Tính cấp thiết của đề tài
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và sơ lược quá trình phát triển nông nghiệp huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế-xã hội huyện Lý Nhân a Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của huyện
Huyện Lý Nhân, nằm ở phía Nam tỉnh Hà Nam, giáp ranh với các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, và các huyện Bình Lục, Duy Tiên, có diện tích 167,17 km² và dân số khoảng 177.600 người Với vị trí địa lý thuận lợi và mạng lưới giao thông phát triển, bao gồm quốc lộ 38B và các đường cao tốc, Lý Nhân đang từng bước nâng cấp hạ tầng giao thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận công nghệ mới, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
* Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
Huyện Lý Nhân thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có khí hậu nhiệt đới với gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Thời tiết nơi đây được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5.
10, lượng mưa chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm Lượng mưa trung bình năm là
Lý Nhân có lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1900 mm, với độ cao dao động từ 1265,3 mm đến 3176 mm Nhiệt độ bình quân cả năm là 23,5°C, trong đó tháng lạnh nhất rơi vào tháng 11, 12 và tháng 1, với nhiệt độ có thể xuống tới 7,0°C Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thường có gió từ hướng nam, tây nam và đông nam, với nhiệt độ cao nhất có thể đạt 40,5°C Tháng 2 và 3 thường xuất hiện mưa phùn kéo dài và độ ẩm cao Điều kiện thời tiết và khí hậu tại Lý Nhân tương tự như nhiều tỉnh khác ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Huyện Lý Nhân nằm trong khu vực hệ thống sông Hồng và sông Châu Giang, với tổng chiều dài gần 78 km và diện tích lưu vực khoảng 1084 ha Mạng lưới sông suối này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước và tiêu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương Bên cạnh đó, sông Long cũng góp phần vào hệ thống thủy văn của huyện.
Kênh Như Trác và Xuyên là các kênh tiêu chính quan trọng cho việc thoát nước ở các xã vùng trũng trong huyện Khu vực này có nguồn nước mặt phong phú và nguồn nước ngầm dồi dào, đủ khả năng phục vụ cho sản xuất và đời sống với mức phát triển cao.
* Địa hình, đất đai và thổ nhưỡng
Địa hình khu vực có xu hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với độ cao phổ biến từ +3,0m đến +3,5m Tuy nhiên, sự biến đổi độ cao cục bộ gây khó khăn trong công tác tưới tiêu, đặc biệt ở một số xã phía Bắc.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 16.717,02 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 67,74% với 11.323,32 ha vào năm 2015 Trong những năm qua, việc sử dụng đất đã có sự chuyển dịch nhanh chóng, với đất nông nghiệp giảm từ 550 - 650 ha mỗi năm, trong khi đất nuôi trồng thủy sản tăng trung bình 64 ha hàng năm.
Huyện có hai nhóm đất chính: đất phù sa sông Hồng và sông Châu, được bồi hàng năm, thích hợp cho hầu hết các loại cây trồng nông nghiệp, đặc biệt là cây ngắn ngày và cây ăn quả với năng suất cao Đất trung tính, ít chua, không glây hoặc glây yếu chủ yếu phân bố ở các xã trong đê, có địa hình và thành phần cơ giới trung bình, phù hợp cho sản xuất nông nghiệp hai vụ lúa và vụ Đông Nguồn lợi thủy sản tập trung tại các đầm ven đê sông Hồng và các trang trại đa canh Tài nguyên chủ yếu trên địa bàn huyện là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm đất bãi bồi ven sông Hồng và cát san lấp.
* Dân số và lao động
Lý Nhân là huyện đông dân nhất tỉnh với dân số 177.600 người, chiếm 22,3% tổng dân số toàn tỉnh và mật độ dân số đạt trên 1.056,7 người/km² Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện là 0,9% Huyện có 56.580 hộ, trong đó có 36.946 hộ nông nghiệp (65,30%) và 19.634 hộ phi nông nghiệp (34,70%) Nhân khẩu nông nghiệp chiếm 107.143 người, tương đương 60,33% Số lao động trong độ tuổi là 104.740, chiếm 59% tổng số nhân khẩu, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 63,37% và lao động phi nông nghiệp chiếm 35,66% Tỷ lệ lao động trong độ tuổi qua đào tạo đạt trên 40%.
Hệ thống giao thông tại Lý Nhân bao gồm tuyến quốc lộ 38B dài 34 km, đường tỉnh ĐT 491 dài 10 km, đê hữu sông Hồng dài 28 km, cùng với 50,2 km đường huyện và 868,5 km đường liên thôn, liên xã Các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ chủ yếu đạt tiêu chuẩn đường cấp V đồng bằng, trong khi đường huyện, xã và đường thôn xóm đã và đang được cứng hóa bằng bê tông Giao thông đường thủy trên sông Hồng cũng tương đối thuận lợi.
Huyện có một hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh với 2 trạm bơm lớn, Trạm bơm Quan Trung và Trạm bơm Như Trác, thuộc Công ty khai thác công trình Thuỷ lợi Nam Hà, cùng 48 trạm bơm nhỏ có công suất từ 1000m³/h đến 4000m³/h nhằm chống úng lụt và tưới tiêu Ngoài ra, huyện còn có 10 máy bơm di động với công suất 750 m³/h/máy Hệ thống kênh mương được duy trì tốt và thường xuyên tu bổ, đồng thời đang trong quá trình bê tông hoá để nâng cao hiệu quả sử dụng.
Hệ thống điện và thông tin liên lạc tại huyện đã được phát triển mạnh mẽ, với lưới điện bao phủ toàn bộ khu vực Hiện có 238 máy biến áp được lắp đặt, tổng công suất đạt 47.460 KVA Đường điện 110 KV và 35 KV chạy qua huyện, đảm bảo 100% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất.
* Tình hình phát triển KT-XH của huyện 2010 – 2015
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của huyện đạt 12,5%, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển dịch tích cực, với nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản chiếm 30,6%, công nghiệp và xây dựng 36,2%, và thương mại, dịch vụ 32,2% vào năm 2015 Tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2015 đạt 2.136.510 triệu đồng theo giá so sánh năm 1994.
Trong ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 4,58%, nhờ vào việc chuyển đổi cơ cấu giống và mùa vụ Các tiến bộ khoa học-kỹ thuật được áp dụng mạnh mẽ, cùng với việc thực hiện các đề án như mở rộng diện tích lúa gieo thẳng, cánh đồng mẫu, và liên kết sản xuất bao tiêu nông sản xuất khẩu, góp phần nâng cao chất lượng lúa.
Ngành tiểu thủ công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ với mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 22,4% Sự quy hoạch và phát triển các làng nghề truyền thống như làm bánh đa nem tại làng Chều, sản xuất mây tre đan, và thêu ở xã Đồng Lý và Đạo đã được hình thành.
QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NỘI NGÀNH NÔNG NGHIỆP HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN TỚI
Cơ hội, thách thức phát triển và định hướng CNH, HĐH và tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh Hà Nam nói chung và huyện Lý Nhân nói riêng đến năm
2020 và những năm tiếp theo
Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều cơ hội cho nền kinh tế và đặc biệt là khu vực nông nghiệp Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Tỉnh Hà Nam và huyện Lý Nhân có cơ hội phát triển các sản phẩm nông sản chủ lực như rau, quả, lúa gạo, thịt gia súc và gia cầm Tuy nhiên, để phát huy lợi thế cạnh tranh, cần phải điều chỉnh cơ cấu và chất lượng sản phẩm nông nghiệp phù hợp với thị trường.
Đảng ta xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển đất nước Tỉnh Hà Nam hiện nay tiếp tục tập trung vào việc tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững Mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh, đồng thời từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch và gia tăng giá trị trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Tỉnh Hà Nam đã phê duyệt quy hoạch 2 khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại huyện Lý Nhân với diện tích 360ha, tập trung vào phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa và lợn chất lượng cao Nghị quyết của tỉnh ủy Hà Nam và Huyện ủy Lý Nhân đề ra mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035 Lý Nhân được xác định là huyện trọng điểm nông nghiệp, được đầu tư nhiều nguồn lực và chương trình phát triển nông nghiệp Hiệu quả đầu tư đã phát huy, nâng cao năng lực sản xuất của nông dân thông qua các chương trình khuyến nông và chuyển giao khoa học kỹ thuật Sự phát triển nông nghiệp tại huyện có ảnh hưởng lớn đến kinh tế của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp trong những năm tới.
Huyện có tài nguyên thiên nhiên phong phú và điều kiện tự nhiên thuận lợi như đất, nước, chế độ thuỷ văn, khí hậu và sinh vật, tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp đa canh và đa dạng hóa sản phẩm Việc áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp sẽ giúp tăng năng suất và đáp ứng nhu cầu thị trường quanh năm, nhờ vào môi trường đất và nước ít chịu tác động của các yếu tố tự nhiên cực đoan.
Huyện Lý Nhân sở hữu nguồn nhân lực dồi dào và nhận được hỗ trợ từ các trung học dạy nghề, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển Chương trình đào tạo nghề nông nghiệp (CDCCKTNN) nhanh chóng và hiệu quả Trong bối cảnh công nghiệp và dịch vụ còn chiếm tỷ trọng thấp, CDCCKTNN đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống người dân Mục tiêu chính của Ban chấp hành Đảng bộ huyện là đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng hiện đại, áp dụng khoa học và công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng và chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ đối với ngành nông sản, yêu cầu cao về số lượng và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, hầu hết nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu ở dạng thô, với tỷ lệ chế biến còn thấp và chất lượng sản phẩm không đồng đều, ít đa dạng Khả năng đổi mới mặt hàng cũng diễn ra chậm, trong khi năng lực quản lý và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa được chuẩn bị tốt cho hội nhập Trình độ sản xuất của nông dân còn lạc hậu, manh mún và thiếu thông tin về thị trường.
Giá cả nguyên liệu và thức ăn gia súc luôn biến động, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất và giá thành nông sản, dẫn đến hiệu quả sản xuất không ổn định cho nông dân Hệ thống dịch vụ và cơ sở hạ tầng hỗ trợ nông nghiệp phát triển chậm, các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ còn yếu kém, gây khó khăn trong phân phối và tiếp thị nông sản Thị trường tiêu thụ hạn hẹp và giá cả nông sản biến động bất thường tạo ra sự bất an cho người dân trong đầu tư sản xuất Điều này dẫn đến tình trạng sản xuất tự phát không theo quy hoạch, ảnh hưởng đến định hướng phát triển nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Ngoài ra, ô nhiễm môi trường và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn nghiêm trọng và chưa được kiểm soát hiệu quả.
Chủ trương và chính sách của Uỷ ban nhân dân tỉnh chưa được triển khai một cách đồng bộ, dẫn đến việc thiếu hụt lực lượng cán bộ kỹ thuật và quản lý nông nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu, gây cản trở cho việc thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp.
Hiện nay, quá trình tích tụ ruộng đất theo hướng chuyên môn hóa đang gặp khó khăn do nhận thức hạn chế của người dân và tình trạng manh mún ruộng đất Điều này cản trở việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, cũng như quá trình thủy lợi hóa và cơ giới hóa nông nghiệp Hơn nữa, việc đầu tư cho công nghiệp chế biến và dịch vụ phục vụ nông nghiệp vẫn chưa được chú trọng đúng mức.
Cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn đã được cải thiện nhưng vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng đủ yêu cầu cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng hiện đại, tập trung vào tăng năng suất và chất lượng, đồng thời điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên Phát triển sản xuất nông nghiệp cần dựa trên nhu cầu thị trường, khai thác lợi thế từng vùng để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh Đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và thử nghiệm giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất cao là rất quan trọng, cùng với việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong các khâu sản xuất và bảo quản sản phẩm.
Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu nội bộ nhằm gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến nông sản Mục tiêu là nâng cao chuỗi giá trị hàng hóa nông nghiệp, gia tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững sản xuất nông sản sạch, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Điều này sẽ giúp đáp ứng nhu cầu thị trường và xuất khẩu hiệu quả hơn.
Triển khai tích cực chủ trương tích tụ ruộng đất nhằm thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Mục tiêu là tạo ra sản phẩm hàng hóa sạch, an toàn với giá trị thương hiệu, phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
Để phát triển ngành chăn nuôi bền vững, cần tập trung vào việc xây dựng các khu chăn nuôi tập trung theo quy hoạch, đồng thời khuyến khích chăn nuôi hộ gia đình Điều này sẽ góp phần tăng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất và đảm bảo an toàn thực phẩm.
Để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực và chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Đồng thời, cần đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp, kết hợp với phát triển các tổ hợp tác và nhóm hộ chuyên ngành theo mô hình ít xã viên.