Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội
Trang 1Thực tế cho thấy, pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nayvẫn chưa hoàn chỉnh Tuy đã có những đổi mới để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh
tế thị trường, tuy nhiên các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên quy định về hợpđồng, hợp đồng dịch vụ chứ không quy định trực tiếp về HĐDVPL Điều đó dẫn đếnmột thực tế là trong một số trường hợp cùng một vấn đề nhưng lại được điều chỉnhbằng nhiều quy định của các văn bản khác nhau và những quy định đó lại chồng chéo,mâu thuẫn với nhau Ngược lại, có nhiều vấn đề lại không được quy phạm pháp luậtnào điều chỉnh hoặc quy định không rõ ràng hoặc quá chung chung…gây khó khăn,lúng túng cho các chủ thể khi giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, cũngnhư hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước
Dựa trên những thực tế đó, đề tài đã nêu lên một số vấn đề lý luận cơ bản về giaokết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên quy định của các văn bản quyphạm pháp luật hiện hành Đồng thời đề tài cũng phân tích thực trạng pháp luật điềuchỉnh và đánh giá về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về giao kết và thựchiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội Sau khi phân tích
và chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện tại doanhnghiệp, đề tài nêu ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả thục thực hiện pháp luật về giao kết, thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý, góp phần nhỏ vào quá trình hoàn thiện các quy phạm pháp luật về hợpđồng dịch vụ pháp lý, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại họcThương Mại, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ íchcho em, đó chính là những nền tảng cơ bản, là hành trang vô cùng quý giá, là bước đầutiên cho em bước vào sự nghiệp sau này Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến ThS.Nguyễn Thị Vinh Hương, cảm ơn cô đã tận tình quan tâm, giúp đỡ em trong thời gianqua, nhờ đó em mới có thể hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp của mình Bên cạnh
đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Thương Mại, KhoaKinh tế - Luật, Bộ môn Luật Căn Bản đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóaluận
Trong thời gian thực tập tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội, em đã nhận được sựgiúp đỡ và tạo điều kiện của Trưởng Văn phòng luật sư, cùng với sự hướng dẫn nhiệttình của các cô chú, anh chị trong các phòng ban đã giúp em tìm hiểu thực tế về môitrường làm việc của Văn phòng luật sư Nam Hà Nội cũng như đã vận dụng những kiếnthức được học tại trường Qua đó, em đã có được những kiến thức và kinh ghiệm nhấtđịnh, đây sẽ là hành trang cho công việc của em sau này Em xin chân thành cảm ơntới Ban lãnh đạo, toàn thể các cô chú, anh chị
Trong quá trình làm khóa luận vì kiến thức và thời gian thực tập còn hạn chế nên
em kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía các thầy cô giáo để bài khóa luậnđược hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của khoán luận 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ 6
1.1 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý và giao kết, thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của hợp đồng dịch vụ pháp lý 6
1.1.2.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 10
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch pháp lý 13
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 13
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 15
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 19
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT; THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NAM HÀ NỘI 21
2.1 Tổng quan về Văn phòng luật sư Nam Hà Nội và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giao kết; thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng 21
2.1.1 Tổng quan về Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 21
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động giao kết; thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 22
2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 23
Trang 42.2.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý 23
2.2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 27
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 29
2.3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 29
2.3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 32
2.4 Đánh giá chung 33
2.4.1 Đánh giá chung về thực trạng pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 33
2.4.2 Đánh giá chung về thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 34
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT; THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ 36
3.1 Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 36
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 38
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 40
3.3.1 Đối với cơ quan nhà nước nói chung 40
3.3.2 Đối với Văn phòng luật sư Nam Hà Nội 41
3.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 41
KẾT LUẬN 42
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 517 GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng được hội nhập sâu rộng với nền kinh tếthế giới Sự liên kết về kinh tế và thương mại không chỉ diễn ra ở cấp độ song phương,
đa phương mà đã có sự gắn kết toàn cầu Với áp lực đó, Việt Nam đã và đang ký kếtnhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) Với sự hình thành khu vực thương mại tự dogiữa các nước, hiện nay việc đầu tư ở trong và ngoài nước tại Việt Nam đang ngàyđược đẩy mạnh
Với chủ trương đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề ra đường lối, từngbước xây dựng và hoàn thiện thể chế, hoàn thiện pháp luật để phù hợp định hướngphát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Kể từ khi đổi mới cho đến nay,các văn bản pháp luật với số lượng lớn đã được ban hành Theo đó, các chủ thể thamgia vào nhiều giao dịch liên quan đến nhiều lĩnh vực không chỉ chịu sự điều chỉnh củapháp luật trong nước mà còn phải tuân thủ pháp luật quốc tế Trong hoạt động củamình, việc các chủ thể không nắm bắt đầy đủ, không đồng bộ các quy định của phápluật dẫn đến không ít các khó khăn, làm mất đi cơ hội hoặc bị những sai phạm thậmchí phải chịu những hậu quả pháp lý nặng nề Do vậy, các tổ chức cá nhân rất cần sự
an toàn về mặt pháp luật trong hoạt động của mình và ngày càng phát sinh nhu cầu cóđược sự trợ giúp pháp lý thường xuyên Nhu cầu ấy của xã hội được đáp ứng thôngqua các DVPL mà các chủ thể có đủ điều kiện được pháp luật cho phép cung ứngthông qua HĐDVPL
Thực tế cho thấy, để hoạt động cung ứng DVPL nói chung và hoạt động cungứng DVPL của LS tại các TCHNLS nói riêng được phát triển đúng vai trò, vị trí củamình, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế- xã hội, cần thiết phải cómột hành lang pháp lý cụ thể, vững chắc, làm cơ sở để hoạt động Tuy nhiên, nhữngquy định đấy vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của nền kinh tế Pháp luật điều chỉnhhợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam nay còn chưa hoàn chỉnh và được quy định rảirác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, như: BLDS 2015; LTM 2005; Các đạo luậtchuyên ngành và một số văn bản dưới luật, bước đầu đặt cơ sở pháp lý cho hoạt độngdịch vụ pháp lý của các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lývới các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý Các văn bản pháp luậtnày quy định về HĐDVvà DVPL chứ không quy định trực tiếp về HĐDVPL Điều đódẫn đến một thực tế là trong một số trường hợp cùng một vấn đề nhưng lại được điềuchỉnh bởi nhiều quy định của các văn bản khác nhau, những quy định đó lại chồngchéo mâu thuẫn nhau Ngược lại, có nhiều vấn đề lại không được quy định hoặc quy
Trang 7định quá chung chung, dẫn đến khó khăn cho các chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý vàcho các hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết tranh chấp về HĐDVPL
Qua đó, em nhận thấy rằng, hệ thống pháp luật HĐDVPL hiện hành chưa đápứng được nhu cầu thực tiễn của xã hội, của việc phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Điều này đã dẫn đếnnhững khó khăn trong quá trình thực hiện và giao kết HĐDVPL của các TCHNLS đặcbiệt đối với các Luật sư hoạt động tại đây Cụ thể, tại VPLS Nam Hà Nội việc thựchiện các DVPL nói chung và việc giao kết và thực hiện HĐDVPL nói riêng đã xảy ranhiều bất cập, không thống nhất Quá trình xây dựng và hoàn thiện HĐDVPL với KHcòn gặp nhiều trở ngại khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợpđồng vì không có một văn bản pháp luật cụ thể quy định về DVPL Ngoài ra, việc giaokết và thực hiện HĐDVPL còn tồn tại khó khăn khi phải tuân theo nhiều văn bản phápluật, không chỉ các quy định của Luật Luật sư, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệpluật sư Việt Nam mà còn phải vận dụng các quy phạm của các văn bản quy phạm phápluật khác có liên quan
Xuất phát từ những lý do này, em đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam
Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn hoàn thiện hơn về
pháp luật liên quan đến HĐDVPL, đồng thời hỗ trợ Văn phòng trong hoạt động giaokết và thực hiện HĐDVPL với KH
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Về phương diện khoa học pháp lý, đã có một số công trình nghiên cứu đề cậptới các vấn đề, khía cạnh khác nhau của HĐDVPL, cụ thể như:
- Luận án tiến sĩ luật học “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” Hà Nội
(2014) của tác giả Hoàng Thị Vịnh,Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam học - Họcviện Khoa học xã hội Luận án đã tiếp cận nghiên cứu pháp luật HĐDVPL dựa trêncác nội dung cơ bản bao gồm: Các quy định về chủ thể, về nội dung, về thực hiện, vềđiều kiện có hiệu lực và tránh nhiệm do vi phạm HĐDVPL Tác giả đã đưa ra nhữngluận cứ logic để bước đầu xây dựng hệ thống lý luận về DVPL và thương mại DVPLcũng như thực tiễn về các quan hệ cung ứng DVPL, trên cơ sở đó luận án xây dựng hệthống lý luận khoa học về pháp luật, đưa ra các luận cứ khoa học, tính tất yếu kháchquan đối với việc thiết lập chế định pháp luật về HĐDVPL Luận án cũng đánh giámức độ phù hợp của pháp luật HĐDVPL với thực tiễn hoạt động DVPL đồng thời đưa
ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
- Luận án tiến sĩ luật học “Công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý theo pháp luật Việt Nam” Hà Nội (2019) của tác giả Đồng Thái Quang, trường
Trang 8Đại học Luật Hà Nội Luận án nghiên cứu các quy định pháp luật về Tổ chức họađộng của công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp DVPL Trình bày những vấn đề líluận và pháp luật về công ti hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp
lí theo pháp luật Việt Nam Thêm vào đó đề tài còn nghiên cứu các quy định của một
số quốc gia khác nhằm so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện phápluật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam Tiếp đó, đi vàophân tích thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về công ti hợp danh hoạt độngtrong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lí ở Việt Nam; từ đó đưa ra định hướng, giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
- Luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa tổ chức hành nghề luật sư và doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” Hà Nội (2017) của tác
giả Lê Bình Phương, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam học - Học viện Khoahọc xã hội Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiệnHĐDVPL giữa TCHNLS và doanh nghiệp Đề tài đã nghiên cứu sâu ở phạm vi chủthể và pháp luật liên quan làm cơ sở để thực hiện đồng thời kiến nghị hoàn thiện phápluật Đề tài chưa nghiên cứu chi tiết về việc giao kết và thực hiện HĐDVPL
- Luận văn thạc sĩ luật học “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam” Hà Nội(2015) của tác giả Nguyễn Mai Anh, trường Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đãtập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng tư vấp pháp lý, xây dựngkhái niệm về hợp đồng tư vấn pháp lý đối chiếu với thực tiễn và đưa ra những giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp lý Xuất phát từ giới hạn vềphạm vi nghiên cứu là tư vấn pháp lý là một loại hình DVPL của TCHNLS nên luậnvăn chưa nghiên cứu chung ở các loại hình DVPL về giao kết và thực hiện HĐDVPL
- Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về dịch vụ luật sư ở Việt Nam hiệnnay” Hà Nội (2015) của tác giả Trần Thị Bích Hạnh, trường Đại học Luật Hà Nội.Luận văn nghiên cứu DVPL của luật sư dưới góc độ một dịch vụ thương mại pháp lý,những vấn đề lý luận chung và pháp luật điều chỉnh về dịch vụ luật sư qua đó chỉ ranhững điểm phù hợp, bất cập, hạn chế và định hướng, giải pháp để hoàn thiện phápluật Luận văn nghiên cứu pháp luật quy định chung nhất về dịch vụ luật sư có ý nghĩa
để hoàn thiện pháp luật, tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả dịch vụ luật sư
- Bài viết “Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả TS Nguyễn Văn Tuân đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 02
Trang 9để từ đó từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến trình hội nhậpthị trường dịch vụ pháp lý quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của đội ngũ luật sưViệt Nam.
Nhìn chung, những công trình nêu trên đã nghiên cứu và tiếp cận DVPL vàHĐDVPL ở các góc độ khác nhau, có công trình ở phạm vi khái quát tổng thể, có côngtrình phân tích chi tiết về DVPL với từng loại hình cụ thể Tuy nhiên, chưa có côngtình nào nghiên cứu chuyên sâu về việc giao kết và thực hiện HĐDVPL cũngnhư tương quan về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng trên cơ sở sosánh đối chiếu những vấn đề còn bất cập tồn tại từ thực tiễn hiện nay, đặc biệt là sựđối chiếu với các bộ luật, đạo luật mới, có sự điều chỉnh rất lớn, liên quan đếnHĐDVPL như BLDS, BLTTDS, BLTTHS, LTTHC Đây chính là những vấn đề
em quan tâm nghiên cứu, phân tích, để từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp trong
đề tài khóa luận tốt nghiệp này
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
HĐDVPL là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của mỗi cá nhân, tổ chức Đồng thời xuất phát từ những hiểu biết của cánhân cũng như những thực tế em nhìn nhận được qua thời gian thực tập tại VPLS Nam
Hà Nội Em đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về giao kết và thực hiện Hợp đồng Dịch vụ pháp lý Thực tiễn thực hiện tại Văn phòng Luật sư Nam Hà Nội” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp Nhằm phân tích về mặt lý luận; đánh giá thực trạng các quy định pháp luật,thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về giao kết và thực hiện HĐDVPL tạiVPLS Nam Hà Nội từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện pháp luật,nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giao kết và thực hiện HĐDVPL
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Về đối tượng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định pháp luật, thực trạngpháp luật điều chỉnh, thực tiễn thực hiện pháp luật tại VPLS Nam Hà Nội về giao kết
và thực hiện HĐDVPL
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm hệ thống hóa về mặt lý luận; phân tích, đánh giá thựctrạng thực hiện pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại VPLS Nam Hà Nội vềgiao kết và thực hiện HĐDVPL từ đó chỉ ra được những ưu nhược điểm để đề xuấtmột số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệuquả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện HĐDVPL
Trang 104.3 Phạm vi nghiên cứu.
Một là, phạm vi về nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu về các vấn đề liên quanđến giao kết và thực hiện HĐDVPL, trong đó bên cung ưng dịch vụ pháp lý là Luật sưtheo quy định của pháp luật hiện hành
Hai là, phạm vi về không gian Đề tài được thực hiện dựa trên quy định pháp luậthiện hành về giao kết và thực hiện HĐDVPL tại Việt Nam, thực tiễn thực hiện tạiVPLS Nam Hà Nội
Ba là, phạm vi về thời gian được giới hạn từ năm 2016 đến 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp tổng hợp, phân tích Các hướng pháp này được sử dụng
xuyên suốt đề tài nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái niệm hóa, đánh giá thực trạng
và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao kết và thực hiệnHĐDVPL từ thực tiễn tại VPLS Nam Hà Nội
Thứ hai, phương pháp so sánh, thống kê các quy định về HĐDVPL qua các thời
kỳ Các phương pháp này sử dụng nhằm xác định quan điểm, nêu ra các kiến nghị vàgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết, thực hiện HĐDVPL
từ thực tiễn tại VPLS Nam Hà Nội đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khuvực Các phương pháp này thường được sử dụng ở chương 2 (Thực trạng pháp luậtđiều chỉnh về giao kết; thực hiện HĐDVPL và thực tiễn tại VPLS Nam Hà Nội);chương 3 (Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiệnpháp luật về giao kết; thực hiện HĐDVPL)
Thứ ba, phương pháp lịch sử, kế thừa Các phương pháp được sử dụng nhằm
đánh giá quá trình phát triển pháp luật về HĐDVPL, thực tiễn áp dụng pháp luật vềgiao kết và thực hiện HĐDVPL tại VPLS Nam Hà Nội Các phương pháp này thườngđược sử dụng ở chương 1 (Một số vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện Hợp đồngdịch vụ pháp lý); chương 2 (Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết; thực hiệnHĐDVPL và thực tiễn tại VPLS Nam Hà Nội)
6 Kết cấu của khoán luận
Ngoài phần Tóm lược, Lời cảm ơn, Danh mục viết tắt, Mở đầu, Kết luận, Danhmục tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Chương 2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh về giao kết; thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý và thực tiễn thực hiện tại Văn phòng luật sư Nam Hà Nội.
Chương 3 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN
Thứ nhất, về dịch vụ pháp lý
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý 1, “DVPL là loại hình dịch vụ
do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đơc về mặt phap lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội”
Theo TS Phạm Trung Hoài có viết tại Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 07 năm
2004, tại Việt Nam quan niệm về DVPL chưa có sự thống nhất cao từ phía các nhàlàm luật và hoạt động thực tiễn và về lý luận và thực tiễn, quan niệm về DVPL ở ViệtNam chưa tương thích với khái niệm cùng loại của nhiều nước phát triển cũng như củaWTO Theo đó, để từng bước hoàn thiện pháp luật pháp luật cần đả bảo cho tiến trình
hội nhập thị trường DVPL quốc tế thì: “cần xác định quan niệm về DVPL phù hợp với tiến trình họi nhập quốc tế một phần trong các dịch vụ chuyên môn nằm trong phân ngành các dịch vụ kinh doanh từng bước hướng tới việc cung cấ DVPL là dịch vụ độc quyền của luật sư”2
Theo tác giả Hoàng Thị Vịnh, cho rằng: “DVPL là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do nhà nước hoặc các tổ chức hành nghề cung ứng DVPL thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu về pháp lý của tổ chức, cá nhân” 3
Như vậy, có thể nhận thấy rằng, đa phần các nghiên cứu về DVPL ở VIệt Namđều tiếp cận DVPL dưới góc độ thương mại, xác định DVPL là một loại hình dịch vụ,theo đó bên cung ứng DVPL thực hiện một hoặc nhiều công việc có liên quan đếnpháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu về pháp lý của bên sử dụng DVPL và thường đượcxác lập dưới hình thức HĐDVPL
Thứ hai, về hợp đồng dịch vụ
2 Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 07 năm 2004, tác giả TS Phạm Trung Hoài
3 Trang 27, Luận án tiến sĩ luật học “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” Hà Nội (2014) của tác giả Hoàng Thị Vịnh,Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam học - Học viện Khoa học xã hội
Trang 12Theo quy định tại Điều 513 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Như vậy, BLDS 2015 đã thay cụm từ “bên sử dụng dịch vụ” cho cụm từ “bên sử dụng dịch vụ” của Điều 518 BLSD 2005 Đây sự thay đổi này là phù hợp vì nó thể
hiện sự tương quan về mục đích mà các bên hướng tới trong hợp đồng Với khái niệm
đã được quy định như trên thì HĐDV là một loại hợp đồng thông dụng, đối tượng củaHĐDV phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không tráiđạo đức xã hội
Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm cá nhân vê HĐDVPL có thể đưa ra
định nghĩa như sau: Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cung ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên sử dụng dịch vụ để nhận thù lao, còn bên sử dụng dịch vụ (hay khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
1.1.1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý
HĐDVPL mang những đặc điểm chung của HĐDV bao gồm:
Thứ nhất, HĐDVPL là loại hợp đồng ưng thuận Trong quan hệ HĐDVPL các
chủ thể tự do thực hiện ý chí trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng như: Đốitượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, địa điểm, thời hạn, phương thứcthực hiện hợp đồng, và khi các bên xác lập, giao kết thì hợp đồng mang tính ràngbuộc với các bên trong trường hợp một bên chủ thể không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng, không đầy đủ được voi như vi phạm hợp đồng Đồng thời, hiệu lực củaHĐDVPL sẽ phát sinh khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản hoặc tại thờiđiểm thỏa thuận
Thứ hai, HĐDVPL là loại hợp đồng song vụ Căn cứ khoản 1 Điều 402 BLDS
2015 quy định “ Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau” Theo quy định này, trong quan hệ HĐDVPL quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ
của bên kia, việc bên nào phải thực hiện nghĩa vụ trước phải căn cứ vào thỏa thuận củacác bên trong hợp đồng Đặc điểm này thể hiện rõ nhất khi bên sử dụng DVPL phải trảthù lao cho bên cung ứng dịch vụ Bên sử dụng DVPL cò quyền yêu cầu bên cung ứngthực hiện đối tượng của hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận thì cũng cóquyền yêu cầu bên thuê mình phải trả thù thao tương xứng
Thứ ba, HĐDVPL mang tính chất đền bù Khi đối tượng của HĐDVPL được
thực hiện thì bên được hưởng lợi từ dịch vụ này cũng hoàn trả một nghĩa vụ tương ứngtheo thỏa thuận, theo nguyên tắc chung của quan hệ dân sự là có đi có lại đền bù ngang
Trang 13giá Trong HĐDVPL khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện đúng và đầy đủ một côngviệc nhất định thì sẽ được trả một khoản phí tương ứng.
Ngoài ra, HĐDVPL có những đặc điểm nổi bật như:
Thứ nhất, chủ thể cung ứng trong HĐDVPL phải đáp ứng về kinh doanh có điều
kiện Theo quy định tại khoản 2, Điều 7 LĐT 2014 quy định về Danh mục ngành nghềkinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục 4 của Luật này thì hành nghề luật sư,hành nghề công chứng, hoạt động dịch vụ của tổ chức trọng tài thương mại và hànhnghề thừa phát lại à những ngành nghề kinh doanh có điều kiện Theo đó, để có nănglực chủ thể tham gia vào quan hệ HĐDVPL, bên cung ứng dịch vụ phải đáp ứng đủcác điều kiện sau: (i) được tổ chức dưới hình thức các tổ chức hành nghề DVPL hoặcngười cung ứng DVPL hành nghề với tư cách cá nhân; (ii) đã đăng ký hoạt động cungứng DVPL và được CQNN có thẩm quyền cho phép hoặc cấp giấy phép hoạt độngDVPL; (iii) cung ứng loại dịch vụ pháp lý đúng lĩnh vực và đúng loại hình DVPL của
tổ chức hành nghề
Thứ hai, HĐDVPL có tính rủi ro cao HĐDVPL hàm chứa yếu tố rủi ro cao hơn
các loại HĐDV khác, bởi các nguyên nhân sau:
Một là, các bên chủ thể HĐDVPL sự bất cân xứng về kiến thức pháp luật
HĐDVPL
Xuất phát từ đặc điểm của DVPL là gắn liền với pháp luật và bên cung ứng phải là
tổ chức hành nghề cung ứng DVPL, tất yếu dẫn đến việc có sự bất cân xứng về ý thứcpháp luật giữa các bên đặc biệt là kiến thức pháp luật về HĐDVPL Bên cung ứngDVPL thường có lợi thế “tuyệt đối” so với bên sử dụng DVPL, bởi lẽ, từ bộ máy quản
lý và đội ngũ người thực hiện DVPL đều là các chuyên gia pháp lý, có trình độ chuyênmôn và kỹ năng hành nghề luật chuyên nghiệp, hoạt động cung ứng DVPL là hoạt độngnghề nghiệp nhằm mục đích sinh lời Bên sử dụng DVPL là tổ chức, cá nhân bất kỳ, cóthể có hiểu biết pháp luật ở mức độ nhất định nhưng không thể so sánh với bên kia
Hai là, do tính khó xác định của chất lượng DVPL.
Xuất phát từ bản chất vô hình của sản phẩm DVPL dẫn đến tính khó xác địnhchất lượng của DVPL Bên sử dụng DVPL trong nhiều trường hợp thường là thiếuhiểu biết pháp luật nên mới cần đến sự giúp đỡ của bên kia, nhưng khi thỏa thuận vềđiều khoản chất lượng thì chính bên sử dụng DVPL cũng không hiểu rõ DVPL đượcyêu cầu cung ứng phải đạt chất lượng như thế nào để đáp ứng được mục đích sử dụng
và điều khoản chất lượng phải thỏa thuận như thế nào thì mới đạt được sự rõ ràng,chính xác và hợp pháp Việc khó xác định chất lượng DVPL làm cho chủ thểHĐDVPL không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc Mặt khác, làmột trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng mà chủ yếu là từ
Trang 14phía cung ứng DVPL nhưng bên sử dụng DVPL không có căn cứ pháp lý để bảo vệquyền lợi hợp pháp của mình
Ba là, trong một số trường hợp chủ thể HĐDVPL không kiểm soát được kết quả
công việc, như trong trường hợp việc thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động của bênthứ ba Đối với những loại hình DVPL khi thực hiện bị phụ thuộc vào hoạt động củabên thứ ba thì chủ thể HĐDVPL bị phụ thuộc vào bên thứ ba ngay từ giai đoạn bànbạc, thương lượng để đi đến ký kết HĐDVPL Giai đoạn này, hai bên chủ thể đã phảichú ý để điều chỉnh những điều khoản của HĐDVPL phù hợp với quy định của phápluật về tổ chức và hoạt động của bên thứ ba
1.1.1.3 Vai trò của hợp đồng dịch vụ pháp lý
Thứ nhất, đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng HĐDVPL sẽ tạo
hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng Hợp đồng
sẽ là cơ sở để bên cung ứng DVPL cũng như bên sử dụng dịch vụ xác định được giớihạn thực hiện công việc của bên cung ứng DVPL Tiếp đó, khi các bên tham gia hợpđồng thì có quyền tự do, tự nguyện giao kết hợp đồng nhưng tự do phải nằm trongkhuôn khổ của pháp luật, khi những thỏa thuận này được hình thành sẽ trở thànhnhững ràng buộc đối với các bên chủ thể, các bên phải thực hiện đúng và đầy đủnhững điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng Điều này sẽ đảm bảo được lợi íchcũng như mục đích của các bên khi tham gia vào quan hệ HĐDVPL
HĐDVPL là cơ sở để giải quyết các tranh chấp xảy ra Trong quá trình thực hiệncác quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, nếu có một bên thực hiện không đúng hoặc khôngđầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hay có sự bất đồng trong quá trìnhthực hiện hợp đồng gây ra các tranh chấp Lúc này, chính những thỏa thuận của cácbên sẽ là chứng cứ quan trọng để xác định trách nhiệm của mỗi người Đồng thời, sẽgiúp cho các bên xác định được ai sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình vàcác cơ quan giải quyết tranh chấp là tòa án hay trọng tài cũng không thể giải quyết một
vụ tranh chấp nếu không có bằng chứng về sự thỏa thuận, cam kết của các bên và mộtlần nữa hợp đồng hợp đồng sẽ trở nên vô cùng quan trọng để qua đó cơ quan giảiquyết tranh chấp sẽ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các chủ thể
Ngoài ra, đối với bên cung ứng DVPL, việc thực hiện đúng hợp đồng giúp bêncung ứng xây dựng uy tín và thương hiệu: dịch vụ là một lĩnh vực nhạy cảm khi được
đo đếm bằng sự hài lòng của khách hàng, đối tác, có nhiều trường hợp khách hàng chỉcần sử dụng dịch vụ một lần là nhớ mãi và có thể trở thành kênh quảng cáo cho doanhnghiệp Việc thực hiện đúng, tốt những cam kết, thỏa thuận trong hợp đồng sẽ mangtới sự thỏa mãn, tin tưởng cho khách hàng, đối tác và chính họ sẽ là cầu nối cho bên
Trang 15cung ứng dịch vụ với những khách hàng, đối tác mới, từ đó giúp có được lợi thế cạnhtranh trong hoạt động cung ứng DVPL
Thứ hai, đối với CQNN có thẩm quyền HĐDVPL là cơ sở để đảm bảo cho việc
kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, là căn cứ để đánh giá việc thực hiện cũngnhư chấp hành pháp luật, đánh giá tư cách đạo đức của luật sư Từ đó Nhà nước và Tổchức xã hội nghề nghiệp của luật sư có các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượngDVPL của luật sư ngày một tốt hơn
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý
1.1.2.1 Khái niệm của giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Thứ nhất, khái niệm về giao kết HĐ DVPL
Để xác lập một HĐDVPL thì các bên tham gia phải tiến hành giao kết hợp đồng.Chỉ khi đã được giao kết thì HĐDVPL mới là căn cứ phát sinh hiệu lực giữa các bên.Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kết hợpđồng và đồng thời thường kèm theo ngay nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn
trả lời Từ đó, có thể hiểu rằng: Giao kết hợp đồng HĐDVPL là các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định.
Thứ hai, khái niệm về thực hiện HĐDVPL.
Sau khi các bên trong quan hệ HĐDVPL đã giao kết hợp đồng dưới một hìnhthức bằng văn bản, phù hợp với pháp luật và hợp đồng đó đáp ứng đầy đủ các điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015 thì hợpđồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Từ thời điểm đó, các bên trong hợp đồngbắt đầu có quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau Theo nội dung của hợp đồng, cácbên lần lượt tiến hành các hành vi mang tính nghĩa vụ đúng với tính chất đối tượng,thời hạn, phương thức và địa điểm mà nội dung của hợp đồng đã xác định Vì vậy,thực hiện HĐDVPL có thể được hiểu là việc các bên tiến hành các hành vi mà mỗimột bên tham gia HĐDVPL phải thực hiện nhằm đáp ứng những quyền tương ứng củabên kia
1.1.2.2 Đặc điểm của giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Thứ nhất, khi giao kết và thực hiện HĐDVPL phải tuân thủ các nguyên tắc cơ
bản trong giao kết hợp đồng dân sự gồm: Tự do giao kết nhưng không được trái phápluật, trái đạo đức xã hội; Các bên tự nguyện, bình đẳng trong giao kết
Các bên chủ thể khi tiến hành giao kết và thực hiện HĐDVPL đều bình đẳng vàđược tự do thỏa thuận các vấn đề liên quan đến hợp đồng mà không bị chi phối về ýchí bởi bất kì chủ thể nào khác Tuy nhiên sự tự do về ý chí này bị giới hạn khi các chủ
Trang 16thể giao kết và thực hiện HĐDVPL pháp lý “không được vi phạm điều cấm của luật,trái đạo đức xã hội” Tức là những vấn đề khi giao kết và thực hiện HĐDVPL phảiđảm bảo không trái điều cấm của luật và các chuẩn mực được xã hội thừa nhận rộngrãi Đồng thời, các vấn đề đưa ra không được xâm hại đến lợi ích Nhà nước, lợi íchcông cộng, quyền và lợi ích cuả người khác
Thứ hai, có sự thỏa thuận, thương lượng giữa các bên.
Đây là đặc trưng của hợp đồng nói chung và giao kết, thực hiện HĐ DVPL nóiriêng, bởi HĐDVPL trước hết là một loại hợp đồng, là một khế ước nên phải có sựthương lượng, thỏa thuận giữa các bên, mặt khác đối tượng giao kết của HĐDVPL làmột công việc cụ thể, bên cung ứng dịch vụ sẽ bằng công sức, trí tuệ, kinh nghiệm và
sự tận tâm của mình để hoàn thành công việc đã cam kết thực hiện, không được giaocho người khác làm thay, trừ trường hợp được bên HĐDVPL đồng ý, nên cần có sựthỏa thuận, thượng lượng giữa các bên để thống nhất về các vấn đề liên quan tới nộidung hợp đồng Điều này nhằm thể hiện sự tôn trọng quyền định đoạt của các bêntrong quan hệ HĐDVPL Tuy nhiên, do bản chất vô hình của loại hình dịch vụ này,nên rất khó để xác định trước được kết quả công việc cũng như chất lượng của dịch vụđược cung cấp do vậy không có cơ sở pháp lý để thỏa thuận chất lượng công việc vàkhó có thể đạt được sự rõ ràng, chính xác
Thứ ba, đối tượng được hướng đến là một công việc cụ thể liên quan đến lĩnh vực pháp luật.
Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ có liên quan đến lĩnh vực pháp luật mà bêncung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng một hoạt động cụ thể có liên quan đếnpháp luật nhằm mục đích kiếm lời Bên cung ứng DVPL bằng kiến thức pháp luật củamình cùng với kỹ năng, kinh nghiệm độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vihành nghề theo quy định của pháp luật và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệpnhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách tốt nhất cho bên
sử dụng DVPL Do việc cung cấp DVPL là hình thức kinh doanh có điều kiện nên bêncung ứng DVPL cũng phải là tổ chức hoặc cá nhân hành nghề phải có đủ điều kiệntheo quy định của pháp luật Để được cung ứng DVPL và giao kết HĐDVPL thì chủthể cung ứng phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật và sẽ được tiến hànhcung cấp DVPL ra thị trường
có quyền cung ứng loại dịch vụ này
1.1.2.3 Vai trò của giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Giao kết HĐDVPL là cơ sở để hình thành nên quan hệ cung ứng DVPL giữa cácbên chủ thể Đây chính là giai đoạn tiền đề cho một quan hệ cung ứng DVPL Đây làgiai đoạn các bên thỏa thuận, đàm phán với nhau các nội dung sẽ được thực hiện trong
Trang 17tương lai Bên cung ứng DVPL phải được biết công việc mà mình sẽ thực hiện là côngviệc gì, các thông tin liên quan đến công việc mà mình phải thực hiện là gì, mức thùlao nhận được khi thực hiện công việc là bao nhiêu, các quyền và nghĩa vụ khác cóliên quan Đối với bên sử dụng DVPL, họ cần biết năng lực thực hiện công việc củabên cung ứng DVPL như thế nào, có khả năng đảm bảo thực hiện được công việc theoyêu cầu của mình hay không, mức chi phí mình phải trả cho khi sử dụng dịch vụ là baonhiêu? Đó là hàng loại các nội dung mà các bên chủ thể cần đàm phán, nếu các bênthỏa thuận và thống nhất được các nội dung đó thì mới tiến hành ký kết HĐDVPL Vìvậy đây sẽ là giai đoạn tiền đề cho quan hệ HĐDVPL và quá trình thực hiện hợp đồng
về sau Bởi trong quá trình giao kết các thỏa thuận được thể hiện một cách rõ ràng thìviệc thực hiện hợp đồng mới có thể chỉnh xác được
Ngoài ra, việc giao kết HĐDVPL còn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp phápcủa các bên chủ thể trong quan hệ Các bên có quyền đưa ra yêu cầu cũng như thỏathuận với nhau về các quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng Quan hệ cung ứngDVPL có hình thành được hay không là dựa vào giai đoạn này Bên cạnh đó, nếu việcgiao kết được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nguyênvọng, lợi ích của cac bên thì quyền lợi của các bên sẽ được đảm bảo, hình thành nênmột quan hệ hợp đồng vững chắc, lâu dài, hạn chế các tranh chấp xảy ra trong tươnglai Nếu việc giao kết không đảm bảo theo đúng các quy định pháp luật thì hợp đồngxem như vô hiệu, điều này gây râ ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp củacác bên, thậm chí quan hệ hợp đồng có thể chấm dứt Vì vậy, giai đoạn giao kếtHĐDVPL có thể là giai đoạn quyết định HĐDVPL có được hình thành hay không Thực hiện HĐDVPL là hệ quả của giao kết HĐDVPL giữa các chủ thể, có thỏathuận, có cam kết thì sẽ có thực hiện Việc thực hiện HĐDVPL giữ vai trò quan trọngtrong việc đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên, khi thực hiện tốt các nội dung đãthỏa thuận, đàm phán thì quá trình giao kết trước đó mới có ý nghĩa Hơn nữa,HĐDVPL là một hợp đồng song vụ nên quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia Do
đó, khi một trong các bên thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ như đã thỏa thuậntrong hợp đồng thì sẽ đảm bảo được quyền của bên còn lại khi tham gia vào quan hệHĐDVPL Đặc biệt, trong HĐDVPL việc bên cung cấp dịch vụ thực hiện đúng với cáccông việc mà bên sử dụng DVPL (khách hàng) yêu cầu nhằm tối đa hóa lợi ích củakhách hàng giúp khách hàng đạt được mục đích khi sử dụng DVPL
Trang 181.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch pháp lý
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Thứ nhất, về cơ sở thực tiễn về giao kết và thực hiện HĐDVPL
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, đi kèm theo đó là sự phát triển kinh tế, phùhợp với xu thế toàn cầu Với chủ trương đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đề
ra đường lối, từng bước xây dựng và hoàn thiện thể chế, hoàn thiện pháp luật để phùhợp định hướng phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế Kèm theo đó là
sự đổi mới các văn bản pháp luật và số lượng lớn đã được ban hành văn bản mới rađời Do đó việc các chủ thể không nắm bắt đầy đủ, không đồng bộ các quy định củapháp luật ngày càng nhiều, làm mất đi các cơ hội phát triển của doanh nghiệp và cũng
có thể dẫn đến những hậu quả khó lường khi không hiểu rõ pháp luật Nhìn nhận đượccác khó khăn trên, nên nhu cầu về DVPL ngày một phổ biến, các chủ thể có đủ điềukiện được pháp luật cho phép cung ứng dịch vụ thông qua việc giao kết và thực hiệnHĐDVPL với khách hàng Chính vì lẽ đó, pháp luật cần có những quy định cụ thể đểđiều chỉnh hoạt động này
Thứ hai, về cơ sở pháp lý về giao kết và thực hiện HĐDVPL
Ở Việt Nam, từ năm 1930 trở về trước có những sắc lệnh liên quan đến nghề LS.Với sắc Lệnh ngày 25/5/1930, thực dân Pháp tổ chức Hội đồng Luật sư ở Hà Nội vàSài Gòn có người Việt tham gia biện hộ Với điều kiện: Phải tốt nghiệp đại học luậtkhoa; Phải tập sự 5 năm tại một văn phòng biện hộ của một luật sư thực thụ; Sau đóqua sát hạch và được Hội đồng luật sư công nhận
Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại, chủ tịch HồChí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể luật sư, quyđịnh việc duy trì tổ chức LS, trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định phápluật của chế độ cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dânchủ cộng hoà Hiến pháp năm 1946 (Điều 67) đã khẳng định quyền tự bào chữa hoặcmượn LS bào chữa là quyền quan trọng của bị cáo, một trong những quyền cơ bản củacông dân Sau đó, quy định này trong Hiến pháp được cụ thể hóa tại Sắc lệnh số 69/SLngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể nhờ một công dân không phải làluật sư bênh vực cho mình và Nghị định số 01/NĐ – VY ngày 12/01/1950 quy định vềbào chữa viên Bên cạnh các luật sư đã tham gia kháng chiến, còn có nhiều luật sư,luật gia đã làm việc trong bộ máy chế độ cũ cũng hăng hái gia Nhưng nhìn tồng thểthì số lượng luật sư ở nước ta rất ít, mặt khác do hoàn cảnh kháng chiến một số luật sư
Trang 19đã tham gia cách mạng, vì vậy, thời kì này hầu như các Văn phòng luật sư đều ngưnghoạt động.
Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định bảo đảm quyềnbào chữa của bị cáo, quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá nhân, tổ chứcbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngày31/10/1983 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 691/QLTPK về công tác bào chữa,trong đó quy định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên để tập hợp cácluật sư đã được công nhận trước đây và các bào chữa viên Cuối năm 1987 trên cảnước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400 thành viên Đoàn luật sư TP.Hà Nộithành lập năm 1984, có 16 luật sư thành viên
Năm 1986, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã tác động sâu rộng đếnmọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư pháp Các đạo luật về tố tụng đượcban hành theo hướng mở rộng dân chủ trong tố tụng, tăng cường bảo đảm quyền bàochữa, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Trong bối cảnh đó, Pháplệnh Luật sư năm 1987 ra đời, đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việckhôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở Việt Namtrong thời kỳ đổi mới Pháp lệnh có quy định "dịch vụ pháp lý" là sự giúp đỡ phápluật, bao gồm: Việc tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáohoặc đại diện cho người bị hại và các đương sự khác trong vụ án hình sự, kể cả vụ ánthuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; Đại diện cho các bên đương sự trong các
vụ án dân sự hôn nhân gia đình và lao động; Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chứckinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân, kể cả tổ chức kinh tế nước ngoài; Làm các dịch
vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức
Pháp lệnh Luật sư 2001 quy định "dịch vụ pháp lý" bao gồm ba lĩnh vực: Tốtụng, tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác Đó là: Việc tham gia tố tụng với tưcách là người bào chữa cho bị can bị cáo hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chongười bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan đến vụ án hình sự; Việc tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động hoặchành chính; Việc tham gia tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp; Tư vấn pháp luật,soạn thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức; Đại diện theo ủy quyềncủa cá nhân, tổ chức để thực hiện công việc có liên quan đến pháp luật; Thực hiện dịch
vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật
Dựa trên nền tảng của các văn bản trên, năm 2006 LLS ra đời và được SĐBS
2012 đã quy định về DVPL của luật sư tại Điều 4 bao gồm: Tham gia tố tụng; Tư vấn
Trang 20pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác Đồngthời quy định Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy địnhcủa Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức(sau đây gọi chung là khách hàng) tại Điều 2
Đối với các quy định về hợp đồng Đầu tiên phải nói đến là Pháp lệnh Hợp đồngdân sự 1991 ra đời để bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ hợp đồng dân sự trongđiều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp, đề cao trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng; góp phần đẩy mạnhsản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hoá, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần củanhân dân Pháp lệnh đưa ra khái niệm tại Điều 1 và quy định về giao kết, thực hiệnhợp đồng dân sự thêm vào đó là các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, Trên cơ sở đó, BLDS 2005 ra đời, đưa ra định nghĩa về hợp đồng tại Điều 388 “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Thêm vào đó, BLDS
2005 còn đưa ra các quy định về các loại hợp đồng dân sự cụ thể Đối với HĐ DV, tại
Điều 513 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ ” Đến thời điểm BLDS
2015 ra đời đã thay cụm từ “bên sử dụng dịch vụ” cho cụm từ “bên sử dụng dịch vụ”của Điều 518 BLSD 2005 Đồng thời, BLDS 2015 còn quy định rõ về Giao kết hợpđồng và Thực hiện hợp đồng tại Tiểu mục 1 và Tiểu mục 2 của mục 7 chương XV.Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ còn được quy định tại Chương III của LTM 2005về: Hình thức của HĐDV; Quyền và nghĩa vụ của cac bên trong HĐDV Ngoài ra, tạiĐiều 26 LLS 2006 SĐBS 2012 có quy định về Thực hiện DVPL theo HĐDVPL Như vậy HĐDVPL không chỉ chịu sự điều chỉnh của BLDS mà còn chịu sự điềuchỉnh của LTM 2005, LLS 2006 SĐBS 2012 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định áp dụng pháp luật nướcngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có qui định khác với quy định của LTM,BLDS thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý
1.2.2.1 Giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
a) Chủ thể giao kết HĐDVPL
Theo quy định tại Điều 2 LLS 2006 SĐBS 2012 có quy định “Luật sư là người
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách
Trang 21hàng)” Như vậy, theo như quy định này, chỉ có Luật sư mới đủ điều kiện thực hiện
các dịch vụ pháp lý gồm: tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụngcho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác (Điều 4 LLS 2006 SĐBS 2012) Đồngthời Luật sư phải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề được quy định tại Điều 5, LLS
2006 SĐBS 2012
Luật sư có thể lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề theo quy định tại Điều
23 LLS 2006 SĐBS 2012 gồm: Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thựchiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việctheo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc Hành nghề với tư cách cánhân theo quy định tại Điều 49 LLS 2006 SĐBS 2012
c) Nội dung giao kết HĐDVPL
Thứ nhất, về thời điểm giao kết hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nộidung của hợp đồng hay là thời điểm bên đề nghị nhận được sự chấp nhận giao kết
Khoản 1, Điều 400 BLDS 2015 quy định:“Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên
đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” Trong trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói thì “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận
về nội dung của hợp đồng” (khoản 3, Điều 400 BLDS 2015) Khi hợp đồng được giao kết bằng văn bản thì “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”
(khoản 4, Điều 400 BLDS 2015)
Thứ hai, về địa điểm giao kết HĐDVPL
Theo Điều 399 BLDS 2015 quy định về Địa điểm giao kết hợp đồng Theo đó,địa điểm giao kết của HĐ DVPL sẽ do các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bênkhông có thỏa thuận về địa điểm giao kết thì địa điểm giao kết được xác định là nơi cưtrú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng
Thứ ba, về thông tin giao kết HĐDVPL
Trang 22Theo quy định tại Điều 387 BLDS 2015, khi một bên trong quan hệ HĐDVPL cóthông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thôngbáo cho bên kia biết Trong trường hợp, thông tin nhận được là thông tin bí mật củabên kia trong quá trình giao kết HĐDVPL thì bên còn lại có trách nhiệm bảo mậtthông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc chomục đích trái pháp luật khác.
Thứ tư, về thù lao DVPL
Theo quy định tại Điều 55 LLS 2006 SĐBS 2012 quy định về Căn cứ và phương thức xác định thù lao khi thực hiện cung ứng DVPL Về căn cứ xác định mức thù lao dựa vào: Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; Thời gian và công sức của luật sư sửdụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; Kinh nghiệm và uy tín của luật sư Thù lao được tính theo các phương thức sau đây: Giờ làm việc của luật sư; Vụ, việc với mức thù lao trọn gói; Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặcgiá trị hợp đồng, giá trị dự án; Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định Đối với trường hợp LS cung cấp dịch vụ pháp lý theo HĐDVPL thì mức thù lao được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; đối với vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định Với tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện dịch vụ pháp lý
do các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý Trường hợp, LS hành nghề với
tư cách cá nhân làm việc cho cơ quan, tổ chức theo hợp đồng lao động được nhận tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động Việc thỏa thuận, chi trả tiền lương được thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động
d) Về trình tự giao kết HĐDVPL
Thứ nhất, đề nghị giao kết HĐDVPL Để xác lập một HĐDVPL thì các bên
tham gia phải tiến hành giao kết hợp đồng Chỉ khi đã được giao kết thì HĐDVPL mới
là căn cứ phát sinh hiệu lực giữa các bên Điều 386 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về
đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị)”
Đồng thời tại khoản 2 điều này có quy định trong trường hợp đề nghị giao kếthợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với ngườithứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bênđược đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh
Thứ hai, chấp nhận giao kết HĐDVPL Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là
sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung
Trang 23của đề nghị Trong trường hợp giữa các bên đã có một thói quen im lặng là đồng ýchấp nhận giao kết hợp đồng thì thói quen này cũng được pháp luật thừa nhận ( Khoản
2, Điều 393 BLDS 2015)
1.2.2.2 Thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Khi thực hiện HĐDVPL các chủ thể thực hiện phải đảm bảo thực hiện đúng, đầy
đủ quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng
Thứ nhất, đối với bên sử dụng DVPL (KH)
KH có nghĩa vụ trả tiền thù lạo về kết quả công việc mà bên cung ứng DVPL đãhoàn thành Cụ thể, theo khoản 1 Điều 56, LLS 2006 SĐBS 2012 quy định: “Mức thùlao được thỏa thuận trong HĐDVPL; đối với vụ án hình sự mà luật sư TGTT thì mứcthù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định” Tiếp đó, nếu
có yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện thì phải cung cấpkịp thời Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặcphối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt độngcủa bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứngdịch vụ nào và phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo như thỏa thuậntrong hợp đồng (Điều 515 BLDS 2015)
Thứ hai, đối với bên cung ứng DVPL
Bên cung ứng dịch vụ là cá nhân hay tổ chức hành nghề luật sư dùng công sứccủa mình để thực hiện công việc do KH chỉ định Trong thời gian thực hiện công việcphải tự mình tổ chức thực hiện công việc Khi hết hạn của hợp đồng phải giao lại kếtquả công việc mà mình đã thực hiện cho KH Không được giao cho người khác thựchiện thay công việc nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ Bảo quản vàphải giao lại cho bên sử dụng dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoànthành công việc Báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ về việc thông tin, tài liệu khôngđầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc Giữ bí mậtthông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuậnhoặc pháp luật có quy định Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nếu làmmất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin (Điều 517BLDS 2015) Bên cung ứng DVPL có quyền yêu cầu KH cung cấp thông tin, tài liệucần thiết Trong quá trình thực hiện công việc có thể thay đổi những điều kiện dịch vụnếu việc thay đổi đó không làm phương hại đến lợi ích của KH, nếu việc chờ ý kiến sẽgây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho KH (khoản 2, Điều
518 BLDS 2015)
Khi thực hiện HĐDVPL vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyềntrực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình (Điều 415
Trang 24BLDS 2015) Trường hợp người thứ ba từ chối lợi ích của mình trước khi bên có nghĩa
vụ thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ, nhưng phảithông báo cho bên có quyền và hợp đồng được coi là bị hủy bỏ, các bên phải hoàn trảcho nhau những gì đã nhận (Khoản 1, Điều 416 BLDS 2015)
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật điều chỉnh về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của các bên trong HĐDVPL nhằm thoả mãnnhững nhu cầu về vật chất, văn hoá tinh thần của mỗi bên và phải hướng tới lợi íchchung của toàn xã hội Ngoài ra các bên còn phải thể hiện việc chấp hành pháp luật,thể hiện tinh thần tôn trọng truyền thống đạo đức xã hội của trong quá trình thực hiệncác giao dịch dân sự Khi giao kết và thực hiện HĐDVPL các bên trong quan hệ hợpđồng phải đảm bảo thực hiện đúng với các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể được thỏa mãn được các nhu cầu
về đời sống vật chất, cũng như tinh thần, BLDS cho phép các chủ thể được quyền “tự
do giao kết hợp đồng” Theo nguyên tắc này, mọi các nhân, tổ chức khi có đủ tư cáchchủ thể đều có quyền tham gia giao kết bất kì một HĐDVPL nào, nếu họ muốn màkhông ai có quyền ngăn cản Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kếtnhững hợp đồng dân sự đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như các loại hợp đồngdân sự khác dù pháp luật chưa có quy định Tuy nhiên, sự tự do ý chí đó phải nằmtrong khuôn khổ nhất định Bên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thểkhi thực hiện HĐDVPL phải hướng đến việc bảo đảm quyền lợi cho người khác cũngnhư những lợi ích của toàn xã hội
Hai là, nguyên tắc các bên tự nguyện và bình đẳng Nguyên tắc này thể hiện bản
chất của quan hệ dân sự Quy luật giá trị đòi hỏi các bên khi thiết lập quan hệ trao đổiphải bình đẳng với nhau Không một ai lấy lý do khác biệt về thành phần xã hội, dântộc, giới tính, tôn giáo,…để làm biến dạng biến dạng giao kết HĐDVPL Mặt khác chỉkhi các bên bình đẳng với nhau về mọi phương diện trong giao kết HĐDVPL thì ý chí
tự nguyện của các bên mới thực sự được bảo đảm Vì vậy, theo nguyên tắc trên,HĐDVPL được giao kết thiếu bình đẳng và không có sự tự nguyện của các bên sẽkhông được pháp luật thừa nhận Tuy nhiên, đánh giá một HĐDVPL có phải là ý chí
tự nguyện của các bên hay không là một việc tương đối phức tạp và khó khăn Điềunày cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: Ý chí và sự bày tỏ ýchí Có thể hiểu rằng ý chí là mong muốn chủ quan của mỗi một chủ thể Nó phải đượcbày tỏ ra ben ngoài thông qua hình thức nhất định Ý chí và sự bày tỏ ý chí luôn cóquan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với nhau Ý chí tự nguyện chính là sự thống nhấtgiữa ý muốn chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí đó ra bên ngoài Vì vậy để xác định
Trang 25HĐDVPL có tuân thủ theo nguyên tắc tự nguyện hay không cần phải dựa vào sự thốngnhất ý chí của người giao kết hợp đồng và sự thể hiện ý chí đó trong nội dung hợpđồng mà người đó giao kết.
Ba là, nguyên tắc thiện chí, trung thực Cá nhân, pháp nhân khi tham gia vào
quan hệ HĐDVPL bao giờ cũng mong đạt được mục đích là mang lại lợi ích cho bảnthân, tổ chức của mình Mục đích ấy luôn gắn liền với lợi ích của cá nhân, pháp nhânkhác khi cùng tham gia một HĐDVPL Do đó, cá nhân, pháp nhân phải tôn trọng lợiích của các cá nhân và pháp nhân khác khi tham gia thực hiện các cam kết, thỏa thuận.Muốn thực hiện sự tôn trọng ấy, không có cách nào khác là cá nhân, pháp nhân phảithể hiện thái độ thiện chí, trung thực của mình trong các giao dịch dân sự Tuy nhiên,
để đánh giá tính thiện chí, trung thực của cá nhân, pháp nhân phải căn cứ vào thái độ
và việc làm của họ trên thực tế, vào mục đích mà họ mong muốn đạt được khi giao kếtHĐDVPL
Bốn là, nguyên tắc về bảo mật thông tin Trong quá trình giao kết và thực hiện
HĐDVPL các bên phải tiến hành trao đổi các thông tin liên quan đến công việc màbên cung ứng DVPL thực hiện Đặc biệt, đối với khách hàng là bên sử dụng DVPL, đểđạt được mục tiêu khi tham gia quan hệ HĐDVPL, khách hàng phải cung cấp cho cácthông tin cần thiết để đảm bảo được kết quả của công việc Các thông tin của kháchhàng là những tin tức, thông điệp khách hàng truyền đạt (nói, viết, trao đổi, tiết lộ) chobên cung ứng DVPL trong quá trình tiếp xúc, trao đổi với khách hàng hoặc do bêncung ứng DVPL biết được, thu thập được trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc của
KH Đó có thể là thông tin cá nhân của khách hàng, bí mật đời tư của khách hàng, tìnhhình tài chính, bí mật kinh doanh của KH Vì vậy, những thông tin này cần được đảmbảo không cho bất kì ai khác được biết để tránh ảnh hưởng đến các hoạt động kháchhàng và những tranh chấp phát sinh liên quan đến bảo mật thông tin trong quá trìnhthực hiện HĐDVPL
Ngoài ra, khi giao kết và thực hiện HĐDVPL còn phải đảm bảo nguyên tắc tôntrọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của BLDS 2015 Hơn nữa, hoạtđộng cung cấp DVPL là một hoạt động có tính thương mại, vậy nên việc giao kết vàthực hiện HĐDVPL cũng phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thươngmại từ Điều 10 đến Điều 15 của LTM 2005 gồm: Nguyên tắc bình đẳng trước phápluật của thương nhân trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoảthuận trong hoạt động thương mại; Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt độngthương mại được thiết lập giữa các bên; Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt độngthương mại; Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng; Nguyên tắcthừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại