Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN LVN VIỆT NAM
- Họ và tên: TS Đinh Thị Thanh Thủy - Họ và tên: Vũ Khánh Ngọc
- Bộ môn: Luật Căn Bản - Mã sinh viên: 17D200085
- Lớp hành chính: K53P2
HÀ NỘI, 2020
1
Trang 2TÓM LƯỢC
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động dịch vụ pháp lýngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò của mình trong việc thông thương hoá các hoạt độngthương mại Ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi cơ chế hoạt động của nền kinh tế, nhucầu về cung cấp dịch vụ pháp lý đã phát triển liên tục, không ngừng, đặc biệt là trong lĩnhvực TVPL Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam trong thời gian qua đã khẳng định được vị trí cầnthiết của mình trong số nhiều loại hình dịch vụ khác của nền kinh tế
Tuy nhiên, để hoạt động dịch vụ pháp lý phát triển đúng vai trò, vị trí của nó, đápứng nhu cầu của thực tiễn đời sống xã hội thì cần thiết phải có một hành lang pháp lý cụthể, vững chắc, làm cơ sở để điều chỉnh hoạt động này Pháp luật điều chỉnh hợp đồngdịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay được quy định ở rất nhiều các văn bản pháp luậtkhác nhau như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thương mại năm 2005;… cùng các đạoluật chuyên ngành và một số văn bản dưới luật có liên quan làm cơ sở pháp lý cho hoạtđộng dịch vụ pháp lý của các nhà cung cấp dịch vụ pháp lý ký kết Xuất phát từ yêu cầucấp thiết của cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng hợp đồng dịch vụ pháp lý, đề tài khoáluận được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề giao kết vàthực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng như thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tưvấn LVN Việt Nam, qua đó đánh giá những mặt thuận lợi, tích cực cũng như khó khăn,hạn chế từ thực trạng và thực tiễn trên Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phầnvào việc hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý trongthương mại nói chung đồng thời nâng cao hiệu quả quá trình giao kết và thực hiện hợpđồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam đối với các khách hàngnói riêng
Trang 3ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Thương Mại, Khoa Kinh tế - Luật, Bộ môn LuậtCăn Bản Trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luậnnày.
Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam, em đã nhậnđược sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Giám đốc công ty – LS Lê Văn Ngọc, cùng với sựhướng dẫn nhiệt tình của các anh chị tại công ty đã giúp em tìm hiểu thực tế về môitrường làm việc tại đây Qua đó, em đã có được những kiến thức nhất định về pháp luật ,đây sẽ là hành trang cho sự nghiệp của em sau này Vì vậy, em xin chân thành cảm ơn tớiBan lãnh đạo, toàn thể các anh chị nhân viên trong thời gian thực tập vừa qua Trong quátrình làm khóa luận vì trình độ của bản thân và thời gian thực tập còn hạn chế nên emkính mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ phía các thầy cô giáo để kiến thức của emđược hoàn thiện hơn và bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
TÓM LƯỢC 2
MỤC LỤC 4
TÓM LƯỢC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 7
LỜI MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khoá luận 8
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 9
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 10
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 12
6 Kết cấu khoá luận tốt nghiệp 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ 14
1.1 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý 14
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý 14
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý 18
1.2 Khái quát về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 20
1.2.1 Giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý 20
1.2.2 Thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 22
1.3 Cơ sở ban hành và nội dung Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 24
1.3.1 Cơ sở ban hành Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 24
1.3.2 Nội dung cơ bản của Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 25
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ – THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG
TY TNHH TƯ VẤN LVN VIỆT NAM 31
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 31
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 31
2.1.2 Tình hình hoạt động của Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 32
2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý - Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 33
2.2.1 Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH LVN Việt Nam 33
2.2.2 Thực trạng pháp luật về thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 36
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 41
2.3.1 Đánh giá thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 41
2.3.2 Thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 42
2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 44
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN LVN VIỆT NAM 46
3.1 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý 46
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý phải dựa trên quan điểm của Đảng, hoàn thiện hệ thống pháp luật hợp đồng nói chung và chuẩn mực của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa 46
3.1.2 Đảm bảo các nguyên tắc chung của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng 47
3.1.3 Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và hội nhập với nền kinh tế thế giới trong lĩnh vực hợp đồng nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý nói riêng 47
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 47
Trang 63.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ
pháp lý 48
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam 50
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Danh mục văn bản pháp luật có liên quan 53
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khoá luận
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng hội nhập sâurộng với nền kinh tế thế giới, sự liên kết về kinh tế và thương mại không chỉ diễn ra ởcấp độ song phương, đa phương mà đã có sự gắn kết toàn cầu Quá trình toàn cầu hóakinh tế đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của dịch vụ pháp lý cho các tổ chức và cánhân ở tầm quốc tế Các chủ thể tham gia nhiều giao dịch liên quan đến nhiều lĩnh vựcđược điều chỉnh bởi pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế Do vậy, dịch vụ pháp lýcũng ngày càng phát triển và theo đó là hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng ngày càng phổbiến Trong hoạt động của mình, việc các chủ thể không nắm bắt đầy đủ, không đồng bộcác quy định của pháp luật dẫn đến không ít các khó khăn, làm mất đi cơ hội hoặc bịnhững sai phạm thậm chí phải chịu những hậu quả pháp lý nặng nề Do vậy, các tổ chức
cá nhân rất cần sự an toàn về mặt pháp luật trong hoạt động của mình và ngày càng phátsinh nhu cầu có được sự trợ giúp pháp lý thường xuyên Nhu cầu ấy của xã hội được đápứng thông qua các dịch vụ pháp lý mà các chủ thể có đủ điều kiện được pháp luật cho
phép cung ứng thông qua hợp đồng dịch vụ pháp lý Hoạt động của luật sư, đặc biệt là
việc cung cấp các dịch vụ pháp lý cho các doanh nghiệp trong đầu tư, kinh doanh,thương mại góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các quan hệ kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận của hợp đồngdịch vụ pháp lý cũng như xem xét, khảo cứu thực trạng các quy định pháp luật, thực tiễn
áp dụng hợp đồng dịch vụ pháp lý là một điều hết sức cần thiết, không chỉ để giúp cácdoanh nghiệp có cơ hội hiểu hơn về loại hình hợp đồng dịch vụ này mà còn giúp cơ quannhà nước và các tổ chức hữu quan nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch
vụ pháp lý
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý vẫncòn một số các hạn chế như khuôn khổ về hợp đồng dịch vụ pháp lý nằm rải rác ở nhiềuvăn bản pháp luật, chưa đồng bộ và hoàn chỉnh; còn có một số vấn đề về nội dung quan
hệ hợp đồng dịch vụ pháp lý chưa được quy định hoặc quy định nhưng chưa đồng bộ vàthống nhất Bên cạnh đó cũng vẫn còn tình trạng bất bình đẳng và phân biệt đối xử giữacác nhà đầu tư cung ứng các loại hình dịch vụ pháp lý khác nhau và hiệu lực cũng nhưhiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về hợp đồng dịch vụ pháp lý còn chưa cao
Trang 9Liên quan đến dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch vụ pháp lý đã có những công trìnhnghiên cứu ở lĩnh vực này với nhiều khía cạnh khác nhau Việc giao kết và thực hiện hợpđồng dịch vụ pháp lý cũng đã được đề cập nhưng chưa được quan tâm một cách chi tiết.Qua thực tiễn thực hiện giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý của Công tyTNHH Tư vấn LVN Việt Nam, em nhận thấy hoạt động tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lýcũng như việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý của công ty còn nhiều bất
cập, không thống nhất Do đó, em đã chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết và thực hiện
hợp đồng dịch vụ pháp lý – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam” làm đề tài khoá luận của mình.
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Trong thời gian hoạt động cung cấp DVPL được xác lập và phát triển khá mạnh mẽ,một số nghiên cứu về dịch vụ pháp lý ở các khía cạnh và phạm vi nghiên cứu khác nhaunhư giáo trình, sách chuyên khảo, chuyên đề, đề tài nghiên cứu của một số cá nhân, tổchức tiến hành nghiên cứu và để lại một số các công trình đề cập với các vấn đề, khíacạnh khác nhau của Hợp đồng dịch vụ pháp lý Cụ thể một số công trình có thể kể đếnnhư:
- Luận án Tiến sĩ “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” của tác giả Hoàng ThịVịnh,Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2014) đã tiếp cận nghiên cứu pháp luậtHợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các nội dung cơ bản bao gồm: Các quy định về chủthể, về nội dung, về thực hiện, về điều kiện có hiệu lực và tránh nhiệm do vi phạm hợpđồng dịch vụ pháp lý Tác giả đã đưa ra những luận cứ logic để bước đầu xây dựng hệthống lý luận về dịch vụ pháp lý và thương mại dịch vụ pháp lý cũng như thực tiễn về cácquan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý, trên cơ sở đó luận án xây dựng hệ thống lý luận khoahọc về pháp luật, đưa ra các luận cứ khoa học, tính tất yếu khách quan đối với việc thiếtlập chế định Pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý Luận án cũng đánh giá mức độ phùhợp của pháp luật Hợp đồng dịch vụ pháp lý với thực tiễn hoạt động dịch vụ pháp lýđồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hợp đồng tư vấn pháp lý ở Việt Nam”, Đại học Quốc gia
Hà Nội (2015) của tác giả Nguyễn Mai Anh đã tập trung nghiên cứu các quy định củapháp luật về hợp đồng tư vấp pháp lý, xây dựng khái niệm về hợp đồng tư vấn pháp lýđối chiếu với thực tiễn và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
tư vấn pháp lý Xuất phát từ giới hạn về phạm vi nghiên cứu là tư vấn pháp lý là một loại
Trang 10hình dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư nên luận văn chưa nghiên cứu chung
ở các loại hình dịch vụ pháp lý về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa tổ chức hành nghề luật sư
và doanh nghiệp từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, Học viện khoa học xã hội (2017)của tác giả Lê Bình Phương nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về hợp đồngdịch vụ pháp lý giữa tổ chức hành nghề luật sư và doanh nghiệp Đề tài đã nghiên cứusâu ở phạm vi chủ thể và pháp luật liên quan làm cơ sở để thực hiện đồng thời kiến nghịhoàn thiện pháp luật nhưng lại chưa nghiên cứu chi tiết về việc giao kết và thực hiện hợpđồng dịch vụ pháp lý giữa các bên
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về dịch vụ luật sư ở Việt Nam hiện nay”, Đại họcLuật Hà Nội (2015) của tác giả Trần Thị Bích Hạnh nghiên cứu dịch vụ pháp lý của luật
sư dưới góc độ một dịch vụ thương mại pháp lý, những vấn đề lý luận chung và pháp luậtđiều chỉnh về dịch vụ luật sư qua đó chỉ ra những điểm phù hợp, bất cập, hạn chế và địnhhướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật Luận văn nghiên cứu pháp luật quy định chungnhất về dịch vụ luật sư có ý nghĩa để hoàn thiện pháp luật, tạo điều kiện để nâng cao hiệuquả dịch vụ luật sư
Nhìn chung, những công trình nêu trên đã nghiên cứu cũng như tiếp cận dịch vụpháp lý và hợp đồng dịch vụ pháp lý ở các góc độ khác nhau, có công trình ở phạm vikhái quát tổng thể, có công trình phân tích chi tiết về dịch vụ pháp lý với từng loại hình
cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn thực hiệnpháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại doanh nghiệp trên cơ sở
so sánh đối chiếu những vấn đề bất cập tồn tại từ quy định của pháp luật hiện hành, đặcbiệt là sự đối chiếu với các bộ luật, đạo luật mới, có sự điều chỉnh rất lớn, liên quan đếnHợp đồng dịch vụ pháp lý như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Bộluật tố tụng hình sự,… Đây chính là những vấn đề người viết quan tâm nghiên cứu, phântích, so sách và kiến nghị trong đề tài nghiên cứu này
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tạiViệt Nam hiện nay cũng từ thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Tư vấn LVN ViệtNam, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình là “Pháp luật
về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý - Thực tiễn thực hiện tại Công tyTNHH Tư vấn LVN Việt Nam” nhằm nghiên cứu các quy định của pháp luật - thực trạng
Trang 11pháp luật và thực tiễn thực hiện của công ty, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hoànthiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụpháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam.
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài khoá luận này là những quy định của pháp luật vềviệc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng như thực tiễn thực hiện các quyđịnh của pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH
Tư vấn LVN Việt Nam
4.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơbản và thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lýgiữa các chủ thể, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thựcthi pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tưvấn LVN Việt Nam Để hoàn thành những mục tiêu trên, đề tài nghiên cứu có nhữngnhiệm vụ sau:
Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm của việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháplý
Đưa ra khái niệm, bản chất và các đặc điểm pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý
Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành vềviệc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật trong việc giao kết và thực hiện hợp đồngpháp lý thực tiễn tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam
Xác định định hướng để hoàn thiện pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý
Đưa ra phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết và thựchiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
4.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài khoá luận được nghiên cứu tại Công ty TNHH LVN Việt Nam từ thực tiễnthực hiện giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý của công ty từ năm 2016 đến
Trang 12đầu năm 2020 Trong khuôn khổ đề tài, người viết tập trung nghiên cứu các quy định củapháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, các văn bản pháp luật điềuchỉnh đến các hoạt động này như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005,Luật Luật sư năm 2006 SĐBS (sửa đổi bổ sung) năm 2012, Luật trợ giúp pháp lý năm2017,… và một số các văn bản dưới luật hướng dẫn: Nghị định 137/2018/NĐ-CP sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Luật sư, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao, chứngthực bản sao, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP quy định về tư vấn pháp lý,…
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, khoá luận vận dụng phương pháp luận duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Đây là phương pháp luận khoa họcđược vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ khoá luận để đánh giá khách quan sự thể hiệncủa các quy định của pháp luật về Hợp đồng dịch vụ pháp lý Khoá luận cũng đượcnghiên cứu dựa trên đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thươngmại dịch vụ và hội nhập kinh tế của đất nước hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổnghợp để làm rõ những vấn đề lý luận về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lýtrong Chương 1 Bên cạnh đó, phương pháp lịch sử cụ thể và phương pháp khảo cứu thựctiễn được áp dụng cho Chương 2 Đặc biệt khoá luận sử dụng phương pháp so sánh luậthọc và phương pháp lịch sử xuyên suốt khoá luận để phân tích, đối chiếu so sánh nhữngquy định pháp luật về việc giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý cho thấy sựphát triển của pháp luật về Hợp đồng dịch vụ pháp lý của nước ta cũng như những điểmtương đồng và khác biệt, những hạn chế, bất cập của pháp luật về Hợp đồng dịch vụ pháp
lý của Việt Nam so với các quy định của WTO và pháp luật quốc tế
6 Kết cấu khoá luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luậngồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ
pháp lý
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam
Trang 13Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Công ty TNHH Tư vấn LVN ViệtNam
Trang 14CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1.1 Khái quát chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.1.1.1 Khái niệm dịch vụ pháp lý
Theo quy định của WTO, dịch vụ pháp lý được định nghĩa “bao gồm các lĩnh vực
tư vấn và đại diện đối với pháp luật nước tiếp nhận dịch vụ, pháp luật của nước sở tại, nước thứ ba, luật pháp quốc tế; dịch vụ chứng thực giấy tờ tài liệu; các dịch vụ tư vấn và thông tin khác” Cho đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có một khái niệm hoàn
chỉnh về dịch vụ pháp lý, do đó hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệmnày Theo Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng dịch vụ được định nghĩa như sau:
“Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ” Bên cạnh đó, từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý quan niệm:“Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội” Dịch vụ pháp lý luôn gắn liền với hoạt động hành nghề luật sư và
trong quy định của Luật luật sư 2012, Điều 4 luật này quy định về dịch vụ pháp lý bằng
cách liệt kê như sau: “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, TVPL, đại
diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác”.
Từ những quan điểm trên, dịch vụ pháp lý có thể được định nghĩa như sau: “Dịch
vụ pháp lí là loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết, có kiến thức và chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thực hiện, nhằm đáp ứng nhu cầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt pháp lí của các tổ chức, cá nhân trong xã hội”.
1.1.1.2 Đặc điểm, phân loại dịch vụ pháp lý
(i) Đặc điểm của dịch vụ pháp lý:
Dịch vụ pháp lý là hoạt động rất đặc thù so với các loại dịch vụ thông thườngkhác, do đó dịch vụ pháp lý bao gồm những đặc điểm sau:
- Dịch vụ pháp lý luôn gắn liền với pháp luật: Dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ có liênquan đến lĩnh vực pháp luật mà bên cung ứng dịch vụ thực hiện cho khách hàng một hoạt
Trang 15động cụ thể có liên quan đến pháp luật nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên cần phải nhấnmạnh thêm là ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận thì đặc điểm nổi bật so với các dịch vụkhác là luôn gắn liền với pháp luật.
- Cung cấp vụ pháp lý là hình thức kinh doanh có điều kiện: Bên cung ứng dịch vụ pháp
lý phải là tổ chức hoặc cá nhân hành nghề phải có đủ điều kiện theo quy định của phápluật Để được cung ứng dịch vụ pháp lý trên thị trường và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp
lý thì chủ thể cung ứng phải đáp ứng điều kiện theo quy định và được phép có quyềncung ứng loại dịch vụ này Nếu cung cấp dịch vụ pháp lý với tư cách tổ chức thì chủ thểnày phải được thành lập hợp pháp và có điều kiện là cá nhân thuộc tổ chức ấy đáp ứngtheo quy định về điều kiện kinh doanh Nếu hành nghề với tư cách cá nhân thì chủ thểnày ngoài việc đáp ứng về chứng chỉ hành nghề thì còn phải thực hiện việc đăng ký theoquy định của pháp luật Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật là khi đã đăng ký kinh doanh haycòn gọi là đăng ký hoạt động thì chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý không được đăng kýthêm bất kỳ loại hình dịch vụ hay ngành nghề nào khác
- Dịch vụ pháp lý không định lượng cụ thể hóa được chất lượng dịch vụ: Dịch vụ pháp lýmang những đặc điểm riêng biệt đó là những công việc phải thực hiện nhưng kết quảmang tính vô hình, khó tiêu chuẩn hóa, không thể phân chia Việc không có thước đo vềchất lượng dịch vụ pháp lý mà chỉ là sự mẫn cán của người trực tiếp thực hiện dịch vụpháp lý dẫn đến mỗi tổ chức, cá nhân phải luôn phấn đấu để uy tín và thương hiệu củamình ngày càng được củng cố để khẳng định sự tận tâm, nhiệt huyết để đạt được hiệu quảcông việc của bên cung cấp dịch vụ pháp lý đối với khách hàng
(ii) Phân loại dịch vụ pháp lý:
Có nhiều tiêu chí để phân loại dịch vụ pháp lý nhưng chủ yếu được phân chiathành ba loại, bao gồm: Theo nhà cung cấp dịch vụ pháp lý; theo loại chuyên gia thựchiện dịch vụ pháp lý; theo nội dung dịch vụ pháp lý Trong phạm vi tiếp cận của luận vănvới mục đích nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý, người viết thực hiện phân loại dịch vụ pháp lý theo chủ thể cung cấp dịch vụ
- Dịch vụ pháp lý của luật sư:
Tại Điều 2 Luật luật sư 2006 SĐBS 2012 thì “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn,
điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức” Quy định này cho thấy nghề luật sư mang tính thương
mại đó là thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của các chủ thể khác Tuy nhiên, nghề
Trang 16luật sư là một nghề đặc biệt mà các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình cùng với
kỹ năng, kinh nghiệm độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quyđịnh của pháp luật và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam nhằmmục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách tốt nhất cho khách hàng.dịch vụ pháp lý của luật sư cũng rất đa dạng và được phân chia thành các loại khác nhau
Theo Điều 4 luật này thì “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, TVPL,
đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác”.
- Dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề công chứng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014 quy định: “Công
chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Hoạt động công chứng được xác định là
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia giao dịch đồng thời là chứng cứkhi các hợp đồng giao dịch được công chứng trong các trường hợp có tranh chấp xảy ra.Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật công chứng số 82/2006/QH11.Đây là văn bản luật đầu tiên về công chứng cho phép thành lập Văn phòng công chứnghay còn gọi là công chứng tư tồn tại song song với Phòng công chứng Quy định này thểhiện quan điểm công chứng là một dịch vụ
- Dịch vụ pháp lý của Trung tâm tư vấn pháp luật:
Ngày 16/7/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2008/NĐ-CP “Về tư vấnpháp luật (TVPL)” để thay thế NĐ 65/2003/NĐ-CP Tại Điều 7 của Nghị định này quy
định: “Hoạt động TVPL quy định tại Nghị định này mang tính chất xã hội, không nhằm
mục đích thu lợi nhuận” và phạm vi hoạt động của Trung tâm TVPL cũng mở rộng hơn:
“1 Trung tâm TVPL được thực hiện TVPL; được cử luật sư làm việc theo hợp đồng cho Trung tâm tham gia tố tụng để bào chữa, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức yêu cầu TVPL đối với vụ việc mà Trung tâm thực hiện TVPL; được thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý
2 Trung tâm TVPL được nhận và thực hiện vụ việc trong tất cả các lĩnh vực pháp luật”
Trang 17Như vậy, nếu xét ở mức độ tương quan thì Trung tâm TVPL được cung ứng dịch vụ pháp
lý tương đương như dịch vụ pháp lý của luật sư
- Dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề Thừa phát lại:
Thừa phát lại là thực hiện các công việc theo yêu cầu của khách hàng hoặc Tòa ántrong phạm vi nhiệm vụ được pháp luật quy định Mục đích của Thừa phát lại là nhằmphục vụ công lý, phục vụ hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức và cá nhân trong xã hội Theo yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính, cảicách tư pháp góp phần làm cho nền hành chính tư pháp theo sát và đáp ứng tốt hơn sựphát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và dân chủ hóa đờisống xã hội, chế định Thừa phát lại được nghiên cứu để thực hiện, việc thí điểm chế địnhthừa phát lại có thể nói là một giải pháp mang tính đột phá nhằm chủ trương xã hội hóamột số hoạt động tư pháp đã được Đảng, Nhà nước đề ra trong những năm qua Thể chếhóa chủ trương của Đảng, ngày 14/11/2008 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó quy định việc thực hiện thíđiểm chế định Thừa phát lại Ngày 24/7/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố
Hồ Chí Minh Sau ba năm thực hiện với những kết quả tích cực đã đạt được, căn cứ vàoNghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế địnhThừa phát lại Tại Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định công việc Thừa phát lại
được làm: “Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án
dân sự; Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự; Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự ”
- Dịch vụ pháp lý của trọng tài thương mại:
Trọng tài thương mại là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biếntrong đời sống kinh tế ở khắp nơi trên thế giới Từ những năm 1990, Việt Nam phát triểnkinh tế thị trường, mở rộng giao lưu thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới, cácdoanh nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội giao dịch thương mại với các đối tác nước ngoàinên đã làm quen và sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơntrước Mặc dù vậy, với tốc độ phát triển như hiện nay của kinh tế thị trường, giới luật giaquốc tế và trong nước đều cho rằng giải quyết tranh chấp thương mại qua Trọng tàithương mại là một phương thức có nhiều ưu điểm, ngày càng ưa chuộng và phát triển
Tại Điều 3 Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 quy đinh: “Trọng tài thương
Trang 18mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này” Khi các bên thực hiện yêu cầu thì: “Phí trọng tài là khoản thu
từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ” (Điều 34 Luật Trọng
tài Thương mại 2010) Như vậy, dịch vụ pháp lý của Trọng tài thương mại cũng là mộtloại hình dịch vụ pháp lý
1.1.1.3 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý
Căn cứ theo Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là
sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.”
Dịch vụ pháp lý có đặc điểm khác biệt với các ngành dịch vụ thương mại khác đó là tínhthương mại luôn gắn liền với pháp luật của một quốc gia hay thế giới nhằm đáp ứng nhucầu của tổ chức, cá nhân nào đó Bên cạnh đó, trong các văn bản quy phạm pháp luật củaViệt Nam chưa có một quy định nào thể hiện thế nào là dịch vụ pháp lý Cụm từ “Dịch
vụ pháp lý” được gắn với các cụm từ khác và được nằm rải rác trong các văn bản quyphạm pháp luật Dịch vụ pháp lý được coi là một loại dịch vụ mang tính thương mại,người cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm mục đích thu lợi và được coi như một nghề Người
sử dụng dịch vụ pháp lý được thỏa mãn những yêu cầu hiểu biết hay công việc cụ thể vàphải trả phí (giá) dịch vụ cho người cung cấp
Từ đó, ta có thể đưa ra khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý như sau: “Hợp đồng
dịch vụ pháp lý có tính thương mại là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó, bên cung ứng cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ pháp lý cho bên thuê dịch vụ để nhận thù lao, còn bên
sử dụng dịch vụ pháp lý có nghĩa vụ thanh toán và sử dụng dịch vụ theo thoả thuận.”
1.1.2 Đặc điểm hợp đồng dịch vụ pháp lý
Hiện nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về đặc điểm của hợp đồng dịch vụpháp lý Tuy nhiên hợp đồng dịch vụ pháp lý nhìn chung có một số các đặc điểm sau:
Thứ nhất, Hợp đồng dịch vụ pháp lý là loại hợp đồng ưng thuận
Các chủ thể tự do thể hiện ý chí khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng như: Đối tượngcủa hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, địa điểm, thời hạn phương thức thực hiệnhợp đồng, giải quyết tranh chấp bất đồng và khi các bên đã xác lập, giao kết thì hợpđồng mang tính bắt buộc giữa các bên, việc từ chối hoặc chậm trễ thực hiện coi như viphạm hợp đồng Thể hiện nổi bật của đặc điểm này là giá trị pháp lý gắn với công việc
Trang 19mà bên cung ứng dịch vụ pháp lý phải thực hiện với kỹ năng, kinh nghiệm của mình theoquy định của pháp luật.
Thứ hai, Hợp đồng dịch vụ pháp lý là loại hợp đồng song vụ
Theo nguyên tắc quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia, mỗi bên đều có nghĩa vụ đốivới nhau, việc bên nào phải thực hiện nghĩa vụ trước phải căn cứ vào thỏa thuận của cácbên trong hợp đồng Đặc điểm này thể hiện rõ nhất qua việc bên sử dụng dịch vụ pháp lýphải trả thù lao cho bên cung ứng dịch vụ và có quyền yêu cầu bên cung ứng thực hiệnđối tượng của hợp đồng thì có nghĩa vụ thanh toán phí tương ứng, ngược lại bên cungứng dịch vụ pháp lý có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận thì cũng có quyền yêu cầu bênthuê mình phải trả công tương xứng
Thứ ba, Hợp đồng dịch vụ pháp lý mang tính chất đền bù
Khi đối tượng của hợp đồng dịch vụ pháp lý được thực hiện thì bên được hưởng lợi từdịch vụ này cũng hoàn trả một nghĩa vụ tương ứng theo thỏa thuận, theo nguyên tắcchung của quan hệ dân sự là có đi có lại đền bù ngang giá Trong hợp đồng dịch vụ pháp
lý đặc điểm này được thể hiện bên cung ứng dịch vụ pháp lý phải thực hiện những côngviệc như hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng với một khoản phí được trả tương ứng.Cùng với đó, bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ, khi bên cungứng dịch vụ đã thực hiện công việc và mang lại kết quả như đã thoả thuận
Thứ tư, Hợp đồng dịch vụ pháp lý có tính rủi ro cao
Một số nguyên nhân dẫn đến việc hợp đồng dịch vụ pháp lý hàm chứa yếu tố rủi ro caohơn các loại hợp đồng dịch vụ khác là:
- Các bên chủ thể của hợp đồng dịch vụ pháp lý có sự bất cân xứng về kiến thức phápluật dịch vụ pháp lý bởi bên cung ứng dịch vụ thường có lợi thế hơn so với bên sử dụngdịch vụ Điều này xuất phát từ đặc điểm của dịch vụ pháp lý là gắn liền với pháp luật vàbên cung ứng dịch vụ thường là các chuyên gia pháp lý, có trình độ chuyên môn và kỹnăng hành nghề luật chuyên nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động cung ứng dịch vụ pháp lý làhoạt động nghề nghiệp nhằm mục đích sinh lời nên khi bên thuê dịch vụ cần được hỗ trợpháp lý thể hiện sự cần được hỗ trợ pháp lý của bên cung cấp dịch vụ
- Hợp đồng dịch vụ pháp lý phụ thuộc vào bên thứ ba: Trong trường hợp có liên quan đếnthời gian, kết quả vụ việc không phải do hai bên thoả thuận và quyết định mà phải phụthuộc vào bên thứ ba khi phạm vi công việc đó liên quan đến hoạt động tố tụng Bên thứ
ba đó là do các cơ quan tiến hành tố tụng quyết định Điều này cho thấy sự ràng buộc
Trang 20pháp lý đối với bên cung cấp dịch vụ pháp lý trong trường hợp này sẽ không thể cam kết
về kết quả, thời gian giải quyết vụ việc mà tuân theo sự quyết định của bên thứ ba là các
cơ quan tiến hành tố tụng
1.2 Khái quát về giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.2.1 Giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.2.1.1 Khái niệm giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
Giao kết hợp đồng là hoạt động các bên bày tỏ với nhau ý chí về việc xác lập, thayđổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng trên cơ sở tuân theo nguyên tắc
do pháp luật quy định Hoạt động giao kết hợp đồng được thực hiện theo trình tự từ việc
đề nghị giao kết hợp đồng đến việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và sau đó haibên tiến hành thoả thuận và ký kết hợp đồng Để xác lập một hợp đồng dịch vụ pháp lýthì các bên tham gia phải tiến hành giao kết hợp đồng, người đề nghị giao kết hợp đồngphải đề xuất nội dung chủ yếu của hợp đồng dịch vụ pháp lý cũng như phải chịu ràngbuộc về những nội dung đã đề nghị đó và người được đề nghị giao kết có quyền chấpnhận hoặc từ chối giao kết hợp đồng Chỉ khi đã được giao kết thì hợp đồng dịch vụ pháp
lý mới là căn cứ phát sinh hiệu lực giữa các bên Sau khi giao kết, bên được đề nghị cóthể chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng qua việc trả lời đề nghị giao kết cho bên đề nghị
về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị
lý của tổ chức hành nghề đã đăng ký Bên sử dụng dịch vụ pháp lý có thể là cá nhân hoặc
tổ chức có nhu cầu được hỗ trợ hay sử dụng dịch vụ pháp lý để bảo đảm quyền và lợi íchhợp pháp của mình
(ii) Về nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Hợp đồng là một sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên tham gia giao kết Dovậy, việc giao kết hợp đồng cần đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí Đây
là nguyên tắc cơ bản của việc giao kết hợp đồng Khi thực hiện giao kết hợp đồng dịch vụ
Trang 21pháp lý thì mọi người đều có quyền bình đẳng, thể hiện sự tự nguyện và ý chí của các bêncùng nhau hợp tác, trung thực Nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng không chấp nhận sựcưỡng chế, ép buộc, lừa gạt của các bên hoặc từ phía người thứ ba Bên cạnh đó, các bêncũng cần giao kết hợp đồng trên nguyên tắc hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp phápcủa nhau cũng như tự do giao kết nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.(iii) Về hình thức đề nghị giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Hình thức đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý chí của bên đề nghị giaokết hợp đồng ra bên ngoài dưới dạng nhất định và có thể chia hình thức đề nghị giao kếthợp đồng dịch vụ pháp lý thành hai hình thức chính:
+ Hình thức đề nghị giao kết trực tiếp: Là việc các bên trực tiếp gặp gỡ, bàn bạc để đi đếnthống nhất các nội dung của hợp đồng được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng văn bản.Hình thức đề nghị giao kết này khá đơn giản, hợp đồng hình thành nhanh chóng, độ antoàn pháp lý cao nhưng các bên ở xa nhau thì sẽ là không thuận lợi Do vậy, việc áp dụngcông nghệ thông tin để đề nghị trực tiếp cũng được áp dụng
+ Hình thức đề nghị giao kết gián tiếp: Là phương thức mà các bên không trực tiếp gặpnhau để đàm phán về nội dung của hợp đồng mà chỉ trao đổi thông tin trong đó chứađựng các nội dung cần thỏa thuận thông qua các phương tiện thông tin, liên lạc như thưtín, fax, mạng internet
(iv) Về hình thức chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Bên được đề nghị có thể trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo nhiềuhình thức khác nhau (gặp trực tiếp, gọi điện thoại, gửi thư điện tử,…), thậm chí có thể imlặng sau khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015, sự im lặng chỉ được coi là chấp nhận đề nghị giaokết hợp đồng nếu các bên đã có thỏa thuận cụ thể, hoặc đó là thói quen đã được xác lậpgiữa các bên
(v) Về hình thức của Hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Sau khi bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết của bên đề nghị giao kếthợp đồng dịch vụ pháp lý, các bên tiến hành thống nhất thoả thuận và ký kết hợp đồngdịch vụ pháp lý Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 hợp đồng dịch vụ pháp lý phải đượclập thành văn bản và có những nội dung chính sau:
Trang 22- Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chứchành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân;
- Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên;
- Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có);
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
- Phương thức giải quyết tranh chấp
Do đó hợp đồng dịch vụ pháp lý bắt buộc phải được lập thành văn bản bao gồmcác nội dung chính như trên và luật sự thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụpháp lý, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tốtụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơquan, tổ chức
1.2.1.3 Ý nghĩa của giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
Hợp đồng dịch vụ pháp lý là hình thức để các bên xác lập và thực hiện một quan
hệ pháp luật và là cơ sở pháp lý để các bên giao kết bảo vệ quyền lợi của mình khi tranhchấp xảy ra Mục đích của hợp đồng dịch vụ pháp lý mà các bên luôn hướng đến là nhằmthoả mãn nhu cầu của mình Theo đó, mục đích của bên cung ứng dịch vụ là hoàn tất việccung cấp dịch vụ pháp lý, nhận thù lao và chi phí Còn mục đích của bên sử dụng dịch vụ
là để được thoả mãn các nhu cầu pháp lý của mình Do đó, việc giao kết hợp đồng dịch
vụ pháp lý thể hiện sự thoả thuận và thống nhất ý chí của các bên và là cơ sở để các bêntiến tới ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý Trong đó quy định cụ thể về nội dung cũng nhưquyền và nghĩa vụ của các bên sau khi đồng ý giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.2.2 Thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.2.2.1 Khái niệm thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Sau khi các bên đã thống nhất thoả thuận và đi đến ký kết hợp đồng dịch vụ pháp
lý bằng văn bản đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực thì hợp đồng có hiệulực bắt buộc đối với các bên Từ thời điểm đó, các bên trong hợp đồng bắt đầu có quyền
và nghĩa vụ đối với nhau Thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý là việc các bên tham gia
ký kết trong hợp đồng thực hiện nội dung hợp đồng, trong đó có các quy định về nộidung thoả thuận, thù lao chi phí, quyền và nghĩa vụ của các bên đã thống nhất thoả thuận
từ khi giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý Các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng
Trang 23dịch vụ pháp lý tiến hành các hoạt động nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã camkết trong hợp đồng trở thành hiện thực.
1.2.2.2 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Khi thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý, các bên cần phải tuân thủ các nguyên tắcchung theo quy định của pháp luật như:
Thứ nhất, thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận, không được xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tùy theo tính chất của từngloại hợp đồng mà pháp luật quy định về vấn đề thực hiện hợp đồng Ngoài ra, khi thựchiện hợp đồng các chủ thể còn phải tuân thủ theo những quy tắc đặc thù nhất định Ví dụnhư, nguyên tắc hành nghề luật sư tại Điều 5 Luật luật sư năm 2006, SĐBS năm 2012quy định: “Tuân theo Quy tắc đạo đức đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư”, …
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ pháp lý là hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận
thì phải thực hiện đúng các điều khoản, nội dung của hợp đồng mà các bên cam kết vềđối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ; thời hạn thực hiện hợpđồng; thời hạn và phương thức thanh toán cùng các thỏa thuận khác; mỗi bên phải thựchiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn; không được hoãn thực hiện với lý do bên kia chưathực hiện nghĩa vụ đối với mình (Khoản 1, Điều 410 Bộ luật Dân sự năm 2015) , trừtrường hợp các bên có thoả thuận khác
Thứ ba, việc thực hiện hợp đồng phải diễn ra với tinh thần trung thực, hợp tác và
đôi bên cùng có lợi, bảo đảm sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên trong quan hệ hợp đồng.Điều này nhằm đảm bảo lợi ích của các bên trong việc thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp
lý giúp cho quá trình thực hiện được diễn ra một cách công bằng và thuận lợi nhất
1.2.2.3 Hình thức thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Theo Điều 4 Luật luật sư năm 2006 SĐBS năm 2012 quy định: “Dịch vụ pháp lý
của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp lý, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác” Như vậy, dịch vụ pháp lý có phạm vi rất rộng bao
trùm lên toàn bộ đời sống pháp lý trong xã hội Do đó, tuỳ theo nội dung hợp đồng màcác bên thoả thuận ký kết về dịch vụ pháp lý mà bên sử dụng dịch vụ cần được hỗ trợ màbên cung ứng dịch vụ pháp lý sẽ sử dụng hình thức thực hiện hợp đồng khác nhau Việcthực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể được thể hiện dưới hình thức dịch vụ TVPLhoặc dịch vụ đại diện pháp lý được định lập và thực hiện theo quy định của pháp luật dựatheo nhu cầu và thoả thuận của các bên tham gia ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
Trang 241.3 Cơ sở ban hành và nội dung Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
1.3.1 Cơ sở ban hành Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý
Hợp đồng dịch vụ pháp lý là một chế định quan trọng trong Luật thương mại
2005, nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vàoquan hệ cung ứng dịch vụ pháp lý, từ đó giúp cho các chủ thể kinh doanh dịch vụ pháp lý
có được môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng Khi thị trường dịch vụ pháp lýViệt Nam đang tiến tới quá trình mở cửa theo WTO sẽ xuất hiện nhiều cơ hội cũng nhưthách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam Khi đó hợp đồng dịch vụ pháp lý sẽ là cơ hộipháp lý, là công cụ hữu hiệu cho các doanh nghiệp nước ta nâng cao khả năng cạnh tranhtrong nước và thâm nhập thị trường nước ngoài
Ở Việt Nam, các vấn đề liên quan tới hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hoạt độngthương mại được điều chỉnh tương đối toàn diện trong các văn bản quy phạm pháp luậthiện hành
Thứ nhất, nhóm các quy định chung về hợp đồng dịch vụ pháp lý: Trước tiên, hợp
đồng dịch vụ pháp lý sẽ phải tuân theo các quy định và nguyên tắc chung trong Hiếnpháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các hoạt động hai bên thoả thuậntrong hợp đồng không được trái với Hiến pháp Tiếp theo, hợp đồng dịch vụ pháp lýmang tính chất là một hợp đồng dịch vụ, do đó sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định vềnhững vấn đề chung, mang tính nguyên tắc về các hoạt động dịch vụ pháp lý, các hợpđồng dịch vụ pháp lý Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2015 được coi là văn bản pháp luật chungquan trọng nhất điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng dân sự Hợp đồng dân
sự là một khái niệm chung bao hàm tất cả các loại hợp đồng, trong đó có quy định về các vấn
đề liên quan đến việc giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ hay các vấn đề có liên quantrong hợp đồng dịch vụ pháp lý Do đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồngdịch vụ pháp lý, Công ty TNHH Tư vấn LVN Việt Nam, các hoạt động của công ty kýkết và thực hiện với khách hàng đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống các quy định chungnày
Thứ hai, nhóm các quy định chuyên ngành điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Bên cạnh những quy định chung về hợp đồng dịch vụ trong Bộ luật Dân sự 2015 thì LuậtThương mại 2005 – ra đời trên cơ sở Bộ luật Dân sự năm 2005, cũng chứa đựng rất nhiềunhững quy định về hợp đồng dịch vụ điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ của
Trang 25công ty với khách hàng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ pháp lý,các vấn đề liên quan đến chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại.Ngoài ra, trong mỗi một lĩnh vực hoạt động của mình thì hợp đồng cung ứng dịch vụ củacông ty lại được điều chỉnh bởi một hệ thống luật chuyên ngành khác nhau có thể kể đếnnhư: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật các tổ chức tíndụng, Luật kinh doanh bất động sản, Luật hôn nhân và gia đình,… Bởi bản thân là mộtcông ty luật chuyên tư vấn pháp lý và đại diện tố tụng cho khách hàng trong rất nhiềulĩnh vực: Dân sự, kinh tế, tài chính ngân hàng, lao động… nên trong mỗi một lĩnh vựchoạt động và dựa theo tính chất của hợp đồng, công ty sẽ chịu sự điều chỉnh của một hệthống các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng khác nhau bao gồm các bộ luật, luật doQuốc hội ban hành và cả các văn bản dưới luật như các nghị định, nghị quyết, thông tư…
Thứ ba, nhóm các quy định về hợp đồng dịch vụ pháp lý có yếu tố nước ngoài.
Cùng với tiến trình tự do hóa thương mại, Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế nên việc thực hiện các giao dịch có yếu tố nước ngoài là tương đối phổ biến Trườnghợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên cóquy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy địnhkhác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp dụng Điều ước quốc tế Các bên tronggiao dịch nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tếnếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam
1.3.2 Nội dung cơ bản của Pháp luật điều chỉnh giao kết và thực hiện hợp đồng dịch
vụ pháp lý
1.3.2.1 Nội dung Pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
(i) Pháp luật điều chỉnh chủ thể, hình thức giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
- Về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Căn cứ theo Điều 2 Luật luật sư năm 2006 SĐBS năm 2012 quy định: “Luật sư
là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Do đó, bên thực hiện các nội dung dịch vụ pháp lý phải là những luật sư
có đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo tại Điều 10 và Điều 11 Luật này bao
gồm:
“Điều 10 Tiêu chuẩn luật sư
Trang 26Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.
Điều 11 Điều kiện hành nghề luật sư
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật
sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư.”.
Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề là hành nghề trong tổchức hành nghề luật sự được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổchức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật
sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân Trường hợp luật sư hành nghề với tư cách cánhân sẽ không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài
cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhànước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiếnhành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật
sư là thành viên (khoản 3 Điều 49 Luật luật sư 2006 SĐBS 2012) Trường hợp bêncung ứng dịch vụ là tổ chức thì tổ chức này phải đảm bảo đủ các điều kiện theo quyđịnh của Luật luật sư và thực hiện đăng ký tại Sở Tư pháp theo đúng quy định của Luậtluật sư và Nghị quyết 65/2006/NQ-QH11 Đây là dấu hiệu đặc trưng không thể nhầmlẫn với chủ thể khác và không một chủ thể nào được quyền cung cấp dịch vụ pháp lýcho khách hàng nếu tổ chức đó không phải là tổ chức hành nghề luật sư Chủ thể là tổchức hành nghề luật sư bao gồm văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh, công ty luậttrách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên, công ty luật trách nhiệm hữu hạn có mộtthành viên được đăng ký, hoạt động, đáp ứng những điều kiện theo Luật luật sư hiệnhành
Do vậy, bên cung ứng dịch vụ trong hợp đồng dịch vụ pháp lý có thể là luật sưhoặc tổ chức hành nghề luật sư có đầy đủ điều kiện, giấy phép hành nghề, giấy phépkinh doanh,… và tuân thủ theo các quy định của pháp luật về chủ thể giao kết hợpđồng dịch vụ pháp lý
- Về hình thức giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý:
Đa số các Hợp đồng dịch vụ pháp lý được ký kết theo hai phương thức ký kếttruyền thống là phương thức trực tiếp, phương thức gián tiếp và tồn tại dưới hình thức dopháp luật quy định Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật luật sư năm 2006 sửa
Trang 27đổi sung năm 2012 quy định hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được lập thành văn bản Do
đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý phải đảm bảo hình thức giao kếtđược thể hiện bằng văn bản và không được thực hiện giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lýdưới các hình thức khác
(ii) Pháp luật điều chỉnh trình tự giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý
Trình tự giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý được diễn ra từ việc đề nghị giao kếttới việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và bắt đầu ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lýcủa các bên Dựa theo Điều 386 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đề nghị giao kếthợp đồng, bên đề nghị giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý thể hiện ý chí của mình về việccùng với phía bên kia tạo lập một hợp đồng với những nội dung và điều kiện xác định.Hành động đề nghị giao kết này được đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc giao kết hợpđồng cũng như có phương thức đề nghị giao kết hợp đồng phù hợp
Thời điểm giao kết hợp đồng thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nộidung của hợp đồng hay là thời điểm bên đề nghị nhận được sự chấp nhận giao kết Khoản
1, Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm
bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết” Trong trường hợp hợp đồng giao kết bằng
lời nói thì “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận
về nội dung của hợp đồng” (khoản 3, Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015) Khi hợp đồng
được giao kết bằng văn bản thì “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm
bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” (Khoản 4, Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015) Trường hợp hợp đồng giao kết
bằng lời nói, sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xácđịnh tại thời điểm giao kết bằng lời nói Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm
2015 thì thời điểm giao kết hợp đồng đồng đều được xác định bằng một hành vi cụ thể.Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng, đây là thờiđiểm xác định sự gặp gỡ ý chí và thống nhất ý chí của các bên Thời điểm giao kết hợpđồng còn là cơ sở để công nhận hiệu lực của hợp đồng Nếu hợp đồng mang tính chấtưng thuận thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên kể từ thời điểmgiao kết
Địa điểm giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý được thực hiện theo quy định tại Điều
399 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thỏathuận; nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhânhoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng”