Chữabệnh bằng tây y dần dần làm cho người ta quên đi những phương pháp chữabệnh truyền thống và bỏ phí tài nguyên cây thuốc có sẵn.Các danh nổi tiếng củanước ta có công bảo tồn những phư
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh
-Phan thị hằng
điều tra các loài cây làm thuốc
của đồng bào dân tộc thái thuộc xã mờng phăng, huyện điện biên, tỉnh điện biên
Chuyên ngành: thực vật
Mã số: 60.42.20
Luận văn thạc sĩ sinh học
Ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts ngô trực nhã
Trang 2NghÖ An, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ
và chỉ đạo tận tình của thầy giáo PGS.TS Ngô Trực Nhã, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới thầy
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo,trong tổ Thực vật, khoa Sinh học, khoa Sau Đại Học - Trường Đại Học Vinhcùng bạn bè người thân đã giúp đỡ, ủng hộ, động viên, tạo điều kiện cho tôitrong thời gian qua
Đồng thời thông qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới nhân dân xãMường Phăng huyện Điện Biên đã tận tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thànhđược bản luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài do còn hạn chế về thời gian, trình độ bảnthân, kinh phí nên luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi mong nhận được sự đónggóp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày tháng 10 năm 2012
Tác giả
Phan Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 7
1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Điện Biên 12
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Mục tiêu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4 Địa điểm và kế hoạch nghiên cứu 14
2.4.1 Địa điểm 14
2.4.2 Kế hoạch nghiên cứu 14
2.5 Phương pháp nghiền cứu 14
2.5.1 Phương pháp điều tra thực địa 14
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 15
CHƯƠNG III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1.Vị trí đian lý 17
3.1.2 Địa hình 17
3.1.3 Khí hậu 18
3.2 Điều kiện xã hội 18
3.2.1 Đặc điểm dân cư 18
3.2.2 Văn hóa xã hội 18
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Trang 54.1 Thành phần taxon cây thuốc của đồng bào dân tộc thái xã Mường Phănghuyện Điện Biên tỉnh Điện Biên 21
Trang 64.2 Đánh giá tính đa dạng cây thuốc 57
4.2.1 Đa dạng về các bậc phân loại (họ, chi, loài) của các cây thuốc 57
4.2.2 Đa dạng taxon ở mức độ ngành 58
4.2.3 Đa dạng loài mức đọ họ 62
4.2.4 Đa dạng ở mức dộ chi 63
4.3 Đa dạng về dạng thân của các cây làm thuốc 64
4.4 Đa dạng bộ phận sử dụng của các loài cây làm thuốc 65
4.5 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống 67
4.6 Đa dạng phương pháp bào chế và sử dụng cây thuốc 68
4.7 Đa dạng về các nhóm bệnh được chữa trị 69
4.8 Các bài thuốc chữa trị và tình hình khai thác cây thuốc của đồng bào dân tộc xã Mường Phăng huyện Điện Biên 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72
A Kết luận 72
B Đề nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
Trang 7HỆ THỐNG CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
1 BẢNG
Bảng 1: Thành phần loài cây thuốc của đồng bao dân tộc xã Mường Phăng thuộc
huyện Điện Biên tỉnh Điên Biên 22
Bảng 2: So sánh hệ cây thuốc của dân tộc Thái xã Mường Phăng – huyện Điện Biên với hệ cây thuốc Việt Nam 57
Bảng 3 Các ngành thực vật ở xã Mường Mường Phăng 58
Bảng 4: Số lượng họ, chi, loài trong ngành Hạt kín (Mộc Lan) (Magnoliophyta) 60
Bảng 5: Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ 62
Bảng 6 So sánh các họ nhiều loài cây thuốc ở xã Mường Phăng với họ tương ứng của hệ thực vật Việt Nam 63
Bảng 7: Sự phân bố chi trong họ và số lượng loài trong chi 63
Bảng 8 Đa dạng về dạng thân của các cây thuốc nơi nghiên cứu 64
Bảng 9 Số lượng bộ phận được sử dụng làm thuốc 66
Bảng 10 Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống 67
Bảng 11: Thống kê cách bào chế và sử dụng cây thuốc 69
Bảng 12.Các nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc vùng nghiên cứu 69
2 BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Tỷ lệ % số loài của các ngành 58
Biểu đồ 2: Tỷ lệ % số chi của các ngành 59
Biểu đồ 3: Tỷ lệ % số họ của các ngành 59
Biểu đồ 4: Tỷ lệ % số loài trong ngành Mộc lan 60
Biểu đồ 5: Tỷ lệ % số chi trong ngành Mộc lan 61
Biểu đồ 6: Tỷ lệ % số họ trong ngành Mộc lan 61
Biểu đồ 7 Tỷ lệ % của các loài cây thuốc theo các dạng thân khác nhau 65
Biểu đồ 8 Tỷ lệ % của các loài cây thuốc theo bộ phận sử dụng 66
Biểu đồ 9 Sự phân bố của cây thuốc tại các môi trường sống khác nhau tại vùng nghiên cứu 68
Trang 8MỞ ĐẦU
Khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm đã tạo nên cho đất nước Việt Nammột thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Đó là nguồn tài nguyên vôcùng quý giá cung cấp cho con người mọi nhu cầu thiết yếu phục vụ cuộc sốngnhư lương thực, thực phẩm, dược liệu và các nguyên liệu khác
Chúng ta ai cũng biết rằng sức khoẻ là vốn quý nhất của con người Từnhững thời xa xưa, ông cha chúng ta đã biết cách khai thác dược liệu từ thiênnhiên để làm thuốc
Nhiều thầy thuốc, lương y ở miền xuôi cũng như các ông lang bà mế ởmiền núi qua nhiều đời đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm chữa bệnh cứungười, lưu giữ được nhiều bài thuốc quý cho con cháu đời sau
Ngày nay thời kì công nghiệp hóa, ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởngkhông nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng, sự gia tăng bệnh tật ngày một nhiều, nhiềucăn bệnh mà y học trong nước cũng như ngoài nước phải bó tay khi điều trị bằngtây y Nhưng một số bài thuốc nam của y học cổ truyền lại chữa khỏi bệnh màkhông gây tác dụng phụ Chữa bệnh bằng tây y lại tồn kém, khi đã khai thác cácloại thực vật dùng làm thuốc vừa rẻ tiền lại cung cấp được nhiều nhiều kinhnghiệm dân gian chữa bệnh Những kinh nghiệm qúi báu đó tích lũy từ các ônglang bà mế và từ bà con các dân tộc ngày càng mai một, cây thuốc khai tháctrong tự nhiên ngày một nhiều không dược bảo vệ, các kinh nghiệm chữa bệnhqúi báu từ các người già mất đi không được lưu truyền cho các thế hệ sau Chữabệnh bằng tây y dần dần làm cho người ta quên đi những phương pháp chữabệnh truyền thống và bỏ phí tài nguyên cây thuốc có sẵn.Các danh nổi tiếng củanước ta có công bảo tồn những phương pháp chữa bệnh bằng kinh nghiệmtruyền thống và bằng cây thuốc có sẵn chữa bệnh cứu người như Tụê Tĩnh, nhưHải Thượng Lãn Ông trước đây để lại cho con cháu nhiều pho thuốc và kinhnghiệm chữa bệnh quý giá, nhiều tài liệu về cây thuốc của các danh y giúp concháu đi sâu tìm hiểu từng hoạt chất có trong cây cỏ, trong các bài thuốc dân gian
từ đó chiết xuất ra các dược phẩm có giá trị chữa bệnh phục vụ nhân dân
Trang 9Do đó việc điều tra các loại cây cỏ có giá trị chữa bệnh theo kinh nghiệmdân gian là rất cần thiết Việc thu thập kinh nghiệm dùng cây cỏ chữa bệnh có ýnghĩa về mặt văn hoá truyến thống và nhân văn sâu sắc Nhưng việc điều tra thuthập này chưa được triển khai đày đủ nhất là ở miền núi vùng sâu, vùng xa như
ở Điện Biên
Xuất phát từ lí do đó mà chúng tôi chọn đề tài: "Điều tra các loài cây
làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái thuộc xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
Trang 10
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
Từ xa xưa (vào năm 3216 hoặc 3080 TCN) Thần Nông - một nhà dượchọc tài năng - đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khoẻ của conngười Ông đã dùng các loại cây cỏ để thử nghiệm lên chính bản thân mình,bằng cách uống, nếm sau đó ghi lại những đặc điểm biểu hiện mà ông cảm nhậnđược và tập hợp lại trong cuốn sách "Thần nông bản thảo" gồm 365 vị thuốc từcây cỏ rất có giá trị [26]
Vào đầu thế kỉ thứ II Trung Quốc người ta đã biết dùng các loại cây cỏ để
chữa bệnh như: dùng nước chè đặc, rễ cây cốt khí củ (Polygonum cuspidatum);
vỏ rễ cây táo tầu (Zizyphus vulgris) để chữa vết thương; dùng các loại nhận sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, chặn
đứng kích động, giải trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sự thông tháiđược sử dụng phổ biến từ lâu ở Trung Quốc [30, 49]Trương Trọng Cảnh là một
vị thánh trong Đông y vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây 1700 năm, đãviết "Thương hàn tập bệnh luận" chỉ các bệnh dịch và các bệnh về thời tiết nóichung, đề ra các cách chữa trị bắng thảo dược
Cuốn "Cây thuốc Trung Quốc" (1985) đã liệt kê một danh lục các cây cỏ
chữa bệnh như rễ gấc (Momordica cochimchinensis) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải Xoang (Rorippa
aquaticum (L.)) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân tay, chữa bướu cổ, ho,
lao cây chè (Camellia sinensis) làm hưng phấn thần kinh, giảm mệt mỏi, kháng
lị trực khuẩn; cây lẩu (Psychotria rubra) toàn thân giã nhỏ làm thuốc chữa gãy
xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc Mới đây trong luận án tiến sỹ của TeddyYang Tatchi (Hồng Kông) kết luận rằng catechin trong chè xanh chưa lên menchứa hoạt chất làm giảm lipit trong máu và làm giảm bệnh tim mạch docholesterol gây ra [34]
Trang 11Vào thời Hán (năm 186 TCN) đã liệt kê ra 52 bài thuốc chữa bệnh từ cáccây cỏ Lý Thời Trần trong tập "Bản thảo cương mục" đã liệt kê 12000 vị thuốcxuất bản năm 1595 giúp cho việc lưu truyền cách chữa bệnh bằng cây cỏ tới ngày nay.
Không chỉ ở Châu Á, việc sử dụng cây cỏ làm thuốc cùng xuất hiện tạicác nước Châu Âu Theo y học dân gian của Liên Xô con người đã sử dụng
nước sắc vỏ quả cây bạch dương (Bentula alba), vỏ cây sồi (Quecus robus) - các nước Nga, Đức đã dùng cây mã đề (plantogo major) sắc nước hoặc giã lá tươi
đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận[35] Ở Bungari thì hoa hồng
(Rosa sinensis) chỉ là loại hoa của tình yêu mà nó còn được sử dụng như một
loại thảo dược chữa trị nhiều bệnh như làm tan huyết, chữa phù thũng Ngày naycác nhà khoa học đã chứng minh trong cánh hoa hồng có chứa các chất nhưtanin, glucosit, tinh dầu Theo các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia Anh
thì trong chè xanh (Thea sinensit L.) có hợp chất của phenol là
Gallatespigallocatechol (GEGC) [34] có tác dụng ngăn chặn sự phát triển cácloại tế bào ung thư gan, dạ dày
Từ lâu người Pêru đã dùng hạt cây sen cạn ( Tropaeolum majus) để trị
bệnh về phổi và đường tiết niệu[51] Ở Bắc Mỹ từ những thế kỷ trước thổ dân da
đỏ đã biết dùng củ cây Echinacea angustifolia chữa bệnh nhiễm khuẩn và thuốcchế từ củ cây này chữa trị vết thương mưng mủ và vết rắn cắn Và saunày(1950) Stoll và cộng sự đã tách được một glucosit gọi là Echinacoit, kiềmchế được tụ cầu gây bệnh
Cách đây khoảng 3000-5000 năm, ở Ấn Độ đã dùng phổ biến lá cây ba
chẽn (Desmodium tringulare) sao vàng sắc đặc để chữa kiết lỵ và tiêu chảy rất
hiệu nghiệm [40]
Từ năm 400 TCN, người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã biết đến Gừng
(Zingiber officinale) để chữa bệnh cúm, cảm lạnh, kém ăn, viêm khớp Thời cổ xưa các chiến binh Hy Lạp và La Mã đã biết dùng nhựa cây Lô Hội (Aloe vera)
để làm thuốc tẩy xổ
Người Hy Lạp con dùng rau mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thương mau lành Dùng vỏ quả óc chó (Juglans regia L.) để chữa vết loét, vết
Trang 12thương [32] Gelien một thầy thuốc thời cổ đại Ai Cập đã dùng tỏi (Allium
sqtisvum L.) làm thuốc chữa bệnh có tác dụng lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa
hen suyễn và đau răng
Cũng từ lâu người Haiti và Dominíc (Trung Mỹ) dùng cây cỏ lào
(Eupatorium odoratum) làm thuốc đắp vào các vết thương bị nhiễm khuẩn để cầm
máu, chữa đau nhức răng, làm lành các vết loét lâu ngày không liền sẹo [43]
Ở vùng Đông Nam Á, người Malaixia dùng cây Húng chanh (Coleus
amboinicus) sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống, lấy lá giả nhỏ văt nước cho trẻ
uống trị sổ mũi và đau bụng, ho gà [17] Trong chương trình điều tra cơ bảnnguồn tài nguyên thiên nhiên tại khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu vàghi nhận nhiều cây thuốc của y học cổ truyền và đã kiểm chứng tổng hợp thànhcuốn "Medicinal plants of East and Sountheast Asia" 1985 giới thiệu cây thuốcvùng Đông Nam Á[58] Các nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu các cơchế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ Tokin, Klain, Penneys đều công nhậnrằng hầu hết cây cỏ đều có tính kháng khuẩn, đây là một trong các yếu tố miễndịch tự nhiên, do các hợp chất hay gặp như: Phenolic, antoxyan, các dẫn xuấtquinin, alkaloids, heterozit, saponin [49] Theo Anon (1982) trong vòng 200năm lại đây có ít nhất 121 hợp chất hoá học tự nhiên con người đã nắm được cấutrúc được chiết xuất từ cây cỏ và tổng hợp nên các loại thuốc chữa trị bệnh có
hiệu quả Vị dụ như cây Lô hội (Aloe vera) Gotthall (1950) đã phân lập được
chất glucosit barbaloin có tác dụng diệt vi khuẩn lao ở người Lucas và Lewis
(1944) đã chiết xuất được từ Kim ngân (Lonicera tataria) một hoạt chất tiêu diệt
được các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị Các nhà khoa học cũng đã chiết xuất được
Becberin từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta) chữa bệnh đường ruột Lebeder nhận
xét Becberin có tác dụng đối với Tụ cầu, Liên cầu và Trực khuẩn họ gà, Trựckhuẩn lị, Thương hàn và Trực khuẩn lao [42] Năm 1948 Shen-chi-Shen phânlập được một hoạt chất Odorin từ cây hẹ ít độc đối với động vật cao cấp nhưnglại có tính kháng khuẩn mạnh Trong cây hẹ còn phát hiện ra alaloids có tácdụng với vi khuẩn gram+, gram-, nấm Trong nhiều loại ba gạc (Rauvolfia spp.)
người ta chiết được chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ huyết áp
Trang 13Vinblastin, vincristin được chiết từ cây dừa cạn (Cathantthuss roseus) vừa
có tác dụng hạ huyết áp vừa chống ung thư Digitakin strophantin được chiết từ
các loại sừng dê (Steophanthus spp.) được dùng làm thuốc trợ tim Vài chục năm
gần đây, các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hoá học
tự nhiên bằng con đường tổng hợp hoặc bán tổng hợp và một số loại thuốc chữatrị bệnh có hiệu quả cao lần lượt ra đời
Ở quốc đảo Cu Ba người ta đã dùng bột papain lấy từ cây đu đủ (Carica
papaya) để làm rụng hoại tử, kích hoạt tổ chức hạt ở vết thương phát triển [30].
Ở Campuchia, Malayxia dùng cây hương nhu tía (Ocinum sanctum) trị đau bụng,
sốt rét; lá tươi ép lấy nước trị long đờm, giã nát đắp trị bệnh đau khớp Tại vùng
Á Đông, cách đây hơn 6000 năm nhiều quốc gia biết dùng củ Nghệ (Curcuma
longa) làm chất màu gia vị, bảo quản thức ăn tốt Phụ nữ Philippin dùng củ nghệ
chữa kinh nguyệt không đều; lá cùng với hoa chữa ho, giun, giúp tiêu hoá tốt
Cây ngãi cứu (Artemisia vulgaris) dùng trị thổ huyết, chữa trực tràng, chữa tử
cung xuất huyết, còn chữa đau bụng, bế kinh, phụ nữ bị động thai [10,12]
Những cây mọc hoang phổ biến như cây bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) sắc vỏ cây
làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc chữa mụn nhọt và chữa vết lở loét chóng
khỏi[40] Nhân dân Campuchia dùng củ khoai sáp (Alocasi macrrhiza) chữa ghẻ, ngứa Nhân dân Lào ngâm vỏ cây đại (Plumeria rubdra) với rượu để chữa ghẻ
lở Dân Thái Lan dùng nhựa mủ cây đại cùng với dầu dừa bôi ngoài da trị viêmkhớp [40]
Gần đây theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thì đến năm 1985
đã có gần 20000 loài thực vật (trong tổng số 250000 loài đã biết) được dùng làmthuốc hoặc dùng hoạt chất của chúng để chế biến thuốc Trong đó Ấn Độ cókhoảng 6000 loài, Trung Quốc 5000 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ hơn 1900 loàithực vật có hoa [37] Theo số liệu của WHO thì nhu cầu sử dụng cây thuốc ngàycàng cao Ở Trung Quốc hàng năm tiêu thụ khoảng 700000 tấn dược liệu, sảnphẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD vào năm 1986 Tổng giá trị
về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm
1985 là hơn 43 tỉ USD Tại các nước có nên công nghiệp phát triển tăng từ 335
Trang 14triệu USD (1976) lên 551 triệu USD (1980) Còn ở Nhật Bản nhập khẩu dượcliệu tăng 21000 tấn (1979) lên 22640 tấn (1980) tương đương 50 triệu USD Ở
Mỹ 4,5% tổng giá trị GDP (tương đương 75 triệu USD) thu được từ cây hoangdại làm thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền [45]
Trên thế giới có rất nhiều loại cây thuốc quý hiếm nhưng do con ngườikhai thác không hợp lí, cây thuốc càng trở nên khan hiếm, nguy cơ chúng bịtuyệt chủng là không tránh khỏi Ước tính từ năm 1990 đến năm 2020 có khoảng5-10% số loại cây thuốc trên thế giới sẽ bị biến mất và số loài tuyệt chủng sẽtăng lên 25% vào khoảng năm 2050
Vì vậy song song với việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc, vấn đề cấp bách
là bảo tồn các loại cây thuốc cần đặt ra cho tất cả các nước Tại hội nghị cácnước về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 đến ngày 27 tháng 3 năm
1983 tai Chengmai (Thái lan), hàng loạt các công trình nghiên cứu về tính đadạng các cây thuốc và sự sụt giảm nguồn gen của chúng trên toàn thế giới đượcđặt ra cấp thiết [45]
Thế kỉ XXI, để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ con người cho sự phát triểnkhông ngừng của xã hội, để chồng lại các bệnh tật trong đó có bệnh nan y, cầnnhiều cây thuốc và cách sử dụng chúng phải kết hợp Đông và Tây y, giữa y họchiện đại với kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc Cho nên việc khai thác kết hợpvới bảo tồn các cây thuốc là hết sức quan trọng [45]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở VIỆT NAM
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm tạo điều kiện cho thảmthực vật phát triển phong phú và đa dạng là một trong những thuận lợi cho sựphát triển của nền y hoc dân tộc Trên 4000 năm dựng nước và giữ nước, nền yhọc nước nhà đã phát triển không ngừng và ngày càng phong phú, đa dạng phục
vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của người dân
Ngay từ thời vua Hùng (2900 năm TCN) qua các văn tự hán nôm còn sótlại (Đại Việt sử kí ngoại kí, Linh Nam chính quái liệt truyện) tổ tiên ta đã biết sửdụng cây cỏ để chữa bệnh [11,25,26] Theo Long Uý chép lại vào đầu thế kỉ II
Trang 15TCN có hàng trăm vị thuốc từ đât Giao Chỉ như: ý dĩ, hoắc hương, sơn khương,đậu khấu được giới thiệu và sử dụng [27].
Đời nhà Trần (12251339) Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn gọi là "Sơn dược" để chữa bệnhcho quân sĩ, nay còn di tích tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo - Chí Linh - HảiHưng Chu Tiên lần đầu tiên biên soạn cuốn "Bản thảo cương mục toàn yếu" làcuốn sách thuốc đầu tiên của nước ta được xuất bản năm 1429 [27]
-Thế kỉ XIII hai danh y nổi tiếng đương thời là Phạm Công Bân và Tuệ Tĩnh đãtừng nêu quan điểm "Nam dựơc trị Nam nhân" nghĩa là dùng thuốc nam chữabệnh cho người Việt Nam Ông để lại cho đời nhiều cuốn sách qúi tập hợpnhững bài thuốc hay, những kinh nghiệm qúi nhiều phương pháp chữa bệnh cứungười bằng thuốc nam Tuệ Tĩnh biên soạn bộ "Nam dược thần hiệu" gồm 11quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và
3932 phương thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông còn viếtcuốn "Hồng nghĩa Giác tự y thư" tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốccùng 13 phương gia giảm và cách chữa trị cho các chứng bệnh Trong "Namdược thần hiệu" có mô tả và ghi tác dụng chữa bệnh của nhiều cây thuốc như: tô
mộc (Caesalpinia sappan) bổ huyết; thanh hao (Artemisia apiacea) chữa sốt, lị
sử quân tử (Quisqualis) sát khuẩn, chữa tả lị; sầu đâu (Brucea javanica) sát trùng, trị đau ruột non; cây lá móng (Lawsonia inermis) chữa viêm đường hô hấp bạc hà (Mentha arvensis) chữa sốt nhức đầu [52].
Tuệ Tĩnh được coi là một danh y kì tài trong lịch sử y học nước ta, là "vịthánh thuốc nam" Ông chủ trương lấy "Nam dược trị nam nhân" Tuy nhiên bộsách quí của ông về sau bị quân nhà Minh thu hết chỉ còn lại "Nam dược thầnhiệu", "Tuệ Tĩnh y thư", "Thập tam phương gia giảm", "Thương hàn tam thậpthất trùng pháp" [27, 52]
Sau Tuệ Tĩnh đến thời Lê Dụ Tông có Hải Thượng Lãn Ông - tên thật là
Lê Hữu Trác ở thế kỉ XVIII - cũng là một danh y nổi tiếng Ông đã kế thừa, tổngkết và phát triển tư tưởng của Tuệ Tĩnh trong việc dùng thuốc nam để trị bệnh.Ông là người am hiểu y học, sinh lí học, đọc nhiều sách thuốc Trong 10 năm
Trang 16khổ công tìm tòi nghiên cứu, ông viết ra cuốn "Lãn Ông tâm lĩnh" hay "Y tôntâm lĩnh" gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề về y dược Như "Y huấn cáchngân", "Y lý thân nhân", "Lý ngôn phụ chính", "Y nghiệp thần chương" xuất bảnnăm 1772 Trọng bộ sách này ngoài sự kế thừa "Nam dược thần hiệu" ông còn
bổ sung thêm 329 vị thuốc mới Trong quyển "Lĩnh nam bản thảo" ông đã tổnghợp được 2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian Ông còn mởtrường đào tạo y sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết mới về y học Ông đượcxem là ông tổ của nghề thuốc Việt Nam [25]
Cùng thời với Hải Thượng Lãn Ông còn có 2 trạng nguyên là NguyễnNho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ "Vạn phương tập nghiêm" gồm 8 quyểnxuất bản năm 1763 [25]
Vào thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn (1788-1883) có tập "Nam dược",
"Nam dược chí danh truyền", "La kê phương dược" của Nguyễn Quang Tuânghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh Tập "Nam dượctập nghiêm quốc âm" của Nguyễn Quang Lượng viết về các loại bài thuốc namđơn giản thường dùng [26, 27] Nguyễn Đình Chiểu với cuốn "Ngư tiều vấn đáp
y thuật" mô tả nhiều bài thuốc và thuật chữa bệnh của Nam bộ "Nam thiên đứcbảo toàn thư" của Lê Đức Huệ mô tả 511 vị thuốc nam và cách chữa bệnh [27].Trần Nguyên Phương đã mô tả công dụng của trên 100 bài thuốc trong cuốn
"Nam bang thảo mộc" (1858) [27] Thời kì 1884 - 1945 dưới ách đô hộ của thựcdân Pháp, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều khó khăn Duy chỉ có một số nhàthực vật học, dược học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính làkhai thác tài nguyên Điển hình là các nhà dược học nổi tiếng như:Erevost,Petelot, Perrot Hurrier đã xuất bản bộ "Catalogue des produits deL'indochine" (1928 - 1935) trong đó tập V (Produits medicanaux, 1928) đã mô
tả 368 cây thuốc và vị thuốc [58] Đến năm 1952 Petelot bổ sung và xây dựngthành bộ "Les plantes medicinales du Cambodge, du Laos et du Viet Nam" gồm
4 tập thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc có ở ba nước Đông Dương
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với phương châm củaĐảng ta "Tự lực cánh sinh, tự cung tự cấp" phong trào dùng thuốc nam đã được
Trang 17phát huy vai trò to lớn của các bài thuốc dân gian được nghành y tế đã xây dựngnên các "Toa căn bản", chữa bệnh bằng 10 vị thuốc thông thường được phổ biếnrộng rãi [11,39].
Sau khi nước nhà gành độc lập Đảng và Bác Hồ rất quan tâm đến việcchữa bệnh cho nhân dân bằng thuốc nam Bác Hồ đã phát động phong trào "Nhànhà trồng thuốc nam, người người dùng thuốc nam" Ngày 27/2/1955 trong thưcủa chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hội nghị ngành y tế, người đã đề ra đường lối xâydựng nền y học Việt Nam là "khoa học, dân tộc, đại chúng" kết hợp giữa y học
cổ truyền của dân tộc và y học hiện đại Mạng lưới y học từ trung ương đến địaphương được thành lập, viện y học dân tộc ra đời để đào tạo y, bác sỹ đông y,thành lập các bệnh viện y học dân tộc, các hội đông y mục đích sưu tầm thuốcnam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dược tính, thành phần hoá học, lập bản
dồ dược liệu trong cả nước và sản xuất các loại thuốc từ nguồn gốc cây cỏ trong
tự nhiên [7,9,35]
Viện dược liệu của bộ y tế cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệutrên toàn quốc đã điều tra ở 2795 xã thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh Kếtquả nghiên cứu được đúc kết trong "Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam",
"Danh lục cây thuốc Việt Nam", "Tập atlas cây thuốc" đã công bố danh sách vềcây thuốc từ 1961 - 1972 ở miền Bắc là 1114 loài, từ 1977 - 1985 ở miền Nam
là 1119 loài Tổng hợp trong cả nước đến năm 1985 trong cả nước có 1863 loài
và dưới loài thuộc 1033 chi, 136 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành và mỗi loài giớithiệu công dụng, cách sử dụng[3, 4]
Đỗ Tất Lợi (1969) cho xuất bản bộ "Những cây thuốc và vị thuốc ViệtNam" giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật và khoángvật Ông tiếp tục nghiên cứu bổ sung về cây thuốc lần tái bản thứ 11 (2003) gồm
792 loài cây thuốc được mô tả hình thái, phân bố, thành phần hoá học và côngdụng chữa các nhóm bệnh khác nhau [40]
Võ Văn Chi (1976) trong luận văn TS đã thống kê được 1360 loài câythuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Đến năm 1991 trong báocáo tham gia hội thảo quốc gia về cây thuốc lần 2 tổ chức tại TP Hồ Chí Minh
Trang 18tác giả đã giới thiệu một danh sách các loại cây thuốc Việt Nam với 2280 loàithuộc 254 họ trong 8 ngành Năm 2000 trong "Từ điển cây thuốc Việt Nam" ông
đã giới thiệu 3200 loài cây thuốc, mô tả tỉ mỉ về hình thái, các bộ phận sử dụng
và các đơn thuốc đi kèm [16] Tác giả còn nghiên cứu cây thuốc ở một số địaphương như "Cây thuốc của tỉnh Lâm Đồng"(1982), "Danh lục cây thuốc vùngnúi huyện Ninh Sơn và vùng biển huyện Tuy Phong tỉnh Thuận Hải"(1984), "Hệcây thuốc Tây Nguyên"(1985), "Cây thuốc Đồng Tháp Mười"(1987), "Câythuốc An Giang"(1991) [15]
Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự đã xuất bản cuốn "Sổ tay câythuốc Việt Nam"(1980) [4] và "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam"(1993) [3] đãthống kê hàng năm có khoảng 300 loại cây thuốc được khai thác và sử dụng ởcác mức độ khác nhau trong toàn quốc
Năm 1994 trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương
Sơn-Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loại thuộc 50 họ[60] Năm
1990 1995 trong hội thảo quốc tế lẩn thứ 2 về dân tộc sinh học tại Côn Ninh Trung Quốc tác giả đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu dân tộc dược học và giớithiệu 2300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ, 6 ngành thực vật có mạch bậc cao ở ViệtNam được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1000 bài thuốc thu thập được ởViệt Nam [60]
-Sử dụng cây thuốc trong y học dân tộc ở Việt Nam đang có nhiều triểnvọng phát triển, nó là nguồn công nghiệp dược, chiết xuất các hợp chất để làmthuốc Chỉ tính riêng trong vòng 20 năm lại đây đã có 701 loại thuốc chính thứcđược sản xuất đại trà Một số cây được đưa vào sản xuất như: Thanh Cao
(Artemisia annua L.), vằng đắng (Coscinium fenestratum), sứng dê (Strophanthus divaricatus), ba gạc (Rauvolfia tetraphylla) phục vụ tốt nhu cầu
trong nước và xuất khẩu [33] Nhiều cây thuốc đã được nghiên cứu hoạt chất củachúng, chứng minh tác dụng dược lý và đã trở thành mặt hàng xuất khẩu Một sốhoạt chất đã được chiết xuất như rutin, strophantin, berberin, palmatin, L-etrahydopalmatin, tremisinin, đã đựơc chế biến thành nhiều loại thuốc khác nhau
có hoạt tính chữa bệnh tốt [5], [24] Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994),
Trang 19Lê Trần Đức (1995) ngành hoá dược Việt Nam đã bắt đầu chiết được hợp chất
Taxol từ loài Thông Đỏ (Taxus sp.) mọc một số nơi ở nước ta có tác dụng chống
và cũng có những đóng góp nhất định trong việc giữ gìn phát huy những di sảnnền y học dân tộc tỉnh nhà bằng kinh nghiệm chữa bệnh sử dụng cây cỏ trong tựnhiên
Sau năm 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng cơ quan y tế thành phốĐiện Biên cũng như nhiều tỉnh phía bắc xuất hiện nhiều phong trào phát triển và
sử dụng cây thuốc như: "Phá hàng rào gai cài cây thuốc" với 80% số xã có vườnthuốc nam, 70-80% số hộ gia đình có "khóm thuốc gia đình", 100% các đơn vị
bộ đội đóng trên địa bàn có vườn thuốc nam và được sử dụng tốt [7]
Hiện nay phong trao trồng và sử dụng cây thuốc ở các trung tâm y tế xãngày càng được quan tâm và phát triển ở Điện Biên Theo đánh giá của TSKHTrần Công Khánh nhà khoa học nghiên cứu cây thuốc các dân tộc tại nhiều tỉnhmiền núi phía bắc tình trạnh khai thác tận diệt cây thuốc còn phổ biến,tài nguyênnày chỉ phục vụ một phần rất nhỏ cho nhu cầu sản xuất đông dược trong nướccòn chủ yếu là bán cho các đầu nậu tư nhân xuất lậu sang biên giới.Ở Điện Biên,Lào Cai và thị trấn Sa Pa, cũng có những dãy phố chuyên thu mua, buôn bándược liệu qua sơ chế rồi bán qua biên giới Củ bình vôi trắng, củ bình vôi vàng,
Trang 20giảo cổ lam, hoàng tinh vàng, huyết đằng… từ đây cứ lần lượt ra đi TSKH TrầnCông Khánh cho biết nhiều loại cây thuốc đang bị xuất lậu sang Trung Quốcnhưng chúng ta chưa biết rõ giá trị kinh tế cũng như công dụng chữa bệnh của
nó Ông dẫn ra một ví dụ, cây sói rừng hay là cây chè dại dùng trị giảm đau, mộtcân cây khô bán qua biên giới chưa tới 20.000 đồng, nhưng ở Trung Quốc, loạicây này lại được chiết xuất làm thuốc chữa nhiều bệnh như ung thư tụy, dạ dày,gan, trực tràng… thì giá trị kinh tế của các cây thuốc này là vô giá
Trang 21CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các loài cây được dùng làm thuốc và một số bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái thuộc xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
2.2 MỤC TIÊU:
Điều tra cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Thái thuộc xã Mường Phănghuyện Điện Biên tỉnh Điện Biên, thu thập một số bài thuốc được nhân dân ở đây
sử dụng
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
- Điều tra, thu thập, hệ thống các cây thuốc của đồng bào dân tộc Tháithuộc xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
- Phân tích tình đa dạng về thành phần Taxon, môi trường sống, sự phân
bố và bộ phận sử dụng của các cây thuốc
- Thu thập một số bài thuốc của bà con dân tộc Thái thuộc xã MườngPhăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
2.4 ĐỊA ĐIỂM VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
2.4.1 Địa điểm:
Các bản thuộc xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên
2.4.2 Kế hoạch nghiên cứu:
- Từ tháng 11/2011 - 12/2011 Tìm hiểu tài liệu và lập đề cương
- Từ tháng 01 - 2/2012 Tiến hành sưu tập tài liệu, thu thập các thông tintrong cộng đồng và các cơ quan cần thiết tại Điện Biên,
- Từ tháng 03 - 5/2012 Phát phiếu điều tra, lấy mẫu cây thuốc đợt 1
- Từ tháng 6 - 9/2012 tiến hành lấy mẫu đợt 2, xử lí thông tín thống kê sốliệu và viết luận văn
Tháng 10/2012: Bảo vệ luận văn
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.5.1 Phương pháp điều tra thực địa.
Trang 222.5.1.1 Phương pháp phỏng vấn và thu thập mẫu vật.
- Phát phiếu điều tra và phỏng vấn bà con dân tộc tại địa bàn nghiên cứunhất là các ông lang bà mế, các lương y để sưu tầm cây thuốc và bài thuốc sửdụng trong dân bản
- Các mẫu cây thu được cho vào cặp ép có nhãn
2.5.1.2 Xử lý mẫu vật
Mẫu các loại cây thuốc được thu hái và xử lí theo các phương pháp :
- Phương pháp điều tra cây thuốc và vị thuốc theo "Những cây thuốc và vịthuốc Việt Nam" của Đỗ Tất Lợi.(1995) [40]
- Quy trình điều tra dược liệu qua "Sổ tay thuốc nam thường dùng ở cơsở" của Bộ y tế (1973) [10]
- Phương pháp làm tiêu bản thực vật theo "Kĩ thuật thu hái mẫu vật làmtiêu bản cây cỏ" của Nguyễn Văn Dưỡng - Trần Hợp (1971) [23]
Mỗi cây thu 3-5 mẫu, thành nhiều đợt, có đánh số liệu và đặt vào tờ báo gấp 4lần, kẹp vào cặp mắt cáo 29×41cm Mỗi cặp khoảng 20-30 mẫu, mẫu cây đươcphơi nắng để làm khô
- Phương pháp giám định họ và chi ngoài thiên nhiên theo tài liệu "Cẩmnang nghiên cứu đa dạng sinh vật" của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [47] và "Cẩmnang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam" của Nguyễn TiếnBân (1997) [2]
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.5.2.1 Xác định tên khoa học.
Mẫu được phân loại và xác định tên khoa học dựa theo các tài liệu sau:
- Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hổ, 3 tập (1991 - 1993)[29]
- Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2003)[16]
Mẫu được định loại và xử lí xong đính trên giấy croki trắng kích thước29cm×41cm và dán nhãn kích thước 7cm × 10cm Trên nhãn có các thông tinsau:
Số mẫu Ký hiệu
Ngày lấy mẫu Nơi thu mẫu Người thu mẫu
Trang 23Tên Việt Nam Tên dân tộc Tên KH Họ Người định loại
2.5.2.3 Đánh giá tính đa dạng sinh học của cây thuốc.
* Đánh giá đa dạng về các bậc phân loại (họ, chi, loài) của các cây thuốc [36,47]Thống kê số loài, chi và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao trên cơ sởdựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, tính tỷ lệ phần trăm của các taxon
để từ đó thấy được mức độ đa dạng
* Đánh giá đa dạng về thân
* Đánh giá sự đa dạng về bộ phận sử dụng
* Đánh giá sự đa dang về môi trường sống
* Các nhóm bệnh được chữa trị
Việc phân loại các cây thuốc chữa trị theo các nhóm bệnh dựa vào tài liêu của
Đỗ Tất Lợi (2003) [40] Võ Văn Chi (2003) [16]
* Đánh giá sự đa dạng về cách bào chế và chữa bệnh
Cách bào chế và sử dụng chữa bệnh dựa vào tài liệu "Từ điển cây thuốc ViệtNam" của Võ Văn Chi (2003)[16], "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của
Đỗ Tất Lợi (2003) [40]
Trang 24CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1 Vị trí địa lý.
Điện Biên là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía tây bắc Việt Nammới được thành lập ngày 01/01/2004 với diện tích 9.554,107 km2, dân số là491.046 người gồm 21 dân tộc khác nhau Tọa độ địa lý 20o 58'24"' - 22o 32'50"'
vị độ Bắc và 102o 7'30"- 103o 35'00"' kinh độ Đông
Huyện Điện Biên nằm ở phía tây nam tỉnh Điện Biên phía Bắc giáp 2huyện Mường Chà, Mường Ảng; phía Nam và Tây giáp Lào; phía Đông giáphuyện Điện Biên Đông và tỉnh Sơn La Huyện có cửa khẩu Tây Trang giáp vớiCHDC nhân dân Lào, có diện tích 1.639,85 km2 gồm 108.389 nhân khẩu thuộc 8dân tộc khác nhau Vùng nghiên cứu của đề tài là xã Mường Phăng nằm ở phíaĐông Bắc của huyên, có tọa độ địa lý từ 21o29' 35" vị độ Bắc đến 21o 22' 30" và
103o 03'40" đến 103o 07'50"' ' kinh độ Đông với tổng diện tích toàn xã là 92,70
km2. Xã có 42 bản gồm 7.598 nhân khẩu chủ yếu thuộc 4 dân tộc: dân tộc Kinhchiếm 0,2%,Thái chiếm 74%, Khơ Mú 16%, Mông 13% còn lại là các dân tộckhác
3.1.2 Địa hình
Tỉnh Điện Biên có địa hình tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi nhữngdãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200mđến hơn 1.800m
Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông.Xen lẫn các dãy núi cao là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bốkhắp nơi trên địa bàn tỉnh Huyện Điện Biên chia thành 2 vùng, vùng lòng chảo(gồm 10 xã) tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, độ dốc nhỏ dưới 150, độ caohơn 400 m so với mặt biển; vùng núi cao (gồm 9 xã) chủ yếu là đồi, núi và đấtdốc, có độ cao từ 1.000 m trở lên, trong đó có xã Mương Phăng là khu vực đề tàinghiên cứu
Trang 253.1.3 Khí hậu
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao Nhiệt độ trung bình hàng
năm từ 21 - 230C Lượng mưa hàng năm tương đối cao, trung bình từ 1.700 2.500mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa lớn thường tập trung vàocác tháng 6, 7, 8, 9 và chiếm tới 80% lượng mưa cả năm Các tháng khô hạn bắtđầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau và chỉ chiếm khoảng 20% lượngmưa hàng năm Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80 - 85% Số giờ nắnghàng năm bình quân từ 1.500 -1.900 giờ
-Do diện tích tự nhiên rộng, địa hình lại bị chia cắt nên khí hậu ở đây bịphân hoá thành 3 tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng khí hậu Mường Nhé, tiểu vùng khíhậu Mường Lay và tiểu vùng khí hậu cao nguyên Sơn La và thượng nguồn sông
Mã Huyện Điện Biên có mùa đông lạnh ít mưa, mùa hạ nóng mưa nhiều, ít chịuảnh hưởng của bão, nhưng chịu ảnh hưởng của gió Lào khô và nóng Nhiệt độtrung bình khoảng 22,60C Lượng mưa trung bình khoảng 1.900 mm, độ ẩmtrung bình 84 - 85%; số giờ nắng 1.600 - 1.800 giờ/năm
3.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI.
3.2.1 Đăc điểm dân cư.
Điện Biên có 19 đơn vị hành chính gồm các xã: Mường Pồn, Thanh Nưa,Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Thanh Xương, Thanh An, Thanh Yên,
Nà Nhạn, Nà Tấu, Mường Phăng, Noong Luống, Noong Hẹt, Pa Thơm, NúaNgam, Sam Mứn, Na Ư, Mường Nhà, Mường Lói
Điện Biên là địa bàn cư trú của 8 dân tộc như: Thái (53,72%), Kinh(27,86%), H’Mông (8,51%), Khơ Mú (5%), Lào (3,17%), còn lại là các dân tộckhác [38] Người Khơ Mú ở Điện Biên sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy,
họ thường sử dụng những công cụ như dao, rìu, gậy để chọc lỗ, tra hạt Ngoàinghề nương rẫy, người Khơ Mú còn có thu nhập thêm từ nghề thủ công
3.2.2 Văn hóa xã hội.
- Giáo dục, học vấn: Xã Mường Phăng có 6 trường học (2 trường mầm non, 4
trường tiểu học, 1 trường THCS), toàn xã được phổ cập giáo dục năm 2004
Trang 26- Về y tế: Có 1 trạm y tế nằm ở trung tâm xã với 6 dường bệnh Đội ngũchuyên môn có 1 bác sĩ, 1 y tá hộ sinh.
- Về giao thông: Toàn xã có 130 km dường ô tô liên xã, liên bản, liênhuyện, trong đó có 30 km đường nhựa, còn lại là đường bê tông và đường đất
Trang 28CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 THÀNH PHẦN TAXON CÂY THUỐC CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THÁI XÃ MƯỜNG PHĂNG THUỘC HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Qua quá trình điều tra, thu thập các loại cây thuốc và các kinh nghiệmhiểu biết quý báu của các ông lang, bà mế và bà con dân tộc tại xã MườngPhăng thuộc huyện Điện Biên Các mẫu cây thuốc được xử lí, xác định tên khoahọc và xây dựng bảng danh lục Trong bảng danh lục các taxon được xếp theoR.K.BrummiH(1992) [57]
Mỗi loại được trình bày theo thứ tự sau:
Cột 1: Thứ tự Cột 6: Bộ phận sử dụng
Cột 2: Tên khoa học Cột 7: Nơi mọc
Cột 3: Tên phổ thông Cột 8: Công dụng
Cột 4: Tên dân tộc Cột 9: Cách dùng
Cột 5: Dạng thân
Ghi chú:
Môi trường sống:
R - Rừng sâu, rừng thưa đến ven rừng V - Vườn nhà
N - Nương rẫy, ven đường đi S - Ven suối, khe
Trang 29Bảng 1: Thành phần loài cây thuốc của đồng bao dân tộc xã Mường Phăng thuộc huyện Điện Biên tỉnh Điên Biên
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tên dân tộc thái Dạng thân
Bộ phận sử dụng
Nơi mọc Công dụng Cách dùng
Lấy dấu kín bỏđầu giường,trai 7 lá gái 9 lá
Sên Păc cụtngongnganh
Le T,L R Chữa kiết lỵ
Thân lá dùngtươi hoặc phơikhô sắc uống
II (Gymnospermae) Pinophyta Ngành Thông (Hạt trần)
3 Cycadaceae Họ Tuế
Chữa ho lao,khó thở, đaunhức
Lấy lá và rễ sắcuống
Trang 30Ho, L
4 Cupressaceae Họ Hoàng đàn
Cầm máu,Chữa đái ramáu, Sỏi bàngquang
Dùng sắc uống
5 Gnetaceae Họ Dây gắm
Gắm núi,Chừa macam
Le
Ho,
Re, T,L
R
Chữa sốt rét,rắn cắn,giảiđộc
Lá giã đắpchữa rắn cắn,hạt ăn, thân và
rễ sắc uống
6 Pinaceae Họ Thông
Chiết hạt lấytinh dầu sửdụng
7 Cephalotaxaceae Họ Đỉnh tùng
Cầm ho, tiêu
ứ, chữa sốtcao
Dùng sắc uống
III Magnoliophyta
(Angiospermae)
Ngành Ngọc Lan (Hạt Kín)
A (Dicotyledonae) Magnliopsida Lớp Ngọc Lan (Hai lá mầm)
Trang 31Wall ex Nees nhọt, rắn cắn,cao huyết áp
đáp ngoài trịrắn cắn, mụnnhọt
Tiêu sưnggiảm đau,sáichân
Sắc uống,ngâmrượu bóp hoặcgiã nát đắp vếtthương12
Pararuellia
flagelliformis (Roxb.)
Bremek et Nann
Song nổ roi Địa bì tiên,
Lá nhai nuốthoặc nấu canhnhat ăn(ngàydùng 7-8 lá)
Thanh nhiệt,giải độc, cầmmáu
Dùng sắc uốnghoặc giã nhỏđắp
9.Amaranthaceae Họ rau dền
Chữa sốt rét,thấp khớp, đáibuốt, quai bị
Lá giã nhỏ đắpvào vết cắnhoặc sắc uống
Trang 32Sắc uống
11 Anonaceae Họ Na
Quả na diếc đốtnghiền rắc lênchỗ đau22
Fissistigma
polyanthoides (DC.)
Merr
Quả vú dê,Dời dợi
Châuphẻng mọc B T, Re R, D
Chữa ỉa chảy,thuốc bổ Sắc uống
12 Apiaceae Họ Hoà tán
Dùng trong sắcuống, ngoài giãnhỏ đắp
Chữa đầy hơi,biếng ăn, thấpkhớp, sốt xuấthuyết
Dùng làm gia
vị, hạt phơi khôsắc uống
Chữa đầybụng, rối loạntiêu hoá, cảmmạo, rắn cắn
Làm gia vịhoặc giã nhỏđắp vào vếtthương