế Các khoản hoàn nhập dự phòng đã lập được ghi tăng lợi nhuận giữ lại Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng sẽ không thể hiện thông tin thích hợp và trung thực về tình hình hoạt động của ngân hàng nếu các khoản dự phòng và hoàn nhập dự phòng này hạch toán vào lãi, lỗ trong kỳ
1.3.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của ngân hàng thương mại Thông qua báo cáo này có thể đánh giá khả năng tạo tiền, các tài sản trong tài sản thuần của các ngân hàng thương mại, cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán và dự đoán luồng tiền tiếp theo Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại và khả năng so sánh giữa các ngân hàng thương mại vì nó loại trừ được các ảnh hướng của các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch hay hiện tượng
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính
Trang 40Luồng tiền từ hoạt động kinh doanh
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền do liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của các ngân hàng thương mại, như: cho vay; huy động vốn từ tiền gửi của khách hàng, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác; kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ; thu hồi nợ khó đòi đã xóa sổ…
Luồng tiền từ hoạt động đầu tư
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn như tài sản cố định và những khoản đầu tư khác không bao gồm tiền mặt va các khoản tương đương tiền
Luồng tiền từ hoạt động tài chính
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay, như hoạt động góp vốn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết…
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập căn cứ vào Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng cân đối kế toán và các tài liệu khác như sổ kế toán chi tiết…
Theo phương pháp gián tiếp, các chỉ tiêu về luồng tiền từ hoạt động kinh doanh được xác định trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh cho các khoản: Các khoản thu nhập, chi phí không phải bằng tiền; Lãi/lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện; Tiền đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; Các thay đổi trong kỳ của các tài khoản phải thu, phải trả, tồn kho; Lãi/lỗ từ hoạt động đầu tư Các luồng tiền từ các hoạt động đầu tư và tài chính được trình bày theo phương pháp trực tiếp
1.3.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Bản thuyết minh báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại cần đưa ra các thông tin về cơ sở dùng để lập các báo cáo tài chính và các chính sách kế toán cụ thể được lựa chọn, áp dụng cho các giao dịch, sự kiện quan trọng Những thông tin được yêu cầu trình bày theo một chuẩn mực riêng nào đó mà chưa trình bày trong các báo cáo tài chính khác thì ngân hàng cũng cần trình bày rõ trên Bản thuyết minh này Ngoài