1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần tại việt nam

94 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 thông qua quá trình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ NGỌC THẠCH

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI

CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN MINH HẢI

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

TÓM TẮT

Hệ thống tài chính, phần lớn do các ngân hàng chi phối, luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tính an toàn và hiệu quả của những tập đoàn Tài chính – Ngân hàng được quan tâm đặt lên hàng đầu, đặc biệt, đối với thị trường tài chính còn non trẻ như Việt Nam Nhằm tìm hiểu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 thông qua quá trình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Luận văn

sử dụng kỹ thuật xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng theo hai hướng tiếp cận:

mô hình tác động cố định FEM, mô hình tác động ngẫu nhiên REM Thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn, mô hình FEM là mô hình phù hợp nhất cho nghiên cứu Kết quả hồi quy cho thấy yếu tố quy mô ngân hàng (SIZE), chi phí hoạt động (OC), quy mô vốn chủ sở hữu (CAP), rủi ro tín dụng (CR), tỷ lệ cấp tín dụng (LDR)

và lạm phát (INF) có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Ngoài ra, sự hiện diện của tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP không đạt mức ý nghĩa trong nghiên cứu này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy

đủ trong luận văn

TÁC GIẢ

TRƯƠNG THỊ NGỌC THẠCH

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành tài chính ngân hàng với đề tài: “Các yếu tố

ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần

tại Việt Nam” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân cũng như

được sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy, bạn bè và đồng nghiệp Qua trang viết này tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập - nghiên cứu khoa học vừa qua

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo TS Nguyễn Minh Hải đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh, Phòng Đào tạo sau Đại học đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, đơn vị công tác đã giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn

TÁC GIẢ

TRƯƠNG THỊ NGỌC THẠCH

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Bố cục của luận văn 6

1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 7

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 7

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 8

2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 8

2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 8

2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 9

2.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 10

Trang 7

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn 10

2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn 11

2.1.3.3 Hoạt động trung gian hưởng hoa hồng thương mại 12

2.2 Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 12

2.2.1 Lý do chọn chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 12

2.2.2 Khái niệm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng 15

2.2.3 Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 16

2.3 Các nghiên cứu liên quan 17

2.3.1 Các nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại trên thế giới 18

2.3.2 Các nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại trong nước 20

2.3.3 Một số ý kiến kết luận về tổng quan nghiên cứu 20

2.4 Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng 21

2.4.1 Các yếu tố nội tại 23

2.4.1.1 Quy mô ngân hàng 23

2.4.1.2 Chi phí hoạt động 23

2.4.1.3 Quy mô vốn chủ sở hữu 24

2.4.1.4 Rủi ro tín dụng 25

2.4.1.5 Tỷ lệ cấp tín dụng 26

2.4.2 Các yếu tố vĩ mô 26

2.4.2.1 Tăng trưởng kinh tế 27

2.4.2.2 Lạm phát 27

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 28

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

Trang 8

3.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởngđến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 29

3.1.1 Nguồn dữ liệu và mẫu nghiên cứu 29

3.1.2 Quá trình thu thập dữ liệu 30

3.1.3 Các bước nghiên cứu thực nghiệm 30

3.1.4 Hệ thống các biến số dùng trong nghiên cứu 31

3.1.4.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) 32

3.1.4.2 Chi phí hoạt động (OC) 33

3.1.4.3 Quy mô vốn chủ sở hữu (CAP) 34

3.1.4.4 Rủi ro tín dụng (CR) 35

3.1.4.5 Tỷ lệ cấp tín dụng (LDR) 36

3.1.4.6 Tăng trưởng kinh tế GDP (GDP) 36

3.1.4.7 Tỷ lệ lạm phát (INF) 37

3.1.5 Phát triển các giả thiết nghiên cứu 38

3.2 Lựa chọn phương pháp và xây dựng mô hình hồi quy 42

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 43

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44

4.1 Kết quả kiểm định Hausman 44

4.2 Kết quả hồi quy 46

4.2.1 Thống kê mô tả các biến 46

4.2.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến 50

4.2.3 Kết quả mô hình hồi quy 51

4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 52

4.3.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) – H1 52

4.3.2 Chi phí hoạt động (OC) – H2 54

4.3.3 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP) – H3 55

4.3.4 Rủi ro tín dụng (CR) – H4 56

Trang 9

4.3.5 Tỷ lệ cấp tín dụng (LDR) – H5 57

4.3.6 Lạm phát (INF) – H7 58

4.3.7 Biến số không có ý nghĩa thống kê trong mô hình - GDP 59

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 62

CHƯƠNG 5 : HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận chung 63

5.2 Một số đề xuất khuyến nghị 64

5.2.1 Vấn đề mở rộng quy mô ngân hàng 64

5.2.2 Vấn đề về hiệu quả quản lý 65

5.2.3 Vấn đề về quản trị cơ cấu vốn 65

5.2.4 Vấn đề quản trị rủi ro tín dụng 65

5.2.5 Vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản 66

5.2.6 Các yếu tố vĩ mô 67

5.3 Đánh giá hạn chế của đề tài 67

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

A TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 70

B TÀI LIỆU TIẾNG ANH 71

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 76

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HAUSMAN 77

PHỤ LỤC 3: THỐNG KÊ MÔ TẢ BIẾN VÀ MA TRẬN TƯƠNG QUAN 79

PHỤ LỤC 4: CÁC KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 80

Trang 10

5 ES Efficient Structure - lý thuyết cấu trúc hiệu quả

6 FEM Fixed effects model

11 LOAN Quy mô hoạt động cho vay

12 LDR Tỷ lệ cấp tín dụng trên tiền gửi khách hàng

13 Max Giá trị lớn nhất

14 Min Giá trị nhỏ nhất

15 MP Market power - lý thuyết quyền lực thị trường

16 NHNN Ngân hàng nhà nước

17 NHTM Ngân hàng thương mại

18 NIM Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

19 OC Chi phí hoạt động trên tổng tài sản

20 OLS Ordinary least square – phương pháp ước lượng bình phương

nhỏ nhất

21 PVFC PetroVietnam Finance Corporation – Tổng công ty Tài chính

Cổ phần Dầu khí Việt Nam

22 REM Random effects model

Trang 11

23 RMP Relative Market Power - lý thuyết quyền lực thị trường tương

đối

24 ROA Return on total Assets – Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

25 ROE Return on Equity - Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

26 S & P Standard & Poor’s Ratings Services

27 SCP Structure – Conduct – Performance: lý thuyết Cấu trúc –

Hành vi – Hiệu quả

28 SIZE Quy mô ngân hàng

29 SMS Short Message Service – Dịch vụ tin nhắn ngắn

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về quy mô ngân hàng 33

Bảng 3.2: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về chi phí hoạt động 34

Bảng 3.3: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về quy mô vốn chủ sở hữu 34

Bảng 3.4: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về rủi ro tín dụng 35

Bảng 3.5: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về tỷ lệ cấp tín dụng 36

Bảng 3.6: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế 37

Bảng 3.7: Tóm tắt các tài liệu nghiên cứu về tỷ lệ lạm phát 38

Bảng 3.8: Bảng tổng hợp các biến được sử dụng trong nghiên cứu 41

Bảng 4.1: Kết quả ước lượng hồi quy theo FEM và REM 45

Bảng 4.2: Kiểm định Hausman 45

Bảng 4.3: Thống kê mô tả các biến 46

Bảng 4.4: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 51

Bảng 4.5: Kết quả mô hình hồi quy 51

Bảng 4.6: So sánh kết quả thực nghiệm với các nghiên cứu trước 61

Bảng 5.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu 64

Trang 13

Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ TNLCB (2008-2016) 60

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương một trình bày tầm quan trọng của lợi nhuận ngân hàng đối với nền kinh tế ở cả cấp độ vi mô lẫn vĩ mô, làm cơ sở nêu lên được lý do nghiên cứu của đề tài, dẫn dắt và đưa ra vấn đề cần nghiên cứu Chương này cũng đặt ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục dự kiến của luận văn như một định hướng cho quá trình thực hiện đề tài Kết thúc chương, tác giả đúc kết được ý nghĩa của đề tài về mặt khoa học cũng như thực tiễn

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với một nền kinh tế thị trường còn non trẻ như Việt Nam, hệ thống ngân hàng thương mại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là kênh dẫn vốn trên thị trường tài chính, giữ cho dòng vốn của nền kinh tế được lưu thông trôi chảy và hiệu quả Sự ổn định và phát triển của ngành ngân hàng không chỉ đem lại lợi nhuận cho bản thân mà còn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Không những thế, hệ thống ngân hàng thương mại còn là cầu nối vươn ra thế giới thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, giúp khai thác được nguồn vốn đáng kể từ nước ngoài đầu tư nhằm phát triển cơ sở hạ tầng trong nước Tuy nhiên, với những đặc trưng riêng trong hoạt động, ngân hàng là ngành kinh doanh nhạy cảm, thường phải đối mặt với nhiều rủi ro nên khi nền kinh tế bước vào thời kỳ khó khăn, các ngân hàng lập tức chịu ảnh hưởng nặng nề Những ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 vẫn tiếp tục lan rộng làm cho lạm phát và lãi suất tăng cao, nhiều ngân hàng không đạt được mục tiêu lợi nhuận đề ra theo xu hướng tăng trưởng “nóng” của kinh tế Việt Nam từ hai năm trước đó (2006 – 2007)

Trước tình hình kinh tế nói chung và thực trạng của ngành ngân hàng nói riêng trong giai đoạn 2008 – 2016, bên cạnh việc theo dõi những chỉ tiêu về doanh thu, chi phí để nắm bắt sơ bộ về chất lượng hoạt động của các ngân hàng, các nhà quản trị, cổ đông, khách hàng còn quan tâm đến hiệu quả hoạt động, đặc biệt là về khả năng sinh lời của ngân hàng Tầm quan trọng của khả năng sinh lời được thể hiện ở cấp độ vi mô lẫn vĩ mô trong nền kinh tế Ở cấp độ vi mô, lợi nhuận của

Trang 15

ngân hàng không chỉ đơn thuần là kết quả của hoạt động kinh doanh mà còn là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt Vì vậy, mục tiêu cơ bản của các nhà quản trị ngân hàng là phải đạt được lợi nhuận như một yêu cầu tất yếu của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào (Bobáková, 2003) Với cái nhìn vĩ mô, một hệ thống ngân hàng tốt và hoạt động hiệu quả sẽ có khả năng chống chọi lại những cú sốc tiêu cực và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính Vấn đề đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại trong nước đã được quan tâm nghiên cứu nhiều

và khá lâu Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này đều tiếp cận theo phương pháp định tính truyền thống hoặc nghiên cứu định lượng nhưng chủ yếu dùng chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản - ROA, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu - ROE để đại diện cho khả năng sinh lời của ngân hàng mà ít đề cập đến chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Với một góc nhìn mới và cách tiếp cận toàn diện hơn, luận văn đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thông qua chỉ số NIM – chênh lệch giữa thu nhập từ lãi vay và chi phí lãi phải trả chia cho tổng tài sản có sinh lời

Những năm gần đây, hệ thống ngân hàng đang chuyển sang hướng đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ nhằm tạo thêm nhiều nguồn thu nhập Tuy nhiên, sự chuyển hướng đó vẫn chưa thực sự phát triển mạnh và đồng đều nên nhìn chung, thu nhập từ lãi cho vay đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng cơ cấu thu nhập của các ngân hàng Mặt khác, khách hàng ngày nay dễ dàng tiếp cận với các luồng thông tin khác nhau, họ có thể đưa ra quyết định đầu tư hay lựa chọn kênh vay vốn

có lợi nhất, tạo nên môi trường cạnh tranh lãi suất gay gắt giữa các ngân hàng Vì vậy, việc nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cũng như các yếu tố tác động đến

tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thực sự cần thiết và quan trọng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong bối cảnh kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp hiện nay

Tại nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, các quốc gia Châu Âu, Đông Nam Á, Trung Á, ) các nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đã được tiến hành khá sâu rộng Ở Việt Nam, những năm gần đây đã xuất hiện một số nghiên cứu thực nghiệm

về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, và hầu hết các nghiên cứu này lại đưa ra những kết

Trang 16

quả theo nhiều chiều hướng khác nhau Trong khi nghiên cứu của Phạm Hoàng Ân

và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013) nhấn mạnh tác động của loại hình sở hữu ngân hàng lên thu nhập lãi cận biên, thì nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) lại chú trọng đến khía cạnh rủi ro qua các biến số là mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng, chi phí lãi suất ngầm và chất lượng quản lý Chính sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu đã đặt ra những hoài nghi về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Vì vậy, cần có sự đánh giá, nhận định lại các biến số nào có tác động mạnh lên tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để giải quyết những mối hoài nghi còn đang tồn đọng, qua đó, đề xuất khuyến nghị nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Từ các lý do nêu trên, luận văn

chọn đề tài nghiên cứu: “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” với mong muốn có một số đóng

góp giúp các nhà quản trị ngân hàng có những quyết định hợp lý và hiệu quả trong quá trình quản lý và vận hành hệ thống ngân hàng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và phân tích thực trạng về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2016, luận văn tìm ra các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và xác định mức độ ảnh hưởng, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Để thực hiện mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, bao gồm các yếu tố nội tại có thể kiểm soát được và các yếu tố bên ngoài không thể kiểm soát được

- Nghiên cứu thực nghiệm đối với các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, từ đó xác định chiều hướng và mức độ tác động của các yếu

tố lên tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

- Thảo luận kết quả nghiên cứu để đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Trang 17

- Đánh giá được những đóng góp của luận văn nghiên cứu, cũng như mặt hạn chế còn tồn đọng cần được tiếp tục nghiên cứu ở những đề tài sau này

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, luận văn nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi sau:

- Những yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài nào ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng TMCP Việt Nam?

- Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, mức độ và chiều hướng tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng như thế nào?

- Những giải pháp, khuyến nghị nào có thể thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng?

- Hạn chế nào còn tồn đọng trong lĩnh vực mà luận văn đang nghiên cứu?

Từ đó đưa ra định hướng quan điểm nghiên cứu cần được tiếp tục

Các câu hỏi nghiên cứu đặt ra sẽ được trả lời và giải thích rõ ở các chương của bài luận văn

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Cụ thể luận văn nghiên cứu ở khía cạnh định tính

và định lượng lên các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng

Trang 18

- Thời gian nghiên cứu: dữ liệu được thu thập theo từng năm, kéo dài 9 năm từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12 năm 2016

Phạm vi của nghiên cứu này được giới hạn là 23 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015” đã đi qua với nhiều thương vụ sáp nhập diễn ra, tính đến cuối năm 2016, ngành ngân hàng Việt Nam có tổng cộng 35 ngân hàng thương mại trong nước, bao gồm hai nhóm chính là ngân hàng thương mại nhà nước (4 ngân hàng) và các ngân hàng thương mại cổ phần (31 ngân hàng) Sở dĩ nghiên cứu chỉ chọn các ngân hàng TMCP là để tránh sự không đồng nhất về hoạt động của các ngân hàng khác nhau, chỉ tập trung vào các biến bên trong và bên ngoài Ngoài ra, để đảm bảo các ngân hàng được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu có dữ liệu tương tự nhau, trong cùng một khoảng thời gian, các ngân hàng cần đáp ứng điều kiện về tính đầy đủ của nguồn số liệu báo cáo tài chính trong giai đoạn 2008 – 2016 Do đó, nghiên cứu đã loại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và 8 ngân hàng TMCP ra khỏi phạm vi đối tượng nghiên cứu (bao gồm Ngân hàng Bảo Việt, Ngân hàng Bắc Á, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Ngân hàng Đại Đại Chúng Việt Nam, Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Sài Gòn, Ngân hàng Tiên Phong, Ngân hàng Việt Nam Thương tín), là những ngân hàng có quá trình hợp nhất, những ngân hàng không công bố thông tin hoặc thông tin không đầy đủ Cụ thể, mỗi ngân hàng được lựa chọn phải có báo cáo tài chính đến cuối năm 2016, dữ liệu phải tiếp cận được xuyên suốt trong giai đoạn

từ 01/01/2008 đến 31/12/2016 Sau quá trình chọn lọc, kết quả nghiên cứu còn lại

23 ngân hàng với dữ liệu trong giai đoạn từ 2008 – 2016, tạo thành dữ liệu bảng gồm 207 Quan sát Số lượng ngân hàng TMCP trong mẫu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng với quy mô lớn, vừa và nhỏ, chiếm khoảng 73.13% nguồn vốn điều lệ (tính tới 31/12/2016) của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã đại diện được cho tổng thể nghiên cứu

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 19

- Phương pháp thống kê: các dữ liệu được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy (Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng Nhà Nước, các website ngân hàng) của 23 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2016 Cụ thể, thông tin thu thập bao gồm các biến nội tại trong mô hình nghiên cứu là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM), quy mô tài sản (SIZE), chi phí hoạt động (OC), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP), rủi ro tín dụng (CR), tỷ lệ cấp tín dụng (LDR) được lấy từ báo cáo tài chính của ngân hàng công bố Các biến số bên ngoài như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát (INF) hằng năm được lấy từ số liệu công bố của Tổng cục Thống kê

- Phương pháp đối chứng, so sánh: so sánh giữa số liệu thu thập được và tình hình diễn biến thực tế để đưa ra những kết luận ban đầu về việc nhận định yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

- Phương pháp mô hình hóa: để làm rõ hơn những phân tích định tính, tác giả vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập từ những số liệu đã tính toán, nhằm tăng tính thuyết phục giá trị lập luận mô tả

- Phương pháp phân tích kinh tế lượng: sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng đa biến cho nghiên cứu thực nghiệm Dữ liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Stata

1.6 Bố cục của luận văn

Nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra, luận văn bao gồm 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5: Hàm ý và khuyến nghị

Trang 20

1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Việc nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên mang ý nghĩa cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn

Về mặt khoa học, mặt dù các nghiên cứu tương tự đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng cụ thể đối với nền kinh tế mang nhiều đặc trưng riêng như Việt nam, đề tài cũng đã đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm về

mô hình nghiên cứu định lượng và bổ sung thêm một tài liệu nghiên cứu trong cơ sở tài liệu chung về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, một lĩnh vực đang được quan tâm rất nhiều hiện nay

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là cơ sở tham khảo cho các nhà quản trị ngân hàng Nghiên cứu đưa ra mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của các yếu tố nội tại dưới sự kiểm soát của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, qua đó, các nhà quản trị sẽ có cơ sở để xác định những yếu tố quyết định thành công của ngân hàng Đây là chặng đường quan trọng trong việc nhận định những khuyết điểm trong quá trình điều hành, từ đó có hướng điều chỉnh

kế hoạch và chiến lược chính xác nhất Điều này góp phần cải thiện lợi nhuận ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động và duy trì sự ổn định của ngành ngân hàng

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài, việc phân tích lợi nhuận cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam từ một góc nhìn mới và toàn diện là một trong những nhu cầu thực tiễn nhất Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB Bằng phương pháp phân tích định tính

và định lượng phù hợp, luận văn tập trung vào các yếu tố vi mô và vĩ mô Nội dung nghiên cứu sẽ được thể hiện rõ ràng, chi tiết trong các chương sau Nối tiếp chương một, chương hai sẽ cung cấp những nền tảng lý thuyết cơ bản và lược khảo các nghiên cứu trước trong phạm vi đề tài

Trang 21

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chương hai nhằm mục đích cung cấp những kiến thức quan trọng về ngân hàng thương mại và những nghiên cứu trước đây về yếu tố quyết định tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Vì vậy, chương này được chia thành hai phần chính Phần đầu xem xét các khái niệm về ngân hàng thương mại bao gồm định nghĩa ngân hàng thương mại, chức năng và các hoạt động cơ bản của ngân hàng Từ những hiểu biết căn bản đó, cùng với khung phân tích CAMELS và hai lý thuyết nền về hiệu quả hoạt động là lý thuyết quyền lực thị trường và lý thuyết cấu trúc hiệu quả, luận văn đi sâu vào nghiên cứu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên như là một thước đo lợi nhuận của ngân hàng Phần tiếp theo sẽ tập trung rà soát kỹ lưỡng các nghiên cứu trước trong phạm vi đề tài, bao gồm các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

2.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại, theo Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941: Ngân hàng thương mại là một xí nghiệp hay

cơ sở nghề nghiệp thường xuyên nhận tiền của dân chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác, và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp

vụ chiết khấu, tín dụng và tài chính

Theo Peter S.Rose (2001), Ngân hàng thương mại là loại tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,

Trang 22

tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất

kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế

Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Nghị định của Chính phủ số 49/2000/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại định nghĩa: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước Trong

đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán

Xét về bản chất, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận – lợi nhuận tối đa Khác hẳn với các doanh nghiệp phi tài chính kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc kinh doanh hàng hóa, ngân hàng thương mại là một loại hình kinh doanh đặc biệt Chất liệu kinh doanh là tiền tệ, là công cụ để nhà nước sử dụng trong quản lý kinh

tế vĩ mô nên được kiểm soát rất chặt chẽ

2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Khi bàn về chức năng của ngân hàng thương mại, các kinh tế gia đều cho rằng: Ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản, đó là chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức năng tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng thay thế cho tiền mặt

Chức năng trung gian tín dụng: là trung gian chu chuyển vốn từ thành

phần kinh tế thừa vốn đến các thành phần kinh tế thiếu vốn, NHTM sẽ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng,

từ đó đáp ứng nhu cầu kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội

Trang 23

Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đứng ra làm trung gian thanh

toán, thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho các giao dịch thương mại thông qua việc phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, …

Chức năng tạo tiền (bút tệ): xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và

chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng vừa nhận tiền gửi lại vừa cho vay bằng chuyển khoản, làm điều kiện và tiền đề cho hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền Nghĩa là hệ thống ngân hàng thương mại có thể nhân rộng tiền ghi sổ

từ tiền gửi nhận được của khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp, công ty, tổ chức kinh tế và các thành phần khác (Lê Thị Mận, 2010)

2.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Dựa trên các chức năng của ngân hàng, các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM gồm có hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian hưởng hoa hồng thương mại

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế NHTM huy động vốn dưới các hình thức:

Nhận tiền gửi: NHTM tập trung huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi

trong xã hội để hình thành quỹ cho vay của mình bằng cách nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các ngoại tệ khác Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng Ngoài ra, các khoản tiền gửi thanh toán không kỳ hạn với chi phí thấp nhưng biến động mạnh, phức tạp và nhiều rủi ro cũng là nguồn vốn huy động thường xuyên của ngân hàng thương mại

Phát hành các giấy tờ có giá: NHTM có thể huy động vốn từ các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước thông qua nghiệp vụ phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái

Trang 24

phiếu và các giấy tờ có giá để da dạng hóa hình thức huy động vốn và đáp ứng các nhu cầu nắm giữ tài sản đa dạng của khách hàng

Vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác: Khi thiếu hụt thanh khoản tạm thời,

ngân hàng có thể vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay ngắn hạn tại ngân hàng trung ương để bổ sung cho thiếu hụt tạm thời

về vốn (Lê Thị Mận, 2010)

2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn

Hoạt động sử dụng vốn của NHTM giúp ngân hàng có nguồn thu để bù đắp chi phí đã bỏ ra, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, bao gồm hai hoạt động chính là cấp tín dụng và đầu tư

Hoạt động cấp tín dụng:

Ngân hàng thương mại sử dụng phần lớn nguồn vốn của mình vào việc cho vay đối với các doanh nghiệp, công ty, tổ chức kinh tế và cá nhân, do đó, lợi nhuận của ngân hàng chủ yếu được sinh ra từ hoạt động này (Lê Thị Mận, 2010) NHTM cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức:

- Cho vay: bao gồm cho vay ngắn, trung và dài hạn, cho vay có bảo đảm, cho vay tín chấp, cho vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng

- Chiết khấu giấy tờ có giá: ngân hàng sẽ chiết khấu cho người vay một số tiền nhỏ hơn mệnh giá của giấy tờ có giá chưa đến hạn, thay vào đó, người vay sẽ tạm thời chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ có giá cho ngân hàng

- Bao thanh toán: ngân hàng đứng ra mua nợ trên cơ sở hóa đơn, chứng từ của người bán hàng và người mua phải thanh toán toàn bộ số tiền cho ngân hàng khi đến hạn

- Cho thuê tài chính: ngân hàng mua máy móc, thiết bị và cho thuê máy móc, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê

- Bão lãnh: là hình thức tín dụng bằng chữ ký, nhờ chứng thư bảo lãnh của ngân hàng mà người được bảo lãnh có thể ký kết và thực hiện cách hợp đồng kinh tế một cách thuận lợi

Hoạt động đầu tư:

Trang 25

Ngoài việc sử dụng nguồn vốn để đem cho vay, ngân hàng thương mại còn

sử dụng một phần nguồn vốn của mình để đầu tư vừa là để đa dạng hóa nguồn thu nhập, vừa để phân tán rủi ro, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:

- Đầu tư gián tiếp: NHTM sẽ tham gia mua bán các chứng khoán do chính phủ và các công ty phát hành trên thị trường chứng khoán Nếu dự trữ các chứng khoán này, khi cần vốn ngân hàng thương mại có thể bán trên các thị trường chứng khoán hoặc làm tài sản đảm bảo để xin tái chiết khấu ở ngân hàng trung ương

- Đầu tư trực tiếp: NHTM trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty thông qua việc hùn vốn liên doanh, liên kết, thành lập công ty con hoặc mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, mua cổ phiếu sáng lập để tham gia hội đồng quản trị công ty và để phân chia lợi nhuận

2.1.3.3 Hoạt động trung gian hưởng hoa hồng thương mại

Các hoạt động trung gian ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và đem lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng hiện nay So với hoạt động cấp tín dụng thì các hoạt động trung gian cung cấp dịch vụ không hề có rủi ro mà lại góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường Các hoạt động trung gian bao gồm các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, dịch vụ ủy thác, đại lý, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh chứng khoán,… Ngoài ra, trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin, các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ, InternetBanking, SMS Banking,…cũng giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng hơn (Lê Thị Mận, 2010)

2.2 Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

2.2.1 Lý do chọn chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Hiệu quả hoạt động kinh doanh thường được đo lường bằng khả năng sinh lời thông qua các chỉ số tài chính cùng với lý thuyết quyền lực thị trường (Market power – MP) và lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure – ES)

Lý thuyết MP tiếp cận bằng hai hướng chính: (i) lý thuyết Cấu trúc – Hành

vi – Hiệu quả (Structure – Conduct – Performance – SCP) và (ii) lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power – RMP) Lý thuyết SCP cho rằng,

Trang 26

cấu trúc thị trường quyết định hành vi của công ty và hành vi quyết định kết quả trên thị trường Đặc biệt, nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hàng vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền (Bain, 1951) Lập luận theo lý thuyết SCP, thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao, lãi suất huy động càng thấp do mức độ cạnh tranh bị giảm

đi Trong khi đó, hướng tiếp cận theo lý thuyết RMP cho rằng, các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm có sự khác biệt cao có thể thực hiện quyền lực thị trường

và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995b) Cụ thể, các ngân hàng lớn với

ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm, dịch

vụ và thu được nhiều lợi nhuận hơn

Ngược lại, lý thuyết ES lại cho rằng, mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường

và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất công ty, hay nói cách khác, hiệu suất của công ty tạo nên cấu trúc thị trường Theo đó, các ngân hàng đạt lợi nhuận cao hơn là do hoạt động hiệu quả hơn (Olweny và Shipho, 2011) Giống như lý thuyết MP, lý thuyết ES cũng được tiếp cận theo hai hướng khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét Hướng tiếp cận thứ nhất theo hiệu quả X (X-Efficiency) cho rằng, các công ty hiệu quả hơn thường đạt được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn, bởi vị họ có khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu vào nào (Al-Muharrami và Matthews, 2009) Hướng tiếp cận thứ hai là hiệu quả theo quy mô (Scale-Efficiency) giải thích mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường

và hiệu suất dựa trên quy mô công ty Các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn là nhờ vào tính kinh tế theo quy mô (Olweny và Shipho, 2011)

Như vậy, có thể nói lý thuyết MP cho rằng khả năng sinh lời của ngân hàng

là một hàm theo các yếu tố thị trường, trong khi lý thuyết ES cho rằng hiệu quả của ngân hàng chịu ảnh hưởng của hiệu quả nội bộ và các quyết định quản trị, tức là các yếu tố bên trong Tổng hợp lại, nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào hai lý thuyết trên

để giới thiệu một số biến hữu ích đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng, và phần lớn đều nhận định rằng khả năng sinh lời của ngân hàng là một hàm theo cả các yếu tố bên trong và bên ngoài (Olweny và Shipho, 2011)

Trang 27

(1)

<http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/oracle/webcenter/portalapp/pages/vi/aptcnoidungchitiet.jspx;jsessionid=2mvGhQSc6dXGhR rWLhVMfJGRqf14PhWm7YCkL1c7LrkYNKx9T1jW!-205653828!-

777114139?id=333&_afrLoop=8511490369224794&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=null#%40%3F_afrWindowId%3Dn ull%26_afrLoop%3D8511490369224794%26id%3D333%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3D13af8hk1fb_4>

Các chỉ số tài chính sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động thường được chia thành bốn nhóm chính: (i) Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời; (ii) Nhóm chỉ số phản ánh tình hình hoạt động; (iii) Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán và (iv) Nhóm chỉ số phản ánh nghĩa vụ nợ Xét trên phương diện hiệu quả kinh tế, nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời đóng vai trò quan trọng nhất mà đại diện là

tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)

Mỗi một chỉ số sẽ phản ánh khả năng sinh lời ở các góc độ tiếp cận khác nhau ROE là chỉ số được các nhà đầu tư quan tâm hàng đầu bởi nó phản ánh khả năng tạo ra giá trị tăng thêm cho họ trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì lý do đó mà ROE là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả khi nghiên cứu

về khả năng sinh lời Nhưng ROE không đi một mình mà thường được nghiên cứu cùng với chỉ số ROA bởi ROA là chỉ số phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, là thước đo khả năng của nhà quản trị trong việc dùng các nguồn tài chính và đầu tư để sinh lời (Hassan và Bashir, 2003) Tuy nhiên, giá trị của hai chỉ số này có thể phụ thuộc vào cách lấy chỉ tiêu “lợi nhuận” Lợi nhuận trước thuế

và lãi vay (EBIT) được nhiều nhà nghiên cứu chọn để tính hai hệ số trên như Hu và Izumida (2008); Le và Buck (2011), Wang và Xiao (2011) Một số nghiên cứu khác

sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước hoặc sau thuế): Shah, Butt và Saeed (2011), Thomsen và Pedersen (2000), hoặc đơn giản chỉ là lợi nhuận thuần (LI, Sun

và Zou, 2009) Tóm lại, nhóm hệ số dựa trên giá trị sổ sách là cách nhìn về quá khứ hoặc đánh giá khả năng lợi nhuận ngắn hạn của doanh nghiệp (Hu và Izumida, 2008) Vì các hệ số như ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh giá trị lợi nhuận mà doanh nghiệp đã đạt được trong các kỳ kế toán đã qua, không đưa ra một góc nhìn dài hạn cho cổ đông và lãnh đạo doanh nghiệp bởi đó là các thước đo quá khứ và ngắn hạn (Jenkins, Ambrosini

và Collier, 2011) (1)

Trang 28

Theo quan điểm cá nhân, tác giả nhận thấy việc sử dụng NIM để phản ánh khả năng sinh lời là một hướng tiếp cận mới mẻ và có thể khai thác ở nhiều góc độ Mới mẻ ở đây không hàm ý rằng NIM chưa từng được nghiên cứu khi đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng Thực tế, NIM được sử dụng như một chỉ số đại diện cho khả năng sinh lời trong nhiều nghiên cứu trên thế giới, tuy nhiên, tại Việt Nam,

số lượng các nghiên cứu về NIM không nhiều Một số tác giả cũng đã đưa NIM vào

đề tài nghiên cứu cùng với 2 chỉ số phổ biến là ROA, ROE, nhưng với một vai trò thứ yếu Việc sử dụng chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên dẫn dắt người nghiên cứu khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau Ở góc độ lợi ích kinh tế, NIM phản ánh trình

độ quản lý nguồn lực có thể sinh lời của ngân hàng để đạt được mục tiêu lợi nhuận Ngược lại, xét về khía cạnh lợi ích xã hội, NIM phản ánh chi phí trung gian trong dòng luân chuyển vốn giữa các chủ thể kinh tế Chính vì vậy, bản thân NIM hàm chứa tính mâu thuẫn khi phải lựa chọn giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội để đưa

ra quyết định kinh doanh của nhà quản trị

Tổng hợp các lý do trên cùng với hai lý thuyết nền cơ bản, tác giả quyết định lựa chọn chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đánh giá khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động của ngân hàng

2.2.2 Khái niệm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest margin- NIM) của ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lời Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (Golin, 2001) Hempel, Coleman & Simonson (1986) cho rằng thu nhập lãi cận biên là rất hữu ích trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng Như vậy, NIM là tỷ số rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu

tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào (Golin, 2001)

𝑁𝐼𝑀 =𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖 =

𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑐ó sinh 𝑙ờ𝑖Trong đó:

NIM: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Trang 29

Thu nhập lãi thuần: là khoảng chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi Doanh thu lãi là tổng thu nhập lãi từ các khoản vay, đầu tư tài chính trong kỳ tính toán Chi phí lãi chủ yếu phát sinh từ các khoản huy động vốn và vay nợ ngắn hoặc dài hạn

Tổng tài sản có sinh lời bao gồm các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, chứng khoán kinh doanh

và sẵn sàng để bán; các tài sản thanh khoản kém chủ yếu là các tài sản tài chính có giá trị hợp lý, các khoản đầu tư giữ đến hạn, tổng dư nợ cho vay và các thành phần sinh lời của các tài sản khác

2.2.3 Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chỉ ra năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu

từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi) Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất Sự tăng giảm trong tỷ

lệ thu nhập lãi cận biên giúp các nhà đầu tư có nhận định tương đối về lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý Đối với nhà quản trị ngân hàng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo trực quan về tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh truyền thống, đánh giá tính hợp lý giữa thu nhập và chi phí phải trả

Theo đánh giá của S&P thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên dưới 3% được xem là thấp, trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao Thực tế, NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố NIM tăng cho thấy hiệu quả quản trị tốt tài sản Nợ

- Có, trong khi NIM giảm thấp và bị thu hẹp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị

co hẹp lại

Trang 30

Nếu chỉ xét đến vấn đề lợi nhuận thì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao sẽ có lợi cho ngân hàng, vì tỷ lệ lãi tạo ra trên tài sản sinh lời cao, là một dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang quản trị tốt Tài sản có và Tài sản nợ Mặt khác, tỷ lệ TNLCB cao mang đến sự ổn định nhất định cho hệ thống ngân hàng, khi mà lợi nhuận ngân hàng tăng lên từ lãi cận biên cao và lợi nhuận này được chuyển thành vốn chủ hữu (lợi nhuận giữ lại) của ngân hàng, giúp ngân hàng đứng vững trước những biến động vĩ mô và những cú sốc kinh tế khác (Saunders và Schumacher 2000) Ngược lại, khi tỷ lệ TNLCB thấp, phản ánh hệ thống ngân hàng có tính cạnh tranh một cách tương đối, với mức chi phí trung gian tài chính thấp có thể thúc đẩy nền kinh

tế phát triển Tuy nhiên, nó cũng hàm ý rằng ngân hàng không thể cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra Khi đó, cho dù lợi nhuận chung của ngân hàng cao nhưng hiệu quả sử dụng vốn thật sự của ngân hàng vẫn thấp, vì điều đó chứng tỏ ngân hàng đã phụ thuộc nhiều vào các khoản thu ngoài lại – các khoản thu không ổn định và không phải là chức năng trọng tâm của ngân hàng thương mại Theo Doliente (2005), nếu tỷ lệ TNLCB rất thấp thì không thể được cho là kết quả tích cực, đặc biệt là trong môi trường kinh tế có sự can thiệp vào những ngân hàng yếu kém về vốn và hoạt động không ổn định đang tồn tại

Hạn chế của chỉ số tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chỉ mang tính tương đối khi

so sánh lợi nhuận thuần từ lãi so với tổng tài sản có sinh lời Một tỷ lệ thấp không hẳn do chi phí trả lãi để huy động nguồn vốn của ngân hàng quá cao, mà có thể do ngân hàng chưa cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra Đồng thời, đôi khi tỷ lệ này cao không phải do ngân hàng có nguồn thu lãi lớn mà do kết quả từ giảm thiểu chi phí và quản lý hiệu quả tài sản sinh lời Ngoài ra, tỷ lệ này còn bị ảnh hưởng bởi chiến lược hoạt động của từng ngân hàng trong từng thời kỳ hay tình hình khó khăn chung của nền kinh tế Vì vậy, việc đánh giá tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng cần có sự thận trọng xem xét đa dạng nhiều yếu tố cả vi mô lẫn vĩ mô

2.3 Các nghiên cứu liên quan

Thực tế đã có nhiều nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên của các tác giả trên thế giới Bằng nhiều phương pháp tiếp cận nhau, mỗi kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố cơ bản tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Nhìn chung, các

Trang 31

nghiên cứu đều xem xét đến những nhóm yếu tố cơ bản như đặc điểm cơ chế thị trường, các yếu tố tập trung của ngân hàng, yếu tố ngành, các yếu tố vĩ mô đặc trưng,…

2.3.1 Các nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại trên thế giới

Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) là nghiên cứu tạo tiền đề cho hầu hết các nghiên cứu sau này về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Hai tác giả này đã thiết lập mô hình đo lường chênh lệch lãi suất thuần, sau đó xây dựng mô hình đo lường tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) thực tế của ngân hàng Chênh lệch lãi suất thuần được định nghĩa bằng hàm số sau:

- α/β đo lường độ co giãn của cung và cầu về vốn trong phân khúc thị trường

mà ngân hàng hoạt động Nếu một ngân hàng phải đối mặt với độ co giãn tương đối thấp của cầu và cung (hệ số α/β cao) thì ngân hàng đó có thể lợi dụng vị thế độc quyền để tăng chênh lệch lãi suất thuần;

- R đo lường mức độ ngại rủi ro;

- Q đo lường quy mô giao dịch và 𝜎𝑖2 đo lường phương sai của lãi suất

Sau thi thiết lập công thức đo lường chênh lệch lãi suất thuần, Ho và Saunders tiếp tục xây dựng mô hình đo lường tỷ lệ thu nhập lãi thuần thực tế tại ngân hàng Theo họ, NIM bao gồm chênh lệch lãi suất thuần và chênh lệch lãi suất

bù đắp cho chi phí lãi suất ngầm, chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc và rủi ro tín dụng Chênh lệch lãi suất bù đắp chính là những khiếm khuyết của thị trường mà tất

cả các ngân hàng phải đối mặt

Sau Ho và Saunders, McShane và Sharpe (1985) xây dựng mô hình xác định tỷ lệ thu nhập lãi thuần của ngân hàng dựa trên giả thuyết tự bảo hiểm Điểm khác biệt chủ yếu so với mô hình của Ho và Saunders là trong mô hình của McShane và Sharpe, rủi ro gắn liền với sự thay đổi liên tục trong lãi suất ngắn hạn của thị trường tiền tệ chứ không phải gắn với lãi suất huy động và lãi suất cho vay

Trang 32

Tuy nhiên nhìn chung, mô hình cuối cùng của hai tác giả này cũng gần tương tự như mô hình của Ho và Saunders

Garza-García (2010) nghiên cứu để xác định các yếu tố quyết định chính đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cho nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng năng động và cũng áp dụng chỉ số Lerner để xem xét tính cạnh tranh Kết quả cho rằng yếu tố quyết định chính đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ở các nước phát triển bao gồm: chi phí vận hành, an toàn vốn, rủi ro lãi suất, quy mô của các ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế và mức thuế Trong khi đó, các yếu tố quyết định chính đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ở các nước đang phát triển bao gồm: an toàn vốn, rủi ro tín dụng, thanh toán lãi suất ngầm định, chi phí giữ dự trữ, mức độ hiệu quả và mức độ của các loại thuế Nhìn chung, chi phí hoạt động là biến quan trọng nhất chịu trách nhiệm về tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cho toàn bộ mẫu (cả 2 nhóm nước phát triển và đang phát triển)

Trong một nghiên cứu gần đây hơn, Hamadi và Awdeh (2012) phân tích các yếu tố quyết định đến NIM của các ngân hàng thương mại ở Lebanon, sử dụng các yếu tố đặc điểm ngân hàng, đặc điểm ngành, chính sách tiền tệ và các biến sô vĩ

mô cho giai đoạn từ 1996 – 2009 Kết quả cho thấy, đối với ngân hàng trong nước, tốc độ tăng trưởng tiền gửi, cho vay, lạm phát, lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương, tiết kiệm quốc gia, đầu tư trong nước, lãi suất liên ngân hàng đều có sự tương quan dương với NIM Đối với các ngân hàng nước ngoài, các yếu tố về quy

mô, thanh khoản, tỷ lệ vốn hóa và rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê

Tarus, Chekol và Mutwol (2012) nghiên cứu các nhóm nhân tố đặc trưng của ngân hàng và nhóm nhân tố vĩ mô với nguồn số liệu từ 44 ngân hàng Kenya từ

2000 – 2009 Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Pooled và FEM, đưa ra kết luận về quan hệ động biến của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên với chi phí hoạt động và tỷ lệ lạm phát

Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu khác liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên như Kasman và cộng sự (2010), Ugur và Erkus (2010), Fungacova và Poghosyan (2011)

Trang 33

2.3.2 Các nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại trong nước

Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013) đã phân tích các yếu

tố quyết định đến thu nhập lãi cận biên của 30 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn

2008 – 2012, với sự nhấn mạnh về quyền sở hữu của ngân hàng Bài nghiên cứu áp dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi để ước lượng các hệ số hồi quy Kết quả thực nghiệm cho thấy tác động của loại hình sở hữu đến thu nhập lãi cận biên Đồng thời, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê đối với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng

Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) thực hiện nghiên cứu định lượng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí lãi suất ngầm có quan hệ tỷ lệ thuận và có ý nghĩa thống kê với NIM Còn chất lượng quản lý thì có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với NIM Biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất không có quan hệ với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần giữa các NHTM nhà nước và NHTM

cổ phần ở Việt Nam

Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) nghiên cứu thu nhập lãi cận biên của 27 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013 bằng việc sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng Sau quá trình phân tích và qua các bước kiểm định, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở Việt Nam, các biến có tác động cùng chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng theo tác động giảm dần gồm: rủi ro tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, quy mô ngân hàng Đồng thời, tốc độ tăng trưởng GDP và hiệu quả quản lý có tác động ngược chiều đối với thu nhập lãi cận biên

2.3.3 Một số ý kiến kết luận về tổng quan nghiên cứu

Trang 34

Trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều bài nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NHTM và các nhân tố tác động Những nghiên cứu đó không những được áp dụng cho mẫu nghiên cứu là hệ thống ngân hàng của một quốc gia

mà còn cho nhiều quốc gia trong cùng một khu vực Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm đưa ra có nhiều hướng phát triển khác nhau, cụ thể:

Những nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành ở các nước đang phát triển trên thế giới tập trung vào chính sách tiền tệ và các biến số vĩ mô như mức độ các loại thuế, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, … Bên cạnh đó, đối với biến số nội tại, đặc biệt chú trọng đến chi phí lãi suất ngầm và rủi ro tín dụng

Nhìn lại các nghiên cứu thực nghiệm cùng lĩnh vực của các tác giả trong nước, biến số thuế hầu như không được sử dụng đến Sở dĩ như vậy là do chính sách thuế ở Việt Nam là tương đối đồng nhất đối với các chủ thể kinh tế trong nền kinh

tế Bên cạnh đó, có những chính sách hỗ trợ về thuế của Chính phủ mà không phải

là sự biến động với biên độ lớn như các nước khác trên thế giới Mặt khác, với mức trần lãi suất và sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước, những năm gần đây, chi phí lãi suất ngầm đã không còn là khoản chi phí khổng lồ mà các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm nhiều

Với những kết luận và đánh giá sơ bộ tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước, kết hợp bối cảnh kinh tế có nhiều biến số nhảy cảm như hiện nay, đề xuất định hướng nghiên cứu phù hợp cho bài luận văn

2.4 Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng

Trong các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được chia thành 2 nhóm chính: (i) nhóm các yếu tố nội tại (xuất phát từ bên trong mỗi ngân hàng) và (ii) nhóm các yếu tố vĩ mô (xuất phát từ bên ngoài hệ thống các ngân hàng) Trong

đó, các yếu tố bên trong được xác định dựa trên nền tảng khung phân tích CAMELS

và bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF)

Trang 35

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích CAMELS

Nguồn: Bank exams today, 2017 (2)

Trang 36

Dựa trên cơ sở lý thuyết, khung phân tích CAMELS và Bộ chỉ số lành mạnh tài chính, luận văn xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng bao gồm: Quy mô tài sản, Chi phí hoạt động, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu, Rủi ro tín dụng, Tỷ lệ cấp tín dụng, Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Sơ đồ 2.2: Mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến TNLCB

2.4.1 Các yếu tố nội tại

2.4.1.1 Quy mô ngân hàng

Khi so sánh tình hình hoạt động giữa các ngân hàng, quy mô ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng Hầu hết các tỷ số phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng đều rất nhạy cảm với quy mô ngân hàng Những ngân hàng có quy

mô lớn, uy tín cao sẽ có nhiều cơ hội trong kinh doanh hơn, khả năng tiếp cận với các nguồn vốn đa dạng hơn Mặt khác, họ có thể tận dụng triệt để các lợi thế như tiết kiệm chi phí mua sắm các yếu tố đầu vào do được hưởng chiết khấu mua hàng với số lượng lớn; hiệu quả tài chính thu được do có thể huy động vốn với điều kiện thuận lợi (lãi suất, chi phí vay thấy hơn) Theo Peter S Rose (2004), các ngân hàng lớn có thể hoạt động với chi phí thấp hơn các ngân hàng quy mô nhỏ do có lợi thế cạnh tranh hơn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

2.4.1.2 Chi phí hoạt động

Trang 37

Chi phí hoạt động gồm chi phí lương, chi phí khấu hao cho đầu tư hạ tầng

cơ sở và công nghệ thông tin, trích lập dự phòng, chi phí hoạt động khác… Trong

đó, chi phí lương thường là khoản chi lớn nhất so với các khoản chi khác, và có xu hướng ngày càng gia tăng Theo lý thuyết về chi phí hoạt động, sự biến đổi của chi phí hoạt động sẽ được phản ánh trong sự biến đổi thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Do đó, mức tăng chi phí hoạt động phải phù hợp với sự tăng trưởng các hoạt động của ngân hàng, bao gồm chủ yếu là hoạt động tín dụng, huy động, đầu tư và dịch vụ Điều này có nghĩa là tại một ngân hàng, nếu chi phí hoạt động cao hơn nhiều so với sự tăng trưởng của các tài sản sinh lời và tài sản nợ, thì ngân hàng đó hoạt động không hiệu quả Bên cạnh đó, khi ngân hàng chi lương cho ngân viên cao hơn, hoặc tăng chi phí quảng bá thương hiệu sẽ làm tăng năng suất làm việc của nhân viên, cũng như có thêm được nhiều hơn khách hàng, làm cho lợi nhuận của ngân hàng cũng gia tăng Như vậy, việc sử dụng chi phí hoạt động nhiều hay không, không quan trọng bằng việc sử dụng chi phí ấy như thế nào, có hợp lý, hiệu quả và thực sự cần thiết hay không

2.4.1.3 Quy mô vốn chủ sở hữu

Quy mô vốn chủ sở hữu là một trong những chỉ số thuộc nhóm các chỉ số khuyến khích (IMF, 2006), góp phần đánh giá độ lành mạnh tài chính của ngân hàng thương mại, cho thấy quy mô tài sản được tài trợ từ chủ sở hữu và là một biện pháp đảm bảo an toàn vốn của tổ chức nhận tiền gửi, đôi khi còn được gọi là tỷ lệ

an toàn vốn Một ngân hàng có mức vốn hóa lớn sẽ có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn ít rủi ro, từ đó hạ chi phí vốn xuống thấp hơn Bên cạnh đó, sự thận trọng của Ban quản trị ngân hàng trong việc duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản cao cũng được thể hiện trong các quyết định về danh mục đầu tư tài sản của ngân hàng Tuy nhiên, việc giữ tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao làm ngân hàng tốn nhiều chi phí hơn việc tài trợ bằng nợ vay, do đó, ngân hàng sẽ kỳ vọng bù đắp những chi phí đó thông qua lãi vay hoặc chi trả ít hơn trong việc huy động tiền gửi

Việc sử dụng các loại vốn khác nhau sẽ đưa đến chi phí sử dụng vốn khác nhau, và mỗi loại vốn đều có ưu nhược điểm riêng Vì vậy, khi xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu, ngân hàng phải dựa trên đặc trưng riêng của mình để đưa ra một tỷ lệ vốn tối ưu, với chi phí sử dụng vốn và rủi ro thấp nhất Vốn vay thường có chi phí

Trang 38

sử dụng vốn thấp hơn so với vốn chủ sở hữu, nhưng lại không có lợi thế về tính ổn định Tuy nhiên do ngân hàng là trung gian tài chính, nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, phần vốn tự có chiếm

tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn

Về phương diện lý thuyết, cấu trúc vốn tối ưu đối với doanh nghiệp là nghiêng về nên nợ do việc sử dụng nợ có nhiều ưu điểm giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh mà vốn chủ sở hữu không thể mang lại Tuy nhiên, sử dụng vốn vay quá nhiều sẽ làm ngân hàng đối mặt với rủi ro cao hơn Các ngân hàng thương mại có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao thường dễ tiếp cận với các nguồn vốn

ít rủi ro, từ đó hạ chi phí vốn xuống thấp hơn

Theo nghiên cứu của Berger (1995b) được thực hiện cho những ngân hàng

ở Mỹ giai đoạn 1983 – 1989, đã cho thấy những ngân hàng có tỷ trọng vốn tự có trong tổng nguồn vốn cao sẽ giảm khả năng gặp rủi ro phá sản và giảm nguy cơ tổn thất khi gặp khủng hoảng tài chính, do đó khả năng sinh lời được gia tăng Các nghiên cứu cho ra kết quả tương tự như của Berger có thể kể đến như Kousmidou & Pasiouras (2007), Staikouras & Wood (2008), … cho rằng, ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu càng lớn thì sẽ giảm xác suất đối mặt với rủi ro phá sản và có thể trụ vững trước những đợt khủng hoảng

2.4.1.4 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro khi khách hàng không có khả năng chi trả được nợ cho ngân hàng khi đến hạn phải thanh toán Như vậy, theo nghĩa rộng có thể hiểu loại rủi ro này liên quan đến sự tín nhiệm bị vi phạm, đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng, không chỉ riêng có hoạt động tín dụng mà còn là rủi ro trong các hợp đồng phái sinh, rủi ro trong việc ngân hàng đầu tư chứng khoán, … thông qua biến

cố vi phạm/phá vỡ cam kết hợp đồng từ phía khách hàng, gây bất lợi cho ngân hàng (Bùi Diệu Anh và cộng sự, 2013) Tuy nhiên, trong phạm vi bài nghiên cứu này, rủi

ro tín dụng được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là biến cố chậm trả/không trả được nợ của người đi vay so với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, vì cách hiểu này phù hợp với quan niệm của ngân hàng Việt Nam hiện nay Trong hoạt động tín dụng, khi thực hiện bất kì một khoản tín dụng nào, NHTM cũng phải đối mặt với rủi ro về sự

vi phạm nghĩa vụ từ phía đối tác, mang đến tổn thất tài chính cho ngân hàng Việc

Trang 39

trích lập dự phòng cho những khoản nợ xấu sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng,

uy tín ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao Những thay đổi của rủi ro tín dụng có thể phản ánh những thay đổi về sức khỏe của một danh mục đầu tư vay vốn và ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của ngân hàng Trong điều kiện kinh tế hiện nay, vấn đề cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra một cách khốc liệt và toàn diện Cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ, cạnh tranh về chất lượng,… Giữa môi trường cạnh tranh đó, các ngân hàng cần phải thận trọng và đặt vấn đề an toàn lên hàng đầu, vì nếu chỉ mãi chạy theo số lượng mà không quan tâm đến chất lượng sẽ làm gia tăng chi phí do rủi ro tăng cao, từ đó giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng

2.4.1.5 Tỷ lệ cấp tín dụng

Tỉ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động là một trong những tiêu chuẩn

cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng Các nhà phân tích và quản lí thường xuyên đánh giá năng lực hoàn trả của ngân hàng đối với người gửi tiền và các chủ nợ khác mà không kèm theo các chi phí quá đắt, đồng thời, vẫn duy trì tăng trưởng nguồn vốn Đối với các ngân hàng dựa quá nhiều vào nguồn tiền gửi để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng, họ khó có thể bảo

vệ mình khỏi nguy cơ rút tiền gửi đột ngột của khách hàng Nếu lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, các ngân hàng buộc phải vay mượn từ thị trường liên ngân hàng hoặc ngân hàng trung ương với mức lãi suất rất cao Theo Peter S Rose, hầu hết các vấn đề thanh khoản đều xuất hiện ở bên ngoài ngân hàng do những hoạt động tài chính của khách hàng Tuy nhiên, trên thực tế, các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường chuyển về phía ngân hàng Ngân hàng có tính thanh khoản cao sẽ ít gặp rủi ro về khả năng thanh toán, nhưng bù lại, họ phải chấp nhận mức cấp tín dụng thấp đảm bảo khả năng hoàn trả của ngân hàng đối với người gửi tiền

và ngược lại Đây là sự đánh đổi giữa an toàn và lợi nhuận Trong vài năm vừa qua, hoạt động cho vay thế chấp và cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển mạnh đã làm bùng nổ cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng trong hoạt động tín dụng Từ đó, những dấu hiệu về sự bất ổn thanh khoản của các ngân hàng trở thành thường trực trong giai đoạn khủng hoảng tài chính năm 2008

2.4.2 Các yếu tố vĩ mô

Trang 40

2.4.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Sự biến động của nền kinh tế - được đo lường bởi tốc độ tăng trưởng GDP -

có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể ở trạng thái thặng dư tạm thời Thông qua hệ thống NHTM, các dòng vốn được hình thành và luân chuyển một cách dễ dàng Một phần trong các dòng vốn này sẽ liên quan trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế như các khoản đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Trong nền kinh tế phát triển sôi động, sự tăng trưởng mang lại lợi nhuận cho các chủ thể, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng Nguồn vốn trên thị trường nhiều làm giảm chi phí huy động, góp phần làm tăng lợi nhuận của ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh

tế kém phát triển, sản xuất trì trệ, hệ thống tài chính cũng sẽ bị ảnh hưởng theo hướng xấu đi Nguồn vốn khan hiếm, tạo áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng, đẩy mức lãi suất tăng cao cả đầu vào và đầu ra, rủi ro ngày càng nhiều và hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ bị giảm

2.4.2.2 Lạm phát

Lạm phát là hiện tượng tiền lưu thông vượt quá sự tăng trưởng hàng hóa sản xuất ra, từ đó dẫn đến giá cả của hầu hết hàng hóa trong nền kinh tế tăng lên (Theo Milton Friedman và John Maynard Keynes) Đối với hệ thống ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, tỷ lệ lạm phát có tác động quan trọng đến hiệu quả kinh doanh vì nó tác động đến quyết định gửi tiền của người dân và chi phí hoạt động của ngân hàng Khi tỷ lệ lạm phát lớn hơn mức lãi suất của ngân hàng (lãi suất thực của người gửi tiền bị âm) thì người gửi tiền sẽ chọn kênh đầu tư khác, từ đó tác động đến nguồn tiền vào để duy trì hoạt động của ngân hàng Mặt khác, khi giá cả tăng lên thì chi phí lương, chi phí hoạt động hằng ngày của ngân hàng cũng tăng lên, buộc họ phải có những chính sách thích hợp để đối phó với lạm phát Bên cạnh

đó, khi lạm phát tăng cao tạo áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông Tuy nhiên, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn cao, mà ngân hàng chỉ có thể đáp ứng được một phần vốn phù hợp với mức rủi ro cho phép Sự chênh lệch giữa cung và cầu trên thị trường tài chính làm tăng cả lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và giảm phần chênh lệch lợi nhuận của ngân hàng

Ngày đăng: 14/06/2021, 23:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm