Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiệnquản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước phù hợp với điều
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trungthực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường, nghiên cứu viết luận văn bản thân tôi đãnhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân.Trước hết, cho phép bản thân tôi được cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại họcthương mại Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành đềtài của mình
Cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của thầy GS.TS Đinh VănSơn đã giúp tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các anh, chị, bạn đồng nghiệptrong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Văn Huy
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ BẢNG
Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý dựa theo kết quả đầu ra 14
Biểu đồ 2.1 Tổng giá trị sản xuất của huyện giai đoạn năm 2014 - 2016 35
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng năm 2016 35
Biểu đồ: 2.3 Thu ngân sách trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2016 36
Bảng 2.1: Cơ cấu thu - chi ngân sách huyện Kim Bảng giai 37
đoạn năm 2014 - 2016 37
Bảng 2.2: Cơ cấu chi ngân sách địa phương ở huyện Kim Bảng 38
giai đoạn 2014-2016 38
Biểu đồ: 2.4 Cơ cấu chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển của huyện giai đoạn 2014-2016 39
Bảng 2.3: Chi thường xuyên từ NSNN theo lĩnh vực huyện Kim Bảng 40
giai đoạn 2014-2016 40
Bảng 2.4: Định mức chi quản lý hành chính 44
Bảng 2.5: Cơ cấu phân bổ chi thường xuyên ở huyện Kim Bảng 44
giai đoạn 2014-2016 44
Biểu đồ: 2.5 Thực hiện chi thường xuyên theo lĩnh vực 46
giai đoạn 2014-2016 46
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý dựa theo kết quả đầu ra Error: Reference source not found
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tổng giá trị sản xuất của huyện giai đoạn năm 2014 - 2016Error: Reference
source not found
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng năm 2016 Error: Reference source not found
Biểu đồ: 2.3 Thu ngân sách trên địa bàn huyện giai đoạn 2014-2016 Error: Reference source not found
Biểu đồ: 2.4 Cơ cấu chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển của huyện giai đoạn
Trang 52014-2016 Error: Reference source not found
Biểu đồ: 2.5 Thực hiện chi thường xuyên theo lĩnh vực giai đoạn 2014-2016 Error:Reference source not found
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế,
xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Ngân sách nhà nước là công
cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế- xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thịtrường, bình ổn giá cả Ở Việt Nam, luật NSNN từ khi ban hành và đã qua các lần sửađổi, bổ sung đều thừa nhận rằng ngân sách cấp huyện là ngân sách của chính quyềnNhà nước cấp huyện và là một bộ phận cấu thành của NSNN, là cấp ngân sách thựchiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN Việc tổ chức, quản lý thu chi ngân sáchcấp huyện hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết được nhữngvấn đề cấp thiết trên địa bàn huyện
Công tác thu chi ngân sách trên địa bàn hiện nay đã có nhiều chuyển biến tíchcực, nhất là trong chi thường xuyên đảm bảo sự hoạt động của bộ máy nhà nước,song vẫn còn nhiều hạn chế… Vì thế, yêu cầu quản lý chi NSNN nói chung và quản
lý chi thường xuyên nói riêng bảo đảm đúng chiến lược, mục tiêu, tiết kiệm, hiệuquả đáp ứng được các nhu cầu phát triển của huyện đang là vấn đề rất bức xúc hiệnnay Huyện Kim Bảng là huyện nghèo, thu không đủ chi phần lớn hoạt động chi vẫnđược trợ cấp từ ngân sách cấp trên, việc phấn đấu trở thành huyện nông thôn mớiđến năm 2020 đòi hỏi nhu cầu chi đầu tư cũng như chi thường xuyên phục vụ sựnghiệp phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi việc quản lýchi tiêu ngân sách huyện phải hết sức chặt chẽ, hiệu quả
Qua quá trình học tập nghiên cứu, được các thầy cô của trường Đại họcThương mại hướng dẫn, truyền đạt những học phần đã học tôi quyết định chọn vấn
đề: “Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Với mục đích vận dụng những kiến
thức lý luận đã học vào hoạt động thực tiễn tại địa phương, qua đó có những đónggóp khoa học thiết thực đối với công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại huyệnKim Bảng, tỉnh Hà Nam Đồng thời thông qua nghiên cứu luận văn, tôi được nângcao trình độ, kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực công tác
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Từ khi NSNN ra đời, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cả trong vàngoài nước, bàn về quản lý NSNN ở những cấp độ và giác độ khác nhau Một số đề tàinghiên cứu tương tự về quản lý ngân sách nhà nước nói chung như:
Đề tài: Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nướctỉnh Nam Định năm 2014 của Vũ Hữu Lợi - Luận văn Thạc sỹ Tài chính - Ngânhàng Đề tài đã đi sâu nghiên cứu công tác chi thường xuyên qua kho bạc tỉnh NamĐịnh, luận văn làm rõ được vai trò, vị thế và trách nhiệm của KBNN trong việcquản lý và kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN, trách nhiệm của đơn vị sửdụng ngân sách trong quá trình chi tiêu NSNN Luận văn chưa làm rõ việc quản lýchi thường xuyên ngân sách nói chung của các cơ quan tài chính, nhất là cấp huyện
Đề tài: Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnhNam Định của Vũ Quang Thúy - Luận văn Thạc sỹ Tài chính - Ngân hàng đã kháiquát được thực trạng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSĐP trên địa bàn tỉnhNam Định và khẳng định quan điểm phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phải phùhợp với phân cấp kinh tế- xã hội ở địa phương Ngân sách cấp trên phải giữ vai tròchủ đạo, chi phối, điều hòa; ngân sách cấp dưới phát huy được tính chủ động sángtạo nhưng chưa cụ thể việc quản lý chi thường xuyên ngân sách cấp huyện
Đề tài: Quản lý chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Nam của Vũ Văn Thư Luận văn Thạc sỹ Tài chính - Ngân hàng Luận văn đã phân tích rõ thực trạng chingân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam và đề xuất một số giải pháp thiết thực
-về chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên luận văn chưa đánh giá mộtcách cụ thể trên phạm vi cấp huyện để làm cơ sở đề xuất các giải pháp một cáchtoàn diện cho cấp huyện
Nhưng những công trình này chỉ nghiên cứu về từng mảng chuyên môn theonội hàm của NSNN, phù hợp với từng địa phương cụ thể Riêng nghiên cứu về quản
lý chi thường xuyên NSNN một cách toàn diện, đặc biệt ở huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam chưa có một công trình nào đề cập đến Vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại huyện Kim Bảng, tỉnh
Trang 9Hà Nam” Trong khả năng nghiên cứu và hiểu biết của tác giả luận văn, đây là đề
tài không mới nhưng có giới hạn phạm vi nghiên cứu riêng, không trùng lặp với cáccông trình đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề xuất được các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiệnquản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hộicủa địa phương, đáp ứng yêu cầu của quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nướctrong quá trình cải cách hành chính công góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Kim Bảng lầnthức XXV, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ khoa học của luận văn là:
- Hệ thống hóa lý luận cơ bản về chi thường xuyên ngân sách Nhà nước, quản
lý chi thường xuyên NSNN cấp huyện
- Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nướctại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 - 2016
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi thường xuyênngân sách Nhà nước tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu trong luận văn chỉ giới hạn ở quản lý các
khoản chi thường xuyên thuộc NSĐP - NS cấp huyện
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở quản lý các
khoản chi thường xuyên thuộc NSĐP trong cân đối, không bao gồm nội dung quản
lý các khoản chi thuộc ngân sách tỉnh, trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xemxét trên góc độ tiếp theo chu trình và chức năng quản lý
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Kim Bảng, tỉnh
Trang 10Hà Nam và chỉ tập trung nghiên cứu phân tích, làm rõ thực trạng quản lý chi thườngxuyên theo ngành, lĩnh vực không nghiên cứu quản lý của huyện đối với chi ngânsách xã, thị trấn
- Về thời gian: Thời gian khảo sát thực tế giai đoạn 2014 - 2016 trên cơ sở đó
sẽ đề xuất ra các quan điểm, giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác chithường xuyên NSNN giai đoạn 2014-2016
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,trên cơ sở quan điểm, đường lối và chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhànước về ngân sách nhà nước, quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp, đối chiếu so sánh, thống kê,phân tích và khảo sát thực tế thời gian 3 năm 2014-2016 tại huyện Kim Bảng, tỉnh
Đồng thời luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh dựatrên lý thuyết quản lý Nhà nước về kinh tế, kinh tế học vĩ mô Luận văn có sử dụngcác công trình đã công bố trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cácbảng biểu, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cấp huyện
Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trang 11CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1 Tổng quan về chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
1.1.1 Khái niệm
Chi NSNN cấp huyện là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đượctập trung vào ngân sách huyện và đưa chúng đến mục đích sử dụng Chi ngân sáchhuyện không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu,từng hoạt động và từng công việc cụ thể thuộc chức năng của Nhà nước cấp huyện.Theo đó, Chi thường xuyên NSNN cấp huyện là các khoản chi ngân sách phục
vụ hoạt động của bộ máy chính quyền cấp huyện và thực hiện chức năng quản lýnhà nước của bộ máy đó, không trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất như: Chi lương, phụcấp và các khoản đóng góp theo lương, hội họp, đảm bảo xã hội, các khoản chi đảmbảo ANQP, các sự nghiệp kinh tế, văn hóa giáo dục, sự nghiệp môi trường, khoahọc công nghệ và các hoạt động sự nghiệp khác; Chi sửa chữa thường xuyên các tàisản phục vụ hoạt động của bộ máy chính quyền cấp huyện
1.1.2 Phân loại chi thường xuyên
Căn cứ vào tính chất kinh tế: Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm cụ thể như sau:Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: Tiền lương, phụ cấp lương,học bổng học sinh, sinh viên, phúc lợi tập thể, chi về công tác người có công vớicách mạng và xã hội, chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, các khoản thanhtoán khác cho cá nhân
Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: Thanh toán dịch vụ côngcộng, vật tư văn phòng, thông tin tuyên truyền liên lạc, hội nghị, công tác phí, chiphí thuê mướn, chi sửa chữa thường xuyên, chi phí nghiệm vụ chuyên môn của từngngành
Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏgồm: Sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạtầng, chi mua tài sản vô hình, mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn
Trang 12Nhóm các khoản chi thường xuyên khác gồm: các mục của mục lục ngân sáchnhà nước không nằm trong 3 nhóm mục trên và các mục từ 147 đến mục 150 thuộckhoản chi thường xuyên trong mục lục ngân sách.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi
cụ thể sau:
Chi cho sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằmphục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý KT-XH và tạo điềukiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi Mục đíchhoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, do vậyngân sách nhà nước cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này.Chi sự nghiệp kinh tế gồm:
Chi sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp ngư nghiêp, sựnghiệp lâm nghiệp, giao thông, kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công cộngkhác
Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp
Chi vẽ bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơđịa chính
Chi định canh định cư và kinh tế mới
- Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: Chi sự nghiệp giáo dục đào tạo, chi sự nghiệp
y tế, sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp phát thanh, truyềnhình, sự nghiệp khoa học - công nghệ, sự nghiệp môi trường, sự nghiệp xã hội, sựnghiệp văn xã khác
- Chi quản lý hành chính: Là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quanHCNN thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương
Chi về hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội
Đối với nước ta, các tổ chức trên là các tổ chức thuộc hệ thống chính trị củanước ta, do vậy theo quy định của Luật NSNN, NSNN có trách nhiệm bố trí chingân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này
Trang 13Chi trợ giá theo chính sách của nhà nước.
Chi các chương trình quốc gia
Chi trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội
Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.Chi trả lãi tiền cho nhà nước vay
Chi viện trợ cho các chính phủ và các tổ chức nước ngoài
Các khoản chi khác theo quy định của Pháp luật
1.1.3 Đặc điểm của chi thường xuyên
- Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổtương đối đều giữa cá quý trong năm, giữa các tháng trong quý, giữa các năm trong
kỳ kế hoạch
- Việc sử dụng kinh phí thường xuyên chủ yếu chi cho con người, vụ việc nên
nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia
- Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chicho đầu tư phát triển Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thểhiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đấtnước
Đặc điểm trên cho thấy vai trò chi thường xuyên có ảnh hưởng rất quan trọngđến đời sống kinh tế xã hội của một quốc gia
1.1.4 Nội dung chi thường xuyên
- Chi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao
- Chi phục vụ cho việc thực hiện công việc, dịch vụ thu phí, lệ phí
- Chi cho các hoạt động dịch vụ (Kể cả khi thực hiện nghĩa vụ với ngân sáchnhà nước, trích khấu hao tài sản cố định theo quy định, chi trả vốn, trả lãi tiền vaytheo quy định của pháp luật)
Các khoản chi thường xuyên có thể được phân chia thành các nhóm:
- Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn: Chi thanh toán dịch vụ công cộng, chithuê mướn, chi vật tư văn phòng, chi công tác phí, chi các khoản đặc thù, chi sửa
Trang 14chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn, chi đoàn ra đoànvào.
- Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư không theo cácchương trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên
- Các khoản chi thường xuyên khác
- Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định, baogồm: Chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí (Các khoản chi tiền lương, tiền công,các khoản đóng góp theo lương)
1.1.5 Vai trò của chi thường xuyên
Chi thường xuyên có vai trò trong nhiệm vụ chi của NSNN Chi thường xuyên
đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chứcnăng QLNN; đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốcgia Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điềukiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi thường xuyên hiệuquả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn NSNN để chi cho đầu tư phát triển, thúc đẩynền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hànhcủa nhà nước
1.2 Quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu, yêu cầu và nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm, mục tiêu, yêu cầu quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi NSNN là quản lý quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung mộtcách có hiệu quả nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở sử dụng hệthống chính sách, pháp luật
Quản lý chi ngân sách cấp huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh
tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyềnNhà nước cấp huyện, quản lý các khoản chi của huyện đã được dự toán bởi UBNDhuyện giao và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của cấp trên giao và HĐND huyện đề ra
Trang 15Các chủ thể tham gia quản lý chi NSNN cấp huyện: Theo Luật NSNN và cácvăn bản hướng dẫn thi hành Luật NSNN, bộ máy quản lý NSNN cấp huyện bao gồmHĐND huyện, UBND huyện, Phòng TCKH, KBNN huyện.
HĐND huyện thực hiện quyết định dự toán, quyết định phân bổ dự toán ngânsách cấp huyện, phê chuẩn quyết toán ngân sách cấp huyện, quyết định các chủtrương, biện pháp để thực hiện ngân sách huyện, quyết định điều chỉnh bổ sung ngânsách cấp huyện trong các trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân sách đãđược HĐND quyết định
UBND huyện tổ chức quản lý thống nhất ngân sách huyện và các hoạt động tàichính của huyện gồm: lập dự toán ngân sách cấp huyện, phương án phân bổ ngânsách cấp huyện, quản lý thu, chi ngân sách huyện và quyết toán ngân sách huyện
Phòng Tài chính Kế hoạch là cơ quan tham mưu giúp UBND huyện trong việctổng hợp dự toán ngân sách huyện và phương án phân bổ dự toán ngân sách huyện,quản lý thu, chi và quyết toán ngân sách huyện
KBNN huyện là cơ quan kiểm soát chi NSNN theo quy định Luật NSNN
Ngoài ra, thanh tra, kiểm toán là cơ quan tham gia kiểm tra đánh giá tính đúng đắn,công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý chi NSNN (mặc dù không trực tiếp thamgia quản lý chi NSNN)
Chủ thể bị quản lý là các phòng, ban, ngành, đoàn thể (đơn vị dự toán) thuộc huyện
có sử dụng ngân sách nhà nước được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kinh phíđược giao và chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát của HĐND, UBND huyện, Phòng Tàichính Kế hoạch, KBNN huyện, Thanh tra, Kiểm toán…
Trước đây, mục tiêu của quản lý chi thường xuyên NSNN là thiên về quản lýchặt chẽ các khoản chi, đảm bảo mọi khoản chi thường xuyên NSNN đều đúngpháp luật, được kiểm soát trước, trong và sau khi xuất quỹ Các khoản chi phảiđúng mục đích, đúng định mức chi tiêu và được thủ trưởng đơn vị chuẩn chi Đểthực hiện mục tiêu này, quản lý chi NSNN phải thỏa mãn các yêu cầu sau:
Trang 16Một là, quản lý chi thường xuyên NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo
dự toán chi tiết từng hạng mục chi
Hai là, quản lý chi thường xuyên ngân sách sử dụng tổng hợp các biện pháp,
nhưng biện pháp quan trọng nhất là biện pháp tổ chức hành chính Biện pháp tổchức hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng:
- Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy, quy định tính chất, mụctiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện thành lập, điều lệ hoạt động, mối quan hệtrong và ngoài tổ chức…
- Chủ thể quản lý đưa ra các quyết định quản lý buộc cấp dưới hoặc cơ quanthuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện những nhiệm vụ nhất định
Đặc trưng cơ bản của phương pháp quản lý hành chính là cưỡng chế đơnphương của chủ thể quản lý Cùng với sự phát triển của xã hội, quá trình cải cáchquản lý chi thường xuyên NSNN đã làm thay đổi cơ bản mục tiêu, phương thứcquản lý
Hiện nay, theo Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế, mục tiêu của quản lýchi tiêu công là tạo ra các động cơ cho việc phân bổ, sử dụng và quản lý tài chínhtốt hơn, bao gồm: Kỷ luật tài khoá; phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên chiến lượccủa nền kinh tế; sử dụng có hiệu quả, hiệu lực các nguồn lực trong việc thực hiệncác ưu tiên chiến lược với chi phí thấp nhất
Trong đó, kỷ luật tài khoá đòi hỏi quản lý chi thường xuyên NSNN phải kiểmsoát được nhu cầu chi trong phạm vi nguồn lực có thể dành cho khu vực công Donguồn lực luôn có hạn, trong khi nhu cầu thường cao hơn, nên vấn đề tiếp theo củaquản lý chi thường xuyên NSNN là phải thực hiện phân bổ nguồn lực cho khu vựccông theo các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế Nếu không phân bổ nguồn lực cóhạn dành cho khu vực công theo các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế, thì ngay cảkhi quá trình kiểm soát trước, trong và sau khi sử dụng ngân sách được thực hiệnnghiêm ngặt, Chính phủ cũng khó có thể đạt được các mục tiêu đặt ra, hay nói cáchkhác, công cụ NSNN đã không đảm nhiệm được vai trò là công cụ đắc lực của Nhànước trong thực hiện nhiệm vụ, sứ mệnh của mình Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn
Trang 17lực theo các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế mới là điều kiện cần Vấn đề còn lại
là khi đã được phân bổ thì phải quản lý nguồn lực thế nào để đạt được các mục tiêuđặt ra ở mức hiệu quả nhất
1.2.1.2 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Quản lý chi thường xuyên NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc thống nhất: Theo nguyên tắc này, mọi khoản thu, chi của một cấp
hành chính đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất Thống nhất quản lý chính làviệc tuân thủ một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra,thanh quyết toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo cóhiệu quả, hạn chế những tiêu cực và rủi ro, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quankhi quyết định các khoản chi tiêu
- Nguyên tắc dân chủ: Một chính sách tốt là một ngân sách phản ánh lợi ích
của các tầng lớp, các bộ phận, các cộng đồng người trong các chính sách, hoạt độngthu chi ngân sách Sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong suốtchu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách, thể hiệnnguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách Sự tham gia của người dân sẽ làm chongân sách minh bạch hơn, các thông tin ngân sách trung thực, chính xác hơn
Tuy nhiên, thực hiện dân chủ, tăng cường sự tham gia hoạt động của người dântrong quản lý ngân sách đôi khi làm cho quản lý ngân sách trở lên khó khăn Các nhàlãnh đạo sẽ phải đối mặt với các ý kiến, các luồng quan điểm khác nhau của ngườidân, đôi khi là những hành động mang tính lợi dụng, chống đối
- Nguyên tắc cân đối ngân sách: Kế hoạch ngân sách được lập và thu, chi
ngân sách phải được cân đối Mọi khoản chi phải có nguồn thu bù đắp
- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Ngân sách là một chương trình, là tấm
gương phản ánh các hoạt động của Chính phủ bằng các số liệu Thực hiện côngkhai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểmsoát các quyết định thu chi tài chính, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệuquả Nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện trong suốt chu trình ngânsách
Trang 18- Nguyên tắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng các
nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra Đây là nguyên tắc yêu cầu vềtrách nhiệm của các đơn vị cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách, bao gồm:Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách; chịu trách nhiệm các quyếtđịnh về ngân sách của mình; trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và tráchnhiệm đối với công chúng, đối với xã hội Vậy, quy trách nhiệm yêu cầu phân định
rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấptrong thực hiện NSNN theo chất lượng công việc đạt được
1.2.2 Phương thức và công cụ quản lý chi thường xuyên NSNN
1.2.2.1 Phương thức quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Để thực hiện các mục tiêu trên, điều quan trọng là phải tìm ra phương thức quản lý
chi thích hợp với từng khoản chi trong những hoàn cảnh cụ thể Trong thực tiễn, các nộidung khoản chi rất đa dạng tương ứng với rất nhiều biện pháp quản lý khác nhau, songbiện pháp quản lý chi NSNN đang được áp dụng đó là:
* Phương thức quản lý chi ngân sách nhà nước theo yếu tố đầu vào (đây là phương thức quản lý chi NSNN phổ biến hiện nay).
Cơ chế quản lý tài chính hiện nay áp dụng đối với các đơn vị dự toán thuộckhu vực hành chính, sự nghiệp công chủ yếu dựa trên cơ sở tổng nguồn lực hiện cócủa ngân sách nhà nước, lịch sử kinh nghiệm cấp phát các năm trước và một phầnnhu cầu thực tế phát sinh Theo đó, cơ chế quản lý, định mức chi tiêu, sử dụng ngânsách, thậm chí quan điểm xây dựng chế độ quản lý tài chính được thiết lập để kiểmsoát theo phương châm càng chặt chẽ càng tốt Đây là một lối tư duy lạc hậu
Cách thức quản lý tài chính dựa trên cơ sở nguồn lực đầu vào mang nặng tínhchủ quan, duy ý chí, áp đặt từ phía các cấp được phân bổ nguồn lực Điều đó dẫnđến các hạn chế là:
- Hiệu lực quản lý thấp
- Không gắn kết được kinh phí cấp ra với mục tiêu phải đạt được.
- Tầm nhìn ngắn hạn và thiếu chủ động
Trang 19- Bất cập ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng dự toán, khi cấp dưới luôn luônthiếu, cấp trên luôn bị áp lực về sự giới hạn của nguồn lực trong duyệt và phân bổngân sách cho cấp dưới.
- Phân bổ kinh phí mang tính cào bằng, dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm,hiệu quả sử dụng nguồn lực thấp
Để khắc phục tình trạng này, cần nâng cao hiệu quả của cơ chế quản lý tàichính theo hướng trao quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán; cần đổi mới phươngthức cấp phát ngân sách từ cấp phát và phân bổ kinh phí dựa theo nguồn lực có hạn
ở đầu vào sang cấp phát và phân bổ ngân sách trên cơ sở khuôn khổ chi tiêu trunghạn, gắn với kết quả đầu ra
* Phương thức quản lý chi ngân sách nhà nước theo yếu tố đầu ra (phương thức này chưa được áp dụng phổ biến).
Quản lý chi NSNN theo yếu tố đầu ra là một hoạt động quản lý ngân sáchdựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá sử dụngnguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu chiến lược phát triểncủa chính phủ Lập ngân sách theo đầu ra (lập NSĐR) bao hàm một chiến lược tổngthể nhằm đạt được những thay đổi quan trọng trong việc quản lý và đo lường côngviệc thực hiện của các cơ quan nhà nước so với mục tiêu đề ra Nó bao gồm nhiềucông đoạn như: thiết lập mục tiêu, lựa chọn các chỉ số và kết quả nhắm tới, giám sátcông việc thực hiện, phân tích và báo cáo những kết quả này so với mục tiêu đề ra Quản lý, cấp phát kinh phí ngân sách theo kết quả đầu ra gắn với quy trìnhquản lý ngân sách trung hạn là một phương thức ưu việt trong phân bổ nguồn kinhphí của ngân sách nhà nước Áp dụng phương thức này sẽ góp phần khắc phục cácbất cập của cách thức quản lý, lập và phân bổ ngân sách kiểu truyền thống, đặc biệt
là góp phần tăng quyền tự chủ cho các đơn vị dự toán, tăng hiệu lực quản lý và sửdụng nguồn lực ngân sách
Trang 20Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý dựa theo kết quả đầu ra.
Trong đó
(1): Các tính toán kinh tế, xác định tổng dự toán chi tiêu
(2): So sánh hiệu quả: Với bao nhiêu đầu vào thì đạt được bao nhiêu sản phẩmđầu ra; hoặc đạt được một lượng sản phẩm đầu ra như thế thì cần sử dụng bao nhiêuđầu vào
(3): Mức độ thành công Nghĩa là những sản phẩm đầu ra đó tác động tích cựchay tiêu cực đối với nền kinh tế - xã hội
(4): Hiệu suất sử dụng nguồn lực: Đánh giá tác động của việc sử dụng các yếu
tố đầu vào đối với nền kinh tế - xã hội
Việc chuyển đổi quy trình cấp phát kinh phí ngân sách cho các đơn vị dự toán
từ dựa trên cơ sở nguồn lực có hạn của Ngân sách Nhà nước ở đầu vào sang hướngtheo kết quả đầu ra là hướng đi đúng đắn, song, để thực hiện được đổi mới này cũngkhông phải dễ, trước mắt, cần gắn việc đổi mới quy trình cấp phát, phân bổ ngânsách theo kết quả đầu ra với cấp phát ngân sách theo khung khổ chi tiêu trung hạn
Trang 21thì sẽ khả thi hơn Có thể khái quát hướng đổi mới quy trình lập dự toán và phân bổngân sách theo kết quả đầu ra gắn với tầm nhìn trung hạn theo lộ trình 3 giai đoạnnhư sau:
Giai đoạn 1: Xây dựng và quyết định một khuôn khổ kinh tế - tài chính trung
hạn trên cơ sở xác lập các chiến lược, chính sách, các chỉ tiêu, các dự báo kinh tế tài chính vĩ mô
-Giai đoạn 2: Xây dựng và quyết định khuôn khổ ngân sách trung hạn, xác lập
các chỉ tiêu tài chính vĩ mô, các giới hạn và kỷ luật tài chính tổng thể
Giai đoạn 3: Xây dựng và quyết định khuôn khổ chi tiêu trung hạn cho các
ngành
Ưu điểm phương pháp quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra có:
Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra góp phần đổi mới chính sách quản lýnguồn lực của khu vực công nhằm thiết lập 3 vấn đề cơ bản đó là: tôn trọng kỉ luậttài chính tổng thể, phân bổ có hiệu quả nguồn lực tài chính theo các mục tiêu ưutiên chiến lược và nâng cao hiệu quả hoạt động về cung cấp hàng hóa dịch vụ công.Tăng cường nguyên tắc quản lý tài chính của khu vực công với mục tiêu là sựcải thiện sự phân phối và quản lý nguồn lực cũng như tăng cường tính minh bạchtrách nhiệm của Nhà Nước
Quản lý Nhà Nước theo kết quả đầu ra cho phép nhà quản lý ngân sách cóđược các thông tin hữu ích :
- Xác định đầu ra cho phép các nhà quản lý ngân sách Nhà Nước nên được sảnxuất, sẽ được sản xuất với số lượng và chất lượng ra sao?
- Nguồn đảm bảo cần thiết để đảm bảo sản xuất ra các đầu ra
- Kiểm tra mối liên hệ giữa các đầu ra và đóng góp của các đầu ra và kết quảmong đợi
Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra luôn dặt Chính Phủ và các cơ quan vào
vị trí để đảm bảo rằng
- Các đầu ra theo yêu cầu để được tài trợ phải xác định rõ sẽ đóng góp gì chokết quả
Trang 22- Các đầu ra theo yêu cầu được tài trợ phải xác định rõ khối lượng, chất lượng
đã được xác lập
1.2.2.2 Công cụ quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Một là, công cụ pháp luật: Đây là công cụ có sớm nhất và chung nhất để phục
vụ cho quản lý Nhà nước ở mọi quốc gia Pháp luật đã luôn giữ vị trí quan trọng hàngđầu trong số các công cụ mà Nhà nước phải sử dụng để quản lý nền kinh tế; bởi nókhông chỉ điều chỉnh hành vi cho mọi tổ chức, cá nhân khi tham gia vào các hoạtđộng của xã hội, mà còn là thước đo chung mức độ chấp hành pháp luật của mọi chủ thể.Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạmpháp luật có liên quan đến chi NSNN như luật NSNN và các văn bản hướng dẫnthực hiện, trong quá trình triển khai đã có văn bản bổ sung phù hợp với yêu cầu pháttriển của xã hội, vì vậy nó trở thành công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lýđiều hành NSNN
Hai là, mục lục NSNN: Là bảng phân loại thu, chi NSNN theo những tiêu thức
khoa học giúp cho quá trình hạch toán kế toán NSNN được nhanh, chính xác nênmục lục NSNN đã trở thành công cụ rất quan trọng trong suốt quá trình quản lýNSNN Thực tiễn quản lý NSNN ở tất cả các quốc gia trên thế giới, nước nào cũngphải thiết lập hệ thống mục lục NSNN cho riêng mình
- Trong khâu lập dự toán: mục lục NSNN là công cụ giúp cho các cơ quan tàichính lập kế hoạch phân bổ nguồn lực tài chính cả trên phương diện tổng hợp và chitiết, đồng thời nguồn lực tài chính của Nhà nước được bố trí theo một cơ cấu thu chichặt chẽ và phù hợp với phát triển KT-XH từng thời kỳ
- Trong khâu chấp hành NSNN: Các cơ quan tài chính, KBNN hướng dẫn cácĐVSDNS chấp hành đúng chế độ tài chính do Nhà nước quy định và là cơ sở về
Trang 23mặt kỹ thuật để cơ quan tài chính điều hành, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chiNSNN
- Trong khâu quyết toán NSNN: Mục lục NSNN giúp cơ quan tài chính,KBNN tổng hợp số liệu quyết toán chi NSNN của các ĐVSDNS một cách nhanhchóng
Mặt khác, cũng thông qua các hình thức chi theo mục lục NSNN này mà giámsát trách nhiệm thực thi của những tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ quản lý NSNN và
cả trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân thực thi chi NSNN
Ba là, kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa cũng là công cụ quan trọng mà Nhà nước
phải sử dụng trong quản lý điều hành nền kinh tế Thực hiện quản lý NSNN khi sửdụng công cụ kế hoạch hóa, các cơ quan Nhà nước cần phải:
- Căn cứ vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KT-XH mà thẩm tra, đánh giátính phù hợp của các chỉ tiêu thu, chi trong dự toán NSNN Đồng thời cũng phải căn cứvào mức độ của các chỉ tiêu chi đã được xác lập trong dự toán NSNN mà điều chỉnh lạimức độ các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KT-XH
- Trong quá trình chấp hành chi NSNN phải luôn đối chiếu so sánh giữa mức
độ chấp hành chi NSNN với mức độ thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch phát triểnKT-XH Mỗi đồng tiền chi ra nhất thiết phải gắn với việc thực hiện các nhiệm vụKT-XH mà Nhà nước phải làm và đã được xác định trong kế hoạch phát triển KT-
XH
- Khi phê chuẩn quyết toán ngân sách cho một năm đã qua nhất thiết phải ràsoát lại các kết quả đích thực về phát triển KT-XH của năm đó Đây mới chính lànhững kết quả mà xã hội mong đợi Những thành tựu hay những yếu kém trongquản lý của Nhà nước được bộc lộ một cách rõ nét nhất thông qua số liệu quyết toánNSNN và kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH cùng kỳ quyết toán đó
Bốn là, kiểm toán: Quản lý chi NSNN chỉ được coi là công khai, minh bạch
khi có sự đánh giá của các tổ chức, cá nhân từ bên ngoài (không trực tiếp tham giaquản lý NSNN) Một trong những chỗ dựa cho những người cần thông tin về tìnhhình quản lý NSNN là các báo cáo của các tổ chức kiểm toán; đặc biệt là KTNN Đối với nước ta, kiểm toán NSNN hàng năm là trách nhiệm của cơ quanKTNN đã được chính thức thể chế hóa trong Luật NSNN Do vậy, NSNN các cấp,
Trang 24các ĐVSDNS đều thuộc phạm vi kế toán của KTNN Với một đội ngũ chuyênnghiệp, trình độ chuyên môn được trang bị tốt, KTNN có trách nhiệm phải đánh giá,xác nhận một cách chính xác tính hợp lệ, hợp pháp và đặc biệt là tính hiệu lực, hiệuquả của quản lý NSNN Báo cáo kết quả từ các cuộc kế toán của KTNN luôn lànguồn thông tin tin cậy nhất để cơ quan quyền lực Nhà nước các cấp và những tổchức, cá nhân có nhu cầu thông tin về ngân sách sử dụng cho các hoạt động của mình
Năm là, hệ thống Tabmis: là hệ thống thông tin quản lý dựa trên công nghệ hiện
đại được sử dụng làm công cụ để tập hợp, xử lý và cung cấp thông tin về quá trìnhphân bổ, chấp hành, kế toán, quyết toán NSNN và các hoạt động nghiệp vụ củaKBNN Đây là hệ thống phần mềm được thiết kế theo những chuẩn mực, thông lệ tốtnhất trong quản lý tài chính và kế toán công trên thế giới, là cơ hội tốt cho Việt Namcải cách quản lý tài chính và kế toán công theo hướng hội nhập với quốc tế và khuvực, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công Đồng thời đây cũng làcông cụ hữu ích giúp cho BTC, KBNN quản lý NSNN một cách hệ thống, chặt chẽthống nhất từ khâu quản lý dự toán đến quá trình chấp hành và quyết toán ngân sách,đáp ứng được lộ trình cải cách Tài chính công của nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.2.3.1 Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện
Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận rất quan trọng của dự toán chi ngânsách Nhà nước Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích
để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của Nhà nướcnhằm xác lập các chỉ tiêu thu, chi ngân sách Nhà nước hàng năm một cách đúngđắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn
Yêu cầu của việc lập dự toán:
- Lập theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành, trong
đó chủ động sắp xếp thứ tự các nhiệm vụ chi ưu tiên theo mức độ cấp thiết để chủđộng điều hành, cắt giảm trong trường hợp không cần thiết
- Phải căn cứ vào điều kiện và nguồn kinh phí để lựa chọn các hoạt động/dự áncần ưu tiên bố trí vốn; thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên ngay từ khâu bố trí dựtoán gắn với cơ chế quản lý, cân đối theo kế hoạch trung hạn Rà soát, lồng ghépcác chế độ, chính sách, nhiệm vụ chi thường xuyên tránh chồng chéo, lãng phí
- Lập dự toán đảm bảo thời gian quy định của Luật NSNN; thuyết minh về cơ
Trang 25sở pháp lý, chi tiết tính toán và giải trình cụ thể
Căn cứ của việc lập dự toán:
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện
- Chính sách, chế độ thu NSNN; Định mức phân bổ; Chế độ, tiêu chuẩn, địnhmức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định
- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước (đối với dự toán nămđầuthời kỳ ổn định ngân sách) tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức
bổ sung cân đối của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới đã được quy định(đối với dự toán năm tiếp theo của thời kỳ ổn định)
- Số kiểm tra dự toán thu, chi ngân sách do UBND cấp huyện thông báo
- Tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước và một số năm liền kề, ướcthực hiện NS năm hiện hành
- Dự báo những xu hướng và vấn đề có tác động đến ngân sách năm kếhoạch
Trình tự quản lý chi thường xuyên:
10
Về cơ bản dự toán NS cấp huyện được thực hiện thông qua các bước sau:
UBND tỉnh (Sở Tài chính)
UBND huyện (Phòng TC- KH)
Hội đồng nhân dân huyện
Các phòng, ban, đoàn thể, đơn vị thuộc huyện
1
5 9
Trang 26Bước (1): UBND cấp tỉnh hướng dẫn và giao số kiểm tra dự toán ngân sáchcho huyện
Bước (2): UBND huyện tổ chức hội nghị triển khai xây dựng dự toán ngânsách và giao số kiểm tra cho các phòng, ban, ngành, đoàn thể Lập và tổng hợp dựtoán:
Bước (3): Các phòng, ban, ngành, đoàn thể lập dự toán chi thường xuyên ngânsách của đơn vị mình
Bước (4): UBND huyện (Phòng tài chính-kế hoạch) làm việc với các phòng,ban, ngành, đoàn thể về dự toán chi thường xuyên; kế toán tổng hợp và hoàn chỉnh
dự toán chi thường xuyên ngân sách
Bước (5): UBND huyện trình thường trực HĐND cùng cấp xem xét cho ý kiến
về dự toán chi thường xuyên ngân sách
Bước (6): Căn cứ vào ý kiến của thường trực HĐND huyện, UBND cùng cấphoàn chỉnh lại dự toán và gửi Sở Tài chính
Bước (7): Sở Tài chính tổ chức làm việc về dự toán ngân sách với các huyện;tổng hợp và hoàn chỉnh dự toán cấp tỉnh báo cáo UBND cùng cấp
Phân bổ và quyết định giao dự toán:
Bước (8): UBND tỉnh giao dự toán NS chính thức cho các huyện
Bước (9): UBND huyện chỉnh lại dự toán ngân sách gửi đại biểu HĐNDhuyện trước phiên họp của HĐND huyện về dự toán ngân sách; HĐND huyện thảoluận và quyết định dự toán ngân sách
Bước (10): UBND huyện giao dự toán cho các phòng, ban, ngành, đoàn thể,đồng thời gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, Kho bạc nhà nước huyện; thựchiện công khai dự toán ngân sách huyện
1.2.3.2 Chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện
Sau khi được HĐND huyện thông qua dự toán và phân bổ dự toán chi, UBNDhuyện ban hành quyết định giao dự toán và phân bổ dự toán ngân sách cho các đơn vị
sử dụng ngân sách trực thuộc, phòng Tài chính - Kế hoạch căn cứ vào quyết định củaUBND huyện thông báo dự toán ngân sách gửi cho các đơn vị dự toán; đồng thời gửi
Trang 27Kho bạc Nhà nước huyện để phối hợp thực hiện Các đơn vị dự toán lập dự toán chitiết hàng quý, năm theo mục lục ngân sách gửi Phòng Tài chính Kế hoạch và KBNNlàm căn cứ quản lý và kiểm soát chi.
Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quan trọngcủa chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước - là khâu thứ hai của chu trình quản
lý ngân sách Nhà nước Thời gian tổ chức chấp hành ngân sách Nhà nước ở nước tađược tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch Mục tiêu
cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi thường xuyên là đảm bảo đầy đủ, kịpthời nguồn kinh phí của ngân sách Nhà nước cho công tác hoạt động thường xuyênmột cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Để đạt được mục tiêu cơ bản đó, trong việcchấp hành dự toán chi thường xuyên cần phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:
- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng điểm trên
cơ sở dự toán chi đã được xác định Do đó cần phải quy định lại chế độ lập và duyệt
kế hoạch cấp phát hàng quý vừa đơn giản vừa khoa học đảm bảo cấp phát theo kếhoạch với thứ tự ưu tiên đựợc quy định bằng pháp luật Đồng thời phải thực hiệnnghiêm ngặt khoản dự trữ tài chính để xử lý khi có nhu cầu hoặc mất cân đối giữathu và chi trong quá trình chấp hành
- Phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt chẽ, tránhmọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn của ngân sách Nhà nước
- Tuân thủ nguyên tắc thanh toán qua kho bạc nhà nước Mọi khoản kinh phíchi trả từ ngân sách Nhà nước của các đơn vị trực thuộc huyện phải do kho bạc trựctiếp thanh toán: Các đơn vị căn cứ vào giấy rút dự toán kinh phí đã được duyệt đểđến Kho bạc Nhà nước rút tiền Kho bạc Nhà nước thực hiện việc thanh toán chi trảkhoản chi ngân sách nhà nước căn cứ vào dự toán được giao và có quyền từ chốithanh toán các khoản chi không đủ điều kiện Các điều kiện là:
+ Đã có trong dự toán ngân sách được giao
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định
+ Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyềnquyết định chi
Cùng với việc cấp phát các nguồn kinh phí thì cơ quan tài chính phối hợp với
Trang 28Kho bạc Nhà nước kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sáchtại các đơn vị Trường hợp phát hiện các khoản chi vượt quá nguồn cho phép, saichính sách, chế độ hoặc đơn vị không chấp hành chế độ báo cáo thì có quyền yêucầu Kho bạc Nhà nước tạm dừng thanh toán
Trong quá trình sử dụng các khoản vốn, kinh phí do ngân sách Nhà nước cấpphải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản chi
đó Do nguồn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nên việc đảm bảo yêu cầu này rấtquan trọng Đó là cơ sở để tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội, giảmbớt gánh nặng của ngân sách và nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi thườngxuyên
1.2.3.3 Quyết toán chi thường xuyên ngân sách huyện
Quyết toán chi thường xuyên ngân sách huyện là tổng kết quá trình thực hiện
dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện nhằm đánh giá kết quả hoạt động củamột năm, từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho công tác quản lýchi thường xuyên ngân sách huyện
Công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước làcông việc cuối cùng trong mỗi chu trình quản lý các khoản chi thường xuyên ngânsách Nhà nước Nó là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đãđược phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấphành dự toán rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dựtoán tiếp theo Vì vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi thường xuyên ngânsách Nhà nước phải chú ý tới các yêu cầu cơ bản sau:
- Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời các loại báo cáo đócho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo đúng chế độ quy định: Việc xét duyệtquyết toán năm đối với những khoản chi thường xuyên phải được thực hiện theonguyên tắc sau:
+ Xét duyệt từng khoản phát sinh tại đơn vị
+ Các khoản chi phải đảm bảo đủ các điều kiện chi
+ Các khoản chi phải hạch toán theo đúng chế độ kế toán, đúng mục lục ngân
Trang 29sách Nhà nước và đúng niên độ ngân sách
+ Các chứng từ chi phải hợp pháp Sổ sách và báo cáo quyết toán phải khớpvới chứng từ và khớp với số liệu của Kho bạc Nhà nước
- Số liệu trong báo cáo đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báocáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theođúng mục lục ngân sách đã quy định
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của ngân sách cáccấp chính quyền trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn, phải
có xác nhận của kho bạc đồng cấp
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạngquyết toán chi lớn hơn thu Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thìcông tác quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước mới được tiến hành thuậnlợi Đồng thời, các yêu cầu này mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giáquá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan Chithường xuyên ngân sách Nhà nước sẽ được thực hiện tại các đơn vị cụ thể Do đóviệc quyết toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước thuộc về trách nhiệm của cácđơn vị dự toán và cơ quan tài chính
Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, sốliệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu củaKho bạc cả về tổng số và chi tiết Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quyếttoán năm để gửi xét duyệt Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán năm gửiđơn vị dự toán cấp trên Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáoquyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệmxét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toáncấp dưới Sau 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán của đơn
vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dưới không có ý kiến gì thì coi như đã chấpnhận để thi hành
Trình tự phê chuẩn và gửi báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách Nhà nướchàng năm của một cấp ngân sách chẳng hạn ngân sách huyện như sau: Phòng tài
Trang 30chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm thẩm định báo cáo quyết toán thu, chi ngânsách trên địa bàn huyện trình UBND huyện xem xét để gửi Sở Tài chính, đồng thờiUBND huyện trình Hội đồng nhân dân huyện phê duyệt Sau khi Hội đồng nhândân phê duyệt, trong phạm vi 5 ngày, báo cáo quyết toán năm được Phòng tài chính
Kế hoạch lập thành 4 bản gửi đến các cơ quan sau:
- 01 bản gửi Hội đồng nhân dân huyện
- 01 bản gửi Uỷ ban nhân dân huyện
- 01 bản gửi Sở Tài chính tỉnh
- 01 bản lưu lại Phòng tài chính - Kế hoạch huyện
Đồng thời gửi Kho bạc Nhà nước huyện nghị quyết phê chuẩn quyết toán củaHội đồng nhân dân cấp huyện Trình tự lập, gửi, xét duyệt các báo cáo tài chính đãđược quy định như trên vừa phản ánh một quy trình bắt buộc phải tuân thủ, vừaphản ánh yêu cầu cần phải tôn trọng về thời gian tại mỗi cấp, mỗi đơn vị Chỉ cónhư vậy thì công tác quyết toán mới đảm bảo được tính kịp thời, chính xác, trungthực, khách quan
1.2.3.4 Hoạt động thanh tra, giám sát với chi thường xuyên ngân sách huyện
Chi NSNN bao gồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, chiviện trợ và chi dự trữ Trong đó chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chingân sách và có xu hướng ngày càng gia tăng Vì vậy, việc giám sát, thanh tra, kiểmtoán lĩnh vực chi thường xuyên có ý nghĩa rất lớn nhằm hạn chế bội chi NSNNđồng thời hướng các cấp ngân sách và các đơn vị dự toán chấp hành nghiêm cácquy định của nhà nước về quản lý, điều hành ngân sách
Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên có ý nghĩa rất quan trọng trong việcphân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của địa phương, đơn vị, tạođiều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng Chi thường xuyênhiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy NSNN để chi cho đầu tư phát triển, thúc đẩynền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hànhcủa nhà nước
Trang 31Muốn quản lý tốt chi thường xuyên phải quản lý tốt khâu lập và phân bổ dự toánngân sách sau đó là khâu tổ chức thực hiện và quyết toán chi ngân sách.
Để kiểm tra dự toán chi thường xuyên NSNN của một đơn vị cần chú ý nhữngnội dung cơ bản sau:
- Kiểm tra các căn cứ xây dựng dự toán chi: Đó là kế hoạch phát triển KT-XHhàng năm của địa phương gắn với kế hoạch phát triển KT-XH được cấp thẩm quyềnphê duyệt; các văn bản hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp trên Các chế độ tiêuchuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành, chế độ chi tiêu đặc thù của địa phươngCăn cứ vào nhiệm vụ thu, chi ngân sách cấp trên giao theo quy định của LuậtNgân sách Đối với cấp huyện là quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách củaChủ tịch UBND tỉnh và của Chủ tịch UBND huyện (đối với cấp xã) Căn cứ vàođịnh mức phân bổ ngân sách địa phương đã được HĐND thông qua, UBND tỉnhquyết định; căn cứ vào các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách được cấpthẩm quyền ban hành; các chế độ chi tiêu đặc thù của địa phương do HĐND tỉnhphê chuẩn theo phân cấp của Chính phủ
- Kiểm tra báo cáo đánh giá tình hình thu-chi ngân sách năm trước: Đây là nộidung không thể thiếu được vì đó là cơ sở để đánh giá, so sánh cho việc lập dự toánnăm sau Đặc biệt đối với nhiệm vụ chi thường xuyên thông thường các khoản chikhông biến động nhiều, trừ trường hợp cải cách tiền lương theo chế độ Cần căn cứvào dự toán của cấp trên giao; dự toán được HĐND quyết định; các khoản điềuchỉnh tăng, giảm, trong đó lưu ý các khoản tăng chi từ nguồn dự phòng, nguồn tăngthu của ngân sách địa phương; nguồn bổ sung của ngân sách cấp trên và các khoảngiảm theo quyết định của cấp có thẩm quyền
- Kiểm tra việc bảo đảm thực hiện tuân thủ các nguyên tắc lập dự toán: Cầnlưu ý đến tốc độ tăng chi thường xuyên phải phù hợp với các văn bản của Chínhphủ, của Bộ Tài chính, của UBND cấp trên hướng dẫn hàng năm Tốc độ tăng chithường xuyên thông thường phải cao hơn so với thực hiện năm trước, song phảithấp hơn tốc độ tăng chi đầu tư phát triển; các nhóm tăng chi theo thứ tự ưu tiênkhác nhau, trong đó lưu ý chi giáo dục đào tạo, khoa học -công nghệ, môi trường
Trang 32phải bằng hoặc cao hơn mức Thủ tướng Chính phủ giao; chi hành chính phải tiếtkiệm và có mức tăng hợp lý song không đồng đều giữa các cơ quan; bảo đảm thựchiện chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do cấp có thẩm quyền ban hành, kể cảchế độ chi tiêu đặc thù theo nghị quyết của HĐND ở địa phương; bảo đảm thực hiệncác định mức phân bổ ngân sách theo nghị quyết của HĐND tỉnh.
- Khi kiểm tra dự toán chi thường xuyên cần làm rõ các quan hệ tỷ lệ: tổng chithường xuyên trong mối quan hệ cân đối với tổng số chi và chi thường xuyên vớichi đầu tư phát triển Kiểm tra tốc độ chi thường xuyên so với cùng kỳ năm trước và
so với tốc độ tăng chi chung; sau đó đến kiểm tra chi tiết các nhiệm vụ chi thườngxuyên chủ yếu
- Việc kiểm tra dự toán chi tiết các nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sáchđịa phương tập trung chính vào một số khoản chi chủ yếu như dự toán chi Giáo dục
- Đào tạo, y tế, chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp kinh tế, chi bảo đảm xã hội, anninh quốc phòng Mỗi nhiệm vụ chi đều quan trọng và cần thiết nhằm duy trì hoạtđộng của bộ máy chính quyền và sự phát triển của xã hội trong phạm vi ngân sáchnhà nước phải đài thọ Song khi kiểm tra dự toán chi từng lĩnh vực cần phải dựa vàonguyên tắc, căn cứ, phương pháp phù hợp với từng lĩnh vực chi
- Kiểm tra quyết toán kinh phí chi thường xuyên của ngân sách địa phương cơbản giống như kiểm tra dự toán chi thường xuyên cần kiểm tra tính chính xác vàpháp lý của các khoản chi, bảo đảm khớp đúng với dự toán được cấp có thẩm quyềngiao về tổng mức và chi tiết theo từng khoản muc, nội dung chi (kể cả dự toán bổsung, điều chỉnh trong năm) Kiểm tra quyết toán chi các cấp ngân sách cần chú ýđến những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa quyết toán chi với dự toán; sự điềuchỉnh, chuyển nguồn từ năm trước sang năm sau; các khoản chi từ nguồn dự phòng,các nội dung chi không thuộc nhiệm vụ, nội dung chi của ngân sách cấp mình, tạicác đơn vị dự toán cần kiểm tra tính hợp pháp của từng khoản chi (có trong dự toánngân sách nhà nước được giao, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhànước có thẩm quyền quy định hoặc mức chi theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn
vị, đã được Thủ trưởng đơn vị hoặc người được uỷ quyền quyết định chi, kiểm tra
Trang 33các nội dung chi được quyền tự chủ, không tự chủ, chi theo đơn đặt hàng của Nhànước…
Tóm lại, giám sát, thanh tra, kiểm tra các khoản chi thường xuyên phải được
thực hiện từ khâu lập và giao dự toán, thực hiện dự toán, thanh quyết toán và là việclàm thường xuyên của các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp
1.3 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện và các yếu tố ảnh hưởng
1.3.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
- Định mức phân bổ và sử dụng ngân sách cho chi thường xuyên đảm bảođúng theo quy định, đúng chế độ chính sách và cụ thể hóa nội dung chi phù hợp vớitình hình thực tế Định mức phân bổ ngân sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chingân sách do cấp có thẩm quyền quy định Cụ thể, HĐND cấp tỉnh căn cứ định mứcphân bổ chi NSĐP do Thủ tướng Chính phủ quyết định và các Thông tư hướng dẫncủa Bộ Tài chính, ban hành định mức phân bổ chi thường xuyên ngân sách cho các
cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh và cấp huyện Từ đó HĐND huyện, UBND huyện và cơquan chuyên môn xác định, đánh giá tình hình thực hiện định mức phân bổ có phùhợp với tình hình thực tế và sự tác động của định mức lên các mặt kinh tế - xã hộicủa huyện
- Công tác lập, chấp hành dự toán và quyết toán chi thường xuyên đảm bảođúng nguyên tắc, đảm bảo thời gian và có cơ sở khoa học Đối với việc lập dự toánchi thường xuyên phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí, tình hình thực hiệnngân sách năm trước, nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước và tuân theo các chế độ,tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Việc chấp hànhcác khoản chi thường xuyên sau khi được HĐND huyện thông qua dự toán và phân
bổ dự toán chi, UBND huyện ban hành quyết định giao dự toán và phân bổ dự toáncho các đơn vị cấp huyện Căn cứ quyết định của UBND huyện, Phòng Tài chính
Kế hoạch thực hiện thông báo dự toán cho các đơn vị đồng thời hướng dẫn thựchiện dự toán, các đơn vị dự toán lập dự toán chi tiết theo từng chỉ tiêu hàng quý,
Trang 34năm theo mục lục ngân sách gửi Phòng Tài chính Kế hoạch và KBNN làm căn cứquản lý và kiểm soát chi trong suốt quá trình thực hiện Mục đích của quyết toán chithường xuyên là nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đa được phản ánhsau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút
ra những kinh nghiệm và bài học cho kỳ chấp hành dự toán sau như đánh giá việclập đầy đủ và kịp thời các loại báo cáo tài chính cho các cơ quan có thẩm quyền xétduyệt có đúng chế độ đã quy định không, có đảm bảo tính trung thực, chính xác đốivới số liệu trong báo cáo, nội dung báo cáo tài chính có đúng các nội dung trong dựtoán và theo mục lục NSNN không
- Công tác thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên đảm bảo đúng luật, thực hiện
từ khi lập dự toán, thực hiện dự toán, thanh quyết toán và diễn ra thường xuyên đểđảm bảo tính công khai, minh bạch, đúng nguyên tắc, chế độ định mức theo quyđịnh và phát hiện, ngăn chặn kịp thời chi sai nguyên tắc, chế độ, định mức, chứng từchi không hợp pháp, hợp lệ, chi khống, chi vượt dự toán trong suốt quá trình chấphành dự toán, quyết toán từ đó có những biện pháp quản lý chi thường xuyên chặtchẽ, khoa học hơn
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện
1.3.2.1 Yếu tố chủ quan
Chính sách và thể chế chung của Nhà nước: Chính sách và thể chế về quản lý
chi NSNN được thể hiện dưới hình thức những văn bản của Nhà nước, có tính quyphạm pháp luật, quy định phạm vi, đối tượng chi của các cấp chính quyền; quy địnhviệc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền, chi phối
và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trong quy trình quản lý chi NSNN từkhâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến khâu quyết toán chi NSNN
Chính sách và các thể chế về quản lý chi quy định những nguyên tắc, chế độ,định những nguyên tắc chế độ, định mức chi tiêu Định mức chi tiêu của địa phươngcũng là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng dự toán, phân bổ dự toán
và kiểm soát chi thường xuyên NSNN Đây cũng là một trong những chỉ tiêu đánh
Trang 35giá chất lượng quản lý và điều hành NSNN của các cấp chính quyền địa phương.Việc ban hành định mức chi một cách khoa học, cụ thể, kịp thời sẽ góp phần khôngnhỏ trong việc quản lý chi tiêu NSNN được chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn.
Những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quátrình hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong quá trình quản lý thu, chi ngânsách Nhân tố về thể chế tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chingân sách trên một địa bàn nhất định Việc ban hành những thể chế tài chính đúngđắn phù hợp tạo điều kiện cho công tác quản lý chi đạt được hiệu quả
Chính sách và thể chế kinh tế của Nhà nước ngày càng được hoàn thiện vàđồng bộ, từng bước nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng ngân sách, thực hành tiếtkiệm chống lãng phí, công khai minh bạch, góp phần phục vụ các mục tiêu tăngtrưởng kinh tế và phát triển kinh tế xã hội
Cấu tổ chức bộ máy và cán bộ: Khi nói đến cơ cấu tổ chức một bộ máy quản
lý chi ngân sách người ta thường đề cập đến quy mô nhân sự của nó và trong sự thiếtlập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý chi ngân sách và các mối quan
hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện chức năngnày Hay nói cách khác, điều quan trọng hơn cả là phải thiết lập cụ thể rõ ràng, thôngsuốt các “mối quan hệ ngang” và các “mối quan hệ dọc” Sự thiết lập ấy được biểuhiện thông qua quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp, các bộ phậntrong tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý NSNN Quy định chức năng nhiệm vụ của bộmáy và cán bộ quản lý chi theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận nàyvới bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá trình phân cấp quản lý đó.Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐP các cấp không rõràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thựchiện nhiệm vụ quản lý chi ngân sách Nếu bộ máy và cán bộ năng lực trình độ thấp,cán bộ không nắm vững quy trình quản lý và các cơ chế, chính sách cũng như nộidung của các khoản chi NSNN sẽ dẫn đến tình trạng chi sai quy định do đó ảnhhưởng đến hiệu quả quản lý chi ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân
tố rất quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý chi ngân sách
Trang 36Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố nêu trên công tác quản lý chi NSNN còn phụ
thuộc vào ý thức, trình độ của đối tượng sử dụng ngân sách, hệ thống thông tin,phương tiện quản lý NSNN huyện, công tác kiểm toán, thanh tra, kiểm tra quản lý chiNSNN NSNN có được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả hay không phụthuộc rất lớn vào ý thức, trình độ của đối tượng sử dụng ngân sách Nếu đối tượng sửdụng ngân sách có ý thức chấp hành và hiểu biết pháp luật tốt, có trình độ chuyênmôn cao trong lĩnh vực hoạt động của mình sẽ giúp các khoản chi ngân sách Nhànước được sử dụng một cách có hiệu quả Ngược lại, nếu đố tượng này không tuânthủ pháp luật, các quy định trong quá trình quản lý chi NSNN đã được quy định sẽ
dễ làm phát sinh các hiện tượng tiêu cực như chi sai mục đích, chi không hiệu quả,tham ô, lãng phí…
Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý NSNN huyện cũng là yếu tố ảnh hưởngđến công tác quản lý NSNN cấp huyện Để thực hiện chức năng quản lý NSNN theonhiệm vụ được giao, cần phải phát triển hệ thống công nghệ thông tin và nâng cao trình
độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách Hiện nay, Nhà nước đangđẩy mạnh hiện đại hóa nền hành chính, nhất là hiện đại hóa nền tài chính công, hoạtđộng của mạng thông tin điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin-truyền thông, các vănbản, tài liệu được thực hiện dưới dạng điện tử; trong đó có ciệc triển khai thực hiện hệthống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc - Tabmis (Treasury And BudgetManagement Information System) đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN.Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý là một trong các chức năng chủ yếu trong quản
lý chi NSNN, vì vậy cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, giám sát củaHĐND, của các cơ quan thanh tra, kiểm toán trong công tác thanh tra, kiểm toán, xử lýđối với công tác quản lý NSNN
1.3.2.2 Yếu tố khách quan
Thứ nhất, hệ thống pháp luật: Pháp luật là phương tiện để Nhà nước quản lý
KTXH Pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nướcmột cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất, trên quy mô rộng lớn nhất Dotính chất phức tạp và phạm vi rộng lớn của chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước
Trang 37không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà thực hiện quản lýmang tầm vĩ mô và mang tính hành chính, vì thế trong việc quản lý NSNN không thểthiếu hệ thống pháp luật Chỉ có trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ và đủmạnh Nhà nước mới phát huy được hiệu lực quản lý kinh tế - xã hội Thực tế hiệnnay, pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhất trong việc quản lý, điều hành NSNNnhư: Luật NSNN, kế hoạch, hệ thống định mức chi tiêu, phân bổ ngân sách… Vì vậyđây là nhân tố vô cùng quan trọng quyết định nội dung và tính hiệu quả của quy trìnhquản lý ngân sách nói chung, chi ngân sách nói riêng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Thứ hai, chế độ xã hội là nhân tố cơ bản ảnh hưởng quyết định đến nội dung
cơ cấu chi NSNN Chế độ xã hội quyết định đến bản chất và nhiệm vụ kinh tế xãhội của nhà nước Nhà nước là chủ thể của chi NSNN, vì thế lẽ đương nhiên nộidung cơ cấu chi NSNN chịu sự ràng buộc của xã hội
Thứ ba, phân cấp quản lý NSNN: Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi
trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền Nhà nước các cấp trong việc quản lý,điều hành thực hiện nhiệm vụ thu chi của ngân sách Phân cấp quản lý NSNN làcách tốt nhất để gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động KT-XH ở từng địaphương một cách cụ thể nhằm tạo sự chủ động và nâng cao tính tự chủ của từng địaphương với mục tiêu tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ cácnguồn tài chính quốc gia và phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, cóhiệu quả cao phục vụ các mục tiêu đã được hoạch định
Trong quy định của Luật thì dù phân cấp ngân sách nhưng ngân sách của cáccấp chính quyền địa phương không bao giờ được phép bội chi Do đó để đảm bảocông bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, giữa các địa phương, ngân sách cấptrên sẽ thực hiện chi bổ sung ngân sách cho ngân sách cấp dưới Mức bổ sung đượctính toán trên cơ sở nguồn thu, nhiệm vụ chi và các tiêu chuẩn định mức do Chínhphủ quy định
Phân cấp quản lý NSĐP đúng đắn và hợp lý không chỉ tăng được tính chủđộng, tự chủ của địa phương, đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì, pháttriển hoạt động của các cấp chính quyền địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy
Trang 38được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng, từng địa phương trong cả nước; cho phépquản lý và kế hoạch hóa tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyềncũng như mối quan hệ giữa các cấp ngân sách được tốt hơn Đồng thời, phân cấpquản lý ngân sách còn có tác động thúc đẩy phân cấp quản lý KT-XH ngày cànghoàn thiện hơn.
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 1:
Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chi thường xuyên NSNN và quản
lý chi thường xuyên NSNN Đã làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò; mục đích, nội dung, nguyên tắc và phương thức quản lý chi thường xuyên NSNN và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN Chương này làm cơ sở lý luận cho việc phân tích đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam được trình bày trong các chương tiếp theo.
Trang 40CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC Ở HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
2.1 Khái quát về kinh tế xã hội và tình hình ngân sách nhà nước ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giai đoạn 2014 - 2016
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội huyện Kim Bảng
Kim Bảng là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hà Nam, cách Hà Nộikhoảng 60km, phía Bắc giáp các huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức Hà Nội, phía Tây giáphuyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình, phía Đông giáp huyện Duy Tiên và thành phố Phủ
Lý, phía Nam giáp huyện Thanh Liêm, gần trục quốc lộ 1A, 21A, 21B
Huyện Kim Bảng gồm 16 xã và 2 thị trấn với tổng số dân khoảng 133 nghìnngười
Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,giảm dần cơ cấu Nông - Lâm - Ngư nghiệp Song kinh tế công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và dịch vụ đang trong giai đoạn đầu tư phát triển, do đó nguồn thu ngân sáchhàng năm của huyện cũng như ở các xã, thị trấn còn thấp chưa đáp ứng được yêucầu đầu tư thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên,trong những năm qua cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, các cấp ủy Đảng từhuyện đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội ở cơ sở Vì vậy, bộ mặt nông thôn trên địabàn huyện ngày càng được đổi mới, cơ sở hạ tầng tiếp tục được mở rộng và nângcấp, đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nângcao…
Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế của huyện Kim Bảng đã cóđược những kết quả đáng chú ý Tổng giá trị sản xuất tăng nhanh trong giai đoạn 2014
- 2016 (từ 6.677 tỷ đồng lên 7.686 tỷ đồng theo giá CĐ 2010)