Như vậy bộ nhớ DDR có tốc độ truyền dữ liệu cao gấp đôi so với những bộ nhớ có cùng tốc độ xung nhịp nhưng không có tính năng này được gọi là bộ nhớ SDRAM,... Cần nhớ rằng các tốc độ xu
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐÀ NẴNG KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
BÁO CÁO THỰC TẬP
GVHD : Huỳnh Thị Hoàng Chi
SVTH : Nguyễn Phi Thủy
Trang 2nhiều kiến thức về ngành công nghệ thông tin
và các kiến thức khác về văn hoá , xã hội
Để tạo điều kiện cho chúng em hiểu biết thêm về những kiến thức đã học ở trường so với thực tế Vừa qua , trường đã cho phép
chúng em được đi thực tập tại các công ty ,
doanh nghiệp …
Trang 3GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI & DỊCH VỤ
GIA HUỲNH
“ 133 Hàm Nghi , Đà Nẵng “
ĐT : 0511.3213846 Giới thiệu:
DỊCH VỤ GIA HUỲNH được thành lập và
cũng đã trở thành Nhà Phân phối Thiết bị viễn
Trang 4CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY
Phòng Kinh Doanh
Giám Đốc
Phòng Kế Toán
Phòng Bảo Hành Phòng Kỹ Thuật
Trang 5CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trước khi bắt đầu, cần biết rằng DDR, DDR2 và DDR3 đều dựa trên thiết kế SDRAM ( Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ ) tức là sử dụng tín hiệu xung nhịp để đồng bộ hóa mọi thứ DDR là viết tắt của Tốc
độ dữ liệu gấp đôi - Double Data Rate , tức truyền
được hai khối dữ liệu trong một xung nhịp, Như vậy
bộ nhớ DDR có tốc độ truyền dữ liệu cao gấp đôi so với những bộ nhớ có cùng tốc độ xung nhịp nhưng
không có tính năng này ( được gọi là bộ nhớ SDRAM,
Trang 7Cần nhớ rằng các tốc độ xung nhịp này là tốc
độ tối đa mà bộ nhớ chính thức có được; chứ không thể tự động chạy ở những tốc độ như
vậy Ví dụ, nếu bạn dùng bộ nhớ DDR2-1066 lên một máy tính chỉ có thể truy cập hệ thống
ở tốc độ 400 MHz (800 MHz DDR), thì những
bộ nhớ này chỉ có thể truy cập tại 400 MHz
(800 MHz DDR) chứ không phải 533 MHz
(1,066 MHz DDR) Đó là do tín hiệu xung nhịp được mạch điều khiển bộ nhớ cung cấp, mà
mạch điều khiển bộ nhớ lại nằm ngoài bộ nhớ (trong Chip NorthBridge ở bo mạch chủ hoặc tích hợp bên trong CPU, tùy vào từng hệ thống
Trang 8Những thanh nhớ ( Module ) bảng mạch điện tử nhỏ
gắn những Chip nhớ sử dụng một cái tên khác: PCx-zzzz, trong đó x là thế hệ công nghệ, còn zzzz là tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết (còn gọi là băng thông tối đa) Con
số này cho biết bao nhiêu Byte dữ liệu có thể được truyền
từ mạch điều khiển bộ nhớ sang Module bộ nhớ trong mỗi xung nhịp đồng hồ
Thật ra rất dễ giải thích bằng cách nhân xung nhịp DDR
tính bằng MHz với 8, ta sẽ có tốc độ truyền tải tối đa trên
lý thuyết tính bằng MB/giây Ví dụ, bộ nhớ DDR2-800 có
tốc độ truyền tải tối đa trên lý thuyết là 6,400 MB/giây
(800 x 8) và Module bộ nhớ mang tên PC2-6400 Trong
một số trường hợp, con số này được làm tròn Ví dụ như
bô nhớ DDR3-1333 có tốc độ truyền tải tối đa trên lý
thuyết là 10,666 MB/giây nhưng module bộ nhớ của nó lại
có tên PC3-10666 hoặc PC3-10600 tùy nhà sản xuất.
Trang 9Cần phải hiểu rằng những con số này chỉ là số tối đa trên lý thuyết, và trên thực tế chúng
không bao giờ đạt đến, bởi bài toán đang tính
có giả thiết rằng bộ nhớ sẽ gửi dữ liệu đến
mạch điều khiển bộ nhớ theo từng xung nhịp
một, mà điều này thì không xảy ra Mạch điều khiển bộ nhớ và bộ nhớ cần trao đổi lệnh (ví dụ như lệnh hướng dẫn bộ nhớ gửi dữ liệu được
chứa tại một vị trí nhất định) và trong suốt thời gian này bộ nhớ sẽ không gửi dữ liệu
Trên đây là lý thuyết cơ bản về bộ nhớ DDR,
hãy đến với những thông tin cụ thể hơn
Trang 10hơn cả tốc độ trong bảng–ví dụ như các bộ nhớ đặc biệt hướng tới giới overclock Những xung nhịp có đuôi 33 hoặc 66MHz thực ra đã được
làm tròn (từ 33.3333 và 66.6666).
Trang 12trong tương lai cũng không phải là hiếm)
Trang 13• Một số module bộ nhớ
có thể yêu cầu điện áp cao hơn trong bảng,
nhất là khi bộ nhớ hỗ trợ hoạt động ở tốc độ xung nhịp cao hơn tốc độ
chính thức (ví dụ như bộ nhớ để overclock)
Trang 143 Thời gian trễ
Thời gian trễ là khoảng thời gian mà mạch điều khiển bộ nhớ phải đợi từ lúc yêu cầu lấy dữ liệu cho đến lúc dữ liệu thực sự được gửi tới đầu ra Nó còn được gọi là CAS Latency hoặc đơn
giản là CL Con số này được viết theo đơn vị
chu kỳ xung nhịp Ví dụ một bộ nhớ có CL3 tức
là mạch điều khiển bộ nhớ phải đợi 3 chu kỳ
xung nhịp từ lúc truy vấn cho đến khi dữ liệu
được gửi Với một bộ nhớ CL5, mạch điều
khiển bộ nhớ phải đợi 5 chu kỳ xung nhịp Vì thế cần sử dụng những Module có CL thấp nhất
có thể
Trang 16Bộ nhớ DDR3 có nhiều chu kì xung nhịp trễ
lớn hơn bộ nhớ DDR2, và DDR2 lại có nhiều
chu kì xung nhịp trễ cao hơn DDR Bộ nhớ
DDR2 và DDR3 còn có thêm một chỉ số nữa gọi
là AL (Thời gian trễ bổ sung – Additional
Latency ) hoặc đơn giản là A Với bộ nhớ DDR2
và DDR3, tổng thời gian trễ sẽ là CL+AL gần như toàn bộ các bộ nhớ DDR2 và DDR3 đều có
AL 0, tức là không có thêm thời gian trễ bổ
sung nào cả Dưới đây là bảng tổng hợp giá trị
CL phổ biến nhất
Trang 17• Như vậy bộ nhớ DDR3 cần hoãn nhiều chu kỳ xung nhịp hơn so với DDR2 mới có thể
chuyển được dữ liệu, nhưng điều này không hẳn đồng nghĩa với
thời gian đợi lâu hơn (nó chỉ đúng khi so
sánh các bộ nhớ cùng tốc độ xung nhịp).
Trang 18Ví dụ, một bộ nhớ DDR2-800 CL5 sẽ hoãn ít thời gian hơn (nhanh hơn) khi chuyển dữ liệu so với bộ nhớ
DDR3-800 CL7 Tuy nhiên, do cả hai đều là bộ nhớ
“800 MHz” nên đều có cùng tốc độ truyền tải lớn nhất trên lý thuyết (6,400 MB/s) Ngoài ra cũng cần nhớ
rằng bộ nhớ DDR3 sẽ tiêu thụ ít điện năng hơn so với
bộ nhớ DDR2
Khi so sánh các module có tốc độ xung nhịp khác
nhau, bạn cần phải tính toán một chút nên nhớ chúng
ta đang nói đến “chu kỳ xung nhịp.” Khi xung nhịp cao hơn, chu kỳ từng xung nhịp cũng ngắn hơn
Trang 19Ví dụ với bộ nhớ DDR2-800, mỗi chu kỳ xung nhịp kéo dài 2.5 nano giây, chu kỳ = 1/tần số ( nhớ rằng bạn
cần sử dụng xung nhịp thực chứ không phải xung nhịp DDR trong công thức này; để đơn giản hơn chúng tôi
đã tổng hợp một bảng tham khảo dưới đây) Vì thế
một bộ nhớ DDR2-800 có CL 5 thì thời gian chờ ban
đầu này sẽ tương đương 12.5 ns (2.5 ns x 5) Tiếp
đến hãy giả sử một bộ nhớ DDR3-1333 với CL 7 Với
bộ nhớ này mỗi chu kỳ xung nhịp sẽ kéo dài 1.5 ns , vì thế tổng thời gian trễ sẽ là 10.5 ns (1.5 ns x 7) Vì vậy mặc dù thời gian trễ của bộ nhớ DDR3 có vẻ cao hơn (7 so với 5), thời gian chờ thực tế lại thấp hơn Vì thế đừng nghĩ rằng DDR3 có thời gian trễ tệ hơn DDR2 bởi
Trang 20Thường thì nhà sản xuất
sẽ công bố Timings bộ nhớ theo dạng một dãy
số được phân chia bởi dấu gạch ngang (như 5-5-5-5, 7-10-10-10…)
Thời gian trễ CAS thường
là số đầu tiên trong chuỗi Hình 3 và 4 dưới đây là một ví dụ
Trang 22Hình 4: DDR3-1066 có CL7.
Trang 234 Prefetch – Lấy trước dữ liệu
Bộ nhớ động chứa dữ liệu bên trong một mảng gồm nhiều tụ điện nhỏ Bộ nhớ DDR truyền được 2 bit dữ liệu với mỗi chu kỳ từ mảng bộ nhớ tới bộ đệm I/O
bên trong bộ nhớ Quy trình này gọi là Prefetch 2-bit Trong DDR2, đường dữ liệu bên trong này được tăng lên tới 4-bit và trong DDR3 là 8-bit Đây chính là bí
quyết giúp DDR3 hoạt động được ở tốc độ xung nhịp cao hơn DDR2, và DDR2 cao hơn DDR
Xung nhịp mà chúng ta đang nói đến là tốc độ xung nhịp ở “thế giới bên ngoài,” có nghĩa là trên giao diện
Trang 24Với DDR3 cũng vậy: đường dữ liệu được tăng gấp đôi lên 4 bit, vì thế
nó có thể chạy ở tốc độ xung nhịp bằng một nửa so với DDR2, hoặc chỉ bằng ¼ tốc độ xung nhịp của
DDR, và cũng đạt tốc độ như vậy (50 MHz x 8 = 400 MHz)
Việc nhân đôi đường dữ liệu bên trong sau từng thế
hệ đồng nghĩa với việc mỗi thế hệ bộ nhớ mới có thể
có chip với tốc độ xung nhịp tối đa gấp đôi so với thế
hệ trước đo Ví dụ 3 bộ nhớ DDR-400, DDR2-800 và DDR3-1600 đều có cùng tốc độ xung nhịp bên trong bằng nhau (200 MHz)
Trang 25Để hiểu rõ hơn điều này hãy so sánh một
chip bộ nhớ DDR-400, chip bộ nhớ DDR2-400
và Chip bộ nhớ DDR3-400 3 chip này bên
ngoài hoạt động ở tốc độ 200 MHz, truyền 2 bit
dữ liệu mỗi chu ky, đạt tốc độ ngoài như thể
đang hoạt động ở 400 MHz Tuy nhiên bên
trong, chip DDR truyền được 2 bit từ mảng bộ nhớ đến bộ nhớ đệm I/O, vì thế để khớp với
tốc độ giao diện I/O, đường dữ liệu này phải
hoạt động ở 200 MHz (200 MHz x 2 = 400
MHz) Do trong DDR2 đường dữ liệu này được tăng từ 2 lên 4 bit nên nó có thể chạy ở tốc độ
Trang 275 Điểm đầu cuối trở kháng :
Với bộ nhớ DDR, điểm cuối trở kháng
có điện trở đặt trên
bo mạch chủ, còn trong DDR2 và DDR3 thì điểm cuối này
nằm bên trong chip
bộ nhớ ngôn ngữ
kỹ thuật gọi là ODT ( On-Die Terminal )
Trang 28Việc này nhằm mục đích giúp tín hiệu trở nên “sạch hơn
“ – ít bị nhiễu hơn do hạn chế tín hiệu phản xạ tại
những diểm đầu cuối Trong hình 6 bạn có thể thấy được tín hiệu chạm đến chip bộ nhớ Bên tay trái là
những tín hiệu trên một hệ thống sử dụng điểm cuối ở
bo mạch chủ ( bộ nhớ DDR ), còn bên tay phải là tín hiệu trên một hệ thống sử dụng ODT (bộ nhớ DDR2
và DDR3) Và rõ ràng tín hiệu bên phải sẽ trong hơn
và ổn định hơn bên tay trái Trong ô màu vàng bạn có thể so sánh chênh lệch về khung thời gian – tức thời gian mà bộ nhớ cần đọc hay ghi một phần dữ liệu Khi
sử dụng ODT, khung thời gian này sẽ rộng hơn, cho phép tăng xung nhịp bởi bộ nhớ có nhiều thời gian
đọc hoặc ghi dữ liệu hơn
Trang 306 Khía cạnh hình thức bên ngoài :
Cuối cùng ta sẽ đến với sự khác biệt về thiết kế bên ngoài Mỗi chip bộ nhớ đều được hàn trên một bo mạch vòng gọi là
“module bộ nhớ.” Module bộ nhớ cho từng thế hệ DDR có sự khác nhau về thông số và bạn không thể cài module DDR2 lên khe cắm DDR3 được Bạn cũng không thể nâng cấp từ DDR2 lên DDR3 mà không thay
Trang 32Hình 8: Khác biệt về tiếp xúc góc giữa DDR2 và DDR3.